Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc con người - Vận dụng vào chăm lo hạnh phúc con người Việt Nam hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân đã hiến trọn đời mình cho hạnh phúc của nhân dân. Sự nghiệp vĩ đại đó không chỉ bắt nguồn từ tình yêu thương con người, mà còn từ nhận thức sâu sắc của Người về hạnh phúc con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc con người thể hiện chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, là cơ sở lý luận cho nhận thức của Đảng về hạnh phúc của nhân dân và gợi mở những giải pháp thiết thực để hiện thực hóa lý tưởng đó vào đời sống đất nước hôm nay.

Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng (tranh của họa sĩ Đỗ Hữu Huề) _Nguồn: nhandan.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc con người

Mưu cầu hạnh phúc là khát vọng thường trực của con người, nên hạnh phúc có thể được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau, đặc biệt là từ phương diện triết học. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã làm một cuộc “cách mạng” trong quan niệm về hạnh phúc. Trước hết, triết học Mác phản đối những quan điểm mang tính thần bí, duy tâm của tôn giáo về hạnh phúc và khẳng định, con người cần được hạnh phúc trong thực tại. Trong bối cảnh xã hội tư bản đầy rẫy bất công thì “Hạnh phúc là đấu tranh” - đấu tranh chống áp bức giai cấp và dân tộc, chống cái ác, cái phản văn hóa để xây dựng xã hội cộng sản, mà ở đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Ngược lại với quan điểm cho rằng hạnh phúc là sự “nhận về”, là thụ hưởng cá nhân, C. Mác nhận định, người nào đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì đó là người hạnh phúc nhất. Quan niệm đó đã trở thành nhân sinh quan của C. Mác: “Nếu ta đã chọn một nghề mà qua đó ta có thể cống hiến nhiều nhất cho nhân loại, thì ta sẽ không cảm thấy gánh nặng của nghề ấy bởi vì đó chính là sự hy sinh vì mọi người. Khi đó, niềm vui được hưởng không chỉ là một niềm vui ích kỷ, hẹp hòi và nhỏ nhen, mà hạnh phúc của ta sẽ thuộc về hàng triệu người”. Những quan điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tác động lớn đến thế giới quan, nhân sinh quan nói chung và nhận thức về hạnh phúc nói riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nổi bật nhất trong tư tưởng của Người về hạnh phúc là một số luận điểm chính sau:

Thứ nhất, con người chỉ có hạnh phúc khi dân tộc được độc lập, tự do.

Sinh ra trong bối cảnh “nước mất, nhà tan”, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu bi kịch của thân phận người dân mất nước - “vong quốc nô”. Chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương hoàn toàn đối lập với ngọn cờ “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản Pháp. Với tất cả sự đau xót và căm phẫn, trong thư ngỏ gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp An-be Xa-rô, Nguyễn Ái Quốc đã mỉa mai, lên án: “Dưới quyền cai trị của ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp trong nước, những ty rượu và ty thuốc phiện, những thứ đó song song với những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền văn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu Á và sung sướng nhất trần đời”. Sống dưới chế độ phản động cùng cực đó, người dân các nước thuộc địa phải gánh chịu muôn vàn đau khổ, nên con đường tất yếu, duy nhất của họ là: Đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thành lập các quốc gia độc lập. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giúp dân tộc Việt Nam tái sinh, nhưng kẻ thù đế quốc vẫn nuôi dã tâm đàn áp, bắt nhân dân Việt Nam phải làm nô lệ. Với quan điểm hạnh phúc của mỗi người dân không thể tách rời nền độc lập dân tộc, nên khi thực dân Pháp “quyết cướp nước ta một lần nữa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Dù phải kháng chiến 5 năm, 10 năm, hay là lâu hơn nữa, để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và hạnh phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng”. Khi đế quốc Mỹ âm mưu dùng sức mạnh vật chất để hủy diệt ý chí thống nhất của dân tộc Việt Nam, Người đã đưa ra chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Theo lời hiệu triệu của Người, nhân dân Việt Nam đã tự nguyện dâng hiến, sẵn sàng hy sinh, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ niềm hạnh phúc của con người tự do.

Thứ hai, con người chỉ có hạnh phúc thực sự dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Hạnh phúc trước hết là hạnh phúc của nhân dân lao động. Ngay trong tác phẩm Đường Cách mệnh (năm 1927), Người đã khẳng định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Theo Người, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại khỏi lầm than, đem lại cho mọi người sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no mà không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc. Từ sự am hiểu sâu sắc đặc tính bản chất của các loại hình xã hội đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”. Chủ nghĩa xã hội là nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mọi phương diện, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ góc độ lợi ích và tính ưu việt của chế độ mới, nhằm làm cho nhân dân lao động thoát khỏi nạn bần cùng, mọi người đều có việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Người đã rút ra kết luận: “Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”.

Thứ ba, mang lại hạnh phúc cho nhân dân là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì. Hạnh phúc luôn bao hàm sự thỏa mãn, hài lòng khi được hưởng thụ giá trị vật chất và tinh thần xứng đáng, khi được làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Người cũng thấu hiểu, nhân dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi được ăn no, mặc đủ. Chính vì vậy, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tuyên bố “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người” thì tất yếu Chính phủ có trách nhiệm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền; trong đó, làm cho người dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có điều kiện học hành là nhiệm vụ cấp bách nhất. Sự hài lòng về chính thể cũng mang lại cho nhân dân niềm hạnh phúc, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan của Chính phủ phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Luôn tâm niệm, coi hạnh phúc của nhân dân là lý tưởng duy nhất của Đảng nên trong bản Di chúc thiêng liêng, Người đã căn dặn, Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Lễ cưới tập thể dành cho công nhân, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được Trung tâm Hỗ trợ thanh niên công nhân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức_Nguồn: tuoitre.vn

Thứ tư, muốn có hạnh phúc, toàn dân phải đoàn kết phấn đấu và cán bộ phải biết hy sinh. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải dựa vào nhân dân để đem lại hạnh phúc cho nhân dân, bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Do nước ta còn nghèo nên Người nhắn nhủ: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”. Nói về sự cần thiết phải quy tụ sức dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng hình ảnh: “Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả”. Nếu mỗi người dân đều tự giác làm lợi cho đất nước thì “nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to”, nhất định đất nước sẽ giàu và người dân sẽ được hạnh phúc. Hạnh phúc ở đây không chỉ là sự thụ hưởng, mà còn là hạnh phúc của con người tự tạo dựng cuộc đời mình; bởi lẽ, người nào chỉ biết trông chờ vào hạnh phúc “từ trên trời rơi xuống” sẽ không xứng đáng được hưởng hạnh phúc và sự thật là không thể có hạnh phúc.

Khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất kiên trì giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; bởi vì, nếu cán bộ tha hóa thì lợi ích, hạnh phúc của nhân dân sẽ bị tước đoạt. Người nói rõ: “Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”. Khi yêu cầu cán bộ, đảng viên thực hành đức hy sinh để phụng sự nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, sự hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân là niềm hạnh phúc to lớn; vì thế, “ta đã biết cần phải chịu khổ, thì ta chịu một cách vui vẻ, dần dần ta sẽ không lấy làm khổ... chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng”.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hạnh phúc rất sâu sắc, không chỉ thông qua những quan điểm đầy tính khoa học, nhân văn, mà còn được bảo chứng bởi cuộc đời trọn vẹn đức hy sinh của Người. Người đã nói về trách nhiệm của mình trước dân tộc: “Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”(12). Suốt đời phấn đấu, hy sinh trọn vẹn cho hạnh phúc của nhân dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong lòng nhân dân.

Chăm lo hạnh phúc con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi Đại hội thời kỳ đổi mới lại là một “nấc thang” trong tiến trình nhận thức của Đảng ta về hạnh phúc của nhân dân. Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh, đổi mới được tiến hành với tinh thần “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”. Trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa; bởi vì nhận thấy rõ, “chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại cơm no áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân”. Đề cao giá trị hạnh phúc nên Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đều xác định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội mà trong đó, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân. Đảng ta không chỉ nhấn mạnh trách nhiệm của nhân dân trong công cuộc phấn đấu vì hạnh phúc của chính mình, mà còn lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo đạo đức đảng viên khi khẳng định: “Phẩm chất cao quý của người cộng sản là... suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cách mạng, vì độc lập của Tổ quốc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, trong đó có bản thân và gia đình mình”.

Đến Đại hội XIII của Đảng, hạnh phúc của nhân dân trở thành “âm hưởng chủ đạo” và được đề cập dưới nhiều góc độ. Đại hội đúc kết, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” là bài học quý báu; xác định “khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là động lực to lớn để phát triển đất nước; đồng thời, nhấn mạnh “nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam” là một nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, hiện nay việc bảo đảm hạnh phúc của nhân dân đang gặp không ít trở lực, khó khăn. Trên thế giới, nguy cơ về đe dọa vũ khí hạt nhân, xung đột vũ trang, dịch bệnh, biến đổi khí hậu... đang là mối đe dọa lớn đối với sinh mệnh, sức khỏe và đời sống sản xuất của toàn nhân loại. Ở trong nước, ô nhiễm môi trường, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và sự yếu kém trong giải quyết các vấn đề xã hội ở một số nơi, sự xuống cấp của văn hóa, đạo đức xã hội, sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo, tệ nạn xã hội, tội phạm... cũng gây ra nhiều trở ngại để người dân tiếp cận hạnh phúc. Đối ngược với sự bất cập đó là nhu cầu hạnh phúc ngày càng lớn của người dân và xu thế đề cao hạnh phúc của nhân loại. Năm 2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã lấy ngày 20-3 (ngày duy nhất mà mặt trời nằm ngang đường xích đạo, độ dài ngày đêm bằng nhau) là ngày Quốc tế Hạnh phúc (International Day of Happiness) để truyền đi thông điệp: Mưu cầu hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người; hạnh phúc và thịnh vượng là các mục tiêu và khát vọng phổ quát của con người và tầm quan trọng của việc thừa nhận điều này trong các mục tiêu của chính sách công; cần có cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, xóa đói, giảm nghèo, hạnh phúc và thịnh vượng của mọi dân tộc. Việt Nam là một trong gần 200 quốc gia cam kết hưởng ứng ngày Quốc tế Hạnh phúc. Ngày 26-12-2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2589/-TTg, “Phê duyệt Đề án “Tổ chức các hoạt động nhân ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 hằng năm””. Do đã trải qua thời kỳ chiến tranh ác liệt kéo dài và thời kỳ bao cấp khốn khó, nên khát vọng hạnh phúc, ấm no của nhân dân Việt Nam là rất mãnh liệt. Vì thế, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc đem lại hạnh phúc cho nhân dân lại càng trở nên cấp bách. Theo đó, từ tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc con người, cần đặc biệt chú trọng các giải pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức về hạnh phúc của nhân dân cả từ phía Đảng, Nhà nước và người dân.

Hạnh phúc là hợp điểm giữa điều kiện khách quan và cảm nhận chủ quan. Về mặt khách quan, hạnh phúc là những giá trị vật chất, tinh thần tốt đẹp mà quốc gia, cộng đồng xã hội cần tạo lập để bảo đảm cho người dân có được một cuộc sống an lành, đầy đủ. Về mặt chủ quan, hạnh phúc là trạng thái tinh thần tích cực, thể hiện sự hài lòng của chủ thể trước bối cảnh, điều kiện tự nhiên, xã hội, gia đình và bản thân. Vì thế, để hiện thực hóa khát vọng về hạnh phúc thì phải nâng cao nhận thức về hạnh phúc cả từ phía lực lượng lãnh đạo, quản lý đất nước và người dân.

Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trách nhiệm phụng sự nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hạnh phúc nhân dân với tư cách là động lực, mục tiêu của cách mạng, mà còn phải thấm nhuần chân lý: Người hiến dâng nhiều nhất sẽ là người hạnh phúc nhất. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết rằng: “Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng”. Nếu người cán bộ, đảng viên biết vượt lên trên cái “tôi” của mình để hiến dâng cho nhân dân và đất nước thì họ sẽ là người hạnh phúc, vì tượng đài vững chắc nhất chính là ở trong lòng nhân dân.

Đối với nhân dân, hạnh phúc không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố “bên ngoài”, mà còn phụ thuộc vào yếu tố “bên trong”; chính là tâm hồn, khả năng nhận thức của họ về hạnh phúc. Người nào cho rằng, bản thân không thể hạnh phúc thì người ấy đã tự tước đi cơ hội hạnh phúc của chính mình. Ngược lại, một người coi hạnh phúc không chỉ là đích đến, mà là quá trình đến đích; hạnh phúc là sự chia sẻ, yêu thương, là biết “đủ”, biết làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh, biết khoan dung với người, với mình, biết coi khó khăn là một phần tất yếu của cuộc sống... thì người đó sẽ được an nhiên, hạnh phúc. Nhìn chung, để “hạt giống hạnh phúc nở hoa”, mỗi người phải có một tâm thế đúng. Vì thế, tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về giá trị sống đúng đắn, khơi dậy khát vọng cống hiến trong mỗi con người cũng là trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước.

Hai là, hoàn thiện thể chế về quyền con người và cơ chế nâng cao chỉ số hạnh phúc của nhân dân.

Con người hạnh phúc phải là con người tự do và có cảm nhận an toàn khi các quyền của họ được hiến định đầy đủ về mặt pháp lý và được thực thi trong thực tiễn. Việt Nam từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và hiện nay là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025; điều này chứng tỏ, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực mở rộng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đồng thời, muốn nhân dân được hưởng đầy đủ các quyền hợp pháp, chính đáng của mình như quy định của Hiến pháp, Nhà nước phải có kế hoạch lập pháp dài hạn để hiện thực hóa các quyền trong Hiến pháp.

Chăm lo giáo dục thế hệ mai sau_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Trong thế giới hiện đại, hạnh phúc không chỉ là sự cảm nhận đơn thuần, mà ngày càng mang tính định lượng. Một số tổ chức quốc tế và nước ngoài đã đề xuất các đại lượng cơ bản để đo lường hạnh phúc, như Chỉ số hạnh phúc (Happiness Index, viết tắt là HI), Chỉ số Hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index, viết tắt là HPI) và Báo cáo Hạnh phúc thế giới (World Happiness Report, viết tắt là WHR)... Trong xu hướng chung, Việt Nam đã thử nghiệm xây dựng Chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam (Vietnam’s National Happiness Index, viết tắt là VNHI), được tính toán trên cơ sở bốn nhóm tiêu chí về kinh tế, xã hội, môi trường, hiệu quả quản trị và hành chính công. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu và qua đó, cụ thể hóa chương trình hành động của từng đơn vị trong hệ thống chính trị để nâng cao chỉ số hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế để nâng cao mức sống của nhân dân.

Thực tế đã chứng minh, giàu có chưa chắc đã hạnh phúc, nhưng điều chắc chắn là trong một đất nước đói nghèo thì người dân không thể có hạnh phúc; sự tăng trưởng kinh tế luôn là điều kiện “gốc” để nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Ở Việt Nam, khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Mong muốn nhân dân được ấm no, sung sướng, dân tộc cường thịnh, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”. Để đạt mục tiêu đó, lúc này, Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ, giáo dục, chú trọng bảo vệ môi trường để bảo đảm cả hai yêu cầu trong chiến lược phát triển kinh tế là vừa “nhanh”, vừa “bền vững”.

Bốn là, tiếp tục phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Do dân chủ vừa là động lực phát triển, vừa là điều kiện của hạnh phúc nên Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung một nội dung mới, quan trọng, đó là “dân thụ hưởng”, để hình thành phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(16). Việc đề cao yếu tố “dân thụ hưởng” sẽ góp phần “khai thông” nguồn lực vô tận trong nhân dân, thúc đẩy đất nước phát triển mạnh mẽ để người dân tiếp tục thụ hưởng và cống hiến. 

Hạnh phúc của người dân luôn bao hàm sự hài lòng về chế độ, đặc biệt là chất lượng dịch vụ công. Chính thái độ và phong cách làm việc của đội ngũ công chức có thể làm cho người dân yên tâm hay lo lắng, tin tưởng hay nghi ngờ vào bộ máy công quyền. Do vậy, phải chú trọng nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, nỗ lực làm trong sạch bộ máy công quyền, nâng cao đạo đức công vụ; vì thực tế đã cho thấy, sự trục lợi của cán bộ có chức, có quyền đã làm vô hiệu hóa các chính sách vì con người của Đảng và Nhà nước. Việc xây dựng chính phủ điện tử để nâng cao tính minh bạch của nền hành chính công, tránh cho người dân những cảm xúc tiêu cực... cũng là nhiệm vụ cấp thiết.

Năm là, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an ninh con người, an sinh xã hội.

Sự bất công là nguồn gốc của xung đột xã hội, tạo ra nguy cơ đe dọa sự ổn định của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày càng rõ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Yêu cầu đặt ra là Nhà nước có chính sách phù hợp để kiểm soát việc phân tầng xã hội, tiếp tục thực hiện chiến lược “xóa đói, giảm nghèo” bền vững, cải cách tiền lương, nâng mức trợ cấp xã hội cho các đối tượng chính sách... Đặc biệt, cần nhận thức sâu sắc rằng, tham nhũng là biểu hiện rõ nhất của sự bất công, nên phải đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, chống thất thoát để dồn nguồn lực cho phát triển và gia tăng phúc lợi xã hội.

Vấn đề an ninh con người cần được chú trọng, bởi con người không thể hạnh phúc nếu luôn cảm thấy bất an vì tệ nạn xã hội, mất an toàn thực phẩm, mất an toàn giao thông hay nguy cơ dịch bệnh, thiên tai rình rập... Thế giới đang phải đối diện với hiện tượng mới là “tị nạn khí hậu” và Việt Nam là một quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, nên Nhà nước phải có kế hoạch, nguồn lực để ứng phó hiệu quả. Đây là những vấn đề lớn mà người dân không thể tự mình giải quyết được và Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm bảo hộ công dân của mình trên tinh thần “an dân, trị quốc”. 

Khi các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội có điều kiện sống khác biệt nhau, thì để thực hiện phương châm “không để ai tụt lại phía sau” và mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả của đổi mới, Nhà nước phải xây dựng hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng nấc, giúp người dân giảm thiểu rủi ro và chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau; phải có chính sách thiết thực hơn nữa để nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam; nền y tế Việt Nam phải xác định luôn lấy mục tiêu phục vụ nhân dân làm trọng tâm.

Tầm vóc tư tưởng của một nhà hiền triết luôn thể hiện ở mức độ quan tâm đến con người, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư, hành động và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhà hiền triết với nghĩa cao quý đó. Dân tộc, đất nước Việt Nam có niềm hạnh phúc là nơi sản sinh ra con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Để cho hạnh phúc ấy được vững bền, nhân lên gấp bội, mỗi người Việt Nam, trước hết là cán bộ, đảng viên, phải thấm nhuần và thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh, nỗ lực sống một cuộc đời hữu ích, góp phần xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; bởi lẽ, hạnh phúc của nhân dân chính là thước đo chuẩn xác nhất về tính ưu việt của chế độ xã hội và năng lực, bản lĩnh của đảng cầm quyền./.

ST.

SINH HOẠT TƯ TƯỞNG TRONG HỌP CHI BỘ GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

     Sinh hoạt tư tưởng trong họp chi bộ là một phần quan trọng nhằm giúp đảng viên có được nhận thức, hiểu biết, tình cảm đúng đắn đối với những vấn đề cụ thể, nhất là vấn đề đang có ý kiến khác nhau. Qua đó, góp phần tích cực vào việc phòng, chống những biểu hiện suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các đảng viên trong chi bộ.

    Theo nghĩa rộng, sinh hoạt tư tưởng là toàn bộ các sinh hoạt trong nội bộ Đảng, như sinh hoạt chi bộ, các hội nghị sơ kết, tổng kết công tác xây dựng Đảng, các buổi báo cáo thời sự, hoạt động triển khai nghị quyết…, nhằm nâng cao tư tưởng, nhận thức chính trị, nhận thức lý luận cho đảng viên, các hoạt động này bên cạnh các mục tiêu khác còn có mục tiêu giải quyết vấn đề tư tưởng cho đảng viên. Ví dụ, hội nghị thông tin thời sự, nói về tình hình thế giới và lập trường của Đảng và Nhà nước ta, chính là cung cấp cho đảng viên những thông tin cần thiết về thế giới, về quan hệ giữa các nước với nhau, giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế…, giúp đảng viên củng cố lòng tin vào đường lối đối ngoại của Đảng…

    Theo nghĩa hẹp, đây là một hoạt động cụ thể trong kỳ sinh hoạt chi bộ thường xuyên, là phần trao đổi, chia sẻ, thậm chí tranh luận về một hoặc một số vấn đề nào đó nhằm giúp đảng viên hiểu rõ hơn, có cái nhìn toàn diện, khách quan và chân thực hơn. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của đảng viên về vấn đề đó và các vấn đề tương tự, đi đến củng cố lòng tin đối với đường lối lãnh đạo của Đảng nói chung và của cấp ủy nói riêng.

    Sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt chi bộ là một phần nội dung quan trọng nhằm giúp đảng viên có được nhận thức, hiểu biết, tình cảm đúng đắn đối với một số vấn đề cụ thể nào đó, nhất là với những vấn đề đang có ý kiến khác nhau.

    Sinh hoạt tư tưởng như là một cuộc “bàn đề” về một vấn đề, có liên quan trực tiếp đến chi bộ hoặc liên quan đến tình hình tư tưởng nói chung của đảng viên. Ví dụ, trong khi dư luận đang “nóng” về hiện tượng một số đảng viên thể hiện sự “giàu có bất thường” của mình, chi bộ có thể trao đổi về vấn đề này, coi đó là một hình thức làm công tác tư tưởng chứ không phải để bàn cho có chuyện. Các luồng ý kiến có thể khác nhau, nhưng phải được thể hiện đúng đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng; phải thể hiện rõ văn hóa trong tranh luận, đưa vấn đề, tránh gay gắt, sa vào quy chụp. Người chủ trì cần chủ động “điều tiết không khí” và gợi mở “đúng tầm đúng mức” để các đảng viên trong chi bộ cùng trao đổi.

    Nội dung sinh hoạt tư tưởng cần có sự định hướng đầy đủ, chứ không phải là “vội vàng” phản ứng hay chỉ trích; có nhiều vấn đề trực tiếp của chi bộ, của đơn vị, của từng đảng viên… có thể đem ra trao đổi, thậm chí tranh luận để đi đến thống nhất (hoặc cơ bản thống nhất) trong nhận thức và hành động.

    Từ sinh hoạt tư tưởng, nếu thấy vấn đề phức tạp, quan trọng, có thể “nâng cấp” thành nội dung sinh hoạt chuyên đề để có những lý giải căn cơ hơn, phân tích đầy đủ hơn, đưa ra giải pháp toàn diện hơn và các phân công xử lý cụ thể hơn.

    Sinh hoạt tư tưởng vừa giải quyết vấn đề liên quan đến tư tưởng của đảng viên, vừa góp phần vào việc xử lý những vấn đề cụ thể của chi bộ, đơn vị. Một cuộc sinh hoạt tư tưởng có hiệu quả sẽ đem đến nhiều ý nghĩa thiết thực:

    Thứ nhất, đây là dịp để các đảng viên trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, công tác xây dựng Đảng…

    Thứ hai, là cơ hội để mỗi đảng viên nói ra những suy nghĩ, băn khoăn mà vì một lý do nào đó chưa có điều kiện bày tỏ; từ những việc của cá nhân đến công việc của cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng và những vấn đề khác của xã hội, qua đó đảng viên trong chi bộ thông hiểu và chia sẻ với nhau hơn, gắn bó, trân trọng, đoàn kết hơn, tạo động lực hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, công tác chuyên môn.

    Thứ ba, sinh hoạt tư tưởng tạo điều kiện để mỗi đảng viên tự tin hơn trong “tự phê bình và phê bình”, không chỉ tự nhận thức về bản thân mà còn giúp đồng chí, đồng nghiệp cùng tu dưỡng, rèn luyện, học tập, góp phần nâng cao chất lượng công tác đảng của chi bộ, công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị. Đây cũng là dịp có thể điều chỉnh những suy nghĩ, nhận thức chưa đúng, tránh trở thành “cái loa” tuyên truyền cho những luận điệu xấu, nhất là khi đảng viên thiếu thông tin, ngộ nhận về những điều chưa đúng.

    Thứ tư, đối với cấp ủy, thông qua sinh hoạt tư tưởng để hiểu rõ hơn những biểu hiện “bất thường”; lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đảng viên, từ đó có biện pháp chấn chỉnh, đấu tranh kịp thời. Nguy cơ “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” của một số đảng viên nhiều khi lại bắt đầu từ những vấn đề nhỏ trong tư tưởng không được bộc lộ ra, vì không nói, không bộc lộ nên chi bộ, cấp ủy không biết, không kịp thời điều chỉnh, dẫn đến hậu quả nặng nề.Để một buổi sinh hoạt tư tưởng có kết quả tích cực, cần có sự “chung tay, chung sức” của nhiều phía: Một là, cấp ủy, bí thư chi bộ phải tạo ra được không khí dân chủ, cởi mở, chân thành và thẳng thắn, phải tạo điều kiện để mọi đảng viên được “toàn tâm toàn ý” trình bày ý kiến mà không lo bị quy chụp, đánh giá tư cách, thái độ. Người chủ trì phải thực sự “giữ nhịp” và làm chủ được cuộc trao đổi, tránh để các đảng viên công kích lẫn nhau hoặc tranh luận quá đà, dẫn đến không những không giải quyết được vấn đề tư tưởng mà còn làm trầm trọng thêm.

    Hai là, mỗi đảng viên cần nhận thức việc phát biểu suy nghĩ cá nhân không chỉ thể hiện chính kiến riêng mà còn góp phần vào việc định hướng tư tưởng cho người khác, nên phải có sự chuẩn bị đầy đủ, chọn lọc điều cần nói và nói bằng một phong cách phù hợp. Tức là, cần phải tự biết điều gì cần nói, nói cho ai nghe, nói để làm gì và nói như thế nào, có như vậy thì cuộc sinh hoạt tư tưởng mới thực sự có ích cho mỗi đảng viên và cho chi bộ, cho đơn vị. Nếu có những băn khoăn về mặt tư tưởng, thì chi bộ chính là nơi tốt nhất để chia sẻ băn khoăn đó để mọi người cùng nghe và giúp đỡ nếu cần thiết. Do đó, đòi hỏi đặt ra với đảng viên là phải cởi mở, thẳng thắn, trung thực, nói đúng, nói đủ, không để bị cảm xúc “cuốn đi”.

    Ba là, cấp ủy cấp trên nên có định hướng với các chi bộ trực thuộc về phần sinh hoạt tư tưởng trong chi bộ, có thể là một phần riêng trong kỳ họp hoặc là phần lồng ghép trong suốt cuộc họp và thư ký cuộc họp cần phản ánh trung thực các nội dung liên quan đến sinh hoạt tư tưởng vào biên bản; cần cụ thể, rõ ràng, tránh viết tắt hoặc “cắt” những ý kiến quan trọng, chân thực, khách quan… khiến người khác dễ hiểu nhầm./.

 

Nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”

Bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tư duy chiến lược này nhằm chủ động phát hiện, đẩy lùi các nguy cơ đe dọa tới an ninh quốc gia, không để đất nước rơi vào tình thế bất lợi. Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác đối ngoại quốc phòng với mục tiêu cao nhất là thực hiện kế sách chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tạo lập, duy trì môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

Toàn quyền Australia David Hurley trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam, ngày 4-4-2023 _Nguồn: dantri.vn

Tạo lập môi trường hòa bình, đẩy lùi nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia

Đối ngoại quốc phòng là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiến hành, bằng phương pháp đàm phán và các hình thức hòa bình khác nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về đối ngoại và quốc phòng trong từng thời kỳ cách mạng. Các hình thức đối ngoại quốc phòng mang tính hòa bình, sử dụng phương pháp đàm phán là chủ yếu, thông qua đối thoại, thương lượng, thuyết phục để giải quyết các vấn đề quân sự - quốc phòng trên bình diện quốc tế. Là một bộ phận công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đối ngoại quốc phòng góp phần thực hiện tốt phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.

Đặc trưng của đối ngoại quốc phòng là giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế về quốc phòng bằng biện pháp hòa bình. Thông qua hoạt động này, những bất đồng, khác biệt, xung đột lợi ích được giải quyết bằng những sáng kiến, cơ chế hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các đối tác (đơn cử như, Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN - ARF, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN - ADMM, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng - ADMM+). Đây là những công cụ hữu hiệu để duy trì và củng cố hòa bình, an ninh quốc tế, giảm thiểu nguy cơ, đẩy lùi thách thức đe dọa đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, đồng thời tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”.

Đối ngoại quốc phòng Việt Nam thông qua các cơ chế, diễn đàn hợp tác song phương và đa phương về quốc phòng, trên nền tảng của các thể chế an ninh khu vực và toàn cầu, góp phần tham mưu, nắm bắt, xử lý nhanh và hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, góp phần chuyển hóa “đối tượng” thành “đối tác”, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, đe dọa đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, thời gian qua, “công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh, thiết thực, hiệu quả, tiếp tục là điểm sáng, là một trong những trụ cột của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa””.

Mặt trận đối ngoại quốc phòng đã trở thành tuyến đầu trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia “từ sớm, từ xa”. Các hoạt động ngoại giao quốc phòng nhiều tầng, nấc đã đóng góp trực tiếp vào việc đưa các mối quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, củng cố tình hữu nghị và hợp tác, chủ động, tích cực tham gia tạo dựng luật chơi trong các thể chế đa phương, nhất là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên hợp quốc để có thể tận dụng chính các luật chơi đó để bảo vệ có hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc. Kể từ năm 2014, Việt Nam đã cử lực lượng quân đội tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đánh dấu một bước nâng tầm hội nhập quốc tế và đóng góp của Việt Nam đối với nỗ lực quốc tế duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Minh bạch chính sách quốc phòng của Việt Nam, củng cố và tăng cường lòng tin chiến lược từ các đối tác

Hoạt động quốc phòng phần lớn liên quan đến lực lượng vũ trang. Trong thực thi chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, quân sự - quốc phòng là công cụ quan trọng, hỗ trợ hiệu quả các mục tiêu an ninh, phát triển và mở rộng, gia tăng ảnh hưởng quốc tế. Bên cạnh đó, “thế lưỡng nan về an ninh” trong quan hệ quốc tế thường đặt các quốc gia vào trạng thái “chạy đua vũ trang” để bảo đảm an ninh. Một khi hoạt động này chuyển từ trạng thái vô ý thức đến có ý thức, sẽ dẫn tới gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, ổn định của khu vực và quốc tế, làm gia tăng nguy cơ tiềm ẩn đối với mỗi quốc gia có liên quan.

Minh bạch về chính sách quốc phòng là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hợp tác, tin cậy, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, giảm thiểu nguy cơ về an ninh do “chạy đua vũ trang” gây ra. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, đối ngoại quốc phòng Việt Nam đã tích cực, chủ động minh bạch hóa chính sách quốc phòng. Thông qua các kênh truyền thông đối ngoại, tại các diễn đàn an ninh song phương và đa phương, đối ngoại quốc phòng Việt Nam góp phần chỉ rõ cho bạn bè quốc tế hiểu rõ: “Chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”.

Minh bạch hóa chính sách quốc phòng là xuất phát điểm quan trọng để Việt Nam xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược với các đối tác trên thế giới. Khi những nghi kỵ lẫn nhau về an ninh được giải quyết, các bên liên quan chia sẻ lợi ích chung về mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực, toàn cầu, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác sẽ có sự phát triển lên các nấc thang mới cao hơn, phù hợp hơn với thế và lực của mỗi nước. Đối ngoại quốc phòng Việt Nam góp phần tạo lập và duy trì các kênh kết nối Việt Nam với các đối tác trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng, từ đó thể hiện rõ cam kết của Việt Nam về việc “tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển”.

Huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế xây dựng quân đội - lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”

Để thực hiện có hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, cần phải có lực lượng quân đội mạnh, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đủ khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng đánh trả và đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện chủ trương xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại”. Một trong những vấn đề đặt ra là việc bảo đảm nguồn lực cho việc hiện đại hóa quân đội. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, việc kết hợp nội lực với ngoại lực là tất yếu nhằm huy động và tận dụng có hiệu quả những thành tựu của hội nhập quốc tế để xây dựng quân đội.

Đối ngoại quốc phòng tạo nguồn lực đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hoạt động hợp tác quốc tế giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với các đối tác được triển khai trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề hợp tác về đào tạo nguồn nhân lực và hiện đại hóa vũ khí, trang bị. Trong lĩnh vực hợp tác công nghiệp quốc phòng và mua sắm vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam được triển khai với các nước, như Trung Quốc, Cuba, Nga, Israel, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước châu Âu. Hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Việt Nam và Nga có những bước phát triển về chất, từ việc thuần túy mua sắm vũ khí trang bị quân sự đã bước sang giai đoạn chuyển giao công nghệ, sửa chữa, cải tiến, nâng cấp và sản xuất tại Việt Nam.

Việt Nam và Trung Quốc đạt nhiều thỏa thuận hợp tác công nghiệp quốc phòng, đáng chú ý là hợp tác về kỹ thuật quân sự lục quân, trong đó có việc nghiên cứu, hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ. Việt Nam tiến hành hợp tác sản xuất một số sản phẩm công nghiệp quốc phòng với Cuba, hợp tác đóng tàu với Ấn Độ. Nhật Bản ủng hộ Việt Nam trong việc hợp tác liên doanh sản xuất sản phẩm có tính lưỡng dụng, đào tạo cán bộ, nghiên cứu, sản xuất chế tạo, chuyển giao công nghệ, nhất là công nghiệp đóng tàu cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.

Sự kiện đáng chú ý là, năm 2014, từ chỗ dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương áp đặt gần 4 thập niên đối với Việt Nam, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama (tháng 5-2016), Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm này, giúp cải thiện năng lực quốc phòng của Việt Nam, đặc biệt là năng lực giải quyết các vấn đề an ninh hàng hải. Đây là một dấu hiệu tích cực cho việc triển khai quan hệ đối tác toàn diện (nay là đối tác chiến lược toàn diện), đánh dấu bước bình thường hóa đầy đủ quan hệ giữa hai nước. Qua đó, Việt Nam có điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ và khả năng phối hợp tác chiến trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hạn chế sự độc quyền của các đối tác khác.

Lĩnh vực hợp tác đào tạo, huấn luyện sĩ quan được thực hiện dưới nhiều hình thức. Các học viện, nhà trường quân đội của Việt Nam hiện đào tạo học viên quân sự đến từ nhiều quốc gia, như Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Cuba. Việt Nam cũng cử học viên đi học tập, đào tạo tại nhiều nước, như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand. Trong đó, Nga và gần đây có Mỹ là những nước rất quan tâm tới việc hợp tác đào tạo học viên quân sự cho Việt Nam.

Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam với nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ trong hoạt động hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ_Nguồn: qdnd.vn

Tiếp tục nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới

Đối ngoại quốc phòng góp phần thực hiện tốt phương châm Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Tuy nhiên, hoạt động này còn có mặt hạn chế. Nhận thức về đối ngoại về quốc phòng có mặt chưa thống nhất. Xác định nhu cầu, mục tiêu hội nhập, hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng có mặt chưa cụ thể, thiết thực. Hợp tác thương mại quân sự chưa gắn kết chặt chẽ với chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quân sự và hợp tác chiến lược quốc phòng. Hợp tác, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, nghệ thuật quân sự đã được triển khai nhưng chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Do vậy, để góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam cần thực hiện tốt một số phương hướng, giải pháp sau:

Một là, xác định mục tiêu, nguyên tắc trong đối ngoại quốc phòng gắn với vấn đề bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cần nhất quán thực hiện mục tiêu xuyên suốt là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở thế và lực mới của đất nước, đối ngoại quốc phòng Việt Nam cần chủ động, tích cực phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đồng thời, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào.

Hoạt động đối ngoại quốc phòng nhất quán theo phương châm: “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, lấy hợp tác là chính yếu trên cơ sở kiên định chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong quan hệ hợp tác quốc phòng với quân đội các nước phải luôn dựa trên tinh thần bình đẳng, không phân biệt đối xử; luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam cần phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp chặt chẽ đối ngoại với kinh tế, quốc phòng và an ninh, bảo đảm bí mật quân sự, bí mật quốc gia. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường không có nghĩa là khép kín, biệt lập, trái lại là điều kiện để mở rộng đối ngoại quốc phòng. Hợp tác quốc tế về quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ môi trường hòa bình. Ngược lại, giữ vững độc lập, tự chủ là điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng. Không có độc lập, tự chủ thì không thể hợp tác quốc tế về quốc phòng thành công.

Hai là, đẩy mạnh đa phương hóa, tạo thế cân bằng chiến lược, đan xen lợi ích quân sự - quốc phòng, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng là thiết lập quan hệ quân sự - quốc phòng với quân đội các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội và trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng góp phần giúp tạo thế cân bằng chiến lược với các nước lớn, tránh không bị lệ thuộc vào một nước, một tổ chức quốc tế nào trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng cũng góp phần tạo thế đan xen về lợi ích, buộc các chủ thể phải tính toán, so sánh thiệt hơn trong việc xử lý các vấn đề có liên quan đến Việt Nam.

Việc phát triển quan hệ quốc phòng với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các phong trào tiến bộ trên thế giới là cơ sở để tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là môi trường để thể hiện quan điểm đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của Việt Nam, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của các nước, các tổ chức, các lực lượng cùng góp chung tiếng nói, hành động ủng hộ Việt Nam. Thông qua các cơ chế đa phương, đối ngoại quốc phòng tham gia tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu trong thời bình, nhằm “bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc mà không cần phải tiến hành chiến tranh”(9). Cùng với đa phương hóa, hoạt động đối ngoại quốc phòng cũng chú trọng đa dạng hóa hình thức và nội dung đối ngoại.

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia Hội nghị không chính thức Tư lệnh Lực lượng quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM) và các hội nghị quân chủng, như Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN, Hội nghị Tư lệnh Không quân các nước ASEAN, Hội nghị những người đứng đầu ngành quân y các nước ASEAN (ACMMC). Việc tham dự ADMM giúp Việt Nam nắm bắt quan điểm, chính sách quốc phòng các nước; bày tỏ quan điểm, lập trường về các vấn đề quốc phòng - an ninh khu vực nói chung, của Việt Nam nói riêng. Đối với ADMM+, Quân đội nhân dân Việt Nam có thể đóng góp nhiều sáng kiến về quốc phòng - an ninh cho mục đích hòa bình.

Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á - Thái Bình Dương (Đối thoại Shangri-La) - hội nghị mà Việt Nam tham gia ngay từ những ngày đầu - là tiến trình góp phần xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Thông qua tham dự Đối thoại Shangri-La, thế giới hiểu rõ hơn về tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự chính nghĩa và quyết tâm của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên biển. Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), từ chỗ chủ yếu thảo luận các vấn đề an ninh, đã chuyển sang thảo luận các vấn đề quốc phòng, tập trung thúc đẩy và tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên trong việc đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, thúc đẩy tiến trình hợp tác phát triển của ARF, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới. Chính vì vậy, Bộ Quốc phòng Việt Nam chủ động phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, có những đóng góp tích cực đối với ARF.

Trong Liên hợp quốc, Việt Nam đã cùng các quốc gia thành viên có những đóng góp quan trọng vào việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế. Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình thể hiện cụ thể việc vận dụng tư duy hội nhập quốc tế của Đảng, là sự thay đổi về chất trong cách tiếp cận đối với các hoạt động hợp tác khu vực và quốc tế về quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần là hợp tác để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và thế giới đang nổi lên theo hướng có lợi cho Việt Nam, mà còn thể hiện cách tiếp cận mới, coi các thách thức an ninh chung của khu vực và thế giới cũng là thách thức của Việt Nam, thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Quan điểm của Việt Nam về việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc nhằm góp phần ngăn ngừa xung đột, khôi phục hòa bình, an ninh quốc tế, tạo dựng môi trường hòa bình cho tái thiết và phát triển. Đồng thời, nâng cao hiểu biết, tạo dựng, củng cố lòng tin với quân đội các nước; học tập quân đội các nước kinh nghiệm về huấn luyện, tổ chức lực lượng cơ động để giải quyết khủng hoảng, nhân đạo. Việt Nam tham gia trên cơ sở hoàn toàn độc lập, tự chủ, phù hợp với lợi ích quốc gia, điều kiện và khả năng của Việt Nam và chỉ tham gia các hoạt động vì mục đích hòa bình, nhân đạo, tái thiết trong khuôn khổ Liên hợp quốc; chỉ tham gia những chiến dịch đã được các bên xung đột mời Liên hợp quốc tiến hành và được dư luận trong nước đồng tình, ủng hộ.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền về công tác đối ngoại quốc phòng trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Đối ngoại quốc phòng do Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về đối ngoại quốc phòng có ý nghĩa quyết định đến việc phát huy hiệu quả vai trò của hoạt động này trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Thời gian tới, cần quán triệt, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và quân đội về hội nhập quốc tế, đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ trương hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, chính sách quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam, tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại quốc phòng với các đối tác và cộng đồng quốc tế.

Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối ngoại quốc phòng, cần xây dựng và triển khai Chiến lược về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Xác định cấp độ hội nhập quốc tế về quốc phòng phù hợp với mức độ quan hệ hợp tác với từng đối tác. Tập trung triển khai tổ chức thực hiện tốt ba khâu đột phá trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đó là: xây dựng, củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định, vững chắc, cùng phát triển với Trung Quốc, Lào, Campuchia; chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ quân đội.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành; cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản pháp lý liên quan, bảo đảm hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạt hiệu quả thiết thực và phù hợp với luật pháp quốc tế. Xây dựng chiến lược tổng thể để chỉ đạo thống nhất các hoạt động hội nhập quốc tế về quốc phòng.

Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng là vấn đề tổ chức bộ máy. Do đó, thời gian tới cần củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ và nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu của hệ thống cơ quan, đơn vị chuyên trách về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Bố trí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan chuyên trách đối ngoại có quân hàm phù hợp với yêu cầu lễ tân và đối đẳng trong quan hệ. Nâng cao hiệu quả công tác tùy viên quốc phòng theo định hướng hoàn thiện cơ chế điều hành, chỉ đạo hoạt động, bảo đảm tính thống nhất, kịp thời, chặt chẽ và hiệu quả. Xây dựng tổ chức, biên chế, bố trí tùy viên quốc phòng phù hợp, ổn định, nhất là tại các nước láng giềng, các nước lớn, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống.

Nhằm giải quyết tốt vấn đề nguồn lực trong xây dựng quân đội hiện đại, đối ngoại quốc phòng cần thông qua các thể chế song phương và đa phương, tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ; hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các đối tác. Kết hợp quan hệ thương mại, kinh tế và công nghiệp quốc phòng với tăng cường tiếp thu, áp dụng các quy trình quản lý, sản xuất theo cơ chế thị trường; đa dạng hóa các mối quan hệ để tránh bị lệ thuộc vào đối tác. Tạo điều kiện để doanh nghiệp quốc phòng chủ động tham gia hội nhập quốc tế, thực hiện tốt việc kết hợp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh với bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”. Đây là tư tưởng, phương châm chỉ đạo cho hoạt động đối ngoại quốc phòng được triển khai thiết thực, hiệu quả, đúng mục tiêu, nguyên tắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, những biến đổi nhanh chóng với tác động hai chiều thuận - nghịch của các nhân tố thời đại đã và đang tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với vai trò là mũi tiên phong trên lĩnh vực đối ngoại, hoạt động đối ngoại quốc phòng cần kiên định về mục tiêu, nguyên tắc, đồng thời linh hoạt về sách lược, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng và thế trận đối ngoại trên bình diện quốc tế, phát huy tốt nhân tố thời đại trong bảo vệ Tổ quốc./.

ST.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh - phương thức tối ưu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương trên còn là phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

1- Thực tiễn đã cho thấy, dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập. Tuy nhiên, xuyên suốt lịch sử của dân tộc, các thế lực ngoại bang luôn tìm mọi cách để thôn tính, xâm lăng, chống phá nước ta. Vì vậy, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh để làm cho “quốc phú - binh cường”; chú trọng giữ vững ổn định ở bên trong và tiến hành bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng để giữ cho “nội yên - ngoại tĩnh” đã trở thành ý thức thường trực, kinh nghiệm quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Kế thừa, phát huy truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và luôn quan tâm, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bộ đội Biên phòng giúp dân vươn khơi bám biển quê hương (ảnh: Dương Xuân Bình)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nước ta vẫn phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách nặng nề; khi đó, Đại hội IV của Đảng (năm 1976) chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách cần phải tập trung giải quyết là: “Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc”.

Tuy nhiên, trong khi tình hình kinh tế - xã hội đang khó khăn chồng chất chưa được tháo gỡ, thì ngay sau đó, nước ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược để bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, Đại hội V của Đảng (năm 1982) đã chỉ rõ: Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, “phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc bảo vệ Tổ quốc”. Chính tinh thần cảnh giác, chủ động và sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta vượt qua thử thách ngặt nghèo, đánh bại mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng từng bước được hình thành, bổ sung và phát triển. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, kiên trì chấp hành và cụ thể hoá đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tuy nhiên, khi đất nước ta vừa bắt tay vào công cuộc đổi mới, thì các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng dẫn đến sụp đổ...; lúc này, vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.

Đặc biệt, tháng 7-2003, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX ban hành “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó chỉ rõ: Chúng ta kiên định lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước. Do đó, “sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước, trước hết là tiềm lực về chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế; tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân mà mấu chốt là thế trận lòng dân; đẩy mạnh giáo dục quốc phòng; phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức làm nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”.

Như vậy, tư duy của Đảng về quân sự, quốc phòng đã có bước phát triển rất quan trọng, đó là “từ tư duy quân sự là chủ yếu sang tư duy về quốc phòng là cơ bản” nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột và xem đây là lợi ích cao nhất của đất nước.

Tháng 10-2013, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và dự báo những nhân tố tác động mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trong đó, xác định củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phải tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Đặc biệt, ngày 16-4-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chiến lược quốc phòng Việt Nam”. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Về nguyên tắc xây dựng nền quốc phòng, Đảng ta khẳng định: Thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Những nguyên tắc trên thể hiện rõ mục đích, tính chất của nền quốc phòng Việt Nam, đồng thời cho thấy mong muốn, thiện chí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Trên cơ sở đó, phương châm chỉ đạo được xác định là: Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, sự biến động phức tạp của tình hình, sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng. Kiên định phương châm “người trước, súng sau”, lấy con người là trung tâm, trọng tâm trong công tác quốc phòng. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì kết hợp vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở nắm vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn bớt thù, giữ cân bằng chiến lược với các nước lớn và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước và các tổ chức quốc tế, không để nước ngoài lợi dụng hoặc thỏa hiệp với nhau làm phương hại tới độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Về phương thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn diện, bảo vệ vững chắc hòa bình, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà không phải tiến hành chiến tranh; tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các loại hình tổ chức kinh tế - xã hội và từng vùng, miền. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững trên cả nước, mạnh ở trọng điểm. Thời bình thực hiện sự nghiệp quốc phòng là “của dân, do dân, vì dân”; quốc phòng thời chiến phải “bám trụ, bám dân” để chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Chuẩn bị sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.

Đến Đại hội XIII của Đảng, Đảng chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với phương hướng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại...

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (tháng 10-2023) tiếp tục ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó xác định: Phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; “… dựa vào dân, lấy “dân là gốc”, khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, lấy “yên dân” là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Cùng với tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và đấu tranh quốc phòng. Năm 2019, trong lần thứ tư công bố Sách trắng quốc phòng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược”. Đặc biệt, “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”.

Về đấu tranh quốc phòng, Việt Nam chủ trương phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng, cả phi vũ trang và vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; xử trí linh hoạt, hiệu quả từng tình huống. Điều này cho thấy, mong muốn, thiện chí và lập trường kiên định trước sau như một của Việt Nam trong đối ngoại và đấu tranh quốc phòng là vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không có xung đột, chiến tranh.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và trước yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 28-4-2023, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Kết luận số 53-KL/TW, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định rõ: Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm góp phần tăng cường tiềm lực, khả năng tự lực, tự cường về quân sự, quốc phòng, nâng cao sức mạnh quốc phòng và sức mạnh tổng hợp của đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

2- Như vậy, trong thời kỳ mới, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nói chung, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng có bước phát triển quan trọng và ngày càng hoàn thiện, với phương châm cốt lõi là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh mới là quốc phòng tối ưu và càng chuẩn bị tốt nhất cho sẵn sàng chiến tranh thì chiến tranh càng lùi xa. Do đó, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” được củng cố ngày càng vững chắc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế; trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, quyết liệt và toàn diện hơn. Vì vậy, để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.

Đây là nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, toàn diện. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân thấm nhuần sâu sắc truyền thống đánh giặc, giữ nước kiên cường, anh dũng của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; thấy rõ được giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng, từ đó, phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững quan điểm về đối tác, đối tượng; biết nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...; nâng cao cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá ngay từ địa phương, cơ sở, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú cùng nhân dân trên địa bàn tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc_Ảnh: TTXVN

Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hiện nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng nên sự ảnh hưởng, phụ thuộc và thâm nhập lẫn nhau giữa hoạt động quân sự, quốc phòng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ngày càng gia tăng. Vì vậy, sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang, mà phải thấm sâu và trở thành ý thức thường trực, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân và trong tất cả các hoạt động, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, phải không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ chế để huy động tốt nhất sự đóng góp của các cấp, các ngành, của mọi tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sức ép “chọn bên” ngày càng gay gắt hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng theo hướng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, lấy sức mạnh nội lực là chính; đồng thời, mở rộng hợp tác quốc phòng, tranh thủ có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng nền quốc phòng ngày càng toàn diện, hiện đại cả về lực lượng, thế trận, vũ khí trang bị, khoa học và nghệ thuật quân sự, bảo đảm có đủ tiềm lực, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Ba là, chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Thực tiễn lịch sử của đất nước ta cho thấy, khi nào lòng dân thuận thì thế nước mạnh, lòng dân ly tán thì thế nước yếu. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch hiện nay, thì vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn... Thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo, khoảng cách giữa các vùng, miền; thực hiện tiến bộ, công bằng và bảo đảm an sinh xã hội, làm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đặc biệt, phải luôn coi trọng giữ gìn, bồi đắp mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; thực sự trọng dân, gần dân, sát dân, tin dân, hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm, chăm lo đến lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xử lý triệt để những vấn đề gây bất bình, bức xúc trong nhân dân. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, thực hiện có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; động viên toàn dân tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc ở tất cả các cấp, các địa bàn, biên giới, biển, đảo và trên các môi trường (trên bộ, trên không, trên biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có cơ cấu, tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức chiến đấu cao, có vũ khí, trang bị hiện đại; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa, khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xung đột và chiến tranh. Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao; đồng thời, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa quân đội với công an và dân quân tự vệ tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp để làm cho đất nước mạnh lên về mọi mặt; trong đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh chính là phương thức tối ưu, hiệu quả nhất để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa./.

ST.

Thực hiện Nghị quyết số 43: Cần tiếp tục có những giải pháp căn cơ, cốt lõi hơn.

 

Họp phiên toàn thể tại hội trường vào ngày 25/5, Quốc hội thảo luận về báo cáo kết quả thực hiện giám sát chuyên đề "Việc thực hiện Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội và các nghị quyết của Quốc hội về một số dự án quan trọng quốc gia đến hết năm 2023".

Phát biểu thảo luận tại Hội trường, các đại biểu đã tập trung vào các nội dung lớn liên quan đến sự đáp ứng mục đích, yêu cầu đặt ra của cuộc giám sát; thực trạng việc thực hiện Nghị quyết số 43 về chính sách tài khóa, tiền tệ, hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội và các Nghị quyết của Quốc hội về một số dự án quan trọng quốc gia; kết quả đạt được, bất cập, hạn chế và nguyên nhân, trách nhiệm trong việc thực hiện các nghị quyết; tính phù hợp, khả thi của các giải pháp trước mắt và lâu dài trong Báo cáo giám sát và dự thảo Nghị quyết được trình Quốc hội. 

Nghị quyết 43 - Tạo động lực đáng kể cho quá trình phục hồi kinh tế

Đa số ý kiến đại biểu bày tỏ thống nhất cao với báo cáo kết quả giám sát; khẳng định việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15 là phù hợp với thực tế. Hầu hết các chính sách được ban hành là kịp thời, hợp lòng dân, đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch cấp bách, được người dân hưởng ứng tích cực. 

Cho rằng Nghị quyết Nghị quyết số 43/2022/QH15 ra đời trong một bối cảnh rất đặc biệt, khi đại dịch COVID-19 đang diễn ra hết sức phức tạp, tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân, kinh tế đất nước, đại biểu Nguyễn Hữu Thông (Đoàn Bình Thuận) nhấn mạnh: Trong tình hình đó, Quốc hội đã tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất với hình thức trực tuyến để xem xét, cho ý kiến và thông qua Nghị quyết 43/2022/QH15 cho thấy Quốc hội luôn đồng hành với Chính phủ trong giải quyết tất cả các vấn đề mà thực tiễn đặt ra vì mục tiêu phát triển đất nước, vì quốc kế dân sinh.

"Cá nhân tôi đánh giá, điểm nổi bật nhất trong hai năm thực hiện Nghị quyết 43/2022/QH15 là đã giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng và thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, của Chính phủ trong phòng, chống dịch", đại biểu Nguyễn Hữu Thông (Bình Thuận) nhấn mạnh và cho rằng có được kết quả như vậy là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự vào cuộc chủ động, kịp thời của Quốc hội, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia tích cực của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. 

Còn đại biểu Thạch Phước Bình (Trà Vinh) nhận định, Nghị quyết số 43/2022/QH15 đã thể hiện rất rõ tinh thần "ứng vạn biến" của Quốc hội. Nghị quyết này đã được ban hành rất nhanh, rất sớm. Ngay sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15, Chính phủ đã sớm ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP để triển khai thực hiện. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện Nghị quyết 43/2022/QH15 một cách khoa học, kịp thời, chặt chẽ và hiệu quả đã tạo động lực đáng kể cho quá trình phục hồi kinh tế.

Cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

Nhiều đại biểu khẳng định Nghị quyết số 43 là Nghị quyết đúng đắn, kịp thời được ban hành và tổ chức thực hiện trong bối cảnh đặc biệt, khi đại dịch COVID-19 đang diễn ra và tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đời sống người dân và qua 2 năm thực hiện, nhiều mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 43 cơ bản hoàn thành, đặc biệt tăng trưởng GDP năm 2022 đạt 8,02%, là mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022; năm 2023 đạt 5,05% là mức khá cao trong điều kiện thế giới và trong nước đối mặt với nhiều khó khăn thách thức mới.

Đại biểu Âu Thị Mai (Tuyên Quang) cho rằng bên cạnh kết quả đạt được còn một số chính sách thực hiện không đạt kế hoạch, mục tiêu đề ra, chính sách hỗ trợ người dân, người lao động tại một số địa phương còn chậm, lúng túng, việc thẩm định và giải quyết chi trả kinh phí hỗ trợ cho đối tượng thụ hưởng chậm so với yêu cầu đề ra. Việc mua sắm, cung ứng thuốc, vaccine, trang thiết bị y tế của các cơ sở y tế chậm được cung ứng, ảnh hưởng đến chất lượng khám, chữa bệnh....

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đại biểu Âu Thị Mai thống nhất cao với các đề xuất của đoàn giám sát, đồng thời kiến nghị Quốc hội tiếp tục cho phép thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh theo Nghị quyết số 43/2022/QH15.

Đồng thời kiến nghị Chính phủ xem xét, chỉ đạo các bộ, ngành chức năng khẩn trương thực hiện các giải pháp tháo gỡ các rào cản về pháp lý, thủ tục hành chính chưa thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; tiếp tục thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh... 

Các địa phương cần chú ý hơn nữa trong đẩy nhanh thực hiện và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai.

Cũng là vấn đề về xử lý những khó khăn, vướng mắc, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai (Đoàn Hà Nội) đề xuất của Chính phủ tiếp tục kéo dài thời hạn giải ngân đối với một số dự án thuộc Chương trình phục hồi kinh tế-xã hội đến hết năm 2025.

Đại biểu Mai cho biết, trong số 272 dự án thuộc Chương trình, có tới 107 dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 50%. Nếu không cho phép kéo dài sẽ dẫn đến dở dang, lãng phí, đây cũng là bài toán cần xem xét thận trọng. 

Tuy nhiên, đối với một số dự án có hiệu quả giải ngân thấp và chưa thực hiện nghiêm các quy định liên quan có thể hủy dự toán, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan.

Về các cơ chế đặc thù, tại Nghị quyết 43, trong một bối cảnh đặc biệt đã có những chính sách đặc biệt và qua giám sát cho thấy nhiều chính sách cũng phát huy tác dụng tốt có thể nhân rộng để áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, với cơ chế chỉ định thầu chỉ nên áp dụng trong bối cảnh dịch bệnh để đảm bảo tính kịp thời. Còn trong bối cảnh bình thường cần áp dụng các quy định chung của pháp luật về đấu thầu để đảm bảo tính công khai, minh bạch, không cho phép lợi dụng pháp luật.

Thực hiện Nghị quyết số 43: Cần tiếp tục có những giải pháp căn cơ, cốt lõi hơn- Ảnh 5.

Theo đại biểu Phạm Văn Hòa, phải khắc phục có hiệu quả những bất cập trong công tác chuẩn bị đầu tư các dự án - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Khẳng định việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đã đạt được nhiều kết quả nhưng đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cho rằng những hạn chế trong tổ chức thực hiện cũng cần phải có những giải pháp căn cơ, cốt lõi hơn để đạt được mục tiêu, chỉ tiêu, quan điểm của Nghị quyết.

Theo đại biểu Phạm Văn Hòa, phải khắc phục có hiệu quả những bất cập trong công tác chuẩn bị đầu tư các dự án. Đây là nguyên nhân chính của việc giải ngân thấp. Ngoài công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập thì cần phải làm rõ các danh mục đầu tư chưa sát thực tế dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần, ảnh hưởng tới công tác phân bổ vốn, tiến độ thi công và giải ngân của các dự án... 

Đối với các dự án có vốn đầu tư lớn cần phải quy hoạch từ đầu nguồn vật liệu, tránh việc đến lúc triển khai dự án phải mua lại dẫn đến đội chi phí lên cao. 

‎Bên cạnh đó, đại biểu cũng cho rằng, cần làm rõ hơn việc phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh có đủ năng lực làm cơ quan chủ quản thực hiện các đoạn, tuyến cao tốc đi qua địa bàn có gì khó khăn trong khâu điều hành. Đây là chính sách mới, chưa có tiền lệ nên cũng cần có thời gian thực hiện rút kinh nghiệm để nhân rộng.

Việc chậm bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công cũng là nguyên nhân làm chậm tiến độ, có địa phương thực hiện rất tốt, có địa phương thì ì ạch... Đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá trách nhiệm của địa phương, ngành, đơn vị thi công để phân định, đôn đốc, nhắc nhở, phê bình nghiêm khắc

Đề nghị kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết 43

Đại biểu Trần Quốc Tuấn (Đoàn Trà Vinh) khẳng định, trong 2 năm thực hiện Nghị quyết số 43, có 21 văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành đã góp phần quan trọng thực hiện cơ bản hoàn thành 5 quan điểm, 3 mục tiêu của Nghị quyết số, phần lớn các chính sách được thực hiện khá thành công, giúp tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp, kích cầu tiêu dùng trong nước, làm giảm chi phí đầu vào, kiềm chế lạm phát. 

Tuy nhiên, cũng có một số chính sách có kết quả thực hiện thấp, số liệu đánh giá tình hình thực hiện các chính sách cụ thể cho thấy, có 7 chính sách có chỉ tiêu định lượng đề ra theo Nghị quyết số 43 triển khai thực hiện không đạt kế hoạch đề ra. Báo cáo của Đoàn giám sát cũng chỉ ra nhiều tồn tại hạn chế, nêu những nguyên nhân khách quan và chủ quan. 

Từ sự phân tích nêu trên, Đại biểu đồng tình với việc kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết 43, phấn đấu đến ngày 31/12/2024 hoàn thành giải ngân vốn của Chương trình đã được phân bổ theo tiến độ yêu cầu tại Nghị quyết Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội để đưa các dự án hoàn thành đi vào sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư vốn.

Để Nghị quyết 43 được triển khai đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, đại biểu Trần Quốc Tuấn kiến nghị, đề xuất đến Quốc hội, Chính phủ cần quan tâm chỉ đạo 3 nội dung lớn. 

Cụ thể, thứ nhất, cần nhanh chóng nghiên cứu đề ra giải pháp khắc phục hiệu quả các nội dung tồn tại hạn chế nêu trong báo cáo của đoàn giám sát. Thứ hai, ngay sau kỳ họp này, Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tập trung nghiên cứu xem xét hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho 27 địa phương, bộ ngành với 70 kiến nghị được tổng hợp tại phụ luc 5 ban hành kèm theo báo cáo của đoàn giám sát. Thứ ba, cần chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, truyền thông chính sách đến từng doanh nghiệp đủ điều kiện biết để tham gia.

Đại biểu Bế Minh Đức (Đoàn Cao Bằng) đề nghị Quốc hội đánh giá đầy đủ, khoa học, có sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà khoa học về quá trình tổ chức thực hiện các giải pháp của Nghị quyết số 43/2022/QH15, dư địa tài khóa, tiền tệ hiện nay. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khả năng xây dựng chương trình phục hồi kinh tế mới cho giai đoạn tiếp theo. 

Ngoài ra, đại biểu Bế Minh Đức cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm thực hiện các giải pháp như báo cáo giám sát đã đề ra, đặc biệt, chú trọng công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, phổ biến chính sách của Nhà nước đối với các khoản vay ưu đãi để người dân, doanh nghiệp có thông tin tiếp cận vốn vay; hướng dẫn người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã kê khai thực hiện miễn giảm thuế thuận lợi.

Đồng thời, phân bổ ngân sách hợp lý; có cơ chế rõ ràng, đồng bộ thể hiện trong các văn bản pháp lý để triển khai hiệu quả phân cấp, phân quyền cho địa phương để địa phương được linh hoạt sử dụng kinh phí phù hợp với tình hình, điều kiện của địa phương.