Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2025

Cảnh giác trước những âm mưu xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng

 Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang chuẩn bị tốt các nội dung, kế hoạch, tiến hành đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Đây là thời điểm vô cùng quan trọng, mang tính bước ngoặt để đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lợi dụng đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, hạ uy tín, chống phá, phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang dư luận...
Một số thủ đoạn “bổn cũ soạn lại”

Mỗi kỳ Đại hội Đảng, trên các phương tiện, trung tâm truyền thông chống cộng ở hải ngoại, trang thông tin, mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong lại lợi dụng đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nhận diện ở một số vấn đề sau đây:

Một là, trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động coi việc phủ nhận, bác bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là trọng tâm, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để xóa bỏ thành quả cách mạng, xóa bỏ con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam, hướng lái Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, kiến nghị xây dựng nhà nước “tam quyền phân lập”; thực hiện cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin trong nhân dân vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hai là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác - Lênin là lý thuyết suông về CNXH không tưởng, không có thực”... Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Mục đích của chúng là phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lịch sử của dân tộc, lấy cớ cổ xuý cho ý đồ xây dựng, hình thành những đảng phái chính trị đối lập, chống phá từ bên trong.

Ba là, trên nhiều kênh trung tâm thông tin nước ngoài, các trang mạng của tổ chức phản động lưu vong và trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối cho rằng, việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là siêu hình, trái quy luật về xu thế phát triển của thế giới. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào. Có ý kiến quy kết “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu”. Các đối tượng tiếp tục dẫn chứng sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu để biện minh cho quan điểm của mình…

Bốn là, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, các tồn tại, hạn chế trong giáo dục, y tế, môi trường, vấn đề suy thoái, tham nhũng, lãng phí… để gây nhiễu dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, các đối tượng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; việc sắp xếp tổ chức, bộ máy thực chất là “đấu đá trong nội bộ Đảng”... Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi thay đổi chế độ, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, khoét sâu vào việc một số cán bộ cấp cao bị kỷ luật hoặc bị xử lý hình sự do vi phạm kỷ luật của Ðảng, pháp luật của Nhà nước. Chúng tìm mọi thủ đoạn để phát tán luận điệu coi đó là mất đoàn kết, thống nhất trong Ðảng; thổi phồng, xuyên tạc công tác sắp xếp đơn vị hành chính, tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin, tác động, chia rẽ nội bộ ta hòng phá hoại công tác nhân sự, công tác xây dựng Đảng với những chiêu bài nguy hiểm. Chúng triệt để sử dụng các trang mạng xã hội, Internet, blog cá nhân để phát tán các thông tin xấu độc, xuyên tạc cho rằng công tác nhân sự là “tạo lập phe cánh”, “thanh trừng phe phái”. Chúng tạo cớ xuyên tạc, tung ra các quan điểm sai trái, thù địch nhằm đả kích, bôi nhọ lãnh đạo, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh nhằm “hạ bệ thần tượng” của Đảng và toàn dân tộc, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta.

Không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Trên phương diện lý luận, cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói đến sự lo sợ của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản như “bóng ma ám ảnh châu Âu” và sự liên kết chống phá quyết liệt của chúng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin nhiều lần khẳng định, trong tất cả các giai đoạn phát triển, các thế hệ cách mạng trên toàn thế giới đều phải kiên quyết, kiên trì, không ngừng đấu tranh bảo vệ sự nghiệp cách mạng chân chính của giai cấp, của dân tộc, trong đó có cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận bảo vệ vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Do vậy, đây là âm mưu, bản chất, nhất là Đại hội Đảng là thời điểm các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tăng cường hoạt động chống phá.

Về phương diện lịch sử, trong suốt chiều dài hơn một thế kỷ qua, có giai đoạn tồn tại cùng Đảng Cộng sản Việt Nam từng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ... tham chính, song vì không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử nên cuối cùng đã tự rút lui. Trong suốt hơn 95 năm ra đời, phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo sự lãnh đạo của Đảng, góp sức và làm nên những thành tựu của sự nghiệp cách mạng. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng việc tham gia xây dựng, góp ý, hoàn thiện Hiến pháp, pháp luật.

Về phương diện chính trị, pháp lý, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và hệ thống chính trị được hiến định tại Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và hiện nay, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Về thực tiễn, trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quy mô GDP đã tăng hơn 100 lần, từ con số 4 tỷ USD lên hơn 470 tỷ USD năm 2024. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng đạt 7,09% (thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới); kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát; GDP bình quân đầu người năm 2024 theo giá hiện hành đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình chính trị ổn định, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, an ninh, quốc phòng giữ vững, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng lên trên trường quốc tế. Nhờ đó, đời sống về vật chất, tinh thần nhân dân ngày càng cao, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn.

Thế giới có nhiều đổi thay, diễn biến phức tạp, khó lường, đan xen giữa thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn nhưng vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, năng lực, uy tín để cầm quyền, lãnh đạo. Trong quá trình đó, Đảng ta không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh” lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Do đó, mọi sự xuyên tạc về vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam tất yếu bị bác bỏ bởi những căn cứ cả về lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975, ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG TA


Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã phân tích toàn diện, sâu sắc tình hình thế giới và khu vực, xu thế phát triển của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam để xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối cách mạng Việt Nam.

Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân và toàn quân ta giương cao cùng lúc hai ngọn cờ: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp thực hiện thành công hai chiến lược cách mạng với hai loại quy luật: Quy luật của chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc và quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng chiến tranh xâm lược.

Đây là sự vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhờ có đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo đó, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế xã hội chủ nghĩa đã tạo ra sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng to lớn của Quân đội và nhân dân ta, để chúng làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Sự kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Vào thời điểm đó, mặc dù các yếu tố của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa bước đầu mới được xây dựng, nhưng đã thể hiện rõ sức sống và tính ưu việt, tiến bộ của nó, tạo nên những thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính tính ưu việt và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đã bảo đảm cho miền Bắc không ngừng phát huy vai trò quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Phát huy sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng ta không những động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần và vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân và các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới, hội tụ được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại để đánh bại kẻ thù xâm lược, giành toàn thắng.

Sức mạnh chính trị - tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc đã đánh bại hai cuộc chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, mà tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, đập tan cuồng vọng của kẻ thù hòng sử dụng ưu thế sức mạnh của vũ khí, bom, đạn hòng “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”, bảo vệ vững chắc hậu phương ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với nước bạn Lào và Campuchia, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương đến toàn thắng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhân dân ta còn nhận được tinh thần cổ vũ, tiếp sức to lớn từ sự phối hợp đoàn kết chiến đấu của quân và dân Lào, Campuchia anh em, sự giúp đỡ tích cực, có hiệu quả của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản và nhân dân tiến bộ Mỹ đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta, tạo ra được sức mạnh tổng hợp trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc 

Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta xuất phát từ vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc giành độc lập, tự do cho nhân dân. Đó là mục tiêu của cuộc chiến tranh chính nghĩa, cho nên đã hội tụ đến đỉnh điểm sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng to lớn để cán bộ, chiến sĩ quân đội và nhân dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, gian khổ nhằm thực hiện mục tiêu chính nghĩa ấy. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Vì thế, ngay từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã chỉ rõ: “Lúc đầu, địch mạnh hơn ta gấp trăm gấp ngàn lần về vật chất. Nhưng về tinh thần và chính trị thì ta mạnh hơn địch gấp trăm gấp ngàn lần”. Và thực tế, chính trị - tinh thần của quân, dân ta không ngừng lớn mạnh và luôn được phát huy cao độ, tạo ra thế và lực, nhằm chiếm ưu thế tuyệt đối trong suốt cuộc kháng chiến, trở thành sức mạnh vô địch áp đảo kẻ thù để giành thắng lợi hoàn toàn trong Đại thắng mùa Xuân 1975.

Chúng ta có ưu thế của những con người chiến đấu vì mục tiêu cao cả, mục tiêu chính nghĩa giành nền độc lập, tự do cho toàn dân tộc; ưu thế về tinh thần, quyết tâm chiến đấu đầy khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đúng như Đảng ta ta khẳng định: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta…, với nghị lực chiến đấu phi thường và sức sáng tạo vô tận của nhân dân ta, với những tinh hoa trong truyền thống bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam ta”./.

ST

KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC: NGÀY 13-4-1975, CHIẾN DỊCH XUÂN LỘC THAY ĐỔI CÁCH ĐÁNH!

     Chiến dịch Xuân Lộc là trận đột phá đầu tiên của Quân giải phóng vào tuyến phòng thủ trực tiếp của quân địch trên hướng Đông Sài Gòn, từ Biên Hòa - Xuân Lộc đến Bà Rịa - Vũng Tàu. Do tầm quan trọng đặc biệt của “cánh cửa thép” này, quân đội ngụy quyền Sài Gòn bố trí tại đây một lực lượng binh hỏa lực lớn với hệ thống công sự kiên cố và quyết tâm “tử thủ bằng mọi giá”. Cuộc tiến công của Quân giải phóng do đó gặp rất nhiều khó khăn. Sau 3 ngày chiến đấu, lực lượng tiến công mặc dù đã chiếm một số mục tiêu nhưng chưa diệt gọn từng tiểu đoàn địch và giải phóng được thị xã Xuân Lộc. Trong khi đó, Quân giải phóng bị tổn thất khá nặng cả về người và trang bị vũ khí kỹ thuật.

Ngày 13-4-1975, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng Miền đến Sở Chỉ huy chiến dịch để chỉ đạo trực tiếp. Sau khi đánh giá tình hình, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh: không tập trung lực lượng tiến công vào nội ô thị xã mà chuyển sang bao vây, cô lập, cắt rời Xuân Lộc ra khỏi các hành lang giao thông nối vào Biên Hòa, ra Bình Thuận, lên Đà Lạt và xuống Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, Quân giải phóng chỉ giữ lại một bộ phận kìm chế quân địch trong thị xã, điều chỉnh lực lượng, tổ chức tiến công đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1, chặn quân địch từ Trảng Bom lên, từ Gia Kiệm về, làm chủ chi khu Tân Phong, cắt đường số 2 đi Bà Rịa.

Quyết định thay đổi cách đánh đã mở ra hướng phát triển mới ở mặt trận Xuân Lộc, phản ánh sự nhạy bén, bám sát thực tiễn và quyết đoán của Bộ Chỉ huy trong quá trình điều hành chiến dịch./.
Sư đoàn 341-Quân đoàn 4 tiến công Sở Chỉ huy Sư đoàn 18 của địch tại Núi Thị - Xuân Lộc.
Yêu nước ST.

HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG


Người cho rằng, đạo đức cách mạng là "cái gốc'' cái căn bản của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng mới trở thành người cán bộ tốt. Mới làm tròn vai trò người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân. Đạo đức cách mạng là cơ sở, nền tảng để mỗi cán bộ phấn đấu hoàn thiện mình. Bởi lẽ, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa.


Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của cả loài người, biết đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết, là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, “hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. Đó là cốt lõi, là bản chất của đạo đức cách mạng, là nguyên tắc cao nhất.


Đối với quân đội ta, yêu cầu cơ bản phải thường xuyên xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo những nội dung, tiêu chuẩn chung về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng đường lối, chính sách và nghị quyết của Đảng, suốt đời phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giàu lòng nhân ái.


Đồng thời thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức và lối sống. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, lối sống suy thoái về đạo đức. Thiết thực góp phần hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

ST

 

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ


Hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) với chủ đề “Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và ý chí thống nhất đất nước”. Những ngày qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã và đang hướng về sự kiện lịch sử này bằng nhiều hoạt động, dưới nhiều hình thức nhằm làm nổi bật tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; nâng cao nhận thức, bồi đắp lý tưởng cách mạng, niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam… 


Thế nhưng đi ngược với tinh thần ấy, một số phần tử phản động lưu vong, được các thế lực thù địch hà hơi tiếp sức vẫn lợi dụng sự kiện này để kích động tư tưởng hận thù, chống phá đất nước. Đã thành thói quen cứ vào dịp chúng ta kỷ niệm là trên một vài trang mạng lại xuất hiện những giọng điệu xuyên tạc giá trị, ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa Xuân 1975. Đáng lưu ý họ vẫn ấm ức gọi 30/4 là “ngày quốc hận”, bóp méo, xuyên tạc lịch sử cho rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là “nồi da xáo thịt” và cho rằng, Đại thắng mùa Xuân 1975 chẳng có giá trị, chẳng mang ý nghĩa gì trong thời kỳ mới.


Nhưng họ đã lầm, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đó là ý chí, niềm tin cháy bỏng và khát vọng thiêng liêng vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do và thống nhất đất nước mà không tiếc máu xương, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường quyết giành thắng lợi. Để làm nên chiến thắng vang dội ấy, nhân dân Việt Nam yêu nước chân chính đã phải đấu tranh bất khuất, kiên cường, bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi của tinh thần đại đoàn kết, vượt qua mọi gian nan, thử thách để vững bước tiến lên vì cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho hôm nay và muôn đời con cháu mai sau... Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn mang theo hành trang ấy, tinh thần ấy vào công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Trong những năm gần đây, nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nhất là tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu bởi dịch bệnh; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Chứng kiến sự phát triển ấy, người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế đều thấy rõ một tinh thần mới, khí thế mới đang mở ra cho dân tộc ta. 


Nhìn lại gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới và gần 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống cả về vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chính tinh thần Đại thắng mùa Xuân 1975 đã hun đúc, tiếp lửa để ý Đảng, lòng dân hội tụ kết thành sức mạnh đưa công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa lên tầm cao mới.


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định quyết tâm: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Trong tình hình mới, tinh thần, hào khí Đại thắng Mùa Xuân 1975 vẫn còn nguyên giá trị và sẽ tiếp tục cổ vũ, khích lệ, tiếp thêm nguồn động lực để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phấn khởi, hăng hái nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, đoàn kết, chung sức, đồng lòng nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, đạt nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện, với nhiều dấu ấn nổi bật. Bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có quyết tâm và nghị lực, với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần năng động, sáng tạo, nhân dân ta đã chiến thắng trong chiến tranh khốc liệt và nhất định giành thắng lợi trong xây dựng hòa bình, trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc... Cho dù bằng chiêu trò, luận điệu tinh vi, biến ảo đến đâu chăng nữa những kẻ phản động lưu vong, thù địch cũng không thể dối lừa được nhân dân Việt Nam và những người có lương tri trên thế giới.


Tôn trọng và nhân lên giá trị, ý nghĩa lịch sử, truyền thống dân tộc, thành quả cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, niềm tự hào của mỗi người dân nước Việt. Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, không cho phép bất cứ kẻ nào xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận giá trị, ý nghĩa lịch sử của Đại thắng Mùa Xuân 1975. Đồng thời, bằng tình cảm, trách nhiệm của mình nhân dân Việt Nam sẽ làm tất cả để giá trị, ý nghĩa lịch sử của Đại thắng Mùa Xuân 1975 mãi trường tồn và ngày càng phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là điều mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định./. 

ST

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 11 - HỘI NGHỊ LỊCH SỬ, BÀN VỀ NHỮNG QUYẾT SÁCH LỊCH SỬ!

     Sau ba ngày làm việc khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc chiều 12/4!


Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, Trung ương đã thảo luận hết sức dân chủ, lắng nghe, trao đổi thẳng thắn nhiều vấn đề mới, hệ trọng và thống nhất rất cao những nội dung quan trọng, cốt lõi.

Ban chấp hành Trung ương đã biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị với tỉ lệ tuyệt đối.

"Có thể khẳng định Hội nghị Trung ương 11 khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Rất nhiều đồng chí Trung ương đề nghị Bộ Chính trị ghi nhận đây là Hội nghị lịch sử, bàn về những quyết sách lịch sử trong giai đoạn Cách mạng mới của nước ta", Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm ghi nhận, đánh giá cao, biểu dương tinh thần làm việc tích cực, trách nhiệm, chủ động, khoa học, sáng tạo, quyết đoán, hiệu quả, đổi mới của Trung ương; công tác chuẩn bị và phục vụ Hội nghị chu đáo, kỹ lưỡng, trọng tâm, trọng điểm, có nhiều cải tiến của các Tiểu ban, của Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan liên quan. Đồng thời khái quát, nhấn mạnh và kết luận một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.

Thống nhất cao nội dung đề xuất thuộc nhóm công việc về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy
Cụ thể, thứ nhất, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, Ban chấp hành Trung ương thống nhất cao nội dung đề xuất nêu tại các Tờ trình, Báo cáo, Đề án thuộc nhóm công việc về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

Trong đó, Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là quyết sách chiến lược chưa từng có với mục tiêu cao nhất vì sự phát triển nhanh, ổn định, bền vững của đất nước, chăm lo tốt hơn đời sống của nhân dân, xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn, chuyển từ quản lý thụ động sang chủ động phục vụ nhân dân, kiến tạo phát triển, đủ năng lực tổ chức triển khai có hiệu quả các chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống trong kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính địa phương lần này được xây dựng trên tinh thần khoa học, đột phá, sáng tạo, bám sát thực tiễn với tầm nhìn xa, trông rộng, ít nhất là 100 năm, bảo đảm hình thành và mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mới phù hợp cho phát triển đất nước.

Chính quyền địa phương sau sắp xếp phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, gần dân, đáp ứng các yêu cầu quản trị xã hội hiện đại, thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững; tạo thế và lực mới cho nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tạo đà và động lực cho phát triển kinh tế, trong đó chú trọng thúc đẩy kinh tế tư nhân; đẩy nhanh phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; chăm lo ngày một tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Việc sắp xếp lại mô hình, tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ phải thực sự tinh gọn, bảo đảm không trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; không hành chính hoá hoạt động, hướng mạnh về địa bàn dân cư, gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân theo tinh thần "chú trọng và thực hành dân làm gốc", phải thực sự là "cánh tay nối dài" của Đảng đến từng hộ gia đình, từng người dân; phải chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đoàn viên, hội viên và của Nhân dân.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao các chủ trương về tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp: cấp Tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), cấp xã (xã, phường, Đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố); số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sáp nhập là 34 tỉnh, thành phố (28 tỉnh và 06 thành phố trực thuộc Trung ương) với tên gọi và trung tâm hành chính-chính trị xác định theo các nguyên tắc nêu tại các Tờ trình và Đề án; kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện sau khi Quốc hội quyết nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi); sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã bảo đảm cả nước giảm khoảng 60-70% số lượng đơn vị hành chính cấp xã hiện nay.

Đồng ý chủ trương lập tổ chức đảng ở địa phương tương ứng với hệ thống hành chính cấp tỉnh, cấp xã; kết thúc hoạt động của các đảng bộ cấp huyện; việc lập tổ chức đảng ở địa phương thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng, quy định của Trung ương.

Với mô hình tổ chức hành chính mới, cấp Tỉnh vừa là cấp thực hiện chủ trương, chính sách từ Trung ương, vừa là cấp ban hành chính sách trên địa bàn tỉnh, thành phố và trực tiếp chỉ đạo, quản lý các hoạt động của cấp xã trên địa bàn. Cấp xã chủ yếu là thực hiện chính sách từ cấp Trung ương và cấp Tỉnh ban hành; được tăng cường phân cấp phân quyền và có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quyết định việc tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của cấp mình.

Thống nhất chủ trương sắp xếp, tinh gọn, hợp nhất cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã nêu tại Tờ trình và Đề án của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương; chủ trương kết thúc hoạt động của công đoàn viên chức, công đoàn lực lượng vũ trang, giảm mức đóng góp công đoàn phí của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Đồng ý chủ trương tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân; kết thúc hoạt động của Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao và cấp huyện; xác lập hệ thống tổ chức Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân có 03 cấp là: Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao; Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khu vực (hệ thống tòa án và viện kiểm sát quân sự giữ nguyên mô hình hiện nay).

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước liên quan đến các quy định về chính quyền địa phương phục vụ việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm hoàn thành trước ngày 30/6/2025; có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; quy định thời gian chuyển tiếp để bảo đảm hoạt động thông suốt, không gián đoạn, phù hợp với kế hoạch, lộ trình dự kiến sắp xếp, sáp nhập.

Trung ương yêu cầu, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan phối hợp triển khai chặt chẽ có hiệu quả các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế. Tập trung cao độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ này, đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm, phấn đấu ngay trong năm 2025 phải tháo gỡ triệt để những rào cản, khó khăn, vướng mắc về thể chế để tạo hành lang pháp lý, tạo nền tảng cho phát triển, nhất là các vấn đề liên quan đến đấu thầu, ngân sách, đầu tư công, kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạo cơ sở vững chắc, thuận lợi cho cuộc Cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; khơi thông các điểm nghẽn, nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp phân quyền triệt để gắn với tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực hiệu quả; kiến tạo không gian phát triển mới cho địa phương và cả nước.

Xây dựng, ban hành pháp luật, cơ chế chính sách phải bám sát sự lãnh đạo của Đảng, theo sát tình hình thực tiễn và tính đặc thù của cuộc cách mạng về cơ cấu tổ chức, không để tình trạng chờ luật, chờ cơ chế dẫn đến chậm trễ, mất cơ hội; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí thấp; xử lý triệt để các "điểm nghẽn" về thể chế để biến thành nguồn lực, lợi thế cạnh tranh, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đi đầu về cải cách hành chính, khởi nghiệp sáng tạo để có thể tiến kịp, đi cùng, vượt lên cùng các nước đi trước.

Các dự thảo được biên tập ngắn gọn, súc tích, song nội dung khá đầy đủ, sâu sắc
Thứ hai về nhóm vấn đề tiếp tục chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng và Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, về dự thảo các văn kiện phục vụ Đại hội XIV của Đảng, Trung ương thống nhất đánh giá, các dự thảo lần này được biên tập ngắn gọn, súc tích (giảm khoảng 30%-35%), song nội dung khá đầy đủ, sâu sắc vừa bảo đảm tính văn kiện, toàn diện vừa đảm bảo tính hành động cao, có thể giúp triển khai ngay, cập nhật, bổ sung nhiều vấn đề lớn, là hình mẫu cho việc xây dựng văn kiện của các tổ chức Đảng.

Qua trao đổi, thảo luận, Trung ương thống nhất cao và nhận thấy cần triển khai ngay một số giải pháp lớn đã được nhất trí thông qua trong dự thảo các văn kiện, đồng thời cụ thể hóa trong văn kiện nhiệm kỳ 2025 - 2030 của các tổ chức Đảng.

Về công tác tổ chức xây dựng và thi hành điều lệ Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến và cơ bản thống nhất, thông qua dự thảo Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; bổ sung nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; các nội dung sửa đổi, bổ sung Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; các nội dung sửa đổi, bổ sung Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14/6/2024 và Kết luận số 118-KL/TW ngày 18/01/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Phương hướng Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Trung ương yêu cầu, Bộ Chính trị, cấp uỷ, các tổ chức Đảng, các cơ quan có liên quan khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung đã được Trung ương thống nhất, thông qua.

Triển khai ngay 7 công việc
Về những việc cần làm ngay, Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu, ngay sau Hội nghị, các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương và người đứng đầu triển khai ngay 7 công việc.

Thứ nhất, chủ động, tích cực làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền, vận động, định hướng tư tưởng trong cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức của mình cũng như tham gia định hướng dư luận xã hội, bảo đảm sự đoàn kết, đồng thuận, thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương lớn của Đảng.

Thứ hai, tập trung chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo các Đề án, kế hoạch đã được Trung ương thông qua.

Thứ ba, chủ động các nhiệm vụ về sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm giữ chân người tài, thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người bị tác động, ảnh hưởng; chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý, tạo thuận lợi cao nhất cho sắp xếp; chủ động phương án quản lý, sử dụng, xử lý tài sản, trụ sở làm việc, nhà ở công vụ, tuyệt đối không để thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Thứ tư, bảo đảm các cơ quan, đơn vị, tổ chức trước, trong và sau sắp xếp hoạt động liên tục, thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, không để gián đoạn công việc, không bỏ trống nhiệm vụ, địa bàn, lĩnh vực, không để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, tổ chức và Nhân dân.

Thứ năm, về tổ chức đại hội các cấp tại địa phương sáp nhập, hợp nhất, chúng ta tổ chức đại hội cấp xã, cấp tỉnh ngay sau khi sắp xếp đơn vị hành chính. Vì vậy, cần lãnh đạo, chỉ đạo hết sức chặt chẽ để bảo đảm Đại hội đúng quy định và thực chất, không hình thức. Bộ Chính trị sẽ ban hành Chỉ thị mới thay thế Chỉ thị 35 hướng dẫn cụ thể việc tổ chức Đại hội các cấp theo tinh thần mới.

Thứ sáu, đảm bảo lộ trình và tiến độ, quy trình (nhất là quy trình lấy ý kiến cộng đồng dân cư theo quy chế dân chủ cơ sở) về sửa đổi hành lang pháp lý, về thời điểm kết thúc hoạt động của cấp huyện, sáp nhập xã, sắp xếp, sáp nhập tỉnh như Nghị quyết đã được thông qua.

Thứ bảy, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm lớn trong năm 2025, trọng tâm là Lễ kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cùng với các hoạt động kỷ niệm của từng địa phương.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, ngay sau Hội nghị này, Ban Chỉ đạo Trung ương Tổng kết Nghị quyết 18 sẽ họp để cụ thể hóa các công việc cần làm, đưa ra kế hoạch, lộ trình thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian tới và phân công các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc.

Cũng ngay trong tuần sau, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc để quán triệt, thống nhất nhận thức, cách làm trong cả hệ thống chính trị về những chủ trương mà Hội nghị Trung ương 11 vừa thông qua.

Bộ Chính trị cũng sẽ sớm ban hành Nghị quyết về đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân để tạo thêm động lực mới cùng Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhằm quyết tâm thực hiện cho bằng được mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8% trở lên của năm 2025, tạo nền tảng tăng trưởng 2 con số liên tục trong những năm tiếp theo. Phấn đấu hoàn thành bằng được mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

"Công việc trước mắt rất bộn bề, thực tiễn cuộc sống đang đòi hỏi cấp bách, nhân dân, cán bộ đảng viên đang mong chờ, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề, gian khó, tôi nghĩ đây là thử thách lớn, đồng thời là cơ hội để từng Ủy viên Trung ương Đảng thể hiện tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước đất nước, trước Nhân dân. Ban Chấp hành Trung ương tin tưởng rằng, phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất của dân tộc, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, sự nỗ lực chung sức, đồng lòng, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu nhiệm vụ đã đề ra. Nhất định chúng ta sẽ thành công", Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu./.
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 11 khoá XIII.
Theo báo Điện tử Chính phủ 
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 11!

     Chiều 12.4, Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII bế mạc sau 3 ngày làm việc. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc hội nghị.
Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm bế mạc Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII:
Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa toàn thể các đồng chí tham dự hội nghị.

Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần trách nhiệm cao, các đồng chí Trung ương đã thảo luận hết sức dân chủ, lắng nghe, trao đổi thẳng thắn nhiều vấn đề mới, hệ trọng và thống nhất rất cao những nội dung quan trọng, cốt lõi.

Ban chấp hành Trung ương đã biểu quyết thông qua nghị quyết hội nghị với tỷ lệ tuyệt đối. Có thể khẳng định Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Rất nhiều đồng chí Trung ương đề nghị Bộ Chính trị ghi nhận đây là Hội nghị lịch sử, bàn về những quyết sách lịch sử trong giai đoạn Cách mạng mới của nước ta.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi ghi nhận, đánh giá cao, biểu dương tinh thần làm việc tích cực, trách nhiệm, chủ động, khoa học, sáng tạo, quyết đoán, hiệu quả, đổi mới của Trung ương; công tác chuẩn bị và phục vụ hội nghị chu đáo, kỹ lưỡng, trọng tâm, trọng điểm, có nhiều cải tiến của các Tiểu ban, của Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan liên quan.

Sau đây, tôi xin khái quát, nhấn mạnh và kết luận một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện:

Thứ nhất: Ban chấp hành Trung ương thống nhất cao nội dung đề xuất nêu tại các tờ trình, báo cáo, đề án thuộc nhóm công việc về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

Trong đó, Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh: Việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là quyết sách chiến lược chưa từng có với mục tiêu cao nhất vì sự phát triển nhanh, ổn định, bền vững của đất nước, chăm lo tốt hơn đời sống của nhân dân, xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn, chuyển từ quản lý thụ động sang chủ động phục vụ nhân dân, kiến tạo phát triển, đủ năng lực tổ chức triển khai có hiệu quả các chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống trong kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính địa phương lần này được xây dựng trên tinh thần khoa học, đột phá, sáng tạo, bám sát thực tiễn với tầm nhìn xa, trông rộng, ít nhất là 100 năm, bảo đảm hình thành và mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa mới phù hợp cho phát triển đất nước.

Chính quyền địa phương sau sắp xếp phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, gần dân, đáp ứng các yêu cầu quản trị xã hội hiện đại, thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững; tạo thế và lực mới cho nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tạo đà và động lực cho phát triển kinh tế, trong đó chú trọng thúc đẩy kinh tế tư nhân; đẩy nhanh phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; chăm lo ngày một tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Việc sắp xếp lại mô hình, tổ chức Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ phải thực sự tinh gọn, bảo đảm không trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; không hành chính hóa hoạt động, hướng mạnh về địa bàn dân cư, gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân theo tinh thần "chú trọng và thực hành dân làm gốc", phải thực sự là "cánh tay nối dài" của Đảng đến từng hộ gia đình, từng người dân; phải chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đoàn viên, hội viên và của nhân dân.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, quản lý đội ngũ cán bộ và biên chế của hệ thống chính trị. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các quy định về công tác cán bộ ở các cấp, các ngành, địa phương theo nguyên tắc công khai, minh bạch, tăng cường kiểm soát quyền lực, gắn quyền lực với trách nhiệm cá nhân. Nhận diện, có biện pháp phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gây mất đoàn kết, chạy chức chạy quyền, cục bộ bè phái trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, xử lý tài sản công…

Ban chấp hành Trung ương thống nhất cao các chủ trương: về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố); số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sáp nhập là 34 tỉnh, thành phố (28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc Trung ương) với tên gọi và trung tâm hành chính - chính trị xác định theo các nguyên tắc nêu tại các tờ trình và đề án; kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện sau khi Quốc hội quyết nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi); sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã bảo đảm cả nước giảm khoảng 60 - 70% số lượng đơn vị hành chính cấp xã hiện nay.

Đồng ý chủ trương lập tổ chức đảng ở địa phương tương ứng với hệ thống hành chính cấp tỉnh, cấp xã; kết thúc hoạt động của các đảng bộ cấp huyện; việc lập tổ chức đảng ở địa phương thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng, quy định của Trung ương.

Với mô hình tổ chức hành chính mới, cấp tỉnh vừa là cấp thực hiện chủ trương, chính sách từ Trung ương, vừa là cấp ban hành chính sách trên địa bàn tỉnh, thành phố và trực tiếp chỉ đạo, quản lý các hoạt động của cấp xã trên địa bàn. Cấp xã chủ yếu là thực hiện chính sách từ cấp Trung ương và cấp tỉnh ban hành; được tăng cường phân cấp phân quyền và có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quyết định việc tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của cấp mình.

Thống nhất chủ trương sắp xếp, tinh gọn, hợp nhất cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã nêu tại Tờ trình và Đề án của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương; chủ trương kết thúc hoạt động của công đoàn viên chức, công đoàn lực lượng vũ trang, giảm mức đóng góp công đoàn phí của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Đồng ý chủ trương tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân; kết thúc hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao và cấp huyện; xác lập hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân có 3 cấp là: Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khu vực (hệ thống Tòa án và Viện Kiểm sát quân sự giữ nguyên mô hình hiện nay).

Ban chấp hành Trung ương thống nhất chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước liên quan đến các quy định về chính quyền địa phương phục vụ việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm hoàn thành trước ngày 30.6.2025; có hiệu lực từ ngày 1.7.2025; quy định thời gian chuyển tiếp để bảo đảm hoạt động thông suốt, không gián đoạn, phù hợp với kế hoạch, lộ trình dự kiến sắp xếp, sáp nhập; Trung ương yêu cầu, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan phối hợp triển khai chặt chẽ có hiệu quả các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế.

Tập trung cao độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ này, đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm, phấn đấu ngay trong năm 2025 phải tháo gỡ triệt để những rào cản, khó khăn, vướng mắc về thể chế để tạo hành lang pháp lý, tạo nền tảng cho phát triển, nhất là các vấn đề liên quan đến đấu thầu, ngân sách, đầu tư công, kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạo cơ sở vững chắc, thuận lợi cho cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; khơi thông các điểm nghẽn, nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp phân quyền triệt để gắn với tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực hiệu quả; kiến tạo không gian phát triển mới cho địa phương và cả nước.

Xây dựng, ban hành pháp luật, cơ chế chính sách phải bám sát sự lãnh đạo của Đảng, theo sát tình hình thực tiễn và tính đặc thù của cuộc cách mạng về cơ cấu tổ chức, không để tình trạng chờ luật, chờ cơ chế dẫn đến chậm trễ, mất cơ hội; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí thấp; xử lý triệt để các "điểm nghẽn" về thể chế để biến thành nguồn lực, lợi thế cạnh tranh, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đi đầu về cải cách hành chính, khởi nghiệp sáng tạo để có thể tiến kịp, đi cùng, vượt lên cùng các nước đi trước.

Thứ hai: Về nhóm vấn đề tiếp tục chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng và Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Về dự thảo các văn kiện phục vụ Đại hội XIV của Đảng: Trung ương thống nhất đánh giá, các dự thảo lần này được biên tập ngắn gọn, súc tích (giảm khoảng 30% - 35%), song nội dung khá đầy đủ, sâu sắc vừa bảo đảm tính văn kiện, toàn diện vừa đảm bảo tính hành động cao, có thể giúp triển khai ngay, cập nhật, bổ sung nhiều vấn đề lớn, là hình mẫu cho việc xây dựng văn kiện của các tổ chức Đảng.

Qua trao đổi, thảo luận, Trung ương thống nhất cao và nhận thấy cần triển khai ngay một số giải pháp lớn đã được nhất trí thông qua trong dự thảo các văn kiện, đồng thời cụ thể hóa trong văn kiện nhiệm kỳ 2025 - 2030 của các tổ chức Đảng, gồm:

(1) Thống nhất về mục tiêu cao nhất của Đại hội XIV là quyết định những vấn đề chiến lược để bảo đảm "ổn định, phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân"; mọi quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp trong dự thảo các văn kiện đều phải thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt và tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện cho được mục tiêu này.

(2) Thống nhất về yêu cầu cao của giai đoạn tới là "phát triển chất lượng cao, phát triển nhanh và phát triển bền vững","chủ động, tự cường và tự chủ trong phát triển". Từ đó, yêu cầu các Tiểu ban tiếp tục rà soát các ý kiến của Trung ương, bổ sung đầy đủ những khó khăn, thách thức khách quan phải đối mặt, những tồn tại, hạn chế kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chưa khắc phục, những nhiệm vụ, giải pháp thích ứng với bối cảnh tình hình mới, thời cơ vận hội và thử thách mới bằng tư duy mới, cách làm mới mang tính cách mạng, vượt lên chính mình để bảo đảm phát triển chủ động, tự chủ, nhanh, bền vững; đồng thời yêu cầu các đảng bộ trong quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội phải tập trung thảo luận kỹ lưỡng những nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục đóng góp hoàn thiện văn kiện Đại hội XIV của Đảng và văn kiện đại hội cấp mình.

(3) Thống nhất quyết tâm mạnh mẽ "xác lập mô hình tăng trưởng mới", "xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới" là các giải pháp căn cơ để khắc phục nguy cơ tụt hậu. Trong mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm động lực chủ yếu, kinh tế tư nhân (gồm cả khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân.

Đồng thời Trung ương cũng thống nhất cao trong giai đoạn cách mạng mới, cần tập trung xác định và triển khai mạnh mẽ nội hàm "Đảng ta là đạo đức, là văn minh", mô hình điểm về các tỉnh "xã hội chủ nghĩa", các xã "xã hội chủ nghĩa".

Về công tác tổ chức xây dựng và thi hành điều lệ Đảng: Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến và cơ bản thống nhất, thông qua dự thảo phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; bổ sung nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; các nội dung sửa đổi, bổ sung Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; các nội dung sửa đổi, bổ sung Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14.6.2024 và Kết luận số 118-KL/TW ngày 18.1.2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; phương hướng Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trung ương yêu cầu, Bộ Chính trị, cấp ủy, các tổ chức Đảng, các cơ quan có liên quan khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung đã được Trung ương thống nhất, thông qua.

Những việc cần làm ngay: Ban chấp hành Trung ương yêu cầu, ngay sau Hội nghị, các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương và người đứng đầu triển khai ngay 7 công việc:

(1) Chủ động, tích cực làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền, vận động, định hướng tư tưởng trong cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức của mình cũng như tham gia định hướng dư luận xã hội, bảo đảm sự đoàn kết, đồng thuận, thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương lớn của Đảng.

(2) Tập trung chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo các Đề án, kế hoạch đã được Trung ương thông qua.

(3) Chủ động các nhiệm vụ về sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm giữ chân người tài, thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người bị tác động, ảnh hưởng; chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý, tạo thuận lợi cao nhất cho sắp xếp; chủ động phương án quản lý, sử dụng, xử lý tài sản, trụ sở làm việc, nhà ở công vụ, tuyệt đối không để thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

(4) Bảo đảm các cơ quan, đơn vị, tổ chức trước, trong và sau sắp xếp hoạt động liên tục, thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, không để gián đoạn công việc, không bỏ trống nhiệm vụ, địa bàn, lĩnh vực, không để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, tổ chức và Nhân dân.

(5) Về tổ chức đại hội các cấp tại địa phương sáp nhập, hợp nhất: Chúng ta tổ chức đại hội cấp xã, cấp tỉnh ngay sau khi sắp xếp đơn vị hành chính. Vì vậy, cần lãnh đạo, chỉ đạo hết sức chặt chẽ để bảo đảm Đại hội đúng quy định và thực chất, không hình thức. Bộ Chính trị sẽ ban hành Chỉ thị mới thay thế Chỉ thị 35 hướng dẫn cụ thể việc tổ chức Đại hội các cấp theo tinh thần mới.

Tôi lưu ý thêm 2 vấn đề là:
(i) Về văn kiện: Cấp tỉnh phải sớm bổ sung, hoàn thiện văn kiện Đại hội cấp mình trên cơ sở dự thảo Văn kiện mới của Trung ương. Đối với các tỉnh có sáp nhập, hợp nhất thì các Ban thường vụ phải bàn với nhau để xây dựng Văn kiện của Đại hội tỉnh mới. Phải trên tinh thần "không gian phát triển mở rộng" của tỉnh mới để xây dựng văn kiện. Không phải là cộng gộp cơ học các Văn kiện của tỉnh cũ thành Văn kiện của tỉnh mới. Các xã sáp nhập cũng phải thực hiện theo tinh thần này.

(ii) Về nhân sự: Nhiều đồng chí băn khoăn vấn đề sắp xếp nhân sự khi sáp nhập, hợp nhất và sắp xếp nhân sự Đại hội. Các cơ quan Trung ương sẽ có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, tiêu chuẩn. Tôi đề nghị phải lấy tiêu chuẩn cao nhất là vì yêu cầu công việc, sau đó mới đến các tiêu chí khác. Ban Thường vụ cấp tỉnh (có sáp nhập, hợp nhất) phải bàn kỹ với nhau về vấn đề này, tạo sự thống nhất cao trong thực hiện, nhất là bố trí người đứng đầu các cơ quan sau khi sáp nhập. Những vấn đề chưa thống nhất, đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư được phân công phụ trách địa bàn sẽ hướng dẫn, chỉ đạo (các tỉnh cũng cần phân công các đồng chí cấp ủy tỉnh hướng dẫn chỉ đạo Đại hội cấp xã).

(6) Đảm bảo lộ trình và tiến độ, quy trình (nhất là quy trình lấy ý kiến cộng đồng dân cư theo quy chế dân chủ cơ sở) về sửa đổi hành lang pháp lý, về thời điểm kết thúc hoạt động của cấp huyện, sáp nhập xã, sắp xếp, sáp nhập tỉnh như Nghị quyết đã được thông qua.

(7) Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm lớn trong năm 2025, trọng tâm là Lễ kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, cùng với các hoạt động kỷ niệm của từng địa phương.

Trung ương yêu cầu các Tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV nhanh chóng tiếp thu ý kiến góp ý bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện (nhất là phần định hướng phát triển kinh tế xã hội cho các vùng, địa phương sau sáp nhập) gửi đại hội đảng bộ các cấp thảo luận, góp ý, tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 12 để cán bộ, đảng viên và nhân dân thảo luận cho ý kiến.

Ngay sau Hội nghị này, Ban chỉ đạo Trung ương Tổng kết Nghị quyết 18 sẽ họp để cụ thể hóa các công việc cần làm, đưa ra kế hoạch, lộ trình thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian tới và phân công các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc. Cũng ngay trong tuần sau, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc để quán triệt, thống nhất nhận thức, cách làm trong cả hệ thống chính trị về những chủ trương mà Hội nghị Trung ương 11 vừa thông qua.

Bộ Chính trị cũng sẽ sớm ban hành Nghị quyết về đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân để tạo thêm động lực mới cùng Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhằm quyết tâm thực hiện cho bằng được mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8% trở lên của năm 2025, tạo nền tảng tăng trưởng 2 con số liên tục trong những năm tiếp theo. Phấn đấu hoàn thành bằng được mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Thưa các đồng chí,
Công việc trước mắt rất bộn bề, thực tiễn cuộc sống đang đòi hỏi cấp bách, nhân dân, cán bộ đảng viên đang mong chờ, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề, gian khó, tôi nghĩ đây là thử thách lớn, đồng thời là cơ hội để từng ủy viên Trung ương Đảng thể hiện tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước đất nước, trước nhân dân.

Ban Chấp hành Trung ương tin tưởng rằng, phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất của dân tộc, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, sự nỗ lực chung sức, đồng lòng, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, chỉ tiêu nhiệm vụ đã đề ra. Nhất định chúng ta sẽ thành công.

Bế mạc hội nghị, tôi chúc các đồng chí và gia đình sức khoẻ, hạnh phúc và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ công tác đã đề ra.
Xin trân trọng cảm ơn!



Yêu nước ST.

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ – CHIÊU TRÒ CŨ NHẰM GÂY MẤT ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Một trong những thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Chúng gọi ngày 30/4 – ngày đất nước thống nhất – là "Ngày quốc hận" hay "Tháng Tư đen". Chúng miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như một "cuộc nội chiến" hay "miền Bắc xâm lược miền Nam". Những luận điệu này không chỉ sai sự thật mà còn là sự xúc phạm đến hàng triệu người đã hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc.

 



Sự thật lịch sử là: nhân dân Việt Nam đã phải đổ máu để giành lại độc lập từ thực dân, đế quốc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ không phải là nội chiến, mà là một cuộc chiến giải phóng dân tộc được nhân dân cả nước, kể cả đồng bào miền Nam, ủng hộ. Nghị quyết 36 của Liên Hợp Quốc công nhận Việt Nam là quốc gia thống nhất cũng đã bác bỏ mọi luận điệu chia rẽ.

Việc xuyên tạc lịch sử là âm mưu rất nguy hiểm, bởi nó đánh vào căn cốt của lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Khi người dân, nhất là thế hệ trẻ, bị tiêm nhiễm những cái nhìn lệch lạc về quá khứ, thì từ đó dễ phát sinh tâm lý nghi ngờ, phủ nhận những thành quả cách mạng, từ đó mất niềm tin vào hiện tại.

Chúng ta cần chủ động phản bác, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng. Không chỉ bằng những bài viết đúng đắn, mà còn bằng việc lan tỏa thông tin chính xác, giáo dục lịch sử một cách sống động, thuyết phục và hấp dẫn.

Bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng, mà là trách nhiệm của từng người dân yêu nước. Lịch sử là nền tảng để đoàn kết dân tộc – và không ai được phép bóp méo nền tảng đó.

 


 


 

TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI TỰ DO XUYÊN TẠC

 


Gần đây, nhiều tổ chức như RFA, VOA, Việt Tân... liên tục lên tiếng cáo buộc Việt Nam vi phạm "tự do ngôn luận", bắt bớ "nhà báo độc lập", "blogger bất đồng chính kiến". Nhưng thử hỏi: ở quốc gia nào, quyền tự do ngôn luận lại đồng nghĩa với việc được quyền xuyên tạc, vu khống, kích động chống phá nhà nước?










Hiến pháp Việt Nam quy định rất rõ: công dân có quyền tự do ngôn luận, nhưng không ai được lợi dụng quyền đó để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Điều này không chỉ có ở Việt Nam, mà ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào cũng đều có giới hạn tương tự.

Hãy nhìn thực tế: Một số cá nhân được các tổ chức nước ngoài tôn vinh là "nhà báo độc lập", nhưng hoạt động chủ yếu lại là livestream bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc lịch sử, kích động biểu tình. Họ không viết báo vì sự thật, mà vì tài trợ. Khi bị xử lý theo pháp luật, truyền thông phương Tây lại lập tức quy chụp Việt Nam "đàn áp tiếng nói phản biện".

Không thể có một xã hội ổn định nếu bất cứ ai cũng có thể tung tin giả, phá hoại niềm tin nhân dân, kích động thù hằn. Đó không phải là "tự do ngôn luận", mà là lợi dụng tự do để gây rối.



Chúng ta cần tỉnh táo. Mỗi bài viết, mỗi chia sẻ cần dựa trên thông tin xác thực. Đừng để bị cuốn theo những luận điệu mị dân, được dựng lên với mục đích chính trị đen tối.

ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG – CHỨ KHÔNG PHẢI THANH TRỪNG NỘI BỘ

 


Một trong những luận điệu được các thế lực thù địch như Việt Tân, RFA, VOA rêu rao gần đây là "Việt Nam thanh trừng nội bộ dưới vỏ bọc chống tham nhũng". Đây là cách bóp méo sự thật trắng trợn, nhằm làm suy giảm niềm tin vào quyết tâm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo đất nước.





Thực tế, công cuộc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam là cuộc chiến không khoan nhượng, được Đảng và Nhà nước kiên trì thực hiện trong suốt nhiều năm qua. Hàng loạt vụ án lớn đã được đưa ra ánh sáng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Những cán bộ cấp cao bị xử lý thời gian qua là minh chứng rõ ràng cho tinh thần "nói đi đôi với làm".

Việc một số cán bộ bị kỷ luật, miễn nhiệm, hay từ chức không phải vì đấu đá phe phái, mà vì họ đã vi phạm quy định, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Quy định 41 của Bộ Chính trị không phải để "hạ cánh an toàn" như luận điệu xuyên tạc, mà là bước đi cần thiết để bảo vệ sự liêm chính của bộ máy lãnh đạo.

Không thể lấy lý do "chống tham nhũng có chọn lọc" để phủ nhận toàn bộ nỗ lực của cả hệ thống. Trong một guồng máy lớn, không tránh khỏi có người sai phạm, nhưng quan trọng là cách xử lý – và Việt Nam đã chứng minh được quyết tâm đó bằng hành động cụ thể




Đừng để bị dẫn dắt bởi những cái nhìn phiến diện từ bên ngoài. Hãy nhìn vào thực tế: người dân ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đốt lò, bởi ai cũng muốn một xã hội công bằng, minh bạch, và phát triển bền vững.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG – KHÔNG PHẢI CHUYỆN ĐẤU ĐÁ QUYỀN LỰC

 


Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, các thế lực thù địch lại gia tăng hoạt động tung tin giả, thêu dệt các câu chuyện đấu đá quyền lực, tranh giành vị trí lãnh đạo nhằm gây hoang mang dư luận. Chúng muốn gieo vào lòng người dân sự hoài nghi về sự minh bạch, dân chủ trong công tác nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam.



Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Công tác nhân sự của Đảng được thực hiện chặt chẽ, bài bản, tuân thủ các quy trình, quy định nghiêm ngặt. Việc lựa chọn cán bộ không chỉ dựa trên phẩm chất, năng lực, mà còn thông qua nhiều vòng đánh giá, phản biện, và lấy ý kiến tập thể. Đây không phải là trò chơi quyền lực, mà là trách nhiệm với tương lai đất nước.

Những thông tin xuyên tạc như "phe này hạ bệ phe kia", "sắp có biến động lớn trong Bộ Chính trị"... chỉ là đòn tâm lý nhằm gây chia rẽ nội bộ, phá hoại niềm tin của nhân dân với Đảng. Chúng lợi dụng sự tò mò, tâm lý thích tin đồn của một bộ phận người dân để gieo rắc hoài nghi.

Cần khẳng định rõ: nếu công tác nhân sự không dân chủ, không minh bạch thì không thể tạo ra một đội ngũ lãnh đạo đủ tâm – tầm – tài như chúng ta đang có. Những thành tựu phát triển đất nước, những bước chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực là minh chứng cho hiệu quả của bộ máy lãnh đạo hiện tại.


Hãy tỉnh táo trước những thông tin chưa được kiểm chứng, những bài viết từ các nguồn có động cơ chính trị. Tin vào sự lựa chọn của Đảng – vì đó là kết quả của cả một quá trình sàng lọc, không phải kết quả của một trò chơi quyền lực nào hết.

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM – ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, VÌ HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC

 


Một trong những chủ đề mà các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc là chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chúng đưa ra các luận điệu như: "Việt Nam nghiêng hẳn về một phía", "phụ thuộc vào nước lớn", hoặc ngược lại, khi Việt Nam có động thái tăng cường hợp tác quốc tế thì lại bị vu là "mất lập trường". Tất cả đều là những luận điệu có chủ đích, nhằm phá hoại hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.


Thực tế, Việt Nam kiên định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, vì hòa bình và phát triển. Điều này thể hiện rõ trong việc chúng ta tham gia ngày càng sâu rộng vào các tổ chức quốc tế, giữ vai trò chủ động trong ASEAN, APEC, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và là thành viên tích cực trong các hiệp định thương mại tự do lớn như CPTPP, EVFTA...

Việt Nam không chọn phe – Việt Nam chọn lợi ích quốc gia, chọn hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong bối cảnh thế giới phức tạp, lựa chọn này thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và sự khôn ngoan của đối ngoại Việt Nam.


Những luận điệu cố tình quy chụp chính sách đối ngoại là nhằm mục đích chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác chiến lược, làm tổn hại vị thế đất nước và gieo rắc tâm lý hoài nghi trong dân chúng.

Chúng ta cần thấy rõ bản chất: Việt Nam không chạy theo ai, càng không đối đầu ai – mà đang khẳng định vai trò tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó là một chính sách đối ngoại bản lĩnh, mềm dẻo nhưng kiên định, phù hợp với lợi ích dân tộc và xu thế thời đại.