Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

Đại tướng Phan Văn Giang dự Chương trình nghệ thuật đặc biệt "Trường Sơn - Chân trần, chí thép"

 

Nhân kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2024) và 65 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19-5-1959 / 19-5-2024), tối 19-5, tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn (tỉnh Quảng Trị), Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, UBND tỉnh Quảng Trị và Binh đoàn 12 - Tổng công ty xây dựng Trường Sơn tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Trường Sơn - Chân trần, chí thép". Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự Chương trình.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng; Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Lê Quang Tùng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị; Vũ Đại Thắng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình; Lê Trường Lưu, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.

Cùng dự chương trình còn có Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, các cơ quan, đơn vị, địa phương, cùng các cựu chiến binh Trường Sơn huyền thoại...

Chương trình được tổ chức tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn - nơi an nghỉ của hơn 10.000 liệt sĩ. Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Trường Sơn - Chân trần, chí thép” gồm 3 chương: Nơi huyền thoại bắt đầu, Kỳ tích giữa rừng sâu và Viết tiếp bản hùng ca. Đan xen trong chương trình là các phóng sự, câu chuyện xúc động về những con người đã viết nên huyền thoại Trường Sơn cả trong thời chiến và thời bình và nhiều ca khúc đi cùng năm tháng gắn với Trường Sơn được thể hiện qua giọng ca của các nghệ sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Chương trình truyền tải thông điệp ký ức về Bộ đội Trường Sơn đã viết nên huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; những câu chuyện từ khi bắt đầu mở Đường Trường Sơn năm 1959 với những người lính đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”; vượt qua mưa bom, bão đạn để phát triển một con đường mòn thô sơ thành con đường vận tải chiến lược nối liền Nam-Bắc, là một kỳ công trong lịch sử chiến tranh, một sáng tạo chiến lược độc đáo của Đảng và quân dân ta trong thế kỷ XX.

Bằng sức mạnh phi thường, với “chân trần, chí thép”, Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn, vượt qua mưa ghềnh, thác lũ và khí hậu khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn để chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chiến thắng mọi âm mưu thủ đoạn, mọi vũ khí, trang bị, phương tiện tối tân của kẻ thù. Nhờ có mạng lưới Đường Hồ Chí Minh, Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường hơn 1,5 triệu tấn hàng hóa; 5,5 triệu tấn xăng dầu; bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ hành quân vào chiến đấu tại chiến trường; góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

THAY ĐỔI NHÂN SỰ LÃNH ĐẠO NHƯNG ĐƯỜNG LỐI KHÔNG THAY ĐỔI

 THAY ĐỔI NHÂN SỰ LÃNH ĐẠO

NHƯNG ĐƯỜNG LỐI KHÔNG THAY ĐỔI
Với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, trong thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta do thoái hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm khuyết điểm đã bị xử lý kỷ luật, cho thôi giữ các chức vụ.
Ngày 16-5-2024, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII do vi phạm, khuyết điểm trong việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Trước đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã đồng ý để đồng chí Vương Đình Huệ thôi giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026; đồng chí Võ Văn Thưởng thôi giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh nhiệm kỳ 2021 - 2026 do hai đồng chí đã vi phạm các quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chịu trách nhiệm về người đứng đầu.
Việc thay đổi nhân sự trong bộ máy lãnh đạo, quản lý là công việc bình thường của các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, trong mấy năm gần đây, thực hiện công cuộc chống “giặc nội xâm”, chúng ta đã cương quyết loại bỏ, đưa ra khỏi đội ngũ nhiều cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực. Trong số này có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, cán bộ cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Việc loại khỏi đội ngũ những cán bộ thoái hóa biến chất như “chặt một cành sâu mọi để cứu cả cây”, “chặt một cây nhiễm bệnh để cứu cả rừng cây” với mục đích duy nhất là để Đảng ta trong sạch hơn, lãnh đạo đất nước tốt hơn, tăng thêm niềm tin của người dân với Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, lợi dụng các vụ việc trên, các thế lực thù địch đã và đang xuyên tạc, thổi phồng, bôi đen sự thật, với luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đang có sự thanh trừng, đấu đá nội bộ”; “Việt Nam đang mất ổn định chính trị”… Chúng còn dự đoán “sắp tới ai sẽ lên… thớt”… Những thông tin này lại được một số người hiếu kỳ trong nước chuyển tiếp cho người khác, gây ra sự băn khoăn, trăn trở, lo lắng trong dư luận xã hội.
Có điều chắc chắn rằng, dù có thay đổi một số vị trí cán bộ, nhưng nền tảng tư tưởng của Đảng ta vẫn không thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Cán bộ dù có thay đổi nhưng đường lối của Đảng ta, Cương lĩnh chính trị của Đảng ta vẫn không thay đổi. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân vẫn không thay đổi.
Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, cán bộ, đảng viên và kiều bào ta ở nước ngoài hôm nay đang đặt một niềm tin tuyệt đối vào quyết tâm chính trị, vào đường lối cách mạng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên của chúng ta sẵn sàng cử người đủ phẩm chất và năng lực thay thế những người lãnh đạo vi phạm khuyết điểm, thoái hóa, biến chất. Trước khi khai mạc Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII (ngày 16-5-2024), Bộ Chính trị đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc Bộ Chính trị đã quyết định phân công đồng chí Đại tướng Lương Cường,Ủyỷ viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia Ban Bí thư và giữ chức vụ Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Trong ngày làm việc đầu tiên của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định giới thiệu nhân sự để Quốc hội khoá XV bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhiệm kỳ 2021 - 2026 và Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đồng thời Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu bổ sung 4 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, gồm các đồng chí: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Người dân Việt Nam hôm nay đang vững một niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, bởi lẽ đó cũng là vận mệnh của Tổ quốc, đất nước mình. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trải qua hơn 94 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng không có lợi ích nào khác đó là vì đất nước phồn thịnh, vì hạnh phúc của nhân dân. Lợi ích của quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết, trước hết. Việc xử lý cán bộ cấp cao, thay đổi cán bộ nhưng không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước, bởi lẽ, đường lối cách mạng của Đảng ta đã xác định trong Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng, Hiến Pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công khai, minh bạch, đúng đắn, ổn định, kế thừa qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm đổi mới đất nước. Thực tế Việt Nam hôm nay đang là một đất nước hoà bình, phát triển, ổn định về chính trị, là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trên toàn cầu, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Đại tướng Phan Văn Giang: Chuẩn bị tốt cho tổng kết Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Chiều 21-5, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị làm việc với các cơ quan về công tác chuẩn bị tổng kết Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam (viết tắt là Luật Sĩ quan).

Tham dự hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.

Luật Sĩ quan được Quốc hội khóa X thông qua tại Kỳ họp thứ sáu (năm 1999), có hiệu lực thi hành từ ngày 1-4-2000. Qua 2 lần tổng kết (năm 2007 và 2013), Bộ Quốc phòng đã báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung luật 2 lần vào năm 2008 và năm 2014. Luật có 7 chương, 51 điều, được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi trách nhiệm phối hợp triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện. Quá trình thực hiện, Luật Sĩ quan đã tạo cơ sở pháp lý để xây dựng đội ngũ sĩ quan QĐND Việt Nam vững mạnh; làm nòng cốt xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, quá trình thực hiện Luật Sĩ quan cũng gặp không ít khó khăn. Từ mặt trái của cơ chế thị trường, sự so sánh về ngành nghề, việc làm, thu nhập và điều kiện sống giữa sĩ quan với người lao động trong điều kiện kinh tế-xã hội có sự phát triển đã tác động đến tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ sĩ quan và việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ Quân đội.

Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Sĩ quan; thống nhất một số nội dung liên quan đến công tác tổ chức tổng kết luật.

Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang ghi nhận, biểu dương cơ quan soạn thảo đã chuẩn bị tốt các văn bản, báo cáo tổng kết Luật Sĩ quan. Sau khi làm rõ một số vấn đề, thực trạng về chính sách, chế độ của sĩ quan trong Quân đội hiện nay, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu các cơ quan tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Luật Sĩ quan và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản để nâng cao hiệu quả thực hiện luật và giải quyết những vướng mắc, bất cập. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030; tổng hợp các vướng mắc, phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Sĩ quan để trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung.

Cùng với đó, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu cơ quan chức năng tiếp thu ý kiến của các đại biểu tại hội nghị, tiếp tục hoàn thiện các văn bản; làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức để hội nghị tổng kết Luật Sĩ quan diễn ra đúng kế hoạch, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

Phê chuẩn Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh đối với Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn

 

Sáng 22-5, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV, Quốc hội phê chuẩn Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh theo đề nghị của Chủ tịch nước.

Theo đó, Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Quốc hội phê chuẩn Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh theo đề nghị của Chủ tịch nước bằng hình thức bỏ phiếu kín.

Sau khi Ban kiểm phiếu báo cáo kết quả kiểm phiếu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết phê chuẩn Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh đối với Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bằng hình thức biểu quyết điện tử. Kết quả, có 463 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng 95,07% tổng số Đại biểu Quốc hội), trong đó có 463 đại biểu tán thành (bằng 95,07% tổng số Đại biểu Quốc hội).

Thượng tướng Trần Quốc Tỏ được giao điều hành hoạt động Bộ Công an

 

Ngày 22-5, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 439/QĐ-TTg về việc giao điều hành hoạt động của Bộ Công an.

Theo Quyết định, Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an điều hành hoạt động của Bộ Công an cho đến khi cấp có thẩm quyền kiện toàn chức danh Bộ trưởng Bộ Công an theo quy định.

Quyết định trên có hiệu lực kể từ ngày ký (22-5-2024).

* Tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra vào sáng 22-5, Quốc hội tiến hành quy trình bầu Chủ tịch nước đối với Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an.

Với 472/473 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Sau khi kết quả được công bố, tân Chủ tịch nước Tô Lâm đã tuyên thệ và phát biểu nhậm chức.

Đồng chí Tô Lâm được bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021-2026

Sáng 22-5, tại Nhà Quốc hội, Quốc hội khóa XV đã bầu đồng chí Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, đại biểu Quốc hội khóa XV giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021-2026.

Cụ thể, theo kết quả kiểm phiếu, với 472/473 đại biểu bỏ phiếu tán thành (bằng 96,92% tổng số 487 đại biểu), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu đồng chí Đại tướng Tô Lâm giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021-2026.

Sau khi được bầu, tân Chủ tịch nước Tô Lâm đã tuyên thệ nhậm chức theo quy định.

Trước cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, trước đồng bào, cử tri cả nước, Chủ tịch nước Tô Lâm tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Phát biểu nhậm chức, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm bầu và giao cho đồng chí trọng trách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trân trọng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã tin cậy giới thiệu đồng chí đảm nhận trọng trách cao cả này. 

Chủ tịch nước Tô Lâm ý thức sâu sắc rằng, đây là vinh dự, là trách nhiệm to lớn, đồng thời là cơ hội để cùng với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư dốc toàn bộ tâm sức, trí lực phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân theo con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn.
Đồng chí Tô Lâm nguyện mãi khắc ghi và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta; của các bậc tiền bối, của hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và nghĩa vụ quốc tế cao cả; những đóng góp to lớn của nhân dân, những người đã quên mình trong lao động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu. 
Chủ tịch nước bày tỏ: Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, nhạy bén của Đảng; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; sự chung sức, đồng lòng của nhân dân; sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay. Đây là những tiền đề hết sức quan trọng để đồng chí có thể hoàn thành tốt trọng trách được giao trên cương vị Chủ tịch nước; mặt khác cũng đặt ra yêu cầu, kỳ vọng cao hơn trong giai đoạn phát triển mới nhằm tạo ra những kỳ tích mới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhận thức sâu sắc trách nhiệm to lớn trước Đảng, Nhà nước, nhân dân, Chủ tịch nước Tô Lâm hứa sẽ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước đã được Hiến định; tích cực thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước; cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và các tổ chức trong hệ thống chính trị phát huy cao nhất tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”; nỗ lực thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng, trước hết là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu của đất nước 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết; hạnh phúc, ấm no của nhân dân là trước hết, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan, tập trung thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn mới; kiến tạo nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, tiên tiến, phát triển; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; ký kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân; lãnh đạo và tổ chức, thực hiện các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đồng chí sẽ cùng với các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với củng cố trật tự, kỷ cương; tập trung lãnh đạo xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hiện đại hóa đất nước. 
Kiên định và triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, mang đậm bản sắc ngoại giao “cây tre Việt Nam”, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, góp phần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ giữa nước ta với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống và các nước lớn; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xử lý hiệu quả, từ sớm, từ xa mọi thách thức đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục tích lũy thế và lực, củng cố vai trò, vị trí của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.
Tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; củng cố vững chắc thế trận lòng dân trên cơ sở thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Chủ tịch nước Tô Lâm xin hứa, đoàn kết thống nhất trong tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, không ngừng rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, đề cao trách nhiệm nêu gương, ra sức phấn đấu, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ; tiếp nối, kế thừa những thành quả cách mạng đã đạt được; cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, phát huy những truyền thống vẻ vang và kinh nghiệm quý báu của Đảng ta, dân tộc ta, phát huy mạnh mẽ bản sắc văn hóa, hào khí và trí tuệ Việt Nam; tăng cường sự gắn kết tư tưởng và hành động, đem hết sức mình đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới và sự tin tưởng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

* Sau Lễ tuyên thệ, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu trước Quốc hội.

 

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

Giữ gìn kỷ luật, kỷ cương và hình ảnh, uy tín Bộ đội Cụ Hồ

 “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội. Muốn vậy, kỷ luật, kỷ cương phải nghiêm, quân đội phải làm gương cho các nơi khác”-đó là phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương) tại Hội nghị Quân ủy Trung ương phiên họp cuối năm 2017. Tinh thần chỉ đạo ấy đã và đang được thể hiện rất rõ qua việc xử lý sai phạm của một số cán bộ cao cấp trong quân đội thời gian gần đây…

Xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm

Việc Kỳ họp thứ 35 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương mới đây thông báo kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân và xem xét, thi hành kỷ luật một số cán bộ cấp cao ở Quân khu 9 không phải là những gì bất thường, đột biến mà chỉ là việc tiếp tục triển khai những chủ trương nhất quán, quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tiêu cực của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Trước đó, năm 2018, một số cán bộ cấp cao quân đội, trong đó có cả tướng lĩnh đã phải chịu xử lý nghiêm minh theo pháp luật và kỷ luật của Đảng, Nhà nước và quân đội do có những sai phạm liên quan tới quản lý kinh tế, quản lý đất quốc phòng. Đây là những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, bị nhiều tác động của mặt trái kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, không phải chỉ đến khi các cơ quan chức năng vào cuộc, những sai phạm mới được xử lý. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn chủ động, nghiêm túc, quyết liệt thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Các vụ việc được xử lý nghiêm túc, kịp thời nhận được sự tin tưởng, đồng tình của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về sự quyết tâm và hành động của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong quân đội, thể hiện trên mặt trận này không có “vùng cấm”, kể cả đối với lãnh đạo cấp cao, cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, cán bộ là sĩ quan cao cấp và kể cả tướng lĩnh. Việc xử lý bảo đảm chặt chẽ trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; thông tin kịp thời, không bao che, bưng bít, nương nhẹ.

Việc xử lý sai phạm của cán bộ quân đội gần đây đã theo đúng Quy định 102 của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm, về thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật, thời hiệu xem xét có thể là 5 năm, 10 năm, thậm chí dài hơn tùy theo mức độ sai phạm. Như vậy, không còn vùng cấm cả với những cán bộ đã chuyển công tác khác hay đã nghỉ hưu thì coi như “hạ cánh an toàn”, là một sự nghiêm túc về thực hiện trách nhiệm nêu gương, khắc phục tư duy nhiệm kỳ…

Thông qua việc xử lý góp phần làm trong sạch bộ máy, loại bỏ khỏi bộ máy những cán bộ thoái hóa biến chất; củng cố, nâng cao sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội; trước hết là sự vững mạnh về chính trị.

Không để hiện tượng cá biệt làm ảnh hưởng bản chất truyền thống

Trước những sự việc xảy ra thời gian qua, từng có ý kiến đây đó trong dư luận đặt câu hỏi có hay không sự gia tăng tham nhũng, tiêu cực trong quân đội, trong lực lượng vũ trang (LLVT)? Có hay không sự suy thoái đến mức phổ biến, làm suy giảm sức chiến đấu, làm suy giảm niềm tin của nhân dân?

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, cùng với sự đau xót, nghiêm khắc rút ra những bài học đắt giá, chúng ta phải khẳng định một số sai phạm đó chỉ là những hiện tượng cá biệt. Việc xử lý nghiêm minh, kịp thời chính là sự thanh lọc, đẩy lùi những sai phạm cá biệt để Quân đội ta luôn trong sạch, vững mạnh, luôn xứng đáng với niềm tin cậy, yêu mến tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trước những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, hiện tượng cán bộ có chức có quyền, kể cả cán bộ LLVT rơi vào một số sai phạm kinh tế, lợi ích nhóm là một thực tế đã xảy ra. Đây cũng là điều không tránh khỏi đối với quân đội ở nhiều quốc gia trên thế giới những năm gần đây. Nhiều năm nay, Trung Quốc là quốc gia rất quyết liệt trong chống tham nhũng trong quân đội với rất nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp bị xử lý. Năm ngoái, Tổng thống Philippines sa thải 20 sĩ quan cao cấp do tham nhũng. Ở nước Nga, Tổng thống Nga Vladimir Putin gần 10 năm qua luôn mạnh tay chống tham nhũng. Nhiều công ty thuộc quyền kiểm soát của Bộ Quốc phòng Nga đã bị kiểm tra, xử lý và nhiều lãnh đạo cấp cao, trong đó từng có 4 cán bộ cấp lãnh đạo bộ bị thôi chức do tham nhũng… Tại Ukraine, năm 2016, hai quan chức cấp cao trong Bộ Quốc phòng đã bị bắt vì tội biển thủ công quỹ liên quan đến mua sắm quốc phòng. Tại Mỹ, quốc gia được coi là có hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt trong phòng ngừa tham nhũng, nhưng gần đây vẫn xảy ra nhiều vụ tham nhũng trong quân đội, điển hình là vụ một sĩ quan cao cấp trong lực lượng hải quân bị kết án 78 tháng tù vì tham nhũng, thừa nhận đã “nhận quà” của một nhà thầu quốc phòng nước ngoài để đổi lấy thông tin mật của hải quân Mỹ.

Đối với Quân đội ta, ngay từ những ngày đầu còn non trẻ, nhiều khó khăn, thiếu thốn, cũng đã có bài học đau xót, như vụ án Trần Dụ Châu. Trong khi bữa cơm của Bác Hồ và các chiến sĩ thời chống Pháp rất kham khổ thì Trần Dụ Châu và một số sĩ quan biến chất lại sống như những ông hoàng. Chính vì thế, ngay từ ngày đó, quan điểm của Đảng và Bác Hồ là phải xử lý rất nghiêm minh để làm gương. Ngày 5-9-1950 ở thị xã Thái Nguyên-thủ đô kháng chiến, Tòa án binh tối cao mở phiên tòa đặc biệt với 3 bị cáo hầu tòa là nguyên Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và đồng bọn can tội “biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến”. Cửa vào phòng xử án có một bảng khẩu hiệu: “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử án, trên tường có hai khẩu hiệu: “Quân pháp vô thân” và “Trừng trị để giáo huấn”. Phiên tòa xét xử công khai, bộ đội và nhân dân đến dự đông kín. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên án tử hình, hai đồng phạm mỗi tên lãnh án 10 năm tù. Chỉ một ngày sau, Trần Dụ Châu bị thi hành án tử hình.

Ngay từ các khẩu hiệu của phiên tòa đã thể hiện quan điểm, tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực trong Quân đội ta từ trước đến nay. Thông tin vụ án cũng được công khai kịp thời trên báo chí. Báo Cứu quốc đã có nhiều bài phản ánh về vụ án. Ngày 27-5-1950, báo đăng bài xã luận cho biết vụ án đã cho Chính phủ, Đoàn thể (Đảng) nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng, giáo dục và kiểm soát cán bộ để phục vụ tốt cho kháng chiến, kiến quốc... mặc dù có người e ngại, vì nếu công khai vụ án này sẽ làm cho dân chúng chê trách, kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền, lợi ít, hại nhiều...

Nhìn từ vụ án Trần Dụ Châu, chúng ta càng thấm thía quan điểm sâu xa của Đảng, Bác Hồ trong giáo dục, rèn luyện Quân đội ta. Bác từng chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Lo ngại sự sa ngã của những cán bộ liên quan tới quản lý kinh tế trong quân đội, Bác từng căn dặn: “Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ”.

Từ đó đến nay, các vụ việc liên quan tới tham nhũng, tiêu cực trong quân đội đều được xử lý nghiêm minh. Trong 33 số Báo Quân đội nhân dânxuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ, có nhiều bài báo tường thuật việc tòa án binh mặt trận xét xử công khai cán bộ sai phạm và đăng thông tin ngay trên trang nhất.

Chính sự nghiêm minh đó càng làm cho quân đội giữ được niềm tin yêu trọn vẹn của nhân dân, coi quân đội là trường học lớn, là lực lượng mẫu mực với những con người được tôi luyện trong một môi trường nghiêm ngặt, tiêu biểu về bản lĩnh, đạo đức, ít lòng ham muốn vật chất, chấp nhận thiệt thòi, khó khăn, gian khổ, thậm chí sẵn sàng xả thân, hy sinh cho Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ LLVT phần lớn ở nơi "đầu sóng ngọn gió", nơi tiền phương của Tổ quốc, nơi biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; miệt mài với gian khổ hy sinh trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Bộ phận tham gia làm kinh tế, quản lý kinh tế chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và những hiện tượng vi phạm như vừa qua cũng chỉ là cá biệt. Quân đội vẫn là đội quân tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân; là thanh bảo kiếm, là nòng cốt, là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ XHCN.

Giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh quân đội anh hùng

Những câu chuyện ấy khiến chúng ta càng thấm thía hơn khi những ngày này, chúng ta đang kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc của Bác, có những câu Bác viết ngày nay được in ra treo ở hội trường của nhiều tổ chức Đảng: “Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Còn nhớ chuyện Bác Hồ từng giáo dục đồng chí Phùng Thế Tài khi mới là một trung đoàn trưởng. Biết chuyện đồng chí có một số sai phạm, Bác trực tiếp gặp gỡ, căn dặn: “Bây giờ chú là lính. Cách mạng phát triển, quân đội phát triển mai sau chú cố gắng, sẽ là “quan”, là “tướng”. Tướng mà tính nóng là hỏng việc; hai là, tính chú liều quá. Có Bác bên cạnh mà chú còn dám bắt gà, bắt ngựa của dân, sau này ra “hùng cứ một phương” chú sẽ còn làm nhiều điều sai trái, ai ngăn được chú? Lần này ra chiến đấu chú nhớ phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm”. Lời căn dặn của Bác Hồ giúp người trung đoàn trưởng sửa sai, tiến bộ, sau này trở thành một vị tướng nổi tiếng.

Theo PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), từ vụ việc một số cán bộ, tướng lĩnh cấp cao bị xử lý, chúng ta rút ra được rất nhiều bài học. Cán bộ cấp cao, tướng lĩnh, thậm chí là lãnh đạo cấp cao hơn nữa nếu không tu dưỡng thì cũng trở thành nạn nhân, tù binh của chính sự thoái hóa biến chất. Cha ông ta có câu: Tu thân, tề gia, trị quốc. Cho nên, bài học tự rèn luyện rất quan trọng. Cùng với đó, phải kiểm soát quyền lực thật tốt. Bác nói là kiểm tra, kiểm soát hành vi của mỗi người, nếu làm đúng thì biểu dương, sai thì nhắc nhở, “tuýt còi” để phòng ngừa. Nếu không làm tốt sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm rồi mới phát hiện, mới lôi nhau ra xử phạt, kỷ luật. Còn đã sai phạm thì phải xử lý đến nơi đến chốn nhưng không coi trừng phạt là mục đích cuối cùng… mà chỉ là để giáo dục, với tinh thần chặt cành để cứu cây; để mỗi người và tập thể tiến bộ. Đó cũng là bài học để cùng với xử lý kiên quyết, nghiêm minh, Quân đội ta phải ngày càng hoàn thiện hơn cơ chế, chính sách để kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm, quản lý chặt chẽ hơn cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức, có quyền và tham gia các lĩnh vực liên quan đến kinh tế, tài chính, đất đai…

Chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương đầu năm 2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, quyết liệt hơn những tồn tại, hạn chế, nhất là những vụ việc tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng và nhấn mạnh: “Không sợ mất uy tín của quân đội và không sợ bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, chống phá. Nếu chúng ta làm tốt thì chính là đã nâng cao uy tín và bác bỏ các luận điệu xuyên tạc”.

Với tinh thần đó, chúng ta tin tưởng rằng, việc xử lý nghiêm minh một số sự việc sai phạm vừa qua sẽ góp phần làm cho Quân đội ta xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh toàn diện về mọi mặt; thực sự trở thành Đảng bộ mẫu mực, giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, coi đây là danh dự thiêng liêng và cao quý. 

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh

 

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước. 

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi.

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


SỰ THẬT CÁI GỌI LÀ "VIỆT NAM VI PHẠM NHÂN QUYỀN"

 Những năm qua, Việt Nam luôn nhất quán chính sách thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; coi con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng, vẫn có một số tổ chức quốc tế cố tình đưa ra những báo cáo phiến diện nhằm xuyên tạc tình hình, phủ nhận các thành tựu trong bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Đánh tráo khái niệm, xuyên tạc thực tế
Cuối tháng 4 vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Báo cáo nhân quyền năm 2023, trong đó tiếp tục đưa ra những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”… Để minh chứng cho nhận định phiến diện đó, cũng giống những năm trước, báo cáo nhấn mạnh rằng Việt Nam đã bắt, giam giữ những người vì hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội… Họ thống kê, tính đến ngày 31-10-2023, Việt Nam đã bắt giữ 25 cá nhân và kết án 23 người đang thực hiện các quyền con người được quốc tế công nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp ôn hòa và lập hội. Điều đáng nói là những “tù nhân chính trị”, “nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” được liệt kê trong báo cáo, như Bùi Tuấn Lâm, Ngụy Thị Khanh, Lê Anh Hùng, Phan Tất Thành, Châu Văn Khảm… đều là những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm các tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự nên bị bắt giữ, điều tra; một số đối tượng đưa ra xét xử và tuyên phạt với những bản án hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Ở đây, khái niệm “tù nhân chính trị” đã bị đánh tráo nhằm đánh lừa dư luận, hòng bảo vệ cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, mượn danh nhân quyền để vi phạm pháp luật, gây mất ổn định xã hội. Bởi lẽ, lâu nay, khái niệm “tù nhân chính trị” thường được dùng để chỉ những chiến sĩ cách mạng dũng cảm đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân nhưng phải chịu cảnh tù đày do bị thực dân, đế quốc bắt giam. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, nhiều tù nhân chính trị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần anh dũng, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc. Do đó, những đối tượng được nêu tên trong báo cáo nhân quyền nêu trên hoàn toàn không xứng đáng và không thể là “tù nhân chính trị” theo đúng nghĩa. Thực tế ở Việt Nam hiện nay không có ai là “tù nhân chính trị” như mô tả của Báo cáo nhân quyền năm 2023. Vì thế, mục đích việc đánh tráo khái niệm chính là nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam; tôn vinh, cổ xúy cho những đối tượng lợi dụng dân chủ, nhân quyền để vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, Báo cáo nhân quyền năm 2023 còn xuyên tạc thực tế khi đưa ra đánh giá “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” với minh chứng là cơ quan chức năng xử lý các trang Facebook cá nhân của một vài đối tượng hoạt động chống phá Nhà nước trên mạng xã hội.
Song, điều nực cười là báo cáo trên đã phớt lờ sự thật, rằng internet ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Internet có mặt ở mọi nơi, từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, tính đến đầu năm 2023, nước ta có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% dân số; có 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số. Tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu (164,0% tổng dân số). Nhờ đó, sau gần 30 năm kết nối internet, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Trung bình người Việt Nam dành gần 7 giờ/ngày để sử dụng internet. Tỷ lệ người dùng sử dụng internet hằng ngày lên tới 94%.
Rõ ràng, internet ở Việt Nam đã “bùng nổ” mạnh mẽ, hoàn toàn không có việc “Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do internet” như nội dung nêu trong Báo cáo nhân quyền năm 2023. Không thể đồng nhất việc xử lý các đối tượng lợi dụng internet, lợi dụng mạng xã hội để tán phát những thông tin sai trái, chống phá Nhà nước, xâm hại lợi ích của tổ chức, cá nhân, với cái gọi là “hạn chế nghiêm trọng tự do internet”. Bởi việc xử lý các đối tượng dùng internet vi phạm pháp luật là biện pháp đã và đang được tất cả quốc gia áp dụng nhằm lành mạnh hóa môi trường internet, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng xã hội.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, khi trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị bình luận về Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó có một số nội dung về Việt Nam vừa được công bố hôm 22-4 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nêu rõ: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 22-4-2024 mặc dù đã phản ánh các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng rất tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định không khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế ở Việt Nam”.
Không thể phủ nhận nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Thực tế, các quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam; được bảo vệ, bảo đảm bởi hệ thống văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai hiệu quả trên thực tiễn. Theo đó, nhiều năm gần đây, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn nhằm bảo đảm quyền con người, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó Việt Nam là thành viên. Từ năm 2019 đến nay, Quốc hội nước ta đã thông qua 44 luật, trong đó nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Việt Nam cũng đã và đang rà soát để sửa đổi, bổ sung một số luật phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời, rà soát, gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người cũng như triển khai các điều ước một cách nghiêm túc. Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, 25 công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đàm phán và chính thức tham gia Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM).
Mặt khác, như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Đến nay, sau gần 40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã luôn luôn nhất quán chính sách “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Mọi quyết sách đều xuất phát từ con người; mọi thành quả phát triển đều hướng vào bảo đảm tốt nhất quyền con người. Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, GDP bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng…
Đặc biệt, năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%. Hằng năm, Việt Nam dành trung bình khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng gần 50%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tăng cao nhất thế giới.
Những con số khái lược nêu trên đã chứng minh rõ quyết tâm và nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình cho sự ghi nhận ấy là việc ngày 11-10-2022, Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 (lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016). Đây là sự công nhận vị thế của Việt Nam, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.
Đến đây, chúng ta hoàn toàn có thể thấy rõ cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “chính quyền Việt Nam vẫn không có tiến bộ về nhân quyền”… được đề cập trong Báo cáo nhân quyền năm 2023 của Bộ Ngoại giao Mỹ là những nhận định thiếu khách quan, không chính xác về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

QUÂN ĐỘI LÀ CHỖ DỰA VỮNG CHẮC, TIN CẬY CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN

 “Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xoá đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh.

Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất."
Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch Covid-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.”