Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2024
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG "CỐT TINH, KHÔNG CỐT ĐÔNG" TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Đề nghị tăng lương hưu, trợ cấp người có công trong năm 2025
Năm 2025, có thể không tăng lương trong khu vực công, song nhất thiết phải tăng lương hưu và trợ cấp cho người có công, đại biểu Quốc hội nêu quan điểm…

Đây là đề nghị của đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng 4/11 về Đánh kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân, đoàn TP.HCM, đề nghị quan tâm đến việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, và trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng trong năm 2025. Bởi năm 2025 là năm có nhiều sự kiện quan trọng của dân tộc, vì thế đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm đề xuất Quốc hội về vấn đề này.
“Chúng ta có thể không tăng lương khu vực công trong năm tới, nhưng phải tăng lương hưu và trợ cấp cho người có công”, đại biểu Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
Cũng quan tâm đến chế độ chính sách cho người cao tuổi, đại biểu Nguyễn Minh Tâm, đoàn tỉnh Quảng Bình, cho biết Việt Nam đang chuẩn bị bước vào thời kỳ già hóa dân số.
Trước áp lực ngày càng gia tăng của hệ thống hưu trí và y tế sẽ tạo thêm những thách thức lên nguồn tài chính của quốc gia. Hệ thống chăm sóc cho người tuổi cao, sức yếu cũng sẽ sớm trở thành mối quan ngại.
Đại biểu cho biết cả nước có trên 16 triệu người cao tuổi, chiếm hơn 16% dân số, nhưng chỉ có khoảng 5,4 triệu người được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp người có công, và trợ cấp xã hội.
Như vậy, còn khoảng hàng triệu người cao tuổi chưa được hưởng chính sách trợ cấp xã hội. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ có cơ chễ hỗ trợ người cao tuổi tham gia thị trường lao động công bằng, hợp lý là cần thiết, giảm gánh nặng an sinh cho xã hội.
“Chính sách việc làm cần hướng tới tăng cường sự tham gia của người cao tuổi đối với thị trường lao động. Cụ thể, cần quy định tối đa số giờ, mức lương tối thiểu phải trả cho người cao tuổi tham gia lao động, chính sách cho vay vốn, học nghề đối với người cao tuổi có mong muốn khởi nghiệp”, đại biểu Nguyễn Minh Tâm góp ý.
Bên cạnh đó, theo đại biểu, đã đến lúc quy hoạch việc làm phải được chú trọng, trong đó ưu tiên công việc đặc thù cho người già. Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng và số lượng cơ sở chăm sóc cho người cao tuổi, đại biểu đề nghị khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào công tác chăm sóc người cao tuổi.
Đơn cử như cần miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phát triển nhà ở dưỡng lão trong một số năm đầu hoạt động, nhằm giảm chi phí và rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp này.
Hay cung cấp các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp muốn đầu tư xây dựng và vận hành nhà dưỡng lão; tạo quỹ hỗ trợ từ Chính phủ để cung cấp các khoản tài trợ, hoặc bảo lãnh tín dụng cho các dự án phát triển nhà dưỡng lão.
Ngoài ra cần có chính sách khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, thông qua các chính sách ưu đãi về thuê đất, chính sách thuế, phí, cải cách thủ tục hành chính.
Khuyến khích mô hình hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực đầu tư chăm sóc người cao tuổi, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân vào lĩnh vực này. Đặc biệt có quy định về việc huy động vốn của người cao tuổi trong dự án dưỡng lão, đảm bảo quyền lợi cho người cao tuổi...
Liên quan đến chính sách trợ cấp, bảo hiểm cho người lao động, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, đoàn tỉnh Hải Dương, đề cập thêm đến vấn đề chế độ cho người lao động là hộ kinh doanh đã tham gia bảo hiểm xã hội.
Đại biểu cho biết tại Nghị quyết số 142/2024 ngày 29/6/2024 của Quốc hội, đã giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ghi nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của chủ hộ kinh doanh, đã tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực thi hành (1/7/2025). Việc này để làm căn cứ giải quyết chế độ bảo hiểm cho người lao động theo quy định của pháp luật.
“Việc chậm trễ này ít nhiều đã ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với chính sách bảo hiểm nói chung, và gây khó khăn nhất định trong việc nỗ lực mở rộng mạng lưới bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hộ tự nguyện”, đại biểu đoàn Hải Dương nói.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện mọi thủ tục nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề này để người dân yên tâm.
Sự đoàn kết của người trẻ tạo nên sức mạnh, sẵn sàng gánh vác những khó khăn
Ngày 4-11, Đại hội đại biểu Hội LHTN Việt Nam TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2024 - 2029 chính thức khai mạc và bước vào ngày làm việc đầu tiên tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM. Đại hội diễn ra trong 3 phiên làm việc vào 2 ngày 4 và 5-11.
Tham dự đại hội có các đồng chí: Nguyễn Phước Lộc, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM; Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM; Nguyễn Xuân Hiếu, Phó Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam.
Với chủ đề “Thanh niên TPHCM yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, khát vọng, cống hiến vì sự phát triển của thanh niên; vì thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”, đại hội xác định khẩu hiệu hành động “Yêu nước - đoàn kết - sáng tạo - khát vọng - cống hiến”, đại hội đã triệu tập 441 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 2,35 triệu thanh niên thành phố.
Phát biểu chỉ đạo tại đại hội, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM Nguyễn Phước Lộc trân trọng ghi nhận sự đóng góp, nỗ lực cống hiến, phấn đấu rèn luyện của 441 thanh niên đại diện tiêu biểu dự đại hội.
Theo đồng chí Nguyễn Phước Lộc, đây là những thanh niên có thể sinh ra, lớn lên tại TPHCM, nhưng cũng có những người đến để học tập, công tác, làm việc và chọn TPHCM là nơi sinh sống, làm việc và có những đóng góp rất tích cực, nổi trội. Nên được chọn dự đại hội là niềm vinh dự của mỗi người, nhưng cũng thể hiện sự đóng góp của thanh niên hòa chung cùng các tầng lớp nhân dân thành phố, cho sự phát triển kinh tế - xã hội của TPHCM.

Đồng chí nhận xét các gương thanh niên tiêu biểu đã lan tỏa, truyền động lực phấn đấu cho nhiều tầng lớp thanh niên khác chung sức, đồng lòng trong ngôi nhà của Hội LHTN Việt Nam TPHCM, cùng tham gia đóng góp để phát triển tổ chức hội gắn liền với phát triển TPHCM. Đồng thời, ghi nhận sáng kiến của ban tổ chức và đánh giá cao 12 thanh niên tiêu biểu đã nhận lời tham gia cùng đại hội, thảo luận cùng đại biểu để truyền động lực phấn đấu, tham gia xây dựng và phát triển TPHCM.
Khẩu hiệu hành động của Đại hội và dự kiến được Đại hội quyết định thành chủ đề của nhiệm kỳ là: Yêu nước - Đoàn kết - Sáng tạo – Khát vọng - Cống hiến. Từ chủ đề này, đồng chí Nguyễn Phước Lộc liên tưởng đến hình ảnh của người trẻ, khái quát lên tinh thần đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh niên, phát huy những giá trị tốt đẹp nhất của thanh niên hòa chung vào sự phấn đấu, rèn luyện để trưởng thành của mỗi cá nhân, đóng góp cho Tổ quốc.

Theo đồng chí Nguyễn Phước Lộc, hình ảnh mô phỏng người trẻ đưa thẳng cánh tay ra phía trước thể hiện khát vọng của thanh niên, thể hiện sự dấn thân; cánh tay đưa về phía trước thể hiện sự sáng tạo; tay thẳng ngang vai thể hiện tinh thần người trẻ sẵn sàng gánh vác, liên kết, chia sẻ trách nhiệm cộng đồng khi Tổ quốc cần, đó cũng là hành động và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội. Khi có yêu cầu, tinh thần yêu nước sẽ được phát huy mạnh mẽ nhất để đóng góp cho Tổ quốc. Vì vậy, trong mọi mặt đời sống xã hội, mọi lĩnh vực công tác, người trẻ luôn giữ vị trí trụ cột trong học tập, công tác, lao động, rèn luyện, phấn đấu và cống hiến.

“Hơn hết, khi Tổ quốc cần, thanh niên chúng ta có mặt, khi Tổ quốc cần, thanh niên chúng ta hành động. Và cánh tay kết thành hình tròn, đó chính là thể hiện sự đoàn kết của người trẻ, tạo nên sức mạnh của thế hệ trẻ, thế hệ tương lai sẵn sàng gánh vác mọi vấn đề khó khăn phát sinh từ trong cộng đồng, từ trong đời sống xã hội, từ trong mỗi lĩnh vực công tác, và hơn hết là đóng góp cho thành phố thân yêu của chúng ta và cho Tổ quốc của mình”, đồng chí Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh.
Dẫn những mục tiêu, tầm nhìn tại Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh, đất nước, thành phố tin tưởng sự yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, khát vọng và cống hiến của các tầng lớp thanh niên TPHCM. Theo đồng chí, điều này được thể hiện qua công tác Hội LHTN Việt Nam TPHCM trong tập hợp thanh niên chung sức, đồng lòng, đoàn kết đóng góp cho sự phát triển của thành phố. “Nhất là sự lan tỏa mạnh mẽ của 441 đại biểu có dự đại hội để cho thấy chúng ta phấn đấu xứng đáng thành phố được mang tên Bác Hồ kính yêu, TPHCM cùng cả nước, vì cả nước”, đồng chí Nguyễn Phước Lộc chia sẻ.
Thành tựu phát triển của Việt Nam - giá trị không thể phủ nhận
Các thế lực thù địch
luôn cố tình phủ nhận những giá trị phát triển của Việt Nam. Với tâm địa xấu, họ
xuyên tạc rằng “dưới chế độ cộng sản, đất nước Việt Nam ngày càng tụt hậu so với
thế giới”, “đời sống người dân khổ cực”... Thế nhưng tất cả những tuyên truyền
thiếu khách quan, thiếu tử tế và sai trái đó đều bị thực tiễn tại Việt Nam vạch
trần. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Việt Nam đuổi kịp và vượt qua nhiều
nước đã phát triển trước, người dân được chăm lo toàn diện, có cuộc sống ngày
càng khấm khá.
Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê, quy mô tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nền kinh tế Việt Nam theo giá
hiện hành năm 2023 ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. Với
kết quả này, quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2023 xếp thứ 34 thế giới theo bảng
xếp hạng của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh ở Anh (CEBR). Theo dự
báo, nếu tiếp tục duy trì đà phục hồi và tăng trưởng thì đến năm 2038, với quy
mô GDP dự kiến đạt 1.559 tỷ USD, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ vượt qua các nền
kinh tế khác trong khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như
Philippines (1.536 tỷ USD), Thái Lan (1.313 tỷ USD), Singapore (896 tỷ
USD) để lọt nhóm 25 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Thậm chí,
nếu xét về GDP (PPP) hay còn gọi là GDP theo sức mua thì theo đánh giá của Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam hiện xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ 25 thế
giới. Theo đó, năm 2023, Indonesia là quốc gia có quy mô GDP (PPP) lớn nhất
trong khu vực Đông Nam Á, đạt khoảng 4.391 tỷ USD. Xếp thứ hai là Thái Lan với
quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.563 tỷ USD. Việt Nam xếp thứ 3 với quy mô GDP
(PPP) đạt khoảng 1.438 tỷ USD. Philippines xếp thứ 4 với quy mô GDP (PPP) đạt
khoảng 1.280 tỷ USD. Malaysia xếp thứ 5 với quy mô GDP (PPP) đạt khoảng 1.221
tỷ USD. GDP (PPP) Singapore đạt khoảng 759,52 tỷ USD, xếp thứ 6 trong khu vực
Đông Nam Á. Đến năm 2026, quy mô GDP (PPP) Việt Nam được IMF dự báo đạt khoảng
1.833 tỷ USD, đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, vượt qua Thái Lan (đạt
khoảng 1.807 tỷ USD) và chỉ xếp sau Indonesia (đạt khoảng 5.402 tỷ USD).
Xét trên
quy mô thế giới, đến năm 2023, quy mô GDP (PPP) Việt Nam đã xếp trên Hà Lan và
Thụy Sĩ. Cụ thể, GDP (PPP) Hà Lan đạt khoảng 1.290 tỷ USD, xếp thứ 27 trên thế
giới và Thụy Sĩ đạt khoảng 787 tỷ USD, xếp thứ 35 trên thế giới vào năm 2023.
Cùng với đó, khoảng cách với Australia (đạt khoảng 1.724 tỷ USD, xếp thứ 20 thế
giới) và Ba Lan (đạt khoảng 1.706 tỷ USD, xếp thứ 21 trên thế giới) không còn
quá xa. Đến năm 2029, IMF dự báo quy mô GDP (PPP) Việt Nam (2.343 tỷ USD)
vượt qua Australia và Ba Lan, xếp thứ 20 trên thế giới.
Xét một
cách toàn diện thì GDP (PPP) mang lại bức tranh kinh tế toàn diện hơn so với
GDP. Bởi GDP (PPP) đo lường giá trị toàn bộ hàng hóa và dịch vụ sản xuất của
một quốc gia trong một năm dựa trên sức mua của tiền tệ địa phương. GDP (PPP)
thường được sử dụng để so sánh sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia và để xác
định mức sống của người dân trong các quốc gia khác nhau. Nó cung cấp một cái
nhìn tổng quan về khả năng mua sắm của một quốc gia và giúp đánh giá sự phát
triển kinh tế và tiêu dùng của nó.
Theo đánh
giá của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam là quốc gia còn rất nhiều tiềm năng,
dư địa để tăng tốc phát triển kinh tế. Do đó, những mục tiêu phát triển mà Đại
hội XIII của Đảng đã đặt ra là hoàn toàn khả thi.
Người dân được hưởng thành quả của phát triển
Tại một
số nơi trên thế giới, kinh tế phát triển nhưng đời sống của đại bộ phận người
dân còn khó nhọc, nước phát triển nhưng dân không giàu, không sung sướng. Tại
Việt Nam, khi nền kinh tế đang thăng hạng nhanh thì cùng với đó, cuộc sống
người dân đã được cải thiện nhanh. Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố vào
tháng 4-2024, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam giai đoạn 2012-2022 đã
tăng hơn 2,3 lần, từ 1,99 triệu đồng/người/tháng lên 4,67 triệu
đồng/người/tháng. Mỗi người Việt Nam có thể tự so sánh để cảm nhận mức sống của
bản thân được nâng lên rất nhiều và toàn diện so với 5 năm, 10 năm trước. Tại
các thành phố lớn, xuất hiện rất nhiều khu đô thị hạng sang. Do mức sống tăng,
có tài sản tích lũy nên người Việt Nam có cơ hội đi công tác, du lịch, học tập
ở các nước phát triển trên thế giới và thấy rằng, điều kiện sống, điều kiện
sinh hoạt tại Việt Nam không còn thua kém nhiều so với các nước trên.
Cùng với
đó, Việt Nam thực hiện chính sách phát triển bao trùm, quan tâm đến các chính
sách xã hội, chăm lo người nghèo, thúc đẩy sự phát triển của miền núi, vùng
sâu, vùng xa. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước chỉ còn 3,4%. Chế độ,
chính sách trợ giúp xã hội được sửa đổi theo hướng mở rộng về đối tượng, tăng
về mức hưởng trợ cấp. Hiện nay, cả nước có khoảng 3,356 triệu người (chiếm
khoảng 3,356 % dân số) đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng.
Từ ngày 1-7-2024, mức chuẩn trợ cấp xã hội tăng từ 360.000 đồng/tháng lên
500.000 đồng/tháng, tương ứng tăng 38,9% so với mức trợ cấp trước đó.
Các phúc
lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt
quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ
trợ người nghèo xây dựng nhà để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000
nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Nếu mục tiêu này được thực hiện thành công
sẽ là một thành tựu rất ý nghĩa.
Cảm nhận về hạnh phúc
Ngày Quốc
tế hạnh phúc (20-3) năm nay, Việt Nam đón nhận thông tin tích cực khi trong Báo
cáo hạnh phúc thế giới 2024, đất nước ta đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm
2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do
Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết
quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam
tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà
nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân
dân. Trong lúc tình hình an ninh của nhiều khu vực trên thế giới rất phức tạp
với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá
của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.
Dù mức
sống chưa bằng nhiều quốc gia trên thế giới nhưng người Việt Nam dù có đi khắp
năm châu, bốn bể vẫn thấy quê cha đất tổ là nơi hạnh phúc nhất, an toàn nhất
đối với mình. Có những giá trị nằm ngoài vật chất tạo ra sức hút của mảnh đất
hình chữ S. Đó là cuộc sống thanh bình, là giá trị về văn hóa, tinh thần. Những
giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa, con người, gia đình tại Việt Nam vẫn
được gìn giữ. Nhiều khách nước ngoài chỉ cần đến Việt Nam lần đầu cũng đã yêu
mảnh đất, con người Việt Nam và muốn gắn bó lâu dài. Đó là vì họ thấy cuộc sống
ở Việt Nam rất dễ chịu, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, con người thân thiện,
mến khách. Do đó, dựa vào phản hồi từ du khách, Flight Centre-một trong những
công ty lữ hành lớn nhất thế giới-đã xếp Việt Nam là một trong 10 quốc gia hàng
đầu thế giới dành cho khách du lịch.
Vì thế,
có thể thấy rõ rằng, những giá trị của kinh tế phát triển, đời sống người dân
hạnh phúc đều đã được thể hiện trên thực tế tại Việt Nam và được quốc tế công
nhận. Do đó, dù các thế lực thù địch, những kẻ xấu có cố công xuyên tạc, bóp
méo thì cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó, mà chỉ khiến họ trở
nên nực cười.
Sưu tầm
Đồng chí, đồng đội – tình cảm đặc biệt, thiêng liêng, cao quý
Đồng chí là cách gọi, xưng hô của những người
cùng chung tổ chức, cùng chung chí hướng chính trị, cùng đội ngũ. Đồng đội là
những người cùng chung đội ngũ chiến đấu1. Đồng chí, đồng đội là
cách gọi, xưng hô với nhau hằng ngày của những người cùng chung mục tiêu, lý
tưởng, đội ngũ chiến đấu trong một tổ chức của lực lượng vũ trang. Đây cũng
chính là cách xưng hô thân thiết, mối quan hệ bền chặt, tình cảm đặc biệt của
cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta; là một trong những chuẩn mực cơ bản, giá
trị nhân cách cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, được hình thành, phát triển trong
suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội.
Nhờ tình cảm cao đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ ta luôn đoàn kết một lòng, gắn bó keo
sơn, cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, sát cánh bên nhau vượt qua mọi hiểm nguy,
gian khó, chiến thắng mọi kẻ thù.
Đặc trưng của tình đồng chí, đồng đội
Tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ
trong Quân đội ta được thể hiện toàn diện, sâu sắc trong cuộc sống, sinh hoạt,
huấn luyện, chiến đấu của bộ đội, với những đặc trưng tiêu biểu dưới đây.
Một là, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đặc trưng này thể hiện sâu đậm nhất tình đồng chí, đồng
đội của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, phản ánh mối quan hệ đặc biệt của
những con người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ
ta là con em của 54 dân tộc anh em, mặc dù sinh ra ở các vùng quê khác nhau,
trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo khác nhau; công tác ở nhiều quân, binh
chủng, học viện, nhà trường khác nhau; đóng quân ở các vùng, miền khác nhau,
song đều thống nhất mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phương châm hành động:
“Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do
của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”2. Đây là nhân tố quan
trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn để Quân đội ta tuy nhiều người,
nhưng khi chiến đấu, tất cả đều như một người.
Hai là, luôn tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Đây là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tinh
thần đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa những người đồng chí, đồng đội trong Quân
đội ta, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; có giác ngộ chính trị sâu
sắc, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Đặc trưng này được thể
hiện: dù ở cương vị nào, cán bộ, chiến sĩ ta cũng luôn tôn trọng, tin tưởng lẫn
nhau. Cấp trên luôn giữ quan hệ bình đẳng, tôn trọng và lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng, ý kiến của cấp dưới, giúp đỡ cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời,
cấp dưới cũng luôn tôn trọng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp
trên. Cán bộ, chiến sĩ luôn tin tưởng lẫn nhau, tin vào tổ chức, tương lai,
tiền đồ của dân tộc. Sự tôn trọng, tin tưởng đó là kết quả giáo dục, rèn luyện
của Đảng và Bác Hồ, của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cùng sự nỗ lực phấn đấu, tu
dưỡng, rèn luyện không ngừng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Đồng
thời, sự tôn trọng, tin tưởng giữa cán bộ, chiến sĩ cũng thể hiện rõ phẩm giá
cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Ba là, yêu thương, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra
trận. Đây là đặc trưng riêng có của cán bộ,
chiến sĩ Quân đội ta; một trong những phẩm chất cao đẹp nhất của người quân
nhân cách mạng. Thực tế cho thấy, cán bộ, chiến sĩ ta dù tuổi đời, cấp bậc,
chức vụ khác nhau, ở mỗi vùng quê khác nhau, song luôn thương yêu, sẻ chia,
giúp đỡ nhau. Đúng như Bác Hồ đã dạy: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư
lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên,… Bộ
đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ
không được kêu mình rét”3. Người đội trưởng, người chính trị viên
phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên, chưa làm được như vậy là
chưa hết nhiệm vụ. Thấu triệt lời dạy của Bác, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ta
luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như
lúc ra trận, điều đó đã trở thành phẩm giá, mục tiêu, lẽ sống, nhân cách cao
đẹp của người quân nhân cách mạng, làm nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của
Quân đội ta.
Bốn là, đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể. Đây là đặc trưng thuộc về truyền thống, bản chất tốt đẹp
và nguyên tắc tổ chức trong xây dựng, chiến đấu của Quân đội. Mục đích của đoàn
kết là tạo nên sức mạnh để cùng nhau thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Đây cũng
là biểu hiện cao nhất của sự gắn kết chặt chẽ giữa: cấp trên với cấp dưới, cán
bộ với chiến sĩ, cá nhân với tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Cùng với
đoàn kết, mặc dù chức trách, nhiệm vụ khác nhau, song cán bộ, chiến sĩ luôn gắn
bó, giúp đỡ nhau, thường xuyên phối hợp, hiệp đồng, lập công tập thể; không
tranh công, đổ lỗi, không “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch từng rêu
rao, xuyên tạc.
Năm là, trung thực, thẳng thắn, đề cao tự phê
bình và phê bình, giúp nhau cùng tiến bộ. Đây là đặc trưng căn cốt của tình đồng chí, đồng đội, là
cơ sở để củng cố, phát triển môi trường dân chủ, tình thương yêu, sự đoàn kết
trong Quân đội. Dù ở cương vị nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn trung thực với
bản thân, gia đình, tổ chức, với đồng đội; nhất quán lời nói với việc làm;
nghiêm túc trong sinh hoạt và công tác; thẳng thắn nhận và chịu trách nhiệm về
những khuyết điểm của mình; mạnh dạn góp ý, phê bình với những khuyết điểm của
đồng chí, đồng đội. Thực tế cho thấy, nếu đức tính trung thực, thẳng thắn giúp
người quân nhân bản lĩnh, dũng cảm trong chiến đấu; tự tin, tự trọng trong quan
hệ giao tiếp; nhân văn, nhân ái với đồng chí, đồng đội, thì sự khiêm tốn, giản
dị sẽ giúp họ tránh xa những thất bại cả trên chiến trường và đời thường. Cùng
đó, cán bộ, chiến sĩ luôn đề cao tự phê bình và phê bình để giúp nhau cùng tiến
bộ, bởi: “Thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình là thứ vũ khí sắc bén
nhất để sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”4. Đây cũng là
một trong những biện pháp hiệu quả để bồi đắp, phát triển tình đồng chí, đồng
đội trong Quân đội hiện nay.
Tình đồng chí, đồng đội được biểu hiện sinh động trong thực tiễn
Có thể khẳng định, tình đồng chí, đồng đội
của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta được thể hiện phong phú, sinh động cả
trong những năm kháng chiến gian khổ; trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam,
biên giới phía Bắc; trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc;
trong phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa và cả trong cuộc sống
đời thường, v.v. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ ta cũng không
hề nao núng, toan tính thiệt hơn, cùng chung lưng đấu cật, chia ngọt, sẻ bùi,
sẵn sàng nhận hy sinh, gian khổ về mình, nhường sự sống cho đồng đội, tiêu
biểu, như anh hùng: La Văn Cầu nhờ chặt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến
đấu cùng đồng đội; Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng; Tô Vĩnh Diện lấy thân
mình chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, v.v. Chúng ta
cũng không thể quên anh hùng Nguyễn Văn Trỗi - chiến sĩ biệt động Khu Sài Gòn -
Gia Định, dù bị địch tra tấn dã man, song vẫn một lòng trung thành với Đảng,
với Tổ quốc, chấp nhận hy sinh, bảo vệ bí mật của tổ chức, bảo vệ đồng đội;
Thuyền trưởng Phan Vinh thuộc Đoàn tàu không số đã anh dũng chiến đấu đến hơi
thở cuối cùng khi lọt vào vòng vây của kẻ thù để đồng đội rời khỏi tàu an toàn.
Chúng ta cũng không thể quên Thượng úy Nguyễn
Hữu Quảng, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị nhà giàn DK1/3 thuộc cụm Phúc Tần; nhà
giàn đổ, sau nhiều giờ bơi trên biển cùng với các chiến sĩ, giữa sóng gió hiểm
nguy, Anh đã nhường chiếc phao cứu sinh và miếng lương khô cuối cùng cho đồng
đội yếu nhất và thanh thản ra đi vào lòng biển mẹ. Chúng ta cũng không quên sự
hy sinh dũng cảm để cứu đồng đội khi bị lũ cuốn trôi của Binh nhất Rơ Chăm
Thuyên, chiến sĩ Đại đội Công binh thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai (năm
2007). Đó còn là sự hy sinh để dành sự sống cho đồng đội khi hầm sập của Đại úy
Cao Xuân Tú, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25, Lữ đoàn Công binh 543 (năm
2016),... và còn biết bao gương hy sinh, nhường áo, sẻ cơm cho đồng chí, đồng
đội mà chúng ta không thể kể hết được.
Ngay giờ đây, giữa giông tố của đại dương và
sự khắc nghiệt của biển cả, những cán bộ, chiến sĩ Hải quân vẫn hằng ngày, hằng
giờ đối mặt với hiểm nguy, sẻ chia cho nhau từng ca nước ngọt, từng cọng rau
xanh, từng viên thuốc chữa bệnh, cùng sát cánh bên nhau bảo vệ vững chắc chủ
quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Hàng ngàn chiến sĩ biên phòng vẫn
ngày đêm luồn rừng, vượt núi bảo vệ từng tấc đất biên cương. Trên khắp mọi miền
của Tổ quốc, ở đâu cũng in đậm dấu chân người lính. Nơi nào khó khăn gian khổ
nhất, nơi đó có bộ đội; nơi nào có bộ đội, nơi đó thắm tình đồng chí, thắm tình
quân – dân. Càng trong khó khăn gian khổ, tình đồng chí, đồng đội càng tỏa
sáng. Điều đó làm nên sức mạnh to lớn, giúp cán bộ, chiến sĩ ta vượt qua muôn
vàn khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù.
Ngay cả khi đã rời quân ngũ, trở về với cuộc
sống đời thường, các cựu chiến binh của chúng ta vẫn luôn mang theo “hành
trang” người lính, đó là tình yêu thương đồng chí, đồng đội. Nhiều người đã
dành cả phần đời còn lại của mình để đi tìm hài cốt đồng đội, chăm lo phần mộ
liệt sĩ. Hơn thế, họ còn động viên, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói,
giảm nghèo, vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, v.v. Đó chính là “Bài ca
không quên”, làm nên giá trị cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, của những người đã cùng
chung nhịp bước quân hành.
Cơ sở hình thành, phát triển và thực trạng tình đồng chí,
đồng đội
Tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ
trong Quân đội ta không phải tự nhiên có, mà được hình thành, phát triển và
nuôi dưỡng trên cơ sở những giá trị, truyền thống, đạo đức, văn hóa tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam, đó là: yêu nước, thương nòi; thương người như thể thương
thân; lá lành đùm lá rách; tinh thần đoàn kết, nhân văn, nhân đạo, v.v. Cùng
những giá trị tiêu biểu của văn hóa quân sự Việt Nam: phụ tử chi binh; tướng sĩ
một lòng phụ tử/ hòa nước sông chén rượu ngọt ngào; lớp cha trước, lớp con sau/
đã là đồng chí chung câu quân hành, v.v. Đặc biệt, tình cảm cao đẹp đó còn được
xây dựng, củng cố và phát triển dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về mục tiêu, lập trường giai cấp, tinh thần nhân văn, nhân đạo, yêu thương
con người; về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội;
tinh thần đoàn kết cán - binh, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế. Cùng sự
giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của
nhân dân,... tạo nên sự gắn bó keo sơn như ruột thịt của những người đồng chí,
đồng đội. Tình cảm cao đẹp đó được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng hun
đúc, kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới, góp phần làm nên danh hiệu cao
quý - “Bộ đội Cụ Hồ”.
Nhận rõ vai trò quan trọng của tình đồng chí,
đồng đội, những năm qua, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân
đã thường xuyên quan tâm vun đắp, phát triển tình cảm cao đẹp này; đồng thời,
chăm lo xây dựng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cán bộ, chiến sĩ.
Dưới sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức, cán bộ, chiến sĩ luôn tôn trọng, tin
tưởng, giúp đỡ lẫn nhau như anh em ruột thịt; tình đồng chí, đồng đội ngày càng
được vun đắp, phát triển và tỏa sáng.
Tuy nhiên, trước sự chống phá quyết liệt của
các thế lực thù địch, sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số cán
bộ, chiến sĩ còn thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà
nước, kỷ luật Quân đội. Đâu đó vẫn còn hiện tượng đoàn kết hình thức, xuôi
chiều, tranh công đổ lỗi, đùn đẩy trách nhiệm, chưa thực sự yêu thương, gắn bó
với chiến sĩ, v.v. Những hiện tượng trên tuy chỉ là hãn hữu, song ít nhiều cũng
ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và uy tín của
Quân đội. Nguy hiểm hơn, đây chính là “cái cớ” để các thế lực thù địch lợi
dụng “thổi phồng”, “bôi đen”, xuyên tạc truyền thống, bản chất tốt đẹp
của Quân đội ta, hòng gây hoài nghi trong nhân dân và cán bộ, chiến sĩ, v.v.
Sưu tầm
Đảng phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong
bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”,
gửi cho Báo Pravda (Liên Xô), được Báo Nhân Dân đăng số 4952, ngày 1-11-1967,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận
dụng một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì
mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng XHCN đến
thành công”.
Trong suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự
nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận
dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên
của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực
tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học
có tính nguyên tắc và phổ biến, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của
giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng
vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục
giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó,
Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động; Đảng nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận
dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và
năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra.
Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân
đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng
hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM. Mỗi cán bộ, chiến sĩ
trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực
nghiên cứu, học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ
thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn
của đơn vị nhằm thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.
Sưu tầm

