Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2024

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG "CỐT TINH, KHÔNG CỐT ĐÔNG" TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Từ thực tiễn xây dựng quân đội và kinh nghiệm tổ chức kháng chiến, các nhà nước quân chủ trong lịch sử Việt Nam đã đúc kết được nhiều bài học giữ nước, trong đó có quan điểm xây dựng quân đội thường trực của quốc gia “cốt tinh, không cốt đông”, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc nền độc lập và vẹn toàn cương vực quốc gia. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng xây dựng quân đội của các triều đại quân chủ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh” hiện nay là việc làm cần thiết, có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn.
Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại là chủ trương nhất quán, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Ngoài việc kiên định nguyên tắc quản lý, lãnh đạo, coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tinh thần; gắn với đổi mới công tác huấn luyện-đào tạo; tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật; thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực dự bị chất lượng cao... thì một trong những vấn đề quan trọng là phải gắn xây dựng lực lượng tinh nhuệ với điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, biên chế LLVT phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
Để tiến hành thắng lợi khởi nghĩa vũ trang và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm có tư tưởng xây dựng LLVT có tổ chức chặt chẽ, cơ cấu nhiều thứ quân, trong đó quân triều đình quản lý giữ vai trò quyết định. LLVT triều Lý, Trần bao gồm quân chủ lực của triều đình, quân của quý tộc (vương hầu, tôn thất), quân của các lộ, phủ, châu (quân địa phương) và dân binh làng, xã, động, bản. Quân chủ lực của triều đình do nhà nước trực tiếp quản lý, chỉ huy, gồm các thành phần cấm quân và sương quân. Cấm quân là công cụ bạo lực chủ yếu, chỗ dựa quan trọng nhất của chính quyền quân chủ, là trụ cột của quốc phòng, an ninh và là lực lượng chủ lực trong các cuộc chiến tranh giữ nước.
Đến triều Vua Lê Thánh Tông, cùng với việc cải cách hành chính, chia cả nước thành 13 đạo, tổ chức quân đội cũng được cải tổ một cách toàn diện tạo sự thống nhất với hệ thống tổ chức chặt chẽ, quy củ. Lực lượng quân đội được chia thành hai bộ phận: Quân triều đình và quân các địa phương. Quân triều đình gồm cấm binh (còn gọi là cấm vệ quân) và quân ngũ phủ. Cấm binh được chia thành vệ, sở, vẫn làm nhiệm vụ bảo vệ vua, hoàng cung và kinh thành. Quân ngũ phủ được nhà nước xác định rõ là bộ phận quan trọng của quân đội do triều đình trực tiếp quản lý, thường trực đóng giữ trên các địa bàn trọng yếu của đất nước.
Để phù hợp với cách tác chiến (nhanh, mạnh, thần tốc), kể từ khi trở thành Bắc Bình vương, Nguyễn Huệ quyết định biên chế quân đội thành hệ thống gồm đội, cơ, đạo và doanh. Trong những trường hợp cần thiết, quân đội Tây Sơn còn được tổ chức thành các đơn vị quy mô lớn gọi là đại quân gồm 2-3 doanh do một đại đô đốc chỉ huy. Để tạo nên sức mạnh tổng hợp, tượng binh, kỵ binh, pháo binh và thủy binh được Vua Quang Trung quan tâm chú trọng phát triển và ngày càng hoàn thiện theo hướng gọn, tinh nhuệ, là lực lượng nòng cốt trong củng cố quốc phòng và bảo vệ nền độc lập...
Tiếp thu truyền thống quân sự dân tộc và tinh hoa quân sự thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo trên bình diện tư tưởng, lý luận cũng như trong thực tiễn xây dựng LLVT. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo xây dựng LLVT ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Tháng 3-1947, lực lượng dân quân du kích được thống nhất về tổ chức, xây dựng thành một bộ phận đông đảo của LLVT nhân dân, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của cấp xã đội, huyện đội, tỉnh đội với quy mô phổ biến là tiểu đội, trung đội, đại đội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu ngay tại địa phương bằng các thứ vũ khí có trong tay với hình thức tác chiến linh hoạt, sáng tạo.
Tháng 4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương có quy mô đại đội hoặc tiểu đoàn, được cấp ủy đảng lãnh đạo, cơ quan quân sự địa phương chỉ huy; có khả năng tác chiến độc lập, làm nòng cốt phát triển chiến tranh nhân dân địa phương. Cùng với việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, Đảng ta rất chú trọng tới việc xây dựng các đơn vị chủ lực và chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng các đơn vị cơ động cấp đại đoàn. Trong giai đoạn 1949-1952, các đại đoàn bộ binh chủ lực (Đại đoàn 308, 304, 312, 316, 320, 325) và Đại đoàn Công pháo 351 lần lượt được thành lập.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện chủ trương của Đảng, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không-Không quân, các binh chủng: Thông tin liên lạc, Đặc công... được thành lập và nhanh chóng trưởng thành. Đặc biệt, các đơn vị chủ lực của bộ binh có bước phát triển mạnh về tổ chức với quy mô từ cấp sư đoàn phát triển thành quân đoàn binh chủng hợp thành (Quân đoàn 1, 2, 3, 4, Đoàn 232) vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến. Đây là lực lượng cơ động chiến lược hoạt động trên địa bàn cả nước, hoặc trên từng chiến trường theo yêu cầu, nhiệm vụ để tiến hành tác chiến tập trung, thực hành các trận quyết chiến chiến lược, giành thắng lợi quyết định trong chiến tranh cách mạng.
Phương thức tổ chức ba thứ quân thể hiện đậm nét tính nhân dân của LLVT do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng, lãnh đạo. Thành công trong việc xây dựng LLVT ba thứ quân, nòng cốt là Quân đội nhân dân, là cơ sở quan trọng để Đảng phát huy thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh. Thế trận đó cho phép chúng ta thực hiện chiến tranh chính quy bằng các binh đoàn chủ lực kết hợp chặt chẽ với các hoạt động tác chiến của lực lượng tại chỗ thuộc bộ đội địa phương và dân quân du kích, với chiến tranh nhân dân địa phương, phong trào toàn dân đánh giặc và phong trào đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong thực tiễn, do yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu xây dựng Quân đội đặt ra trong từng thời kỳ, Đảng ta đã nhiều lần điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ. Đặc biệt, hiện nay, trong điều kiện nước ta phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ đặt ra ngày càng cao; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động tới tất cả lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngày càng sâu sắc thì việc kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị nói riêng, điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội nói chung là vấn đề khách quan, cấp thiết, góp phần xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại, là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng BVTQ.
Từng cấp cần chủ động làm tốt việc rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, bảo đảm trang bị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới. Trước hết, triển khai thực hiện có hiệu quả đề án tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm; bổ sung chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ để tăng cường quân số cho các đơn vị thành lập mới, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo.
Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế các nhà trường Quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Quá trình rà soát, điều chỉnh phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, theo hướng có giảm, có tăng, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng. Qua đó, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, biên chế, trang bị của Quân đội, với cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới./.
Báo QĐND
Tất cả cảm xúc:
7

Đề nghị tăng lương hưu, trợ cấp người có công trong năm 2025

 

Năm 2025, có thể không tăng lương trong khu vực công, song nhất thiết phải tăng lương hưu và trợ cấp cho người có công, đại biểu Quốc hội nêu quan điểm…

Chi trả lương hưu cho người hưởng tại Hà Nội. Ảnh: Thu Hiền.
Chi trả lương hưu cho người hưởng tại Hà Nội. Ảnh: Thu Hiền.

Đây là đề nghị của đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng 4/11 về Đánh kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân, đoàn TP.HCM, đề nghị quan tâm đến việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, và trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng trong năm 2025. Bởi năm 2025 là năm có nhiều sự kiện quan trọng của dân tộc, vì thế đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm đề xuất Quốc hội về vấn đề này.

“Chúng ta có thể không tăng lương khu vực công trong năm tới, nhưng phải tăng lương hưu và trợ cấp cho người có công”, đại biểu Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.

Trước đó, báo cáo Quốc hội hôm 22/10 thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2024, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2025, Ủy ban Tài chính – Ngân sách đồng tình với việc chưa xem xét việc tiếp tục điều chỉnh tăng lương khu vực công, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp người có công.

Cũng quan tâm đến chế độ chính sách cho người cao tuổi, đại biểu Nguyễn Minh Tâm, đoàn tỉnh Quảng Bình, cho biết Việt Nam đang chuẩn bị bước vào thời kỳ già hóa dân số. 

Trước áp lực ngày càng gia tăng của hệ thống hưu trí và y tế sẽ tạo thêm những thách thức lên nguồn tài chính của quốc gia. Hệ thống chăm sóc cho người tuổi cao, sức yếu cũng sẽ sớm trở thành mối quan ngại.

Đại biểu cho biết cả nước có trên 16 triệu người cao tuổi, chiếm hơn 16% dân số, nhưng chỉ có khoảng 5,4 triệu người được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp người có công, và trợ cấp xã hội.

Như vậy, còn khoảng hàng triệu người cao tuổi chưa được hưởng chính sách trợ cấp xã hội. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ có cơ chễ hỗ trợ người cao tuổi tham gia thị trường lao động công bằng, hợp lý là cần thiết, giảm gánh nặng an sinh cho xã hội.

“Chính sách việc làm cần hướng tới tăng cường sự tham gia của người cao tuổi đối với thị trường lao động. Cụ thể, cần quy định tối đa số giờ, mức lương tối thiểu phải trả cho người cao tuổi tham gia lao động, chính sách cho vay vốn, học nghề đối với người cao tuổi có mong muốn khởi nghiệp”, đại biểu Nguyễn Minh Tâm góp ý.

Đại biểu Nguyễn Minh Tâm, đoàn tỉnh Quảng Bình. Ảnh: Quochoi.vn.

Bên cạnh đó, theo đại biểu, đã đến lúc quy hoạch việc làm phải được chú trọng, trong đó ưu tiên công việc đặc thù cho người già. Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng và số lượng cơ sở chăm sóc cho người cao tuổi, đại biểu đề nghị khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào công tác chăm sóc người cao tuổi.

Đơn cử như cần miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phát triển nhà ở dưỡng lão trong một số năm đầu hoạt động, nhằm giảm chi phí và rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp này.

Hay cung cấp các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp muốn đầu tư xây dựng và vận hành nhà dưỡng lão; tạo quỹ hỗ trợ từ Chính phủ để cung cấp các khoản tài trợ, hoặc bảo lãnh tín dụng cho các dự án phát triển nhà dưỡng lão.

Ngoài ra cần có chính sách khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, thông qua các chính sách ưu đãi về thuê đất, chính sách thuế, phí, cải cách thủ tục hành chính.

Khuyến khích mô hình hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực đầu tư chăm sóc người cao tuổi, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân vào lĩnh vực này. Đặc biệt có quy định về việc huy động vốn của người cao tuổi trong dự án dưỡng lão, đảm bảo quyền lợi cho người cao tuổi...

Liên quan đến chính sách trợ cấp, bảo hiểm cho người lao động, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, đoàn tỉnh Hải Dương, đề cập thêm đến vấn đề chế độ cho người lao động là hộ kinh doanh đã tham gia bảo hiểm xã hội.

Đại biểu cho biết tại Nghị quyết số 142/2024 ngày 29/6/2024 của Quốc hội, đã giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ghi nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của chủ hộ kinh doanh, đã tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực thi hành (1/7/2025). Việc này để làm căn cứ giải quyết chế độ bảo hiểm cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, chế độ hưởng bảo hiểm của chủ hộ kinh doanh cá thể thuộc đối tượng nói trên vẫn chưa được giải quyết, trong đó có nhiều người đã đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội và đến thời gian được hưởng chế độ hưu trí.

“Việc chậm trễ này ít nhiều đã ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với chính sách bảo hiểm nói chung, và gây khó khăn nhất định trong việc nỗ lực mở rộng mạng lưới bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hộ tự nguyện”, đại biểu đoàn Hải Dương nói.

Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện mọi thủ tục nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề này để người dân yên tâm.

Sự đoàn kết của người trẻ tạo nên sức mạnh, sẵn sàng gánh vác những khó khăn

 Ngày 4-11, Đại hội đại biểu Hội LHTN Việt Nam TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2024 - 2029 chính thức khai mạc và bước vào ngày làm việc đầu tiên tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM. Đại hội diễn ra trong 3 phiên làm việc vào 2 ngày 4 và 5-11.

Tham dự đại hội có các đồng chí: Nguyễn Phước Lộc, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM; Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM; Nguyễn Xuân Hiếu, Phó Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam.

Với chủ đề “Thanh niên TPHCM yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, khát vọng, cống hiến vì sự phát triển của thanh niên; vì thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”, đại hội xác định khẩu hiệu hành động “Yêu nước - đoàn kết - sáng tạo - khát vọng - cống hiến”, đại hội đã triệu tập 441 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 2,35 triệu thanh niên thành phố.

Phát biểu chỉ đạo tại đại hội, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM Nguyễn Phước Lộc trân trọng ghi nhận sự đóng góp, nỗ lực cống hiến, phấn đấu rèn luyện của 441 thanh niên đại diện tiêu biểu dự đại hội.

Theo đồng chí Nguyễn Phước Lộc, đây là những thanh niên có thể sinh ra, lớn lên tại TPHCM, nhưng cũng có những người đến để học tập, công tác, làm việc và chọn TPHCM là nơi sinh sống, làm việc và có những đóng góp rất tích cực, nổi trội. Nên được chọn dự đại hội là niềm vinh dự của mỗi người, nhưng cũng thể hiện sự đóng góp của thanh niên hòa chung cùng các tầng lớp nhân dân thành phố, cho sự phát triển kinh tế - xã hội của TPHCM.

Anh 7.jpg
Đồng chí Nguyễn Phước Lộc, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM cùng các đại biểu tham dự đại hội. Ảnh: HOÀNG HÙNG

Đồng chí nhận xét các gương thanh niên tiêu biểu đã lan tỏa, truyền động lực phấn đấu cho nhiều tầng lớp thanh niên khác chung sức, đồng lòng trong ngôi nhà của Hội LHTN Việt Nam TPHCM, cùng tham gia đóng góp để phát triển tổ chức hội gắn liền với phát triển TPHCM. Đồng thời, ghi nhận sáng kiến của ban tổ chức và đánh giá cao 12 thanh niên tiêu biểu đã nhận lời tham gia cùng đại hội, thảo luận cùng đại biểu để truyền động lực phấn đấu, tham gia xây dựng và phát triển TPHCM.

Khẩu hiệu hành động của Đại hội và dự kiến được Đại hội quyết định thành chủ đề của nhiệm kỳ là: Yêu nước - Đoàn kết - Sáng tạo – Khát vọng - Cống hiến. Từ chủ đề này, đồng chí Nguyễn Phước Lộc liên tưởng đến hình ảnh của người trẻ, khái quát lên tinh thần đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh niên, phát huy những giá trị tốt đẹp nhất của thanh niên hòa chung vào sự phấn đấu, rèn luyện để trưởng thành của mỗi cá nhân, đóng góp cho Tổ quốc.

aNH 3.jpg
Các đại biểu tham dự đại hội thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của người trẻ. Ảnh: HOÀNG HÙNG

Theo đồng chí Nguyễn Phước Lộc, hình ảnh mô phỏng người trẻ đưa thẳng cánh tay ra phía trước thể hiện khát vọng của thanh niên, thể hiện sự dấn thân; cánh tay đưa về phía trước thể hiện sự sáng tạo; tay thẳng ngang vai thể hiện tinh thần người trẻ sẵn sàng gánh vác, liên kết, chia sẻ trách nhiệm cộng đồng khi Tổ quốc cần, đó cũng là hành động và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội. Khi có yêu cầu, tinh thần yêu nước sẽ được phát huy mạnh mẽ nhất để đóng góp cho Tổ quốc. Vì vậy, trong mọi mặt đời sống xã hội, mọi lĩnh vực công tác, người trẻ luôn giữ vị trí trụ cột trong học tập, công tác, lao động, rèn luyện, phấn đấu và cống hiến.

Anh 4.jpg
Các đại biểu tham dự đại hội. Ảnh: HOÀNG HÙNG

“Hơn hết, khi Tổ quốc cần, thanh niên chúng ta có mặt, khi Tổ quốc cần, thanh niên chúng ta hành động. Và cánh tay kết thành hình tròn, đó chính là thể hiện sự đoàn kết của người trẻ, tạo nên sức mạnh của thế hệ trẻ, thế hệ tương lai sẵn sàng gánh vác mọi vấn đề khó khăn phát sinh từ trong cộng đồng, từ trong đời sống xã hội, từ trong mỗi lĩnh vực công tác, và hơn hết là đóng góp cho thành phố thân yêu của chúng ta và cho Tổ quốc của mình”, đồng chí Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh.

Dẫn những mục tiêu, tầm nhìn tại Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh, đất nước, thành phố tin tưởng sự yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, khát vọng và cống hiến của các tầng lớp thanh niên TPHCM. Theo đồng chí, điều này được thể hiện qua công tác Hội LHTN Việt Nam TPHCM trong tập hợp thanh niên chung sức, đồng lòng, đoàn kết đóng góp cho sự phát triển của thành phố. “Nhất là sự lan tỏa mạnh mẽ của 441 đại biểu có dự đại hội để cho thấy chúng ta phấn đấu xứng đáng thành phố được mang tên Bác Hồ kính yêu, TPHCM cùng cả nước, vì cả nước”, đồng chí Nguyễn Phước Lộc chia sẻ.

Thành tựu phát triển của Việt Nam - giá trị không thể phủ nhận

Các thế lực thù địch luôn cố tình phủ nhận những giá trị phát triển của Việt Nam. Với tâm địa xấu, họ xuyên tạc rằng “dưới chế độ cộng sản, đất nước Việt Nam ngày càng tụt hậu so với thế giới”, “đời sống người dân khổ cực”... Thế nhưng tất cả những tuyên truyền thiếu khách quan, thiếu tử tế và sai trái đó đều bị thực tiễn tại Việt Nam vạch trần. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Việt Nam đuổi kịp và vượt qua nhiều nước đã phát triển trước, người dân được chăm lo toàn diện, có cuộc sống ngày càng khấm khá.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quy mô tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành năm 2023 ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. Với kết quả này, quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2023 xếp thứ 34 thế giới theo bảng xếp hạng của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh ở Anh (CEBR). Theo dự báo, nếu tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng thì đến năm 2038, với quy mô GDP dự kiến đạt 1.559 tỷ USD, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ vượt qua các nền kinh tế khác trong khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như Philippines (1.536 tỷ USD), Thái Lan (1.313 tỷ USD), Singapore (896 tỷ USD) để lọt nhóm 25 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Thậm chí, nếu xét về GDP (PPP) hay còn gọi là GDP theo sức mua thì theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam hiện xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ 25 thế giới. Theo đó, năm 2023, Indonesia là quốc gia có quy mô GDP (PPP) lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, đạt khoảng 4.391 tỷ USD. Xếp thứ hai là Thái Lan với quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.563 tỷ USD. Việt Nam xếp thứ 3 với quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.438 tỷ USD. Philippines xếp thứ 4 với quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.280 tỷ USD. Malaysia xếp thứ 5 với quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.221 tỷ USD. GDP (PPP) Singapore đạt khoảng 759,52 tỷ USD, xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Đến năm 2026, quy mô GDP (PPP) Việt Nam được IMF dự báo đạt khoảng 1.833 tỷ USD, đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, vượt qua Thái Lan (đạt khoảng 1.807 tỷ USD) và chỉ xếp sau Indonesia (đạt khoảng 5.402 tỷ USD).

Xét trên quy mô thế giới, đến năm 2023, quy mô GDP (PPP) Việt Nam đã xếp trên Hà Lan và Thụy Sĩ. Cụ thể, GDP (PPP) Hà Lan đạt khoảng 1.290 tỷ USD, xếp thứ 27 trên thế giới và Thụy Sĩ đạt khoảng 787 tỷ USD, xếp thứ 35 trên thế giới vào năm 2023. Cùng với đó, khoảng cách với Australia (đạt khoảng 1.724 tỷ USD, xếp thứ 20 thế giới) và Ba Lan (đạt khoảng 1.706 tỷ USD, xếp thứ 21 trên thế giới) không còn quá xa. Đến năm 2029, IMF dự báo quy mô GDP (PPP) Việt Nam (2.343 tỷ USD) vượt qua Australia và Ba Lan, xếp thứ 20 trên thế giới. 

Xét một cách toàn diện thì GDP (PPP) mang lại bức tranh kinh tế toàn diện hơn so với GDP. Bởi GDP (PPP) đo lường giá trị toàn bộ hàng hóa và dịch vụ sản xuất của một quốc gia trong một năm dựa trên sức mua của tiền tệ địa phương. GDP (PPP) thường được sử dụng để so sánh sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia và để xác định mức sống của người dân trong các quốc gia khác nhau. Nó cung cấp một cái nhìn tổng quan về khả năng mua sắm của một quốc gia và giúp đánh giá sự phát triển kinh tế và tiêu dùng của nó.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam là quốc gia còn rất nhiều tiềm năng, dư địa để tăng tốc phát triển kinh tế. Do đó, những mục tiêu phát triển mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra là hoàn toàn khả thi.

Người dân được hưởng thành quả của phát triển

Tại một số nơi trên thế giới, kinh tế phát triển nhưng đời sống của đại bộ phận người dân còn khó nhọc, nước phát triển nhưng dân không giàu, không sung sướng. Tại Việt Nam, khi nền kinh tế đang thăng hạng nhanh thì cùng với đó, cuộc sống người dân đã được cải thiện nhanh. Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố vào tháng 4-2024, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam giai đoạn 2012-2022 đã tăng hơn 2,3 lần, từ 1,99 triệu đồng/người/tháng lên 4,67 triệu đồng/người/tháng. Mỗi người Việt Nam có thể tự so sánh để cảm nhận mức sống của bản thân được nâng lên rất nhiều và toàn diện so với 5 năm, 10 năm trước. Tại các thành phố lớn, xuất hiện rất nhiều khu đô thị hạng sang. Do mức sống tăng, có tài sản tích lũy nên người Việt Nam có cơ hội đi công tác, du lịch, học tập ở các nước phát triển trên thế giới và thấy rằng, điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt tại Việt Nam không còn thua kém nhiều so với các nước trên.

Cùng với đó, Việt Nam thực hiện chính sách phát triển bao trùm, quan tâm đến các chính sách xã hội, chăm lo người nghèo, thúc đẩy sự phát triển của miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước chỉ còn 3,4%. Chế độ, chính sách trợ giúp xã hội được sửa đổi theo hướng mở rộng về đối tượng, tăng về mức hưởng trợ cấp. Hiện nay, cả nước có khoảng 3,356 triệu người (chiếm khoảng 3,356 % dân số) đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng. Từ ngày 1-7-2024, mức chuẩn trợ cấp xã hội tăng từ 360.000 đồng/tháng lên 500.000 đồng/tháng, tương ứng tăng 38,9% so với mức trợ cấp trước đó.

Các phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000 nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Nếu mục tiêu này được thực hiện thành công sẽ là một thành tựu rất ý nghĩa.

Cảm nhận về hạnh phúc

Ngày Quốc tế hạnh phúc (20-3) năm nay, Việt Nam đón nhận thông tin tích cực khi trong Báo cáo hạnh phúc thế giới 2024, đất nước ta đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc tình hình an ninh của nhiều khu vực trên thế giới rất phức tạp với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.

Dù mức sống chưa bằng nhiều quốc gia trên thế giới nhưng người Việt Nam dù có đi khắp năm châu, bốn bể vẫn thấy quê cha đất tổ là nơi hạnh phúc nhất, an toàn nhất đối với mình. Có những giá trị nằm ngoài vật chất tạo ra sức hút của mảnh đất hình chữ S. Đó là cuộc sống thanh bình, là giá trị về văn hóa, tinh thần. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa, con người, gia đình tại Việt Nam vẫn được gìn giữ. Nhiều khách nước ngoài chỉ cần đến Việt Nam lần đầu cũng đã yêu mảnh đất, con người Việt Nam và muốn gắn bó lâu dài. Đó là vì họ thấy cuộc sống ở Việt Nam rất dễ chịu, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, con người thân thiện, mến khách. Do đó, dựa vào phản hồi từ du khách, Flight Centre-một trong những công ty lữ hành lớn nhất thế giới-đã xếp Việt Nam là một trong 10 quốc gia hàng đầu thế giới dành cho khách du lịch.

Vì thế, có thể thấy rõ rằng, những giá trị của kinh tế phát triển, đời sống người dân hạnh phúc đều đã được thể hiện trên thực tế tại Việt Nam và được quốc tế công nhận. Do đó, dù các thế lực thù địch, những kẻ xấu có cố công xuyên tạc, bóp méo thì cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó, mà chỉ khiến họ trở nên nực cười.

Sưu tầm

Đồng chí, đồng đội – tình cảm đặc biệt, thiêng liêng, cao quý

Đồng chí là cách gọi, xưng hô của những người cùng chung tổ chức, cùng chung chí hướng chính trị, cùng đội ngũ. Đồng đội là những người cùng chung đội ngũ chiến đấu1. Đồng chí, đồng đội là cách gọi, xưng hô với nhau hằng ngày của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng, đội ngũ chiến đấu trong một tổ chức của lực lượng vũ trang. Đây cũng chính là cách xưng hô thân thiết, mối quan hệ bền chặt, tình cảm đặc biệt của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta; là một trong những chuẩn mực cơ bản, giá trị nhân cách cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội. Nhờ tình cảm cao đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ ta luôn đoàn kết một lòng, gắn bó keo sơn, cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, sát cánh bên nhau vượt qua mọi hiểm nguy, gian khó, chiến thắng mọi kẻ thù.

Đặc trưng của tình đồng chí, đồng đội

Tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta được thể hiện toàn diện, sâu sắc trong cuộc sống, sinh hoạt, huấn luyện, chiến đấu của bộ đội, với những đặc trưng tiêu biểu dưới đây.

Một là, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đặc trưng này thể hiện sâu đậm nhất tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, phản ánh mối quan hệ đặc biệt của những con người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ ta là con em của 54 dân tộc anh em, mặc dù sinh ra ở các vùng quê khác nhau, trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo khác nhau; công tác ở nhiều quân, binh chủng, học viện, nhà trường khác nhau; đóng quân ở các vùng, miền khác nhau, song đều thống nhất mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phương châm hành động: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”2. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn để Quân đội ta tuy nhiều người, nhưng khi chiến đấu, tất cả đều như một người.

Hai là, luôn tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Đây là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa những người đồng chí, đồng đội trong Quân đội ta, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; có giác ngộ chính trị sâu sắc, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Đặc trưng này được thể hiện: dù ở cương vị nào, cán bộ, chiến sĩ ta cũng luôn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Cấp trên luôn giữ quan hệ bình đẳng, tôn trọng và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của cấp dưới, giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời, cấp dưới cũng luôn tôn trọng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Cán bộ, chiến sĩ luôn tin tưởng lẫn nhau, tin vào tổ chức, tương lai, tiền đồ của dân tộc. Sự tôn trọng, tin tưởng đó là kết quả giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ, của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cùng sự nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện không ngừng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Đồng thời, sự tôn trọng, tin tưởng giữa cán bộ, chiến sĩ cũng thể hiện rõ phẩm giá cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Ba là, yêu thương, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận. Đây là đặc trưng riêng có của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta; một trong những phẩm chất cao đẹp nhất của người quân nhân cách mạng. Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ ta dù tuổi đời, cấp bậc, chức vụ khác nhau, ở mỗi vùng quê khác nhau, song luôn thương yêu, sẻ chia, giúp đỡ nhau. Đúng như Bác Hồ đã dạy: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên,… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét”3. Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên, chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ. Thấu triệt lời dạy của Bác, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận, điều đó đã trở thành phẩm giá, mục tiêu, lẽ sống, nhân cách cao đẹp của người quân nhân cách mạng, làm nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta.

Bốn là, đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể. Đây là đặc trưng thuộc về truyền thống, bản chất tốt đẹp và nguyên tắc tổ chức trong xây dựng, chiến đấu của Quân đội. Mục đích của đoàn kết là tạo nên sức mạnh để cùng nhau thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Đây cũng là biểu hiện cao nhất của sự gắn kết chặt chẽ giữa: cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, cá nhân với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Cùng với đoàn kết, mặc dù chức trách, nhiệm vụ khác nhau, song cán bộ, chiến sĩ luôn gắn bó, giúp đỡ nhau, thường xuyên phối hợp, hiệp đồng, lập công tập thể; không tranh công, đổ lỗi, không “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch từng rêu rao, xuyên tạc.

Năm là, trung thực, thẳng thắn, đề cao tự phê bình và phê bình, giúp nhau cùng tiến bộ. Đây là đặc trưng căn cốt của tình đồng chí, đồng đội, là cơ sở để củng cố, phát triển môi trường dân chủ, tình thương yêu, sự đoàn kết trong Quân đội. Dù ở cương vị nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn trung thực với bản thân, gia đình, tổ chức, với đồng đội; nhất quán lời nói với việc làm; nghiêm túc trong sinh hoạt và công tác; thẳng thắn nhận và chịu trách nhiệm về những khuyết điểm của mình; mạnh dạn góp ý, phê bình với những khuyết điểm của đồng chí, đồng đội. Thực tế cho thấy, nếu đức tính trung thực, thẳng thắn giúp người quân nhân bản lĩnh, dũng cảm trong chiến đấu; tự tin, tự trọng trong quan hệ giao tiếp; nhân văn, nhân ái với đồng chí, đồng đội, thì sự khiêm tốn, giản dị sẽ giúp họ tránh xa những thất bại cả trên chiến trường và đời thường. Cùng đó, cán bộ, chiến sĩ luôn đề cao tự phê bình và phê bình để giúp nhau cùng tiến bộ, bởi: “Thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất để sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”4. Đây cũng là một trong những biện pháp hiệu quả để bồi đắp, phát triển tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội hiện nay.

Tình đồng chí, đồng đội được biểu hiện sinh động trong thực tiễn

Có thể khẳng định, tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta được thể hiện phong phú, sinh động cả trong những năm kháng chiến gian khổ; trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; trong phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa và cả trong cuộc sống đời thường, v.v. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ ta cũng không hề nao núng, toan tính thiệt hơn, cùng chung lưng đấu cật, chia ngọt, sẻ bùi, sẵn sàng nhận hy sinh, gian khổ về mình, nhường sự sống cho đồng đội, tiêu biểu, như anh hùng: La Văn Cầu nhờ chặt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội; Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng; Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, v.v. Chúng ta cũng không thể quên anh hùng Nguyễn Văn Trỗi - chiến sĩ biệt động Khu Sài Gòn - Gia Định, dù bị địch tra tấn dã man, song vẫn một lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, chấp nhận hy sinh, bảo vệ bí mật của tổ chức, bảo vệ đồng đội; Thuyền trưởng Phan Vinh thuộc Đoàn tàu không số đã anh dũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi lọt vào vòng vây của kẻ thù để đồng đội rời khỏi tàu an toàn.

Chúng ta cũng không thể quên Thượng úy Nguyễn Hữu Quảng, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị nhà giàn DK1/3 thuộc cụm Phúc Tần; nhà giàn đổ, sau nhiều giờ bơi trên biển cùng với các chiến sĩ, giữa sóng gió hiểm nguy, Anh đã nhường chiếc phao cứu sinh và miếng lương khô cuối cùng cho đồng đội yếu nhất và thanh thản ra đi vào lòng biển mẹ. Chúng ta cũng không quên sự hy sinh dũng cảm để cứu đồng đội khi bị lũ cuốn trôi của Binh nhất Rơ Chăm Thuyên, chiến sĩ Đại đội Công binh thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai (năm 2007). Đó còn là sự hy sinh để dành sự sống cho đồng đội khi hầm sập của Đại úy Cao Xuân Tú, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25, Lữ đoàn Công binh 543 (năm 2016),... và còn biết bao gương hy sinh, nhường áo, sẻ cơm cho đồng chí, đồng đội mà chúng ta không thể kể hết được.

Ngay giờ đây, giữa giông tố của đại dương và sự khắc nghiệt của biển cả, những cán bộ, chiến sĩ Hải quân vẫn hằng ngày, hằng giờ đối mặt với hiểm nguy, sẻ chia cho nhau từng ca nước ngọt, từng cọng rau xanh, từng viên thuốc chữa bệnh, cùng sát cánh bên nhau bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Hàng ngàn chiến sĩ biên phòng vẫn ngày đêm luồn rừng, vượt núi bảo vệ từng tấc đất biên cương. Trên khắp mọi miền của Tổ quốc, ở đâu cũng in đậm dấu chân người lính. Nơi nào khó khăn gian khổ nhất, nơi đó có bộ đội; nơi nào có bộ đội, nơi đó thắm tình đồng chí, thắm tình quân – dân. Càng trong khó khăn gian khổ, tình đồng chí, đồng đội càng tỏa sáng. Điều đó làm nên sức mạnh to lớn, giúp cán bộ, chiến sĩ ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù.

Ngay cả khi đã rời quân ngũ, trở về với cuộc sống đời thường, các cựu chiến binh của chúng ta vẫn luôn mang theo “hành trang” người lính, đó là tình yêu thương đồng chí, đồng đội. Nhiều người đã dành cả phần đời còn lại của mình để đi tìm hài cốt đồng đội, chăm lo phần mộ liệt sĩ. Hơn thế, họ còn động viên, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, v.v. Đó chính là “Bài ca không quên”, làm nên giá trị cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, của những người đã cùng chung nhịp bước quân hành.

Cơ sở hình thành, phát triển và thực trạng tình đồng chí, đồng đội

Tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta không phải tự nhiên có, mà được hình thành, phát triển và nuôi dưỡng trên cơ sở những giá trị, truyền thống, đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là: yêu nước, thương nòi; thương người như thể thương thân; lá lành đùm lá rách; tinh thần đoàn kết, nhân văn, nhân đạo, v.v. Cùng những giá trị tiêu biểu của văn hóa quân sự Việt Nam: phụ tử chi binh; tướng sĩ một lòng phụ tử/ hòa nước sông chén rượu ngọt ngào; lớp cha trước, lớp con sau/ đã là đồng chí chung câu quân hành, v.v. Đặc biệt, tình cảm cao đẹp đó còn được xây dựng, củng cố và phát triển dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu, lập trường giai cấp, tinh thần nhân văn, nhân đạo, yêu thương con người; về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; tinh thần đoàn kết cán - binh, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế. Cùng sự giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân,... tạo nên sự gắn bó keo sơn như ruột thịt của những người đồng chí, đồng đội. Tình cảm cao đẹp đó được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng hun đúc, kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới, góp phần làm nên danh hiệu cao quý - “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nhận rõ vai trò quan trọng của tình đồng chí, đồng đội, những năm qua, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã thường xuyên quan tâm vun đắp, phát triển tình cảm cao đẹp này; đồng thời, chăm lo xây dựng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cán bộ, chiến sĩ. Dưới sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức, cán bộ, chiến sĩ luôn tôn trọng, tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau như anh em ruột thịt; tình đồng chí, đồng đội ngày càng được vun đắp, phát triển và tỏa sáng.

Tuy nhiên, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số cán bộ, chiến sĩ còn thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Đâu đó vẫn còn hiện tượng đoàn kết hình thức, xuôi chiều, tranh công đổ lỗi, đùn đẩy trách nhiệm, chưa thực sự yêu thương, gắn bó với chiến sĩ, v.v. Những hiện tượng trên tuy chỉ là hãn hữu, song ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và uy tín của Quân đội. Nguy hiểm hơn, đây chính là “cái cớ” để các thế lực thù địch lợi dụng  “thổi phồng”, “bôi đen”, xuyên tạc truyền thống, bản chất tốt đẹp của Quân đội ta, hòng gây hoài nghi trong nhân dân và cán bộ, chiến sĩ, v.v.

Sưu tầm

Đảng phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho Báo Pravda (Liên Xô), được Báo Nhân Dân đăng số 4952, ngày 1-11-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng XHCN đến thành công”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm