Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII CỦA ĐẢNG

 



 Nhng ngày trước, trong và sau Hi ngh Trung ương 8, khóa XIII ca Đảng Cng sn Vit Nam, đã có không ít nhng bài viết mang tính “git tít, câu view” trên mng xã hi ca mt s “nhân vt quen thuc” đã xuyên tc trng trn vn đề nhân s, công tác cán b ca Đảng nói riêng và ni dung Hi ngh Trung ương 8 nói chung.

Các thế lc thù địch, phn động xuyên tc rng: Trong bài phát biu kết thúc Hi ngh này, người đứng đầu Đảng Cng sn Vit Nam “tuy không còn quá t tin trong so sánh “đất nước ta chưa bao giđược tim lc, v thế và uy tín quc tế như ngày nay”, nhưng vn lc quan khi so sánh toàn cu rng, “trong 9 tháng đầu năm va qua, kinh tế nước ta vn tiếp tc là đim sáng trong bc tranh không my sáng sa ca kinh tế toàn cu; kinh tế vĩ mô cơ bn n định; lm phát, n công, n Chính ph, n nước ngoài, bi chi ngân sách nhà nước được kim soát; các cân đối ln ca nn kinh tế được bo đảm”. Theo bài viết “Không th xuyên tc v Hi ngh Trung ương 8 khóa XIII” của TS Văn Th Thanh Mai được đăng trên Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 10/10/2023: Không ch có vy, vic Tng Bí thư nhn mnh yêu cu “tp trung ưu tiên thc hin thng li đồng b các nhim v chính tr: Phát trin kinh tế - xã hi là trung tâm; xây dng Đảng là then cht; phát trin văn hóa là nn tng tinh thn; bo đảm quc phòng, an ninh là trng yếu, thường xuyên” cũng đã b các phn t cơ hi, cc đoan, phn động xuyên tc thành “ đây ý ngm ca ông là kinh tế phát trin trước tiên phi dành phc v cho Đảng, sau đó mi là đời sng nói chung ca dân chúng”. Đồng thi, h cũng b cong s tht khi cho rng Tng Bí thư Nguyn Phú Trng đã thay cm t “T quc Vit Nam xã hi ch nghĩa” bng cm t “T quc Vit Nam yêu quý ca chúng ta” và xuyên tc rng “mt ghi nhn là din văn bế mc, cm t “xã hi ch nghĩa” được nhc đến mc tiết chế. Đó chính là trong phn kết din văn, Tng Bí thư Nguyn Phú Trng “kêu gi xây dng “h thng chính tr trong sch” - “vì T quc Vit Nam yêu quý ca chúng ta” - đã không có cm t “xã hi ch nghĩa” thường thy mu câu dng thc l nghi này”.

Đặc bit, dù mt ni dung quan trng đã được Tng Bí thư khng định là: Vit Nam “chú trng bo đảm cao nht li ích quc gia - dân tc trên cơ s các nguyên tc cơ bn ca Hiến chương Liên hp quc, lut pháp quc tế, bình đẳng, hp tác, cùng có li” và “kết hp cht ch hai nhim v chiến lược xây dng và bo v T quc. Tăng cường đầu tư thích đáng cho vic xây dng nn quc phòng toàn dân, nn an ninh nhân dân, lc lượng vũ trang nhân dân, đáp ng yêu cu bo v T quc t sm, t xa; gi nước t khi nước chưa nguy; tuyt đối không để b động, bt ng trong mi tình hung. Kết hp sc mnh dân tc vi sc mnh thi đại; ch động, tích cc hi nhp, nâng cao hiu qu hp tác quc tế”, song các thế lc thù địch vn c tình kích động và c súy Vit Nam cn phi “chn phe”. Vì theo nhng nhà dân ch o tưởng này thì “ngày nay, không mt quc gia nào có th trung lp mà bt buc phi chn phe. Vn đề là chn phe nào. Chiến tranh luôn có th xy ra, phi sn sàng khi nó xy ra”. Và vì Vit Nam không chn phe mà chn l phi, chn chính nghĩa, nên h thy “chưa thy có gì mi sau khi Hi ngh Trung ương 8 kết thúc”...

Phi khng định đây là nhng lun điu hết sc phn động, mc dù th đon chng phá thì không mi ca các thế lc thù địch.

Có mt s tht không th b cong là, Hi ngh Trung ương 8 ca Đảng Cng sn Vit Nam din ra theo đúng chương trình, kế hoch ca toàn khóa. Ni dung, chương trình ca Hi ngh đã được TTXVN và các cơ quan truyn thông, báo chí đăng ti rt rõ là: 1) S bàn và cho ý kiến kết lun v tình hình kinh tế - xã hi, ngân sách nhà nước năm 2023, kế hoch năm 2024; kế hoch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2024-2026 và l trình thc hin chế độ tin lương mi. 2) Tng kết 10 năm thc hin Ngh quyết Trung ương 5 khóa XI v mt s vn đề chính sách xã hi giai đon 2012-2020. 3) Tng kết 20 năm thc hin Ngh quyết Trung ương 7 khóa IX v phát huy sc mnh đại đoàn kết toàn dân tc vì dân giàu, nước mnh, xã hi công bng, dân ch, văn minh. 4) Tng kết 15 năm thc hin Ngh quyết Trung ương 7 khóa X v xây dng đội ngũ trí thc trong thi k đẩy mnh công nghip hóa, hin đại hóa đất nước. 5) Tng kết 10 năm thc hin Ngh quyết Trung ương 8 khóa XI v Chiến lược bo v T quc trong tình hình mi. 6) Quy hoch Ban Chp hành Trung ương Đảng khóa XIV và mt s vn đề quan trng khác… Vì thế, lun điu cho rng ni b Đảng “đang bt đầu cuc đua tranh vào Trung y” và các phe cánh “s tìm mi cách, mi th đon để trit h ln nhau”, nên Hi ngh “phi hp kéo dài” ch là s đoán mò; là xuyên tc, bôi đen s tht.

Như vy, có th thy, bt chp nhng lun điu xuyên tc, bôi đen s tht ca các thế lc thù địch, thì Hi ngh Trung ương 8 đã thành công tt đẹp. Ni dung, chương trình Hi ngh đã được trin khai nghiêm túc và nhng kết qu tt đẹp ca Hi ngh không ch có ý nghĩa to ln, ni bt, th hin sâu sc nht ý Đảng, lòng Dân, vì nhng quyết sách quan trng này có nh hưởng trc tiếp đến đời sng ca nhân dân, mà vic tho lun, thng nht quyết định thành lp 5 Tiu ban (Tiu ban Văn kin; Tiu ban Kinh tế - Xã hi; Tiu ban Nhân s; Tiu ban Điu l Đảng và Tiu ban T chc phc v Đại hi) còn là s chun b quan trng đối vi Đại hi XIV ca Đảng.

Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc

 

(ĐCSVN) - Từ chủ trương, đường lối đến hiện thực cuộc sống đều là những luận cứ đanh thép, thuyết phục, có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc; bác bỏ những luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền cho người dân tộc thiểu số và lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc (ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Sinh thời, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”[1].

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số. Kể từ ngày thành lập, 94 năm qua (1930 - 2024), Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, hiệu quả chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng sự phát triển, không ngừng tự hoàn thiện nhận thức, lý luận về vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ.

Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), Đảng đã đề ra Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số. Nghị quyết có đoạn nêu rõ: “Đảng Đại hội xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn”… và “sự miệt thị công tác trong các dân tộc thiểu số là một lầm lỗi chính trị rất to lớn”[2]

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng chỉ rõ: “Các dân tộc trên đất nước Việt Nam được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc. Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây chia rẽ dân tộc của đế quốc và bè lũ tay sai. Cải thiện đời sống đồng bào, giúp họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục địa phương thiểu số”.

Tháng 8/1952, Bộ Chính trị có nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng hiện nay”.

Ngày 22/6/1953, Chính phủ ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến, kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt.

Đại hội IV (1976), Đảng chủ trương: “Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam… Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người với dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội VI (1986) là Đại hội của đường lối Đổi mới đất nước, song với vấn đề dân tộc, Đảng ta kiên trì chủ trương: “Phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể, kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội”.

Qua các kỳ Đại hội VII đến XII, Đảng ta đều tiếp tục khẳng định lại và bổ sung, đổi mới trong việc đề ra chủ trương, đường lối để lãnh đạo về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc.

Như vậy, có thể thấy rất rõ, qua các thời kỳ khác nhau, với những nhiệm vụ cách mạng khác nhau nhưng quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc luôn nhất quán quan điểm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển”[3], Việt Nam không ủng hộ phân biệt đối xử giữa các dân tộc.

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình trong nước, thế giới cũng như tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 12/3/2003, tại Hội nghị lần thứ 7 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trong Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương đề ra 5 quan điểm, đó là:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi; trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Riêng đối với Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Đảng ta đã 2 lần tiến hành tổng kết. Lần đầu vào năm 2009, sau đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 57-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. Lần tổng kết thứ hai vào năm 2019, sau đó, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, trong đó Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối cho công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030 với rất nhiều điểm mới, mang tính đột phá.

Đến Đại hội XIII (2021), Đảng đã khẳng định chủ trương về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc cho giai đoạn 2021 - 2025, đó là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi[4]”.

Không lâu sau Đại hội XIII, nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (ngày 23/5/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích và nêu rõ: một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”…; “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”.

Cùng với đó, trong bài viết “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”[5]

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nền tảng vững chắc của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”[6]

Như vậy, về mặt đối nội, hệ thống các quan điểm, đường lối vấn đề dân tộc của Đảng là mục tiêu, căn cứ, cơ sở chính trị để Nhà nước thể chế thành Hiến pháp, pháp luật và các chính sách dân tộc, huy động các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện, tạo ra sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam.

                                                                                                                 Nguồn: dangcongsan.vn

Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả

 

Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì

chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự

chuyển hóa"...

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã đạt được

nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, văn

hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng

định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như

ngày nay”.

ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN CẦN LÀM GÌ ĐỂ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG BÁC HỒ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song cuộc đời, sự nghiệp của Người luôn là tấm gương cho các thế hệ noi theo. Người luôn khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là nhu cầu tự thân, đồng thời là yêu cầu tất yếu đối với mỗi người. Người không chỉ nêu ra, yêu cầu mỗi người phải rèn luyện đạo đức cách mạng, mà suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức mà “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Với quan điểm đạo đức là gốc của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Người thường xuyên động viên tuổi trẻ tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập vươn lên để xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà. Trong lần nói chuyện với thanh niên tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II ngày 7-5-1958, Người nhấn mạnh: Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Trong Di chúc thiêng liêng của mình, ngay sau phần nói về Đảng, Người đã căn dặn: Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt kỳ vọng vào thanh niên. Năm 1945, khi nước nhà vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

Ngay từ tháng 1-1946, trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Là một lãnh tụ vĩ đại, có tầm nhìn xa trông rộng, hơn ai hết, Người thấu hiểu vai trò vô cùng to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, kiến thiết nước nhà. Muốn thực hiện được vai trò của mình, mỗi thanh niên cần cố gắng thực hiện tốt những điều sau:

1. Đoàn viên, thanh niên sống phải có lý tưởng, có mục tiêu phấn đấu, hoàn thành mục tiêu của bản thân là tiền đề cho việc hoàn thành mục tiêu lớn của đất nước. Đó chính là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ đó mà Lý Tự Trọng đã từng nói: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác!”.

2. Đoàn viên, thanh niên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nguyên tắc: Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

3. Đoàn viên, thanh niên phải có đạo đức cách mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không ít lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như dưới thời thực dân phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”… Người đoàn viên, thanh niên phải luôn cố gắng hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động.

4. Đoàn viên, thanh niên phải góp phần tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Muốn thế, phải “chuyên”. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể chỉ biến thành hiện thực trong cuộc sống, ngoài yêu cầu về việc đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng đắn, còn có việc phải tổ chức thực hiện tốt. Không như thế thì đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy.

5. Đoàn viên, thanh niên phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, học nữa và học mãi,…đó là những điều mà Hồ Chí Minh đã luôn thực hiện trong cuộc sống của chính bản thân mình và là tấm gương giáo dục, rèn luyện cho mỗi đoàn viên, thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: “Thanh niên phải chuyên tâm học hành và công tác, nhưng cũng cần có vui chơi. Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thanh niên. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng”.

Học tập Người, mỗi đoàn viên, thanh niên chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần thấm nhuần khẩu hiệu: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi rằng ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay nhằm xứng đáng hơn nữa với tinh thần thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh: Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.

Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân... Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; là cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư... Phong cách Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng; là ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn; nói đi đôi với làm; là giản dị, gần gũi quần chúng... Để thực hiện được mong ước của Bác Hồ kính yêu và kỳ vọng, quan tâm, chăm lo của Đảng, nhân dân và toàn xã hội đã dành cho thanh niên, mỗi thanh niên Việt Nam phải luôn không ngừng học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cách mạng, luôn “Dưỡng tâm trong - Rèn trí sáng - Xây hoài bão lớn”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giữ vững các thành quả cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả: Xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu./.