Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

 

Khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

     Bài viết nêu tính tất yếu, yêu cầu bức thiết phải khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thời gian tới.
 

     Khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung nhằm phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, tầm nhìn chiến lược, có uy tín cao và thực sự tiên phong gương mẫu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

     1. Tính tất yếu phải khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

     Cán bộ là những người tổ chức và lãnh đạo hoạt động thực tiễn, là trụ cột trong mọi giai đoạn cách mạng của đất nước. Đổi mới cơ chế phát hiện, lựa chọn, trọng dụng và thu hút nhân tài để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, tầm nhìn chiến lược, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong gương mẫu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết để xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn hiện nay.

     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo của cán bộ, đảng viên, nhân dân đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm khơi dậy, động viên, khích lệ tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung của cán bộ, đảng viên.

     Đại hội V của Đảng (1982) đặt ra tiêu chuẩn đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp cần phải có “tinh thần dám quyết định và dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ”(1). Đối với những vấn đề khó, phức tạp, quan trọng, mới chưa có tiền lệ thì “cần được Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo làm thử, lấy kết quả thực tế của việc làm thử mà ra quyết định”.

    Việc thực hiện “làm thử” để giải quyết những yêu cầu cấp bách của cuộc sống, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách phù hợp.

     Vấn đề “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” cũng là tiêu chuẩn hàng đầu của người cán bộ lãnh đạo, được nêu trong Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988. Nghị quyết nêu rõ: "Tiêu chuẩn hàng đầu của cán bộ lãnh đạo là phẩm chất chính trị, trước hết thể hiện ở lòng trung thành với đường lối của Đảng, ở thái độ tích cực đối với công cuộc đổi mới, ở sự trung thực đối với Đảng; có quyết tâm cao trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, có lối sống trong sạch, lành mạnh; có kiến thức và năng lực tiếp thu và cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng vào lĩnh vực mình phụ trách, biết tổ chức và điều hành công việc, có khả năng đoàn kết cán bộ; có phong cách dân chủ tập thể, biết lắng nghe ý kiến quần chúng, sâu sát quần chúng và cơ sở; có ý thức tổ chức kỷ luật, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm".

     Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong giai đoạn mới có nhiều vấn đề khó, phức tạp, đòi hỏi thận trọng trong từng bước triển khai. Đảng ta tiếp tục xác định thí điểm là việc cần làm, từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc để Nhà nước tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật phù hợp thực tế. Từ đó, nhiều chủ trương, mô hình thí điểm đã được tổ chức thực hiện: Đại hội X của Đảng (2006) cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân; Đại hội XI của Đảng (2011) nêu rõ: “Thực hiện thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng”. Tại Đại hội XII của Đảng (2016), nội dung “đổi mới công tác bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,… để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu” đã được đề ra và thực hiện.

Khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung nhằm phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, tầm nhìn chiến lược, có uy tín cao và thực sự tiên phong gương mẫu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

     Để thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đáp ứng yều cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó đặt ra tiêu chuẩn về “năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và vì nhân dân phục vụ”.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” lần đầu tiên nêu ra một trong những nhiệm vụ quan trọng để “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ” là phải “bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.

     Tại Đại hội XIII, một trong các nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được Đảng ta xác định: “… có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Trong đó, xác định đẩy mạnh thể chế đổi mới sáng tạo là nội dung cốt lõi trong đột phá chiến lược đầu tiên về hoàn thiện thể chế phát triển thời gian tới.

     Quán triệt quan điểm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật về cơ chế, chính sách; tôn trọng, động viên, hỗ trợ về nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện hiệu quả hoạt động đổi mới, sáng tạo; ưu tiên trong bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Bên cạnh đó, trong công tác xây dựng Đảng và quản lý nhà nước, nhiều ý tưởng đổi mới, sáng tạo đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép thực hiện thí điểm và đã đạt được những kết quả bước đầu.

    Những năm qua, việc hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân vẫn còn những khó khăn, thử thách.

“Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm, một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển”(6). Việc tổ chức thực hiện có nhiều vấn đề mới, chưa có kinh nghiệm, chưa được thể chế, có thể còn sai sót rủi ro, đòi hỏi cán bộ phải có bản lĩnh, năng động, sáng tạo với những phương thức mới, quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn để tạo chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực. Trong khi đó, “chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”, nhất là đối với việc giải quyết những vấn đề lớn, khó, phức tạp trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14- KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Đây là cơ sở quan trọng cho việc cụ thể hóa cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

     Thực tiễn cho thấy, một số cơ chế, chính sách khuyến khích đổi mới, sáng tạo đã mang lại hiệu quả tích cực như: phong trào “Năng động, sáng tạo vì sự phát triển khoa học, công nghệ Việt Nam”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, “Đoàn kết, sáng tạo, tham mưu tốt, phục vụ chu đáo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị”.

     Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, trở thành động lực mạnh mẽ cho đội ngũ cán bộ các cấp vững tin cống hiến, phát huy bản lĩnh, trí tuệ, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, thực hiện trọng trách, sứ mệnh với đất nước luôn là vấn đề cấp bách trong sự nghiệp phát triển đất nước. Do vậy, cần có cơ chế, chính sách phù hợp, thiết thực.

     2. Thực trạng khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

     Để bảo vệ cán bộ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chiu trách nhiệm vì lợi ích chung, việc hoàn thiện pháp luật, bổ sung các quy định về xem xét miễn, giảm, không truy cứu trách nhiệm trong trường hợp xảy ra rủi ro khi thi hành công vụ là rất quan trọng.

     Thời gian gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Khoa học Công nghệ; Luật Thi đua, khen thưởng; Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị định 13/2012/NĐ-CP về Điều lệ Sáng kiến,...

Như Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

     Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định: một trong những nguyên tắc xử lý là xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt đối với trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc trường hợp phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nghị định số 112/2020/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức nêu rõ: một trong những trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật là được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự khi thi hành công vụ.

     Hiện nay, nhiều cán bộ làm việc trong một số lĩnh vực chịu áp lực và rủi ro trước những vướng mắc từ quy định, chính sách, pháp luật hiện hành và rất lúng túng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Về nguyên tắc, cán bộ chỉ được thực hiện những điều mà pháp luật cho phép, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong khi đó, yêu cầu mới, hoàn cảnh mới luôn đòi hỏi chúng ta phải vận động, thay đổi cách nghĩ, cách làm để thích ứng nhanh với cái mới. Lúc này, chỉ những người cán bộ tâm huyết, trách nhiệm mới phát hiện ra nút thắt, bất cập để đổi mới, sáng tạo, tháo gỡ. Vướng mắc, bất cập thì cần tháo gỡ ngay để tạo sự bứt phá, trong khi xin ý kiến và chờ đợi hệ thống quy định được bổ sung, hoàn thiện thường mất nhiều thời gian và khó để triển khai.

     Thời gian qua, nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã có những cách làm mới, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn địa phương nhưng chưa có quy định cụ thể của Nhà nước hoặc chưa được kịp thời sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của thực tiễn cuộc sống. Do đó, khi các cơ quan thanh tra, kiểm tra sự vụ phát hiện các nội dung thực hiện việc đổi mới, sáng tạo này là trái với các văn bản quy định chung đã dẫn đến việc xử lý vi phạm từ cán bộ lãnh đạo đến người tham mưu. Điều này làm nhụt ý chí phấn đấu sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thậm chí làm mất động lực và niềm tin của cán bộ để đóng góp những ý tưởng, sáng tạo phù hợp với đòi hỏi thực tiễn và vì lợi ích chung của địa phương.

     Đổi mới, sáng tạo luôn đối lập với bảo thủ, trì trệ nên không dễ tạo được đồng thuận của số đông. Về cơ bản, đổi mới, sáng tạo và đột phá luôn thuộc về thiểu số, vượt trước nhận thức của số đông. Do vậy, nếu không nhận được sự đồng tình, ủng hộ của tập thể cũng như được bảo vệ thì bản thân cá nhân đổi mới, sáng tạo, dám làm, dám đột phá sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực, kể cả các tổn thất về chính trị.

     Đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm khi động chạm đến lợi ích nhóm thường bị phản ứng quyết liệt, kể cả vu khống, bôi nhọ và không loại trừ việc bị “hạ bệ” nếu không được bảo vệ kịp thời. Với những đổi mới, sáng tạo, đột phá, tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt và những vấn đề chưa có quy định hoặc có quy định nhưng không còn phù hợp với thực tiễn thì hầu như chưa có quy định của Trung ương. Do đó, việc triển khai ý tưởng liên quan đến phát triển kinh tế, đổi mới công tác cán bộ còn gặp nhiều khó khăn về mặt thể chế, chính sách; cần xin ý kiến, họp bàn nhiều lần mới có thể xây dựng phương án và triển khai.

    Trong khi đó, hiện nay ở nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm sự bảo vệ đối với những cá nhân, tập thể có ý tưởng đổi mới, sáng tạo, đột phá. Việc thiếu các quy định làm cơ sở để bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thời gian qua đã không khích lệ và tạo điều kiện cho các cán bộ phát huy năng lực, nhiệt huyết cống hiến cho sự nghiệp cách mạng; không tạo được động lực để đổi mới hơn nữa mọi mặt của kinh tế-xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển. Có những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới nhưng vẫn dè chừng vì sợ mắc phải sai sót nên không thực sự quyết liệt trong khi thực thi dẫn đến đổi mới nửa vời, thiếu hiệu quả.

     Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hệ thống pháp luật chưa theo kịp thực tiễn phát triển, còn có một số quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa đủ hành lang pháp lý cho đổi mới, sáng tạo. Còn có những điểm nghẽn, khoảng trống dẫn đến tổ chức thực hiện còn rủi ro, thiệt hại, dễ dẫn đến sai sót, đòi hỏi cán bộ phải có bản lĩnh với quyết tâm và cách làm mới, đột phá, trong khi một bộ phận cán bộ hiện nay có tâm lý an phận, ngại đổi mới.

     Mặt khác, do tính dự báo, khả thi của hệ thống pháp luật chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, pháp luật thiếu tính ổn định, một số đạo luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cũng gây nên tâm lý e ngại ở cán bộ, đảng viên trong việc đề xuất các sáng kiến, chính sách đột phá, sáng tạo, bởi việc nghiên cứu, thử nghiệm các chính sách mới thường đòi hỏi thời gian thử nghiệm, chứng minh lâu dài, nguồn lực đầu tư lớn, trong khi chính sách pháp luật nhanh thay đổi và có trường hợp không được dự báo trước.

    Các quy định về khuyến khích cán bộ có năng lực, có thành tích xuất sắc trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao nhưng việc quan tâm, bố trí cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả cao, mang lại sản phẩm cụ thể còn mức độ, chưa đủ khích lệ, động viên.

     Thực hiện chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, mang lại hiệu quả còn chưa phù hợp. Pháp luật về thi đua, khen thưởng còn thiếu các quy định có tính đột phá, chưa đủ mạnh để cán bộ, đảng viên phát huy tối đa sức sáng tạo, khả năng cống hiến cho đất nước.

     Cơ chế tiếp nhận, xem xét việc thực hiện thí điểm những đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ còn bất cập. Chưa ban hành được khung pháp lý để thể chế quan điểm cho phép thử nghiệm các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới trong môi trường thực tiễn với phạm vi và thời gian xác định, có cơ chế quản lý, giám sát phù hợp và các phương án dự phòng xử lý rủi ro phù hợp để ngăn chặn hậu quả (nếu thí điểm thất bại), không gây ảnh hưởng chung. Thậm chí, có lúc, có nơi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tỏ ra e ngại, né tránh, thờ ơ với việc đưa ra những đánh giá khách quan, toàn diện, quyết định chủ trương thực hiện những ý tưởng, đề xuất mới. Việc hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho tổ chức thực hiện chưa được quan tâm. Việc sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng kịp thời mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả chưa được chú trọng thường xuyên. Các quy định về miễn, giảm trách nhiệm kỷ luật, hành chính, hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan đến chế tài trong trường hợp gặp phải rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo còn chưa đầy đủ. Trong khi đó, pháp luật về chế tài xử lý hình sự, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên vi phạm được quy định theo hướng ngày càng chặt chẽ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Điều này dẫn đến xu hướng người có tài năng, tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm phần nào e ngại, không dám đổi mới, sáng tạo.

    3. Giải pháp khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

    Một là, nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về sự cần thiết và trách nhiệm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Xác định đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung là phẩm chất cần có của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị khích lệ cần tinh thần, niềm tin, tạo động lực để khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên; hỗ trợ mọi nguồn lực và điều kiện thuận lợi để cán bộ triển khai thực hiện hiệu quả. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học tập, rèn luyện phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả để nâng cao trình độ mọi mặt, gắn lý luận với thực tiễn làm cơ sở cho nhận thức thực tiễn đúng để giải quyết vấn đề thấu đáo, năng động, sáng tạo, khả thi cao. Rèn luyện phong cách làm việc có kế hoạch, thường xuyên tìm tòi, đề xuất những ý kiến hay, cách làm hiệu quả; không giáo điều, rập khuôn, không sáo rỗng, tự mình tư duy để giải quyết thấu đáo mọi việc đáp ứng tốt yêu cầu và điều kiện thực tiễn đòi hỏi.

    Đổi mới, sáng tạo luôn là chủ trương đúng đắn, cần thiết trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế của đất nước và cũng là yêu cầu cần thiết, quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân các địa phương trong tình hình hiện nay. Cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức liên quan trong khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo bằng các hình thức phù hợp hiệu quả; đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính chủ động của cán bộ trong giải quyết những vấn đề phức tạp bằng các giải pháp sáng tạo, đột phá.

    Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật

    Chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bền vững. Chuyển trạng thái tư duy lập pháp từ quản lý các quan hệ đã định hình sang quản lý sự thay đổi để có thể phản ứng, thích ứng kịp thời với những chuyển biến nhanh chóng, khó đoán định của thực tiễn. Xây dựng pháp luật phải mở đường cho kiến tạo phát triển, cho đổi mới sáng tạo để khơi dậy, kích thích, phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng trong xã hội trong đó có khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

    Hoàn thiện pháp luật về thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chú trọng rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là trong một số lĩnh vực nhạy cảm dễ nảy sinh tiêu cực như đấu thầu, đấu giá, quản lý sử dụng đất đai, tài sản công, tài chính, chứng khoán... tiềm ẩn nguy cơ gây rủi ro trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình. Phải xác định rõ việc thể chế theo hướng nào.

     Thực tiễn cho thấy quy trình sửa đổi các quy định pháp luật của nước ta hiện nay vẫn phức tạp, kéo dài. Cùng với đó, các vấn đề vướng mắc, phức tạp cần đổi mới không phải tất cả đều do Quốc hội, Chính phủ quyết định mà nhiều vấn đề xuất phát từ các bộ, ngành ở Trung ương và địa phương. Vì vậy, cần xác định nguyên tắc vướng ở cấp nào thì cấp đấy cho chủ trương và vướng ở văn bản nào thì do cơ quan ban hành ra văn bản đó sửa đổi, tháo gỡ hoặc cho chủ trương thực hiện theo hướng rút gọn. Tổ chức tổng rà soát các văn bản và đề xuất sửa đổi tháo gỡ vướng mắc, khó khăn từ các văn bản. Trên cơ sở đó, nội dung nào tháo gỡ được ngay thì tiến hành sửa ngay. Nội dung nào cần thêm thời gian để đánh giá thì cho tiến hành thí điểm trước. Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý về đề xuất, xây dựng và ban hành “cơ chế thí điểm”; “vùng đặc thù chính sách” - vùng này không chỉ mang nghĩa giới hạn về địa lý và còn có thể giới hạn về đối tượng, chủ thể - nhằm thử nghiệm các ý tưởng, chính sách đổi mới, sáng tạo trước khi nhân rộng, áp dụng đối với số đông đại chúng.

     Ba là, nâng cao chất lượng các khâu trong công tác cán bộ, tập trung vào khâu đánh giá cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu

     Cán bộ được xem là “khâu then chốt” của “nhiệm vụ then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng ta giữ vững vai trò tiên phong lãnh đạo trong bất cứ giai đoạn nào của cách mạng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Như vậy, yếu tố cán bộ tác động trực tiếp đến việc phát triển hay thành bại trong công cuộc cách mạng dù ở giai đoạn nào. Do đó, quan tâm, đánh giá thực chất đội ngũ cán bộ là một yêu cầu bắt buộc.

     Thực tiễn cho thấy, việc thực hiên tốt các khâu của công tác cán bộ, nhất là khâu đánh giá cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá đúng sẽ phát huy được khả năng của từng cán bộ và đội ngũ cán bộ; đánh giá không đúng sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ sai, ảnh hưởng đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Mặc dù có vai trò rất quan trọng, nhưng thời gian qua, công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, còn nhiều hạn chế cần sớm khắc phục để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Do vậy, cần hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật hiện hành về đánh giá hiệu quả, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, gắn kết quả đánh giá cán bộ với các chính sách cán bộ. Lượng hóa các tiêu chí đánh giá cán bộ theo vị trí việc làm và tăng cường nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đánh giá cán bộ, có cơ chế loại trừ những cán bộ sợ trách nhiệm, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ ra khỏi bộ máy tổ chức.

     Trong bối cảnh hiện nay, muốn đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm hiệu quả, cán bộ phải được đào tạo toàn diện, không chỉ nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải có khả năng dự báo, nắm bắt xu thế phát triển chung của đất nước, khu vực cũng như trên thế giới; nhanh chóng thích ứng với những biến đổi mới, yêu cầu mới trong hội nhập quốc tế.

     Cán bộ không những có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt mà cần có trình độ chuyên môn cao, chuyên môn sâu lĩnh vực mình công tác, có ngoại ngữ, thành thạo công nghệ thông tin; có ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức vì nhân dân phục vụ.

     Bốn là, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, quan tâm thực hiện tốt các chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ yên tâm phấn đấu, rèn luyện

     Xây dựng bầu không khí ở cơ quan, đơn vị trong sáng, đoàn kết, thống nhất, tạo sự gắn bó trên cơ sở tình cảm đồng chí, đồng nghiệp, chân thành, trung thực, tin tưởng nhau, tin tưởng vào tổ chức, vào lãnh đạo; thể hiện tinh thần công bằng, khách quan, dân chủ cơ sở được phát huy, mọi người đượcltôn trọng và đối xử bình đẳng, được quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện để cán bộ được cống hiến và phát triển về mọi mặt.

     Quan tâm thực hiện tốt các chính sách, tạo điềulkiện khi cán bộ có ý tưởng mới, đột phá. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cần nghiêm túc xem xét tính khả thi, nội dung, tính chất, quy mô của ý tưởng để yêu cầu cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch hoặc đề án phù hợp, sau đó, thảo luận, bàn bạc dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, trưng cầu ý kiến chuyên gia và các đối tượng bị tác động; đánh giá, thẩm định kế hoạch và quyết định cho cán bộ, đảng viên triển khai hoặc không triển khai. Đặc biệt, phải thường xuyên động viên, khích lệ, tin tưởng giao quyền tự quyết cho cán bộ, tạo cơ chế, môi trường, điều kiện thuận lợi để cán bộ mạnh dạn đề xuất, triển khai ý tưởng đổi mới, sáng tạo.

      Để cán bộ yên tâm thực hiện kế hoạch, đề án đổi mới, sáng tạo, bảo đảm là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ đổi mới, sáng tạo, cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cần chỉ đạo triển khai các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; bảo vệ khi cán bộ gặp rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo hoặc bị cản trở, gây khó khăn, chống phá; được thoái thác, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, chỉ đạo khắc phục hậu quả (nếu có). Kịp thời khen thưởng nhữnglcán bộ tiêu biểu, gương mẫu hoàn thành xuất sắclnhiệm vụ được giao.

     Năm là, coi trọng công tác sơ kết, tổng kết, khen thưởng và đúc rút kinh nghiệm về thực hiện chức trách, trách nhiệm của cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận. Nhờ thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn mà đường lối, chủ trương của Đảng luôn phù hợp với thực tiễn, đủ năng lực chỉ đạo thực tiễn, được kiểm chứng bằng những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.

     Định kỳ sơ kết, tổng kết, đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng những mô hình, giải pháp thí điểm, đổi mới, sáng tạo có hiệu quả; kịp thời xem xét, nghiên cứu để thể chế hóa thành quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng các mô hình, giải pháp đó. Đồng thời biểu dương, khen thưởng xứng đáng; ưu tiên bố trí, sử dụng cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả cao. Quan tâm kiểm tra, giám sát, không ngừng bổ sung, hoàn thiện những thiếu sót, khuyết điểm, tạo cơ sở thực tiễn, tranh thủ sự đồng tình, giảm thiểu sức ép của những quan điểm bảo thủ lạc hậu, tiến tới đồng thuận./.

CĐ, VS (st)

 

Phản bác các luận điệu xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 

              Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua là minh chứng cho chủ trương đúng đắn, kiên quyết, kiên trì của Đảng ta trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này, đồng thời là phản bác đanh thép trước các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng “tham nhũng ở Việt Nam là do thể chế chính trị”.

           Phòng, chống tham nhũng đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh phòng, chống.

           Thực tế, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được, đất nước ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Tham nhũng diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu đến sự nghiệp đổi mới, làm suy giảm lòng tin của nhân dân.

Hiện nay các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá cuộc chiến “diệt giặc tham nhũng”, không vùng cấm, không ngoại lệ; Chúng xuyên tạc bóp méo hòng phủ nhận những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta và kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất. Với chiêu bài quen thuộc, chúng tận dụng triệt để internet, mạng xã hội tập trung reo rắc các tư tưởng, quan điểm sai trái, xuyên tạc, bóp méo, thổi phồng các vụ việc tham nhũng, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong thời gian gần đây. Vì vậy, yêu cầu tất yếu khách quan của toàn xã hội đặt ra đòi hỏi phải nhận diện và phản bác một cách khoa học các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta, kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm tham nhũng và những phần tử chống phá, cản trở công cuộc đấu tranh chống tham nhũng; góp phần nâng cao sức chiến đấu, bảo vệ vững chắc Đảng ta trong tình hình mới.

          Trái ngược với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ của nhân dân trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng thì đâu đó vẫn còn một số phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch, phản động tung hô những luận điệu đả kích, xuyên tạc, chống phá chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng ta về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Chúng đưa ra các luận điệu xuyên tạc như: đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm chỉ là “trò đánh trống, khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, “đấu đá nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng phe cánh”, là chính “ta đánh ta”,… cần phải xét lại, “phải thay đổi thể chế chính trị”.

        Xảo ngôn đó xuất hiện ở các trang tin gần đây với bài viết có nhan đề Có ai tin câu: Chống tham nhũng ở Việt Nam không có vùng cấm; “Một cuộc “thanh trừng” trong Đảng ở Việt Nam”, “Không cần phải thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng”; không cần gán ghép “tham nhũng” với “tiêu cực”; không cần đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng; không cần “chống” làm gì cho mệt sức, tốn công, tốn kém tiền thuế của dân; để công sức, tiền của làm việc khác,… vì tham nhũng là tất yếu của cuộc sống, khuyết tật bẩm sinh của quyền lực…

          Không dừng lại ở đó, các luận điệu ăn theo còn cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí” cán bộ, đảng viên làm “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm… làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế, kìm hãm sự phát triển đất nước. Chẳng hạn, có những luận điệu cho rằng: cuộc chiến chống tham nhũng Việt Nam là “cuộc chiến nửa vời”, vẫn còn “nhiều vùng cấm”. Hay chúng cho rằng chống tham nhũng đã làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư nước ngoài, giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu, ảnh hưởng đến xuất khẩu,... cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ đó theo chúng, thuốc đặc trị tham nhũng ở Việt Nam là phải thay đổi thể chế chính trị, phải đa đảng. Đây là luận điệu xuyên tạc, phản động rất thâm độc.

         Trước hết, cần nhận thức rõ, tham ô, tham nhũng là sản phẩm của tất cả các thể chế chính trị từ khi có nhà nước, không phải của riêng chế độ xã hội chủ nghĩa. Bản chất của tham nhũng là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, tồn tại ở mọi chế độ chính trị với những mức độ và dạng thức khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 chỉ rõ: “Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực của nhà nước để trục lợi riêng”. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam đã xác định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Do đó, về bản chất, “nói một cách nôm na, dễ hiểu như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy thì tham nhũng là hành vi “ăn cắp của công làm của tư”(1), là “hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất”(2).

         Tham nhũng là hiện tượng, một trong những nguy cơ gây ảnh hưởng và thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Tính chất nguy hiểm của nạn tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến đội ngũ cán bộ, công chức; nếu nó không được ngăn chặn, triệt bỏ sẽ gây cản trở lớn cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Tham nhũng làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm xói mòn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Hệ lụy kéo theo là làm suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ lãnh đạo, gây ra sự bất bình, bức xúc trong dư luận xã hội và nghiêm trọng hơn là làm xói mòn, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.

Đấu tranh loại bỏ tham nhũng là quy luật mang tính tất yếu xuất phát từ tính chất nguy hại của hiện tượng này đối với xã hội. Đây là một quá trình lâu dài trong dòng chảy liên tục mà bất kỳ thể chế chính trị hay quốc gia nào cũng phải quan tâm để xóa bỏ tận gốc khuyết tật đó.

        Thực tiễn đã cho thấy các đối tượng thù địch, phản động cố tình quy chụp, suy diễn vô căn cứ, bởi tham nhũng tồn tại ở nhiều quốc gia theo thể chế đa đảng. Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022 của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó đại đa số các quốc gia có thể chế đa đảng vẫn có tham nhũng. Theo xếp hạng các ước ít tham nhũng nhất (điểm cao là ít tham nhũng) là Đan Mạch (88 điểm), Phần Lan (87 điểm) và New Zealand (83 điểm); đứng cuối danh sách là Somalia (12 điểm), Syria (13 điểm) và Nam Sudan (13 điểm)(3). Không chỉ ở các số liệu đo lường đó, tham nhũng đã là vấn đề nghiêm trọng ở một số quốc gia khi một số nguyên thủ cũng phạm tội “tham nhũng”. Do đó, tham nhũng là một vấn nạn mang tính toàn cầu chứ không phải là sản phẩm riêng, là “con đẻ” của thể chế chính trị ở Việt Nam hay của một quốc gia nào.

        Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Để thực hiện được điều đó, vấn đề mang tính tất yếu và then chốt của Đảng là luôn phải tự đổi mới, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất,... trong nội bộ và hệ thống chính trị. Quan điểm nhất quán của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng qua các thời kỳ đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị lớn lao, dù khó khăn, lâu dài nhưng vẫn không chùn bước trước “nạn giặc nội xâm”.

         Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ, quyết liệt về phòng, chống tham nhũng: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”(4).

Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt thực hiện nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong công tác phòng, chống tham nhũng. Các văn kiện đại hội của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng đã hình thành hệ thống quan điểm chỉ đạo, chính sách thực thi đúng đắn, phù hợp. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm việc thực hiện (2012 - 2022) nêu rõ, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang,...   Thời gian vừa qua, một loạt các sai phạm được đưa ra xét xử nghiêm minh. Điều này khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực, “có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều, sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”(5) góp phần thức tỉnh, cảnh báo, ngăn chặn từng bước và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái.

         Thực hiện nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào,… và với tinh thần chỉ đạo: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn” của toàn Đảng, toàn dân ta(6) đã phát huy hiệu lực, lan tỏa quyết tâm của Đảng trong thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng “góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”(7).

          Thực tế đã minh chứng, công cuộc phòng, chống tham nhũng của nước ta hiện nay đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, qua đó, từng bước kiềm chế, ngăn chặn vấn nạn này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Chống tham nhũng góp phần khắc phục tình trạng thất thoát và thu hồi tài sản, củng cố và tăng cường niềm tin tưởng của nhân dân, làm trong sạch môi trường đầu tư, tạo ra động lực cho sự phát triển đất nước.

Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua là minh chứng cho chủ trương đúng đắn, kiên quyết, kiên trì của Đảng ta trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này, đồng thời là phản bác đanh thép trước các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng “tham nhũng ở Việt Nam là do thể chế chính trị”.

        Ý chí quyết tâm của Đảng và Nhà nước đã được hiện thực hóa thông qua công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng kinh tế. Trong năm 2022, tăng hơn 290% (tổng số giá trị tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát đã thu hồi) so với năm 2021. Tổ chức Minh bạch quốc tế đã đánh giá Việt Nam là một trong 5 quốc gia cải thiện chỉ số CPI, tăng hơn 30 bậc trong 10 năm. Năm 2022 tăng 03 điểm và lên 10 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2021.

         Không những vậy, các đối tượng đã hoàn toàn sai về phương pháp nhận thức khi lấy hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm để quy kết bản chất của chế độ ta, đòi thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam. Trên thực tế, một bộ phận cán bộ, đảng viên tham nhũng là hiện tượng “Con sâu làm rầu nồi canh”, “cành cây sâu mọt” chứ không thể đánh đồng với toàn bộ cán bộ, đảng viên, mà cũng càng không thể là bản chất của chế độ. Các luận điệu xuyên tạc đòi thay đổi thể chế của nước ta dùng chiêu bài “mượn gió, bẻ măng”, chiêu trò “rượu cũ bình mới” hòng cố tình che đậy mục đích, nhìn thấy cây mà không nhìn thấy rừng, thấy hiện tượng mà không thấy bản chất và hiệu quả thực sự của công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta. Sự thật minh chứng Đảng ta đã không bao che, mà thay vào đó kiên quyết xử lý, cắt bỏ “những cái ung nhọt” thoái hóa, biến chất đó ra khỏi hàng ngũ của Đảng.

        Qua đó nhận thấy, những luận điệu xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam vẫn “cũ rích” của các thế lực thù địch. Đó là đòi tam quyền phân lập, quy kết bản chất cuộc chiến chống tham nhũng chỉ là đấu đá nội bộ, nhằm hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm của nhân dân. Phủ nhận sạch trơn những thành tựu mà Đảng, nhân dân ta đã đạt được trong cuộc chiến chống tham nhũng. Mục đích suy đến cùng là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

         Phòng, chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, lâu dài, phức tạp ở Việt Nam hiện nay. Cuộc đấu tranh đó luôn đòi hỏi sự phòng ngừa “từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc”(8) và sự kiên quyết, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân ta. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu và nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, Đảng ta cần đấu tranh không khoan nhượng, loại bỏ các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, trong đó có luận điệu đòi “thay đổi thể chế” của nước ta. Đồng thời, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, lan tỏa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phát huy vai trò nêu gương và trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, của từng thành viên trong xã hội nhằm đấu tranh triệt bỏ mọi biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng văn hóa liêm chính, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

          Những kết quả nổi bật và chiến lược sắc bén trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta thời gian qua là sự công phá mạnh mẽ vào các luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam của các thế lực thù địch. Đồng thời, tạo cơ sở vững chắc củng cố niềm tin thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong công cuộc đầy gian khó, thử thách, qua đó góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

CĐ, VS (st)

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG BẾ GIẢNG LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH KHÓA 95!

     Sáng 24-5, Học viện Quốc phòng tổ chức Lễ bế giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh khóa 95. Trung tướng Đỗ Văn Bảnh, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Quốc phòng chủ trì buổi lễ!
Tham gia khóa học, các học viên đã được nghiên cứu một số nội dung cơ bản về chiến lược quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân; bảo vệ chủ quyền, biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo Việt Nam; phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và một số nội dung quan trọng khác.

Cũng trong khóa học, các học viên được nghiên cứu thực tế, tọa đàm, trao đổi với lãnh đạo một số đơn vị Quân đội và địa phương, như: Sư đoàn BB 10, Quân đoàn 3, Lữ đoàn Đặc công 198, Binh chủng Đặc công, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel, Công ty 74, Binh đoàn 15, Nhà máy Z113, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh, Binh đoàn 12, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai. 

Phát biểu bế giảng khóa học, Trung tướng Đỗ Văn Bảnh chúc mừng các đồng chí học viên đã hoàn thành khóa học; đồng thời nhấn mạnh: Khóa học là cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quý để các học viên nâng cao trình độ nhận thức, tư duy dự báo chiến lược, năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Các đồng chí học viên cần tiếp tục nghiên cứu nắm vững những vấn đề lý luận và thực tiễn về quốc phòng, an ninh đang đặt ra; quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các quy định, kết luận của Trung ương, cụ thể là Kết luận số 21 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; cập nhật những nội dung mới trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”...


Môi trường ST.

Học viện Quốc phòng bế giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh khóa 95

 Sáng 24-5, Học viện Quốc phòng tổ chức Lễ bế giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh khóa 95. Trung tướng Đỗ Văn Bảnh, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Quốc phòng chủ trì buổi lễ.

Tham gia khóa học, các học viên đã được nghiên cứu một số nội dung cơ bản về chiến lược quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân; bảo vệ chủ quyền, biên giới quốc gia, chủ quyền biển, đảo Việt Nam; phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và một số nội dung quan trọng khác. Phát biểu bế giảng khóa học, Trung tướng Đỗ Văn Bảnh chúc mừng các đồng chí học viên đã hoàn thành khóa học; đồng thời nhấn mạnh: Khóa học là cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quý để các học viên nâng cao trình độ nhận thức, tư duy dự báo chiến lược, năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Các đồng chí học viên cần tiếp tục nghiên cứu nắm vững những vấn đề lý luận và thực tiễn về quốc phòng, an ninh đang đặt ra; quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các quy định, kết luận của Trung ương, cụ thể là Kết luận số 21 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; cập nhật những nội dung mới trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”...

Cũng trong khóa học, các học viên được nghiên cứu thực tế, tọa đàm, trao đổi với lãnh đạo một số đơn vị Quân đội và địa phương, như: Sư đoàn BB 10, Quân đoàn 3, Lữ đoàn Đặc công 198, Binh chủng Đặc công, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel, Công ty 74, Binh đoàn 15, Nhà máy Z113, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh, Binh đoàn 12, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai. TL

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin”. Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Cách đây hơn 35 năm, khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hai mặt không tách rời của cùng một vấn đề mục tiêu: giữ vững niềm tin khoa học, tiếp tục đổi mới sáng tạo, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân. Muốn thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc, cường thịnh, trường tồn thì phải ra sức tăng cường tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong dân, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm từ trong Đảng đến ngoài xã hội, “cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ” (V.I.Lênin), “cách mạng lấy sức mạnh từ trong nhân dân” (Hồ Chí Minh). Bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì tự nó đã có đủ sức mạnh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để giữ vững niềm tin, củng cố đức tin, thúc đẩy hành động sáng tạo vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đấu tranh có hiệu quả để vạch trần và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là thái độ và hành động tích cực, chủ động để khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo phương châm của Hồ Chí Minh, xây đi liền với chống. Tác phẩm lý luận quan trọng của Bác vào lúc cuối đời “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa sâu xa là vì vậy. Muốn bảo vệ thì phải trung thành, muốn trung thành thì phải vận dụng đúng và phát triển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa mà chúng ta theo đuổi. Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng đòi hỏi Đảng, mọi cán bộ đảng viên, chiến sĩ và nhân dân không chỉ nâng cao nhận thức khoa học, trau dồi lập trường quan điểm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” như Đảng ta đã nhấn mạnh mà còn rất cần đến phẩm chất đạo đức trong sáng của mỗi người.

Từ nhận thức phải dẫn đến hành động, từ giác ngộ lý luận phải dẫn đến thực hành lý luận, lý luận gắn liền với thực tiễn. Cùng với sức mạnh của khoa học, chính kết quả của hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, biến khát vọng thành hiện thực, làm cho nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, một nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, làm cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cả nước đồng lòng, nhân dân tin tưởng, gắn bó mật thiết với Đảng, với chế độ và Quân đội ta “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ chỉ dẫn… thì đó là sức mạnh tổng hợp để mọi quan điểm sai trái, thù địch không còn có thể nhiễm độc trong đời sống tinh thần của con người và xã hội. Cho nên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Sự nghiệp của Đảng, của dân càng thu được những thành tựu to lớn, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao thì đó sẽ là minh chứng thực tiễn có sức thuyết phục lớn nhất, bền vững nhất về bản chất khoa học - cách mạng - nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

2. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào?

- Trước hết, cần có sự hiểu biết khoa học, thấu đáo về lý luận và lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn vậy phải nghiên cứu công phu, có hệ thống, trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành để nắm được bản chất, đặc điểm và các giá trị bền vững trong di sản kinh điển mácxít.

Riêng với tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh cũng phải nghiên cứu các văn phẩm lý luận và hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Người trong hơn sáu thập kỷ hoạt động với tư cách một nhà tư tưởng mácxít sáng tạo ở tầm vóc một nhà kinh điển của cách mạng Việt Nam

Cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh đối với lịch sử là ở chỗ, Người không chỉ vận dụng sáng tạo mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam. Những phát hiện mang tầm vóc thời đại của Hồ Chí Minh chẳng những làm sáng tỏ quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là quy luật ra đời và phát triển của Đảng ta, lý luận và phương pháp xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam; lý luận về chiến tranh nhân dân, đặt nền móng cho khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Việt Nam; lý luận (ở tầm học thuyết) về giải phóng và phát triển Việt Nam mà hạt nhân là lý luận về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh còn đề ra lý luận về đạo đức cách mạng và thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, trong dân như một mẫu mực.

Người còn dày công xây dựng đường lối chính trị, tìm ra bí quyết của mọi thành công của cách mạng. Người có tầm nhìn chiến lược về con người và văn hóa, về đổi mới và hội nhập để hiện đại hóa đất nước, để thực hiện hoài bão và khát vọng phát triển. Bằng những đóng góp đó, Hồ Chí Minh với thiên tài tư tưởng và tổ chức, chẳng những đã tìm đường, chọn đường, nhận đường, trở thành người dẫn đường của cách mạng Việt Nam mà còn làm phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Người xứng đáng được thừa nhận là một tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiều luận điểm của Người mang tầm kinh điển với phong cách và bản lĩnh đặc sắc riêng có của Người. Không hàn lâm bác học, giản dị mà sâu sắc, “chạm” vào chân lý, trở thành chân lý, quy luật của muôn đời. Không giáo điều, không biệt phái, tư duy khoáng đạt, cởi mở, kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại thông qua tiếp biến để phát triển, trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để làm giàu sức sống chủ nghĩa đó trong thời đại mới, trong thế giới hiện đại ngày nay. Đó là đặc điểm tạo nên chân giá trị và tầm ảnh hưởng của tư tưởng, của di sản Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới. Làm rõ những vấn đề cốt lõi lý luận đó, chứng minh được giá trị, sức sống và ý nghĩa từ những cống hiến đó của Người trong thực tiễn cách mạng thế kỷ XX, hiện nay cũng như sau này. Đó là hướng đích của chúng ta trong việc bảo vệ sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, triển vọng và sức sống của chủ nghĩa xã hội, là cách bảo vệ tốt nhất nền tảng tư tưởng của Đảng, là thái độ và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay.

Điều đó có nghĩa là, thấm nhuần, tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, nắm vững thế giới quan cách mạng và khoa học, phép biện chứng duy vật, tuân theo chỉ dẫn của V.I.Lênin “phân tích cụ thể, một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Muốn bảo vệ giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác thì những người mácxit phải không ngừng bổ sung, phát triển lý luận đó nếu không muốn trở thành lạc hậu so với sự phát triển, biến đổi không ngừng của thực tiễn. Sức sống của chủ nghĩa Mác phải được chứng minh bằng thực tiễn cách mạng, sáng tạo trong nhận thức và cải tạo thế giới đúng quy luật, phải vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, sao chép máy móc hoặc chủ quan duy ý chí, làm cho chủ nghĩa Mác bị sơ cứng, không phát triển, trở nên lạc hậu, ngưng đọng, xa lạ với bản chất của nó. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta cho rằng, “chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo”. Độc lập sáng tạo trong tiếp thu, vận dụng lý luận, phương pháp Mác - Lênin thì cách mạng sẽ phát triển thuận lợi và thành công, ngược lại giáo điều, máy móc thì cách mạng sẽ thất bại.

- Cho nên, để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải nghiên cứu, nắm vững, làm chủ lý luận tiên phong, chống bệnh chủ quan, máy móc, chống giáo điều, chống hẹp hòi, biệt phái, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, đổi mới tư duy lý luận, nắm vững thực chất, tinh thần và phương pháp Mác - Lênin như Hồ Chí Minh nói để độc lập tìm ra những vấn đề của chính mình và giải quyết nó trong thực tiễn bằng quan điểm và giải pháp khoa học.

- Có nắm vững những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có cơ sở khoa học để bảo vệ và phát triển nó, để nhận diện đúng những sự xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch từ động cơ, mục đích đến các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, cả những thủ thuật tầm thường, lừa bịp, mỵ dân, kích động mà kẻ thù của cách mạng thường tạo dựng, khai thác để hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay, suy giảm niềm tin của chúng ta đối với ý thức hệ của Đảng ta và của mỗi chúng ta.

- Phải bảo vệ cái đúng, cái chân lý, cái bản chất của chủ nghĩa, học thuyết mà chúng ta tin theo. Phải phê phán, bác bỏ cái sai, cái xấu độc hại mà kẻ thù gieo rắc, tấn công vào niềm tin của chúng ta, lung lạc tư tưởng, làm suy yếu tinh thần và làm lệch lạc phương hướng của cách mạng. Kẻ thù cũng thường nhân danh cái khách quan - khoa học, nhân danh cách mạng và đổi mới để làm lẫn lộn thật - giả, chính - tà, bản chất - hiện tượng, đối lập giả tạo và khiên cưỡng giữa C.Mác -Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, đối lập V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, đồng nhất sự sụp đổ mô hình, thể chế lạc hậu đã bị thực tiễn vượt qua ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội, coi chủ nghĩa Mác - Lênin đã hết vai trò lịch sử và chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, tuyên truyền về địa vị và sức mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại, rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là sự lựa chọn đúng và có triển vọng. Chúng bác bỏ vô cớ sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đạo đức, lối sống, đời tư của Hồ Chí Minh, gây hoang mang, chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân, mưu toan đầu độc tinh thần của lớp trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, thay đổi chế độ ở Việt Nam. Những sự xuyên tạc, sai trái, thù địch đó trên thực tế đã lừa bịp, lôi kéo được một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có động cơ không trong sáng, hoặc thiếu bản lĩnh mà ngả nghiêng dao động, từ bỏ lý tưởng, niềm tin, trở nên chống đối gây phương hại tới sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Sinh thời, C.Mác từng làm rõ những “giả tượng” (biểu tượng giả) xuyên tạc, đánh lừa bản chất. V.I.Lênin với thái độ cách mạng và khoa học, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác đã từng vạch rõ, trên thực tế, những kẻ phê phán, phỉ báng và chống đối Mác quyết liệt nhất, lại là những kẻ hiểu biết về Mác tồi nhất.

- Những người cách mạng, Đảng cách mạng trong những thời điểm thử thách, bước ngoặt mà rơi vào tình trạng dao động, mất phương hướng thì sẽ đưa cả sự nghiệp và phong trào tới thất bại, tổn thất khôn lường, coi như một hành vi tự sát.

Điều đó thức tỉnh mọi người rằng, không một kẻ thù nào, thế lực nào có thể phá hoại được sự nghiệp của chúng ta, trừ khi chúng ta tự phá hủy sự nghiệp của chúng ta. Lời cảnh báo đó vẫn không mất đi tính thời sự của nó. Hồ Chí Minh thường gắn liền khoa học với chính trị và đạo đức. Người thường xuyên nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, nó phá từ trong phá ra. Xét đến cùng, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, muốn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thì phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân tinh vi, thâm độc trong mỗi con người, nhất là trong cán bộ, đảng viên, trong đội ngũ những người làm lý luận, làm công tác tư tưởng của Đảng.

- Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung nỗ lực, sinh lực của chúng ta vào việc nâng cao nhận thức khoa học và bác bỏ những gì phản khoa học, giả danh khoa học trên các vấn đề cốt yếu sau đây:

Một là, luận chứng và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng.

Hai là, luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại theo trào lưu thế giới tiên tiến mà Mỹ và hệ giá trị Mỹ là tiêu biểu. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.

Ba là, phải luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây. Chúng ta cần đặc biệt khai thác giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chủ đề quan trọng này. Các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ quan trọng đó cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng.

Bốn là, vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc khác và vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, khuynh hướng kỹ trị, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Phải khẳng định các giá trị tinh thần, phải coi trọng đạo đức và văn hóa, phải giữ vững niềm tin để xã hội, con người không chệch hướng, ngăn chặn sự phát triển xấu, hoang dã, bản năng, phản phát triển.

Năm là, vạch trần thủ đoạn ly gián giữa Đảng với nhân dân và Quân đội, sự xuyên tạc tình hình phát triển của xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vừa qua. Chính là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc ta, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam đã là sức mạnh và động lực giúp cho Việt Nam vượt qua thảm họa, tất cả vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, tạo nên sức sống, đà tăng trưởng khởi sắc của Việt Nam. Đó là năm vấn đề cốt yếu phải quan tâm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

3. Những việc cơ bản, lâu dài và cấp bách phải làm ngay

- Thứ nhất, ra sức xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ và tập trung xây dựng Đảng về văn hóa. Cần phải làm cho tiềm lực về mọi mặt của Đảng trở thành niềm tin cậy của toàn dân, kích hoạt mạnh mẽ để nuôi dưỡng và phát triển nguồn trữ năng tinh thần của cả xã hội. Đó là nền móng vững chắc chống lại mọi kẻ thù phá hoại.

- Thứ hai, đổi mới đồng bộ, xây dựng toàn diện đất nước phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công các đột phá chiến lược. Đó là sức khỏe vật chất, tinh thần của chế độ trên nền tảng đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dân chủ và thực hành dân chủ để phát triển.

- Thứ ba, làm lành mạnh môi trường xã hội, giải quyết tình trạng suy thoái đạo đức trong xã hội, nhất là trong Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống tham nhũng, đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển. Đó là sức đề kháng mạnh mẽ của Đảng, của xã hội chống lại các vi rút gây bệnh bởi sự phá hoại của kẻ thù.

- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.

- Thứ năm, phát triển mạnh mẽ dư luận xã hội tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt về thông tin, công nghệ thông tin, xử lý nghiêm minh theo pháp luật mọi sự vi phạm, lợi dụng các phương tiện truyền thông để gieo rắc luồng thông tin xấu độc, phản cảm, gây hậu quả tiêu cực trong xã hội./.

HRW lại “tung hoả mù” về quyền của người lao động tại Việt Nam

 

Nhắc đến tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), chúng ta "nhẵn mặt" với những thủ đoạn đưa ra thông tin sai trái, xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mức độ xuyên tạc và vu cáo của HRW ngày càng gia tăng với nhiều hình thức, điều đó không chỉ thể hiện qua phát ngôn của đại diện tổ chức này mà còn qua các báo cáo, thông cáo, thư kiến nghị... Ngày 8/5/2024, HRW tiếp tục đưa thông cáo cho rằng Việt Nam "phát ngôn sai lạc về quyền của người lao động"!

Thông cáo của HRW đưa ra khi Bộ Thương mại Hoa Kỳ vừa có phiên điều trần công khai về hiện trạng thương mại với Việt Nam vào ngày 8/5. Thông cáo này lộ rõ ý đồ "tung hoả mù", tác động xấu tới dư luận khi Bộ Thương mại Hoa Kỳ thực hiện phiên điều trần nói trên. Vì thế, trong thông cáo của HRW đã đưa ra những nhận định sai trái, thể hiện cách nhìn tiêu cực, xa rời thực tế. Ông John Sifton, Giám đốc vận động Ban Á Châu của HRW đã có những phát biểu rất lố bịch như: "Nói rằng người lao động Việt Nam có thể thành lập công đoàn hay mức lương của họ là kết quả của sự thỏa thuận tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động là lời tuyên bố sai lạc trắng trợn"; "Ở Việt Nam không hề tồn tại bất kỳ một công đoàn độc lập nào hay các khung pháp lý khả thi cho việc thành lập công đoàn hoặc cho người lao động có thể đòi thi hành các quyền của mình". 

Ông Sifton viện dẫn rằng: "Xét về văn bản pháp luật và thực tế thực thi, Việt Nam hiện không cho phép các công đoàn độc lập được đại diện cho người lao động. Chương 13 của Bộ luật Lao động Việt Nam có hiệu lực vào năm 2021 đưa ra quy định về "tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở" và Luật Công đoàn Việt Nam quy định về "công đoàn" cũng như "tổ chức đại diện người lao động", một thuật ngữ hiện diện trong cả hai bộ luật. Tuy nhiên, Luật Công đoàn Việt Nam chỉ cho phép có các "công đoàn" do chính phủ kiểm soát. Luật Lao động vẫn đòi hỏi phải có các văn bản hướng dẫn được ban hành mới có hiệu lực thực thi. Và ở Việt Nam không hề có các tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp cơ sở"… Từ việc viện dẫn sai lệch trên, ông Sifton quy kết: "Lời tuyên bố tôn trọng quyền của người lao động của Việt Nam chỉ dựa trên các ngôn từ và lời hứa sáo rỗng, các văn bản luật pháp và quy định xa rời thực tế về hiện trạng quyền của người lao động ở quốc gia này"! 

Rõ ràng, việc lấy lý do "Ở Việt Nam không cho phép các công đoàn độc lập được đại diện cho người lao động" rồi quy kết hiện trạng quyền lợi người lao động không bảo đảm, chính quyền chỉ "hứa sáo rỗng", "văn bản xa rời thực tế" là sự đánh giá quy chụp nhằm lấy cớ vu cáo, gây sức ép tới Bộ Thương mại Hoa Kỳ trong vấn đề đánh giá hiện trạng thương mại, quyền lợi người lao động ở Việt Nam.

HRW và những chiêu trò vu cáo, đánh lận bản chất

Tổ chức HRW được thành lập vào năm 1978 trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Human Rights Watch ban đầu được đặt tên là Helsinki Watch với mục đích giám sát Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này. Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức quốc tế khác và đổi tên thành Tổ chức Theo dõi nhân quyền - Human Rights Watch (HRW). Hiện tại, HRW có trụ sở đặt tại New York, Hoa Kỳ.

Nhìn vào lịch sử của tổ chức HRW kể từ khi được thành lập cho đến nay có thể thấy, cho dù đã được đổi tên và mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW vẫn đi theo mục đích cũ và ý đồ chính trị là đưa những thông tin sai sự thật về tình hình dân chủ, nhân quyền cũng như can thiệp vào nội bộ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dù là tổ chức mang tên gọi về nhân quyền nhưng các hoạt động của tổ chức trên thực chất lại là cái cớ để tổ chức này xuyên tạc, chống phá.

Mỗi khi Mỹ và phương Tây đưa ra những cáo buộc một quốc gia nào đó vi phạm dân chủ, nhân quyền thì HRW cũng tham gia dưới nhiều hình thức như: báo cáo, thông cáo, thư ngỏ… với thủ đoạn đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật.

HRW cũng như một số tổ chức khác mang danh nhân quyền có trụ sở ở Mỹ, Đức, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan… thường sử dụng chiêu bài bảo vệ "dân chủ", "nhân quyền" nhằm khoét sâu mâu thuẫn về sắc tộc, xã hội, tôn giáo của quốc gia cũng như lợi dụng những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, yếu kém trong xã hội khác để lấy cớ chống phá, can thiệp. Từ đó, họ câu kết với những đối tượng đối lập, phần tử cơ hội chính trị ở trong nước tiến tới dụ dỗ, mua chuộc dưới chiêu bài hứa hẹn tạo ra chính phủ mới với những quyền lực được trao tay, ảo tưởng về một xã hội văn minh hơn.

Từ đó, hướng đến sự hỗn loạn và mất kiểm soát trong xã hội, gia tăng xung đột giữa người dân và chính phủ, kích động biểu tình đường phố, bạo loạn và thậm chí xung đột vũ trang gây thương vong cho dân thường. Đây không đơn thuần là lôi kéo, dụ dỗ người thiếu hiểu biết, thành phần bất mãn chính trị mà còn có sự tham gia của một số trí thức ảo tưởng về sức mạnh, được đưa ra nước ngoài huấn luyện đào tạo và được đầu tư về vật chất, tài chính để có điều kiện hoạt động gây dựng ngọn cờ chống đối ở trong nước.

Đây không phải chiêu trò mới nhưng hiện nay hoạt động của các tổ chức như HRW ngày càng quyết liệt, tinh vi và nguy hiểm. HRW chụp mũ các giá trị dân chủ, nhân quyền để gây bất ổn xã hội, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, dần dần lật đổ chế độ chính trị hiện tại, đưa xã hội chuyển hướng sang con đường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Việt Nam luôn coi trọng và nỗ lực vì quyền của người lao động

Lao động và việc làm là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ. Căn cứ Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền lao động và việc làm. Có thể kể đến một số văn bản sau đây: Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2014, Bộ luật Lao động năm 2019...

Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành hệ thống các văn bản luật tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và minh bạch cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế, thông qua đó tạo công ăn, việc làm cho người lao động; các văn bản luật quy định về các biện pháp giải quyết tranh chấp về lao động, các biện pháp chế tài về hành chính, hình sự đối với những hành vi vi phạm quyền lao động và việc làm của công dân. Những văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm quyền lao động và việc làm của công dân trên thực tiễn. Liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, Đảng ta xác định: bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế.

Sau gần 40 năm đổi mới, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ tính tất yếu của việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, cụ thể là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và kèm theo đó là việc cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chung, trong đó có vấn đề quyền của người lao động. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), bao gồm 7 trong số 8 công ước cơ bản, trong đó có các công ước liên quan đến các lĩnh vực: thương lượng tập thể; phòng, chống phân biệt đối xử; lao động trẻ em và lao động cưỡng bức…

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đề ra hàng loạt các chương trình kinh tế - xã hội như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm với những hoạt động: thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng người nghèo; giao quyền sử dụng ruộng đất để khuyến khích trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ... Đồng thời, để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động, Nhà nước cũng ban hành một hệ thống chủ trương, chính sách thông thoáng thu hút sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài nhằm tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho những người trong độ tuổi lao động đều có thể thực hiện quyền lao động của mình.

Theo thống kê trong giai đoạn từ năm 2018-2020, tổ chức công đoàn đã triển khai rộng khắp chương trình "Phúc lợi đoàn viên công đoàn" ở nhiều tỉnh, thành phố. Đến năm 2023, 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; 100% người dân bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, thiếu đói được trợ giúp đột xuất kịp thời, không người dân nào bị đói, trên 90% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, được chăm sóc và phục hồi chức năng kịp thời; trên 90% người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc kịp thời. Phấn đấu mở rộng diện bao phủ tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2025 khoảng 45% người lao động tham gia, năm 2030 đạt 60%; bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; đến năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia tiên phong về an sinh xã hội và việc làm thỏa đáng.

Một bước tiến nữa trong bảo đảm quyền con người lĩnh vực lao động là việc Việt Nam phê chuẩn Công ước 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng 6/2020. Trong bối cảnh vấn đề lao động cưỡng bức trên thế giới được ILO cảnh báo là "khẩn cấp", nỗ lực này của Việt Nam đã được thế giới ghi nhận và đánh giá tích cực. Bà Corrine Vargha, Trưởng ban Tiêu chuẩn Lao động quốc tế của ILO cho rằng, với việc phê chuẩn này, Việt Nam chứng tỏ cam kết mạnh mẽ trong công cuộc đấu tranh chống lại lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức.

Còn ông Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam thì khẳng định: "Đây là minh chứng cho thấy Chính phủ và các đối tác xã hội của Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để có một khung khổ pháp lý tốt hơn nhằm mở đường cho Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững". Những nỗ lực chủ động và tích cực của Việt Nam vì người lao động đã củng cố uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và hướng đến một xã hội công bằng, nơi các lợi ích của quá trình hội nhập và phát triển được chia sẻ một cách công bằng cho người lao động, những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Việc tổ chức HRW ngày 8/5/2024 cáo buộc Việt Nam phát ngôn sai lạc về quyền của người lao động là sự vu cáo trắng trợn. Đáng nói, HRW chỉ trích điều này ngay sau khi đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 7/5/2024. Thực tiễn cho thấy, dù HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, lao động việc làm… thì chính những thành tựu sinh động nêu trên là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc.      

Bình Nguyên

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.

Di sản Hồ Chí Minh mang tính phổ quát, bền vững, vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự. Chính vì thế, các thế lực thù địch luôn xem di dản của Người là một mục tiêu, trọng tâm chống phá. Việc nhận diện bản chất, bóc trần các âm mưu, thủ đoạn, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội có vai trò quan trọng.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Số tổ chức, cá nhân chống phá thường khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội”, thậm chí họ mượn danh nghĩa “nhà nghiên cứu lý luận” hay núp bóng “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền” để ngụy biện tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh. Họ chống phá di sản Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách, thân thế, sự nghiệp cách mạng của Người. Về tư tưởng, họ coi những luận điểm về chính trị, cách mạng của Người chỉ là bản sao của chủ nghĩa Mác - Lênin, vay mượn, cộng gộp các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Về đạo đức, số đối tượng xấu coi đạo đức của Người chỉ là “chủ nghĩa khổ hạnh” không thể học tập, làm theo. Về phong cách, họ phớt lờ tác phong, lề lối, phương pháp cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh.                       

Về thân thế, các đối tượng xấu bịa đặt, tung tin sai lệch, thất thiệt, bôi nhọ đời tư của Người.

Họ ra sức phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng để hạ thấp di sản của Người. Một số đối tượng chống phá lại giả vờ “tôn vinh”, “tuyệt đối hóa” di sản văn hóa Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Từ đó, đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực chất đây chính là thủ đoạn vờ “đề cao” bên này để “hạ bệ” bên kia nhằm đả kích, chống phá bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ đạo làm nên bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn cố tình cắt xén những câu nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi bối cảnh lịch sử để làm sai lệch tư tưởng của Người. Họ đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phần tử chống phá cũng phủ nhận sự cần thiết, tính hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn đưa ra yêu sách vô lý, trắng trợn đòi từ bỏ việc bảo tồn di tích, bảo tàng có liên quan đến Người.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt của Internet, mạng xã hội với tốc độ chia sẻ nhanh, độ tương tác rộng hay sử dụng hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài biến thành công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ chống phá. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn chống phá ở chỗ: các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “thao túng tâm lý”; tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi về lãnh tụ của cách mạng Việt Nam hòng gây hoang mang, dao động, làm lung lay niềm tin, giảm sút tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm cách triệt tiêu động lực, khí thế, quyết tâm của hệ thống chính trị, toàn xã hội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Từ khi Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cũng là lúc các thế lực thù địch tập trung chống phá di sản văn hóa Hồ Chí Minh quyết liệt. Thấy rõ di sản văn hóa Hồ Chí Minh là linh hồn, là tài sản vô giá của Đảng, của dân tộc và nhân dân Việt Nam nên các các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn phá hủy tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ biểu tượng Hồ Chí Minh trong trái tim, khối óc của nhân dân Việt Nam. Nhưng dù có dùng mọi chiêu trò chống phá vẫn không thể phủ nhận giá trị to lớn, sức sống trường tồn của di sản Hồ Chí Minh.

Thế giới đổi thay nhưng di sản Hồ Chí Minh sống mãi

Thực tế thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sự nghiệp đổi mới hiện nay là minh chứng sống động, rõ nét cho thấy những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về mặt thực tiễn và tư tưởng lý luận. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho dân tộc, như Người từng chia sẻ: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đời sau, Người đã tâm sự: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong suốt cuộc đời tận hiến cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và cũng chính Người đã nâng tầm văn hóa dân tộc, đóng góp quan trọng vào dòng chảy lịch sử văn hóa thế giới. Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu cực thâm nhập, đồng thời phát huy được những giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc mình, đó là bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sâu sắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử, văn hóa nhân loại. Người đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa xóa đi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do vậy, di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Không phải đến bây giờ mà cách cách đây hơn 100 năm, nhà báo người Nga Osip Emilyevich Mandelstam đã viết bài mang tên “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đã đăng trên báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ) của Liên Xô xuất bản ngày 23/12/1923. Bài báo có đoạn: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Tuy hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng nhận định sâu sắc này của O. Mandelstam vẫn vẹn nguyên giá trị, dự báo “Hồ Chí Minh là nền văn hóa tương lai” xuất phát từ việc nhà báo người Nga đã cảm nhận được trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cả tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, cả giá trị truyền thống và giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại thời hiện đại.

Trong quá trình tiếp xúc cũng như nghiên cứu về Hồ Chí Minh, rất nhiều chính khách, học giả quốc tế bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Trong đó, Chủ tịch Phiđen Caxtơrô - lãnh tụ đất nước Cuba viết: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được mến yêu không chỉ bởi nhân dân Việt Nam mà còn bởi tất cả các dân tộc khác trên thế giới”.

Ông Miyamôtô Kêngi, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nhật Bản đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ lỗi lạc của nhân dân Việt Nam mà còn là một chiến sĩ lỗi lạc, một nhà hoạt động tài năng của phong trào cộng sản quốc tế”.

Tiến sĩ M. Atmét, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”. Những nhận xét trên hết sức khách quan, công tâm, dựa trên những đóng góp thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời cách mạng vĩ đại, vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn, xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Do đó, tháng 11/1987, trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm (vào năm 1990) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Nhà văn hoá kiệt xuất”; đồng thời, vinh danh Người là một trong những nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại. Việc UNESCO ra nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất là sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự trân trọng, đánh giá khách quan của nhân loại tiến bộ đối với di sản Hồ Chí Minh; qua đó càng thấy rõ hơn tầm vóc, giá trị di sản của Người, mọi quan điểm sai trái, thù địch vì thế mà lạc lõng, vô nghĩa.

Di sản Hồ Chí Minh đã vượt qua thử thách của thời gian, trở thành biểu tượng, mạch sống của dân tộc Việt Nam. Di sản ấy là một tài nguyên văn hóa mà càng nghiên cứu, càng khai thác, càng mang lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân những giá trị bổ ích, mới mẻ. Sứ mệnh đặt ra cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng là kiên định, bảo vệ, vận dụng, phát triển di sản Hồ Chí Minh; đồng thời, lan tỏa, phát huy giá trị để di sản đặc biệt này trở thành một trong những động lực tư tưởng - tinh thần vô giá, giúp nâng tầm vị thế văn hóa, con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

Chu Xuân Đại Thắng