Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

 

CHIẾC XE ĐẠP THỒ VÀ NHỮNG KỶ LỤC “KHÔNG THỂ TIN NỔI” TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, vấn đề cung cấp, tiếp tế được coi là vấn đề khó khăn nhất. Trong điều kiện tiền tuyến cách xa hậu phương đến 400- 500km, thời tiết khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, đường xá hư hỏng, nhưng ta phải bảo đảm cung cấp một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, đồ dùng, thuốc men một cách nhanh chóng, liên tục, thời gian gấp rút. Đặc biệt, việc tiếp tế cần được giữ bí mật ở mức cao nhất nhằm tránh địch phát hiện và đánh phá.

Hàng vạn dân công đã được huy động để vận chuyển lương thực và đạn dược ra trận với phương tiện thô sơ. Một trong những phương tiện vận chuyển hiệu quả nhất thời điểm đó là chiếc xe đạp thồ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội và dân công của ta sử dụng hơn 21.000 chiếc xe đạp thồ, được gọi với tên là “binh chủng xe đạp thồ” hoạt động trên suốt chiều dài gần 1.500km. Lực lượng xe đạp thồ được biên chế thành từng đoàn theo địa phương, mỗi đoàn có nhiều trung đội, mỗi trung đội từ 30 đến 40 xe, chia thành các nhóm khoảng 5 xe để hỗ trợ nhau khi qua đèo, vượt dốc cao. Mỗi đoàn xe thồ có một xe chuyên chở phụ tùng thay thế, sửa chữa dọc đường.

 Một chiếc xe đạp thồ có sức chở trung bình từ 50 đến 100kg, tương đương sức mang vác của 5 người, tốc độ nhanh hơn và có thể vận chuyển được các vật tư cồng kềnh, chất lỏng (xăng, dầu), đi được trên nhiều loại đường, địa hình khác nhau mà ô tô không đi được. Ưu điểm của loại phương tiện này là không cần nhiên liệu, dễ sửa chữa, dễ ngụy trang, có thể đi lẻ hoặc thành đoàn trong mọi điều kiện thời tiết.

Để có thể thồ được khối lượng lớn, từ một chiếc xe đạp, dân công, bộ đội buộc thêm vào ghi-đông một đoạn tre nhỏ, dài khoảng một mét, gọi là “tay ngai” để điều khiển xe; buộc vào trục yên xe một đoạn tre, cao hơn yên khoảng 50cm để cầm, vừa giữ thăng bằng xe, vừa đẩy xe đi; tăng độ cứng của khung xe bằng cách hàn thêm sắt, buộc thêm gỗ; dùng vải, quần áo cũ, săm cũ… để “gia cố”, tăng độ bền của săm, lốp…

Thời gian đầu, mỗi xe thồ chỉ chở được 80 đến 100kg, sau trọng tải được tăng dần lên nhờ các sáng kiến cải tiến gá, buộc. Hai chiếc xe thồ “gá” lại có thể chở được 2 thương binh nặng (nằm) và 4 thương binh nhẹ (ngồi). Các xe đạp có đèn phát điện còn được sử dụng để tạo ánh sáng phục vụ các bác sĩ phẫu thuật trong đêm…

“Kỷ lục” vận chuyển bằng xe đạp thồ thuộc về chiến sĩ dân công Ma Văn Thắng (Đoàn Phú Thọ) có chuyến chở 352kg hàng.

Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên là một sự kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới.

 

 

 

ĐỪNG LÀM NHỮNG VIỆC TRÁI VỚI LƯƠNG TÂM MÌNH


Hằng năm, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2), Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5), Ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và Quốc khánh (2/9) thì diễn đàn mạng lại "sôi nổi" các bài viết, phát biểu nhằm xuyên tạc, bôi nhọ và "hạ bệ thần tượng" Hồ Chí Minh thông qua các sự kiện lịch sử được nhìn nhận một cách méo mó, cắt cúp có chủ ý. Đó chính là một trong những mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch.  

Cho nên, còn những ai đang băn khoăn, chưa hiểu đúng hay thậm chí cố tình không hiểu đúng về Chủ tịch Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc, phủ nhận, bịa đặt và bôi đen về Người có thể và rất cần phải biết những vấn đề trọng tâm này:

Một là, những thông tin về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đầy đủ trong các cuốn tiểu sử, các công trình nghiên cứu chuyên khảo, tham khảo (từ vài trăm trang cho đến gần trăm trang, vài trang; từ bản tóm tắt đến bản đầy đủ) được công bố rộng rãi bởi các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học về lịch sử, lịch sử Đảng, về Hồ Chí Minh, chính trị học… đầu ngành ở cả trong nước và quốc tế…. Vì thế, đừng nhân danh ai để bám chấp vào những thông tin sai, thông tin một chiều, không được kiểm chứng để lúc này, lúc khác, tháng này tháng khác, năm này năm khác "bổn cũ soạn lại" vạch vòi, bêu riếu, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hai là, Hồ Chí Minh - tên Người là cả một niềm thơ, là ánh sáng soi đường… Người là sự kết tinh những gì ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống, cốt cách và bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa văn hoá, lương tâm và khí phách con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam vốn là một dòng chảy liên tục; trong dòng chảy đó, nhân dân ta luôn khát khao một đất nước được hòa bình, độc lập, tự do, nhân dân được ấm no, hạnh phúc và những khát vọng lớn lao đó chỉ trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử.

Ba là, một lãnh tụ yêu nước và thương dân, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không thể và không khi nào có một chủ trương, một "chính sách phản dân, hại nước" và càng không có "tham vọng vĩ cuồng của lãnh tụ". Chỉ có một sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình để thực hiện khát vọng: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu" và “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”

Bốn là, dù tiếp cận ở chiều cạnh nào và bằng các nguồn tư liệu nào (ở đây cần tính chính xác, minh bạch của nguồn dẫn) thì các chính khách, giới nghiên cứu ở trong và ngoài nước, ở các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa, người Việt Nam ở trong nước hay kiều bào ta ở nước ngoài… cũng đều đánh giá và khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam - người đã nỗ lực hết sức mình phấn đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc và ấm no của nhân dân Việt Nam; là người chiến sĩ cộng sản quốc tế thủy chung, trong sáng, luôn đấu tranh cho hòa bình, tự do và công lý, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; người là mẫu mực của tấm gương người chiến sĩ cộng sản hết lòng vì nước, vì dân…

Năm là, thời gian có thể đổi thay, song tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta trên hành trình đi đến tương lai. Bởi rằng, “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”đã soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi và đó chính là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta, dân tộc ta.

g được gặp gỡ, nói chuyện, làm việc cùng Người…

Ngắn gọn thế để khẳng định rằng, mỗi một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đều gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với Đảng Cộng sản Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần Việt, ý chí và khát vọng Việt trào dâng, nỗ lực đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, mỗi người dân Việt Nam yêu nước đều thấu hiểu sâu sắc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ xuất thân từ nhân dân, đau cùng nỗi đau nước mất nhà tan với nhân dân, nung nấu một lòng yêu nước nồng nàn, một khát vọng giải phóng đồng bào khỏi những năm tháng bị đọa đầy đau khổ, nên với Người, không có gì là của riêng mà chỉ có hết lòng vì nước, vì dân.

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức cách mạng hành động và phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏa ra, hoà nhập với pháp luật và chính trị, kết hợp giữa đức trị và pháp trị, chính là “chính trị cách mạng trong đạo đức” và “soi sáng chính trị từ bên trong” chứ không giống như những gì các nhà dân chủ cuội xuyên tạc. Thời gian càng lùi xa, những nghiên cứu, đánh giá toàn diện, đầy đủ hơn về Chủ tịch Hồ Chí Minh càng trở nên có ý nghĩa và giá trị lớn lao. Nó cho thấy, khi suy luận thiếu căn cứ khoa học, phi sự thật, xuyên tạc, xúc phạm, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh là chính các người đã xúc phạm vào niềm tin yêu, sự kính trọng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế dành cho Người. Và cũng vì thế, hãy đừng làm những điều trái với lương tâm, đạo lý và sự thật!

 

Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

 Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo…để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp và các nền tảng công nghệ mạng để đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin.

Từ việc những vấn đề trong tác phẩm….để bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể rút ra một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay như sau:

Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng. Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động tấn công mạnh mẽ, đánh bại âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng ta phải tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH, tổng kết thực tiễn để tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm cung cấp vũ khí lý luận sắc bén chống lại các thế lực thù địch, nâng cao hiệu quả công tác cổ động, tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Ba là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Năm là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước..

Tích cực đấu tranh chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những di sản Người để lại không chỉ là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta mà còn luôn tiếp tục đồng hành, soi đường cho nhân dân Việt Nam vững bước trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội đã dùng danh nghĩa "phi chính phủ", “từ thiện” để lập một số quỹ hỗ trợ cho các tổ chức phản động chống phá, xuyên tạc về Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh, thường xuyên đăng tải các thông tin, bài viết, phỏng vấn để bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông qua các trang mạng xã hội, những kẻ tự xưng là yêu nước, dân chủ và cả những người “có tiếng nói phản biện" ở trong và ngoài nước đã không chỉ bịa đặt, bôi đen một số thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người nhằm hạ bệ thần tượng mà còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản; Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, đã bị xóa bỏ nên không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay…

Thâm độc hơn, là họ đã không từ một thủ đoạn nào để bôi xấu và tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, để khi thì đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thì lại cho rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng vì đó là một nhà hoạt động thực tiễn.

Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành với những nguyên lý của học thuyết cách mạng, khoa học và hiện đại này; không giáo điều mà chính là nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của nó để bổ sung, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

Hơn thế nữa, không phải tự nhiên Hồ Chí Minh lại nói chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột tàn bạo dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, có nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Bởi, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng trên báo L’Humanité, ngày 16 và 17/7/1920 và Người nhận thấy: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Bởi, chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong 3 nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin) và là thành tố quan trọng nhất. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn là hòn đá tảng, là cơ sở để Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế của thời đại.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua: "Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính chặt chẽ, liên tục, nhất quán, bao quát và toàn diện đúng như Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân” . Điều này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh"

Trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng tăng cường và đẩy mạnh hơn các chiến dịch, các thủ đoạn, các hình thức từ bên ngoài, câu kết và phối hợp với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở trong nước để chuyển tải, truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nói chung, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, việc chủ động phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần phải tỉnh táo, cảnh giác cao trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Có thái độ kiên quyết đấu tranh tích cực để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

 

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG, MẠNG XÃ HỘI


Thế lực thù địch tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông và Internet, phát triển thêm nhiều trang mạng xã hội và Blog, khai thác tối đa các dịch vụ tán phát trực tuyến trên mạng xã hội; chủ động chuẩn bị và liên kết lực lượng chặt chẽ, sẵn sàng tạo ra “điểm nóng”, chúng kết nối phát tán ào ạt, dày đặc các thông tin xấu độc trước, trong, sau các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm; triệt để khai thác thông tin “lề trái” từ những lực lượng đối lập, các tổ chức phản động quốc tế; xuyên tạc, bịa đặt, trộn lẫn thật giả, bình luận theo chiều tích cực, lôi kéo dư luận và nhân dân đòi truy cứu trách nhiệm đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội. Tại các điểm nóng chúng kêu gọi nhân dân đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự” đòi dân sinh là chủ yếu; khi cần thiết, chúng sẽ kêu gọi biểu tình trên mạng. Đối với Quân đội chúng sẽ bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín lãnh đạo, tiếp tục khoét sâu vấn đề đất quốc phòng, chức năng, nhiệm vụ lao động, sản xuất làm kinh tế và xử lý các vấn đề trên biển Đông có liên quan đến Trung Quốc để xuyên tạc, kích động làm suy giảm niềm tin của Đảng, Nhà nước, Nhân dân đối với Quân đội.

Các thế lực thù địch tìm mọi cách liên thông, kết nối với các nhóm cơ hội về chính trị, các tổ chức, nhóm phản động; tận dụng triệt để mạng Internet, các đài phát thanh, truyền hình quốc tế (BBC, RFA, RFI, VOA) phát tán các tin, bài viết, tài liệu có nội dung chống đối, xuyên tạc trong các tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh hoạt động của các Website xâm nhập các mã độc, mã gián điệp vào hệ thống máy tính của các cơ quan chiến lược để khai thác tư liệu, chống phá ta.

 

 

“Cái tôi” to hay bé?

Đã sinh ra, tồn tại trong cuộc đời, ai cũng có “cái tôi” của riêng mình. Cái tôi chính là bản ngã, bản chất, cá tính vốn có của mỗi con người. “Cái tôi” vừa để phân biệt, vừa để khẳng định “ta là ai” trong thế giới bao la này. Nói về “cái tôi” của cán bộ thời nay, cũng có dăm bảy hạng “cái tôi”. Có những cán bộ luôn thể hiện “cái tôi” của mình một cách sáng suốt, tiên phong trong việc khai phá những hướng đi mới, cách làm mới, tất cả vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội; đồng thời kiên quyết rũ bỏ tác phong quan liêu, lề lối làm việc “ghế sa lông, bàn giấy, phòng lạnh” để thúc đẩy mọi công việc diễn ra suôn sẻ, hanh thông. “Cái tôi” đó là “cái tôi” quyết đoán, mạnh mẽ, “cái tôi” vượt trước rất đáng khích lệ. Có những cán bộ bộc lộ “cái tôi” của mình một cách bình thản, nhã nhặn, không ồn ào, không hô hào hiệu triệu chung chung, không thích “trống giong, cờ mở”, mà luôn kiên trì, bền bỉ làm thay đổi tình hình bằng cách nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, làm đến đâu chắc chắn, hiệu quả đến đó. “Cái tôi” đó là “cái tôi” sâu sắc, “cái tôi” đáng nể. Có những cán bộ biểu hiện “cái tôi” tế nhị, khéo léo, ứng xử có trước có sau, kính trên nhường dưới, tôn trọng đồng cấp, đồng nghiệp, không tham quyền cố vị, không vun vén trục lợi cho cá nhân và gia đình, biết điều hòa các mối quan hệ lợi ích để trong cơ quan, đơn vị không ai bị thiệt thòi hay bị đứng ra “ngoài lề”. “Cái tôi” đó là “cái tôi” nhân văn, “cái tôi” đáng trọng. Tuy thế, nơi này, nơi khác, chỗ nọ, chỗ kia vẫn có những “cái tôi” của cán bộ lãnh đạo khiến cấp trên nghi ngại, cấp dưới phàn nàn, dư luận than phiền. Ví như, có vị bí thư cấp huyện từng nói rằng: “Ban chấp hành đảng bộ tỉnh cũng là tôi, hội đồng nhân dân huyện cũng là tôi, lãnh đạo huyện cũng là tôi, vậy tôi không có quyền quyết định vấn đề đó hay sao?”. Lại nữa, có cán bộ chủ chốt (vừa là người đứng đầu cơ quan hành chính, vừa đảm nhiệm vai trò bí thư cấp ủy) đề cao vị thế quyền lực của mình: “Dân chủ là cứ cho mọi người thoải mái nói ra, bàn cho hết nước hết cái đi, tranh luận xới xáo mọi vấn đề cho ra nhẽ đi, nhưng người quyết định cuối cùng và cao nhất phải là tôi!”. Chưa hết, có cán bộ ở cơ sở từng nói như cảnh báo: “Cứ cho mọi người thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi, nhưng tôi mới là chủ tài khoản số 1 ở đây!”... Những lời nói, phát ngôn trên xuất phát từ “cái tôi” chuyên quyền, độc đoán, tham quyền, vụ lợi, háo danh, nên đó là “cái tôi” nhỏ bé, tầm thường, không xứng với tâm thế, vị trí của người “cầm cân nảy mực”. Thời gian gần đây, cũng đã xuất hiện “cái tôi” của một số cán bộ mà người ta thường gọi là “cái tôi nổ”, “cái tôi hào nhoáng”, “cái tôi nửa vời”, “cái tôi tinh vi”... “Cái tôi nổ” là chỉ biết nói hay, nói giỏi, diễn thuyết tốt trước đám đông nhưng làm lại dở, hiệu quả thấp. “Cái tôi hào nhoáng” là cố tình tận dụng truyền thông, tranh thủ cơ hội trước tập thể để “đánh bóng cá nhân”, mà thực chất là vuốt ve, lấy lòng cả cấp trên, cấp dưới và đồng nghiệp, mà không chú ý vào công việc thực tế của mình. “Cái tôi nửa vời” nghĩa là khi chỉ đạo thì tỏ ra vẻ ráo riết, “đao to búa lớn”, nhưng lại thiếu sâu sát kiểm tra, giám sát cụ thể nên kết quả không như mong muốn chủ quan của cá nhân. “Cái tôi tinh vi” là chỉ biết nhăm nhăm kín đáo “mua chuộc” các mối quan hệ cốt để mang lại lợi ích cho riêng mình. Vì sao người ta lại dễ nhìn nhận ra “cái tôi” của cán bộ nhất? Bởi vì, đã là cán bộ dù ở cấp nào thì cũng là “hình ảnh đại diện” của một tập thể, một cộng đồng nhất định. Khi là “hình ảnh đại diện” nên “cái tôi” của cán bộ đương nhiên trở thành “tiêu điểm” để người dân, nhân viên, cấp dưới thuộc quyền của họ nhìn vào. “Cái tôi” của cán bộ tuy thuộc phạm trù cái riêng của cá nhân, nhưng cái riêng đó lại có quan hệ mật thiết với “cái ta”, “cái chung” nên có sự tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới mọi người xung quanh. Muốn để “cái tôi” của cán bộ không trở nên nhỏ mọn, cỏn con, nông cạn, hời hợt đến mức bị xem thường, thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao lòng tự trọng, liêm sỉ, nêu gương, tiếp thu điều hay lẽ phải, trân trọng những chuẩn mực chung của tập thể, tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự biết làm giàu và nhân lên những giá trị nhân văn, tích cực trong phẩm chất cá nhân để qua đó, dần dần đẩy lùi, hạn chế những yếu tố tiêu cực còn ẩn chứa, lẩn khuất trong “cái tôi” tầm thường của mình./.

 

NHẬN DIỆN ÂM ƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Thời gian gần đây trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến các địa phương, đã nỗ lực triển khai nhiều biện pháp tổ thực hiện bầu cử đúng kế hoạch, bảo đảm đúng qui định, đúng luật. Trong lúc toàn Đảng toàn dân, toàn quân đồng sức chung lòng, tập trung nhân lực, vật lực để thực hiện tốt nội dung bầu cử đẻ lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài để phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân. Thì các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị  ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, đẩy mạnh các hoạt động chống phá bầu cử.

Các thể lực thù địch lơi dụng các trang mạng xã hội để đưa những thông tin xấu độc, tuyên truyến xuyên tác, bôi nhọ, hạ uy tín nhân sự bầu cử chia rẽ tình đoàn kết quân dân, chúng tuyên truyền chống phá Đảng nhà nước bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm. Một số đối tượng phản động lưu vong và phần tử xấy trong nước lợi dụng sự thiếu thông tịn của một số quần chúng nhân dân để kích động không đi bầu cử, thực hiện quyền dân chủ.

Mục đích của chúng nhằm hướng lái dư luận hiểu sai lệnh về bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, chúng cho rằng cuộc bầu cử của chúng ta thiếu dân chủ và hình thức.

Những luận điệu trên là một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đó là những thủ đoạn chống phá trước, trong thời điểm diễn ra bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp.

Từ những luận điệu trên của các thế lực thù địch là cán bộ, đảng viên đang học tập công tác trong lực lượng vũ trang cần phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận diện rõ âm ưu thủ đoạn chống phá của kẻ thù và các thế lực thù địch, đây là một nội dung diễn biến hòa bình, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Đòi hỏi trách nhiệm của tất cả mọi cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng luôn kiên định vững vàng tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào chế độ. Nhận diện đúng âm ưu thâm độc của kẻ thù và các thế lực thù địch. Luôn khắc phục mọi khó khăn để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao.  

Thường xuyên tuyên truyền và vận động nhân dân hiểu rõ bản chất âm ưu thâm độc của kẻ thù và thủ đoạn chống phá bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp của chúng, để quần chúng, nhân dân có ý thức phóng chống và đấu tranh phản bác với các luận điệu sai trái của chúng, có lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành thống nhất của Nhà nước, chính quyền các cấp./.

Điều thao túng đáng sợ

Ở cơ quan, đơn vị nào cũng vậy, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu làm tốt công tác cán bộ thì sẽ phát huy được phẩm chất, năng lực của cán bộ, góp phần quyết định hoàn thành mọi nhiệm vụ. Ngược lại, nếu làm không tốt công tác cán bộ sẽ kìm hãm, gây nên những hậu quả khôn lường. Những năm qua, nhìn rộng toàn cảnh của đất nước, công tác cán bộ của chúng ta có nhiều đổi mới, từ công tác quy hoạch, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cán bộ, nhận xét, đánh giá cán bộ... nên đã xây dựng được đội ngũ cán bộ từ cấp chiến lược đến cấp cơ sở có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là kết quả không thể phủ nhận. Tuy nhiên, soát xét kỹ, đáng buồn là, cũng trong những năm gần đây, không ít những cán bộ vừa được bầu vào các cơ quan lãnh đạo... thì đã bị phát hiện ra nhiều sai phạm phải xử lý. Công tác cán bộ rõ ràng là một khâu yếu ở một số cơ quan, đơn vị. Nguyên nhân thì có nhiều, song trong đó có nguyên nhân là người làm công tác cán bộ (cơ quan tổ chức cán bộ) tham mưu cho cấp ủy chưa đúng, chưa trúng, chưa vì việc mà bố trí cán bộ. Có nơi người làm công tác cán bộ còn “uy quyền” hơn cả người chủ trì cơ quan, đơn vị. Tôi có anh bạn làm bí thư đảng ủy ở một cơ quan. Tâm sự với tôi, anh kể khá nhiều chuyện khó xử trong công tác cán bộ, như “có lần vừa họp thường vụ xong, bên “vỉa hè” cơ quan đã râm ran ai sắp được bổ nhiệm, ai sắp được điều động đi đâu...”; “có những lúc anh em trong cơ quan gọi điện đến muốn thăm nhà, tôi đoán được ý định của họ, nên có lúc phải trốn, thậm chí nói dối đi vắng, không có nhà. Thực chất tình cảm chân tình đến với nhau thì ai cũng quý, nhưng có người đến gặp gỡ nhằm mục đích cá nhân thì tôi rất ngại phải tiếp”; “việc liên quan đến tập thể, đâu phải cá nhân mình mà giúp được họ lên vị trí nọ vị trí kia... Làm lãnh đạo khó thế đấy ông ạ!”;... Rồi mới đây gặp tôi anh lại kể: “Có lần, đồng chí phụ trách công tác tổ chức - cán bộ lên trình mình dự kiến công tác cán bộ trong quý trước khi họp thường vụ đảng ủy. Anh ta đề xuất thường vụ xem xét bổ nhiệm đồng chí A giữ chức trưởng phòng nghiệp vụ. Thấy vậy, mình liền hỏi: Trường hợp đồng chí A, thường vụ đã xem xét và có ý kiến kết luận không đủ tiêu chí từ năm trước. Giờ đề nghị bổ nhiệm thì tôi giải trình với thường vụ ra sao? Đồng chí phụ trách công tác cán bộ liền đưa ra ý kiến: Đồng chí A hết tuổi quy hoạch nhưng ở cơ quan lâu năm, có nhiều kinh nghiệm; còn về năng lực chuyên môn tuy yếu một chút nhưng được cái nhiệt tình nên cứ tạo điều kiện để “động viên” đồng chí ấy... Nghe vậy, mình thẳng thắn nói: Ông tham mưu về công tác cán bộ thế này thì không ổn, trước đây đã có lần ông nói với tôi là anh A tuổi cao, năng lực yếu, chưa qua cơ sở... nên vận động anh ấy nghỉ hưu trước tuổi để tạo điều kiện cho lớp trẻ phát triển. Giờ thì ông lại tham mưu đề nghị bổ nhiệm thì thường vụ đánh giá tôi như thế nào?...”. Chuyện của anh bạn tôi kể khiến tôi suy ngẫm nhiều về người làm công tác cán bộ. Tôi quý anh bạn tôi là người có quan điểm, chính kiến rõ ràng, trên cơ sở nguyên tắc. Nhưng tôi cũng thấy có nơi, người đứng đầu cấp ủy và kể cả các thành viên cấp ủy có thể do quá tin cơ quan tổ chức cán bộ hoặc người làm công tác cán bộ nên họ trình duyệt, thông qua gì là dễ dàng “nhất trí”. Khi không thích một ai đó, muốn cho nghỉ hoặc điều động đi nơi này nơi nọ hay thân cận, yêu mến muốn đề bạt, bổ nhiệm ai lên chức nọ chức kia thì họ đều “lý sự” được. Sự thao túng đó rất nguy hại, làm lấn át, vô hiệu hóa cả một tập thể. Hậu quả, có những cán bộ vừa được bổ nhiệm đã bị khởi tố hoặc bị cách chức... đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự phát triển của cơ quan, đơn vị. Bác Hồ dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, nên công tác cán bộ phải được tập thể cấp ủy đảng luôn lãnh đạo chặt chẽ, muốn vậy cơ quan tổ chức cán bộ cũng như người làm công tác cán bộ phải công tâm, khách quan. Có như vậy mới thực hiện tốt được chức năng tham mưu cho cấp ủy về công tác này. Thực tiễn cũng khẳng định, chỉ khi nào công tác cán bộ được đặt đúng vị trí là công tác của tập thể cấp ủy đảng thì mới bảo đảm được đúng nghĩa nguyên tắc tập trung dân chủ./.

Đối thoại, nhưng đối diện với… chính mình!

Đối thoại, phản biện, tranh luận một cách dân chủ, công khai, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, xưa nay vẫn là con đường ngắn nhất, văn minh và tiến bộ nhất, nhưng vô cùng khó khăn, thậm chí tranh đấu sinh tử để phát hiện sự thật, chân lý và tiếp cận, bảo vệ sự thật và chân lý. Song hành với đối thoại là con người luôn đối diện với… chính mình, tự vấn để hoàn thiện mình, phát triển tư tưởng của mình! Đó là một phần tất yếu cốt tử làm nên bản chất và sinh khí tự nhiên của một tư tưởng, một chủ thuyết phát triển, rộng ra là của tính quy luật và quy luật của cuộc sống xã hội loài người; và, đến lượt mình của chính mỗi người! Sự thật, dù bị chôn sâu dưới đất, nói như người Hy Lạp cổ đại, cũng làm cho cỏ cây phải biết nói, huống hồ chân lý, huống chi Con Người! Bởi, đối thoại là khởi nguồn tự nhiên của chính cuộc sống! Đó là tấm gương phản chiếu sức sống xã hội, thước đo của nền dân chủ, của nhân cách, trí tuệ và bản lĩnh Người! Và, tới lượt nó, đối diện với… chính mình lại là nền móng của đối thoại bình đẳng, tôn trọng nhau, cùng tìm đến sự thật, phát hiện và hành động theo chân lý. Đối diện với chính mình để làm nên tư chất, nhất là tư thế đối thoại. Cả hai cùng tỏa sáng! Lịch sử phát triển của nhân loại từ xưa nay đều xác tín rằng, người ta có thể hy sinh vì chân lý chứ không chấp nhận sự thật bị thói giả dối phỉ báng và khắc chế, chân lý bị cường quyền hạ nhục và chà đạp! Và, danh dự trước sự thật và chân lý thông qua đối thoại, tranh luận là vô giá, thiêng liêng và cần được tôn trọng vô điều kiện! Đó là cái căn bản làm nên vị thế và sức mạnh dẫn dắt của tư tưởng, vai trò mở đường của tư tưởng, của lý luận. Làm trái đi là bôi nhọ sự thật, hạ nhục chân lý và rốt cuộc tư tưởng, lý luận tự hạ nhục chính mình! Và, như thế, nhất định mọi tư tưởng, mọi lý luận bị xâm phạm và xã hội không thể tránh khỏi bạc nhược, lạc đường và thất bại! Tới lượt mình, mỗi cá nhân tất tự bại vong trong đối thoại, nếu thiếu đối diện… với chính mình! Vì nó không chỉ đòi hỏi từ nhu cầu mỗi người mà rộng ra là đối với mọi thể chế. Làm trái đi, thì vô luận, bất cứ một tư tưởng nào, một lý luận của nền chính trị nào cũng nhất định tự chuốc lấy sự bạc nhược, thậm chí què quặt, bại vong; và tới mỗi cá nhân, cũng tự đánh mất mình. Tất cả được báo trước, một cách cũng tự nhiên! Không có đối thoại, tranh luận sẽ không hình thành gương mặt tư tưởng và tư tưởng tỏa sáng, dù là mỗi cá nhân. Và, khi dân tộc không có tư tưởng riêng thì không thể có được một sự phát triển nào xứng đáng cả. Những tư tưởng gia, lý luận gia làm nên nền tư tưởng, lý luận! Đối thoại là động lực căn bản phát triển tư tưởng, lý luận và sự trưởng thành của mỗi dân tộc chân chính; thước đo gương mặt tư tưởng của mỗi nhân cách tư tưởng khả sỉ. Tự đối diện với… chính mình để chuẩn bị, để tu chính mình, nhằm đối thoại và khẳng định mình, phát triển tư tưởng cá nhân, xã hội và phát triển cuộc sống. Ông cha ta trải đã bao đời, vì thế, cố gắng nâng niu và bảo vệ vô điều kiện sự thật, thậm chí hy sinh tới giọt máu cuối cùng vì lẽ phải và chân lý. Bao nhiêu gương mặt tư tưởng tiền nhân và hôm nay đối thoại và luôn đối diện với… chính mình đã góp phần làm nên gương mặt tư tưởng quốc gia, kiến tạo và phát triển vị thế và sức mạnh Việt Nam ta độc lập, đang làm nền móng cho nền tư tưởng nước nhà phát triển một cách dân chủ, pháp quyền, tự do và bền vững. Vì, đó là con đường chân chính để các tư tưởng gia, lý luận gia xuất hiện và dân tộc tự mình làm giàu thêm lương tri, trí tuệ và nhân văn trong đại cuộc bảo vệ mình, đất nước trở nên hùng mạnh, bất khuất và góp phần phát triển tư tưởng loài người một cách đa dạng nhưng thống nhất. Đó chính là lối đi để mỗi người tự khẳng định tư tưởng, cốt cách và bản lĩnh cá nhân mình, lương tâm và hành động của mình, sẵn sàng đối thoại, vì đồng bào, vì Tổ quốc và nhân quần! Cổ nhân nói: Khởi thủy là hành động. Hành động lúc này, là lắng nghe, cần trải lòng mình để lắng nghe và thấu hiểu, biết tự mình đối diện với… chính mình, để cầu thị đối thoại! Vì, không gì tệ hại bằng bệnh giả điếc không muốn nghe. Cả năm, thậm chí nửa nhiệm kỳ, có vị đại biểu dân cử lánh, thậm chí trốn không gặp dân. Điều đó còn xấu xa hơn tệ vô cảm, lãnh cảm, ghê sợ hơn cả thói vô lương tâm. Vì sao có lắm người thờ ơ, ngoảnh mặt trước tiếng oán thán của đồng bào lúc đau khổ, không ít kẻ cam tâm nghểnh ngảng trước tiếng gọi thao thiết của vận mệnh núi sông khi lâm nguy, lắm kẻ lại bịt tai cố tình không thấy lời khẩn cứu ở vào bước ngoặt sống chết của muôn dặm sơn hà xã tắc… trong khi họ chỉ nhăm nhăm cố giữ quyền lực và vơ vét kim tiền? Họ có bao giờ đối diện với… chính mình và tự vấn mình không? Nếu có, sao chửa thấy họ xấu hổ, khi lên mặt rao giảng về đạo lý trên đời? Họ tự mình bịt mắt bịt tai, giả đò mù điếc. Người xưa nói, nếu không biết xấu hổ thì không thể thành Người được. Họ có thể dối được một người, thậm thụt với trăm người, chứ không thể dối được và dám đối thoại với muôn dân! Thế thì liêm sỉ để đâu, lại còn dám lên mặt dạy dỗ đồng bào, muối mặt thao thao tán hão về vận nước, lòng dân được nữa! Thân phận, tính cách như thế liệu ai gần và gần được những ai mà đối thoại? Hành động lúc này, tự mình là rèn rũa, thái độ khiêm cung, giữ vững và tỏa rộng cái khí chất của mình, trước hết là chính khí, cốt khí, linh khí trước và trong đối thoại để kiếm tìm sự thật, kỳ vọng chân lý! Chính khí ấy là sự cương trực khi đối thoại. Lịch sử xác tín rằng, các bậc tiên hiền do tính tình cương trực, chính nghĩa, nhân nghĩa và đạo đức, khi chúng hợp lại, có thể lấp đầy khắp trời và đất, khiến cho ma quỷ phải nể sợ mà tránh xa. Cổ nhân nói: Hạo nhiên chính khí thiên địa vĩnh tồn, là như thế! Huống chi ở đây là đối thoại! Bao người dối trên lừa dưới, bao kẻ nay phải mai trái, gió chiều nào che chiều ấy, cốt giữ thân mình lại dám khua môi múa mép cả gan luận bàn về nghĩa sĩ, trung thần. Họ có đối diện với… chính mình và tự vấn mình không? Nếu có thì vì sao mà bao người cong queo, dối trá, hèn nhát lại dám vênh mặt tự cho mình là ngay ngắn, trung trực, tận tâm vì dân, xả thân vì nước(!)? Vì sao lắm kẻ lẻo mép cao giọng về những chuyện “trung ngôn”, trung trực, nhưng lại dấm dúi dập vùi bao lời nói thật nhưng “nghịch nhĩ” họ? Họ im lặng đã đành, nhưng thử hỏi, họ giữ cương quyền ấy mà như thế thì người tốt còn trông cậy họ vào đâu được nữa!? Thân danh méo mó, tính cách lươn lẹo, công nghiệp tẻo teo như thế, nếu có còn tí nào liêm sỉ, mà dám ngẩng mặt, thế thì đối thoại vào đâu được nữa! Cốt khí ấy là sự bất khuất trong đối thoại. Rằng, “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, tức giàu sang mà không hoang dâm, nghèo hèn mà không đổi chí khí, gặp quyền thế không chịu khuất phục. Có được như thế thì không gì có thể cản được; người không có cốt khí thì khó được an nhiên. Bao tấm gương các bậc sứ thần tiên liệt nước nhà còn đó, dù tan xương nát thịt không sợ, chỉ mong quốc thể quyết không bị làm nhục, trước bất kỳ ai, chẳng đã làm cho lắm kẻ khiếp nhược, trời đất nhân gian còn cảm động đến tận bây giờ đó sao. Huống chi ở đây là đối thoại. Họ có biết không và đối diện với… chính mình không? Vì thế mà bao người hèn hạ rắp mưu “ngậm máu phun người”, “đâm bị thóc, chọc bị gạo” mà không biết nhục trước nhẽ thường “Quân tử tuyệt giao ố ngôn bất xuất” (Người quân tử không bao giờ gặp nữa thì đừng nói lời đáng cười); bao kẻ “miệng nam mô” lại lăm le đi nẻo tăm tối chiếm những chốn “Niết bàn” vì ngập mắt vì xôi oản, thủ sẵn “một bồ dao găm” mà toan chà đạp lên cả giáo lý thiêng liêng, thậm chí cả những bậc đức cao vọng trọng(!). Chữ Lễ, trong họ, phỏng đã chết rồi, nói gì chữ Dũng! Người ta có thể bôi nhọ thân xác chứ không bôi nhọ được tư tưởng! Đối thoại đã bị bóp chết trong tay họ. Hình hài xộc xệch, cốt cách chẳng định, hành xử lại vô nhân vô pháp thế, thử hỏi ai trong số ấy còn hồn còn vía để cả gan dám đối thoại với ai đây?! Linh khí ấy là sự thông hiểu khi đối thoại. Tự rèn cho mình cái đức có thể thấy điều người khác chửa thấy, có thể nghĩ được điều người khác chửa kịp nghĩ, biết được điều mà người khác còn chửa biết. Đối với việc, thì thấu lý đạt tình, đối với người thì đối đãi trân trọng, ý hợp tâm đầu. Nếu được như thế thì ngõ hầu bất kể cuộc đối thoại nào, dù là với ai, đều làm chủ, thì tất chẳng không lạ! Thế sao bao kẻ thân mang tiếng chữ nghĩa, nhưng kỳ thực chỉ giỏi “đạo văn” lừa đời, đường đi thì chỉ toàn những “cửa sau” lén lút, lại dương dương tự đắc cho mình là giỏi giang “là một, là riêng”(!), bản lĩnh trường văn trận bút “là thứ nhất”(!), rồi xem gầm trời “mục hạ vô nhân” nhưng nguyên vẹn là những tay “đạo văn”, “đạo vị” (ăn trộm chức vụ)(!)? Vì thế, mà bao người trộm cắp được cái “ghế” làm phách với thiên hạ nhưng tính khí thất thường, “yêu nên bụt, ghét ra ma”, đại ngôn huênh hoang hợm hĩnh “một tấc tới giời” để che giấu cái sở học từ chương, sơ thiển, cộng thêm cái bản tính “bán giời không văn tự”, cái thói ỷ thế “con ông cháu cha” nên việc kia cắt đặt thì đụng đâu tan đấy, hành xử thì khiếm lễ, vô luân khiến người tốt tới mấy cũng lắc đầu, hiền sĩ ngậm miệng rũ áo bỏ đi, không thèm ngoái cổ. Sao họ cố mà chửa thấy cái điều, rằng “nhân nào quả nấy”; rằng “oan có đầu nợ có chủ”, rằng “gieo gió tất gặt bão”? Họ có tự vấn mình không? Đức vốn mỏng, lại vô liêm vô sỉ như thế, tai họa phát tác từ ngôi cao trộm được, nếu giữ được toàn mạng là may, thì liệu có còn có gan mà đòi phách lối, đối thoại với người?! Hành động lúc này là mài sắc dũng khí, cao hơn là giữ lấy hào khí đối thoại. Có thể sẵn sàng với mọi việc, cởi mở, tôn trọng với mọi người cần đối thoại, cầm lên được thì bỏ xuống được, không câu nệ tiểu tiết, càng không thể nhụt chí trên đường tiến về phía sự thật, chân lý, dù thế nào cũng không thể suy xuyển khí chất hào sảng của mình. Đối thoại gì hay đối thoại với ai cũng chân thành và khiêm cung! Thế mà bao kẻ trước gian nguy thì “miệng hùm gan sứa”, “ngậm miệng ăn tiền”, trước sự xấu xa thì “bưng tai bịt mắt”, “sống chết mặc bay”, trước người hiền thì giở giọng tỵ hiềm, “vu oan giá họa”, “đan giậm giật giàm”, xúc xiểm sau lưng,… Họ có tự mình đối diện… với chính mình không? Lúc đương giữ chức quyền thì thủ thế “mũ ni che tai”, giữ miếng “im lặng là vàng”, lén lút “sân trước sân sau”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ…” nhưng khi quốc gia gặp biến, lại đóng chặt cửa, núp trong nhà mình mà tụng ca ẩn sĩ tề gia:“Anh hùng khứ quốc bất thuyết kỳ danh” (Anh hùng đi khỏi nước không bàn chuyện công danh), đau đáu trông nom gia sản, nơm nớp ôm mớ kim tiền cuỗm từ quốc khố, ra vẻ làm người ngay ngắn mà không biết cái quả báo nhãn tiền gõ cửa. Chỉ đáng những “anh hùng rơm”, những “mảnh gương tày liếp”… thì ai dám tin, ai dám soi vào được nữa! Hình như sên ốc, lòng như nọc rắn, tham lam vô sỉ tới mức vô đạo vô thiên như thế, nếu sự xấu hổ có thể làm chết con người, thì thử hỏi họ còn đâu thân xác để mà mở miệng đối thoại trên đời được nữa?! Tất cả điều đó mới chỉ là nhẽ cần, quyết chưa là điều đủ. Vì, khi đối thoại, chỉ đối diện với người khác, với vạn sự, ấy mới chỉ là một nửa, dù thành kính lắng nghe, tôn trọng nhau, dù nỗ lực biết bao nhiêu, trong đối thoại hay hóa giải, dù hào khí, chính khí hay linh khí kia, đều đã có thừa. Nhưng, sao chưa toại? Khởi thủy là hành động! Phải chăng, hành động lúc này, cái quyết định đối thoại thành công cũng là cái khó nhất nhưng thường khi bị xem khinh là, đối diện với… chính mình!? Vả chăng, xưa nay, thành bại của cổ nhân và không ít người bây giờ, lại nằm ở chính chỗ yếu chí tử này. Đúng. Đức Phật nói: Chiến thắng vĩ đại nhất của con người là chiến thắng chính mình. Thân kia chưa tu sao lăm le đòi khiển nhân, trị quốc? Kiêu ngạo hay tự ti thì đã tự mình chuốc lấy thất bại một nửa rồi! Núi cao thường giấu ngọn, bông lúa chín thường cúi đầu, hồ sâu thường lặng sóng, hành động là tiếng nói mạnh hơn tất cả. Đó là tuyệt đỉnh của đối thoại, của tự mình đối diện… với chính mình! Chỉ có tự mình biết làm muối mới mong ướp mặn được người khác! Vì thế, trước mỗi người, mỗi việc, thì thường trực phải nghiêm cẩn tự xét mình, nghiêm cách đối diện… với chính mình, tự mình sang sửa muôn điều, nhưng thiển nghĩ cốt giữ lấy năm nhẽ sơ giản: Một- Những gì đi từ trái tim mình tự chúng sẽ đi con đường ngắn nhất tới những trái tim người; Hai- Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Ba - Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết; Bốn - Khiêm cung, tự trọng, bể dù sâu, núi dù cao mấy, cũng qua; Năm - Biết mình biết người mọi sự tất thành! Thiển nghĩ, được như thế, thì sao dung mạo chẳng từ trên xuống dưới, thần thái kể từ trong ra ngoài đều toát ra cái khí chất của người hòa thuận, hòa ái, hảo tâm nhưng chứa đầy khí phách, dám làm dám chịu, cương nhu hợp các, tự tôn mà không kiêu ngạo, không thể bị trộn lẫn, lại thật sự hào sảng, hành vi thì khiêm cung, ung dung tự tại mà không phải yếm thế, thúc thủ, thì người đối diện làm sao mà không kính nể, trân trọng cho được. Ấy chính là đại khí vậy! Đối diện nghiêm cách với… chính mình không chỉ tạo nên vị thế của mình, để đối thoại thành công, mà hóa giải vạn sự khó khăn sẽ nhẹ hơn cả “nửa lông hồng”, thậm chí bất thuyết tự nhiên thành! Trái thế, tất bại!

0,8 và… 800,0?

Đó là những con số tự nhiên bình thường! Nhưng, không ít người bảo, đó chính lại là những con số phi phỏng, vô tri mà lại gợi buồn, thậm chí rất đau lòng! Vì, chúng biết nói ra những “vùng tăm tối” của sự thật thường được người ta che đậy bằng đủ thứ “nhân danh…”! Và, thậm chí chúng đột phá vào cả chốn tung thâm những mánh mung “nẻo khuất hoang dã” của cái gọi là những “hộp đen lương tâm”, “hố sâu phẩm giá” của những người một tay cầm cân và tay kia nhón bạc nhưng lại cao giọng răn dạy làm người trong sạch hay rao giảng sự liêm sỉ thiêng liêng cao quý ở đời! Và vì, chúng khiến nhân tài ngoảnh mặt, bộ máy rã rời và muôn dân nổi giận! Và, điều nguy hiểm chết người nhất, chúng khiến cho đội ngũ của chúng ta, ở không ít chốn, “đông” nhưng... “không mạnh”, dù “chưa ra trận đã… tự tan” rồi! Và, cũng vì, nguy hiểm hơn hết, chúng chính là những nắm lá ngón làm băng hoại không ít người “mũ cao áo dài” (dù không đáng tiếc) đã đành mà chúng còn như những “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ” một cách thảm hại công tác cán bộ, ở không ít nơi, của chúng ta! Vậy, những con số 0,8 và 800,0, chúng là những gì thế? 0,8 - Ấy là hệ số phụ cấp lãnh đạo, quản lý của cấp vụ phó! Xin thưa đấy là thuế do Dân đóng góp để mỗi người vụ phó lĩnh và làm “công bộc” của Dân hằng tháng đấy! Quy ra gạo, thời giá hôm nay, là hơn một tạ Khang dân. Vị chi, hằng năm là bao nhiêu ký gạo, nuôi được bao người? Nếu “nhung y xứng kỳ đức” mà bổ nhiệm thì quả là xứng đáng! Dân ta chả tiếc! Đằng này, người ta lại ký bừa phứa, ký đại, ký một cách… không xót xa, hổ thẹn giấy mực! Chỉ một năm trước khi “hạ cánh” nghỉ hưu, mà vẫn thừa sức ký 60 tờ Quyết định A4 cho 60 vị cấp vụ phó và tương đương trở lên. Dư luận xôn xao! Thì, ông ấy giãy lên đành đạch như đỉa phải vôi, thậm chí tru tréo về những cái gọi là: “trung chính lương tâm”, xảo ngôn về “dĩ công vi thượng”, thậm chí cả méo hộc về cái thứ “nhân tâm vi bản”, “vị quốc vong thân”(!). Chết nỗi, “giọt mưa trước rỏ đâu, giọt mưa sau rỏ đấy”! Người kế nhiệm ông còn phóng tay áo xô đốt nhà táng giấy, hơn cả bậc “tiền nhân”! Nhìn vào trong Nam, trông ra ngoài Bắc, quay sang các bộ, ngoảnh lại tỉnh, thành, dường như ở không ít chốn cứ như dịch hạch: Bệnh “ký đại” lúc “hoàng hôn nhiệm kỳ”, bằng những “chuyến tàu vét” như những “đám cưới chạy tang”! Thảo nào, trong bộ máy, lắm nơi, nhan nhản những ông “phó cạo”, xúng xính, dập dìu bao bà “phó cối”! Nát cả công đường! Những “con ông Hai”, “cháu chị Tư”, thậm chí “vắt mũi chưa sạch”, “con chị chửa đi, con dì đã kế”, “ghế cao ngồi tót sỗ sàng” rủng rỉnh như bơi trong thùng thình tấm áo “quan trường”! Lại “Ăn thì ăn những miếng ngon. Việc thì những việc cỏn con họ làm”. Bao nhiệm sở không “rối như canh hẹ” thì cũng chẳng khác nào như “nhà có đám”! Vì sao lại thế? Xin thưa, ai ai cũng bảo, vì chữ ký đẻ… ra tiền, ra gạo đấy! “Tốt lễ thì dễ thưa”! Thậm chí người ta râm ran, mỗi cái “0,8” là 800,0 hệ số sính lễ! Nghe thôi mà đã thấy ô nhục! Rồi, “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, “con anh, cháu tôi”, “đồ đệ thủ túc”… thế là thần tốc… ký đại! Chốn quan trường mà thậm chí còn thua xa…“sân sau”, tíu tít đông hơn vườn trẻ mà “nặng bồng nhẹ tếch”! Nghe thôi, đã thấy ê chề những bề hê bóng tuồng! Đến đây, ngặt vì tiếc giấy, lại tiếc thì giờ, xấu hổ ngòi bút, nên chẳng muốn biên! Vì biên, thì danh sách loại này còn đông hơn… kiến cỏ! Thiển nghĩ, chỉnh đốn tổng thể, lấy mốc nhiệm kỳ, chiểu theo tiêu chuẩn, không trừ một ai… Kiên quyết tước lại! Truy nguyên người ký, đối chiếu quy trình, trưng cầu dân ý, đang làm hay nghỉ… Kiên quyết bãi trừ! Lại thiển nghĩ, cân đo chuẩn tắc, tính đủ cộng dồn, truy thu phụ cấp, không sót một chinh… Trả về quốc khố! Ai làm nấy chịu, chỉnh đốn liên can, nặng nhẹ phân minh, quyết không ngoại lệ… Tẩy trừ tức khắc! Đảng cương công minh, Quốc pháp công bình, kiên trì kiên quyết, khắp trong thiên hạ! Hỏi rằng được thế, vui nào vui hơn?

Biết đủ, biết dừng

Lần giở cổ thư, sách cách nay chừng hơn 2.400 năm, tôi đọc: “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu”. Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được. Tới đây, tôi lại nhớ tới lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại buổi gặp gỡ và nói chuyện với 392 đảng viên trẻ của cả nước, ngày 27-8-2019 mới qua. Đại ý rằng, có những người không thiếu thốn gì đâu, nhưng tại sao lại tham thế? Chưa làm cái gì đã nghĩ đến “chấm mút”. Nói nhỏ là chấm mút, còn nói to là vi phạm pháp luật, bất chấp cả pháp luật, không còn xứng đáng là đảng viên, làm dân khinh, dân coi thường. Vừa qua, có những người đã là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương rồi mà vẫn bị kỷ luật, đi tù. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói tiếp: Không phải vào Trung ương để cho oai, để kiếm chác cái gì, mà vào Trung ương là để hy sinh, để cống hiến, phấn đấu, để trưởng thành hơn nữa. Xét cho cùng ra, thì đấy chính là tri túc, tri chỉ đấy! Vận chiếu thời nay, thì ra, dù đã cách hơn 2.400 năm có lẻ, mà điều cổ nhân chiêm nghiệm, chửa thấy mấy khi sai bao giờ! Cái bất biến vẫn phàm là như thế! Một đời sống tri túc đúng nghĩa là một đời sống an lạc, thanh cao vì không còn bị khổ đau do sự chi phối của dục vọng. Muốn thoát khỏi khổ đau, thì điều kiện tiên quyết là phải vượt thoát khỏi mọi dục vọng. Người biết sống tri túc, tuy nằm trên đất cũng an lạc, người không biết sống tri túc, tuy ở trên các cõi trời nhưng lòng cũng không an nhiên, tự tại. Thế nên, thói đời, thói người bất tri túc, bất tri chỉ vẫn sờ sờ hiện hữu! Người không tri túc thì luôn luôn chạy theo dục vọng, tìm đủ cách để làm thỏa mãn nó. Mà dục vọng thì không bờ, không bến. Hai trăm nghìn hay ba triệu đô-la Mỹ vốn không phải của mình mà đấy là mồ hôi, nước mắt của nhân dân, khi mấy vị từ Ủy viên Trung ương tới Chủ tịch, Tổng Giám đốc thủ mưu vụ AVG đã cả gan xuống tay chiếm đoạt! Thế nhưng, dù chiếm được nó một cách khuất tất, đầy ám muội rồi, liệu họ có cảm thấy rằng, hẵng còn thiếu, cần phải tìm mọi cách để chiếm đoạt thêm? Ai dám chắc là không? Các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục trả lời! Nếu không, thì sao mười mấy người ấy đã phơi mặt (và nhiều người đang lẩn khuất, chờ khắc “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”), cố cam tâm tự treo gươm vào cổ mình đã đành, lại rắp mưu ám tâm phù phép, nâng khống hơn 7.000 tỉ đồng, mưu đồ ăn cắp từ ngân khố quốc gia - nơi muôn dân nuôi bằng thuế. Người biết dừng thì tự biết quyền của mình bị giới hạn bởi quyền của người khác, quyền của công dân bị giới hạn bởi quyền của quốc gia. Sao không ít người lại cố tình chà đạp lên điều ấy, và tự chà đạp chính mình. Tùy tiện sửa chữa quy hoạch tổng thể đã được cấp trên phê chuẩn, rồi cố tình làm bừa, khiến người dân Thủ Thiêm bất bình suốt hai mươi năm qua. Dục vọng mù quáng đã dẫn dắt con người vào chốn quáng mù rồi! Và, điều chắc chắn rằng, nhiều người bị giam trong tù ngục, khi ngộ ra, thì thân tù tội lại thêm lần nữa đã tự mình cầm tù và chết thêm bởi việc làm tôi tớ cho các dục vọng tham nhũng quyền lực để mưu chiếm kim tiền quốc khố, vì “vinh thân phì gia” một cách đáng hổ thẹn, vì lợi ích phường hội nhơ nhuốc một cách đáng phải lên án và tẩy trừ. Danh dự và của cải, cái nào cần? Tên tuổi và thân sống, cái nào quý? Sự được và điều mất, cái nào hơn? Cái dại và cái khôn, cái nào còn? Mầm mống, cội nguồn của mọi nỗi khổ đau đời người, mọi băng hoại trong cuộc sống đều bắt nguồn từ những tham muốn vô chừng, dục vọng vô cương. Tai họa, không cái nào lớn bằng khi không biết đủ. Lỗi lầm, không cái nào lớn bằng lúc muốn chiếm cho kỳ được mọi thứ! Đảng cương bất nệ, Quốc pháp vô thân! Cả hai tối thượng!

Nhận diện chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch trong giai đoạn hiện nay

 

Một trong những nguy cơ của đất nước được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục xác định đó là “ Diễn biến hòa bình”. Chiến lược “diễn biến hòa bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước XHCN.

Thực ra, các biện pháp “Diễn biến hòa bình” bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, bóp nghẹt về kinh tế... làm suy yếu, tan rã đối phương nhằm mục tiêu “không đánh mà thắng” đã được các nhà chính trị, quân sự nhiều nước thực hiện từ lâu. Hiện nay, bản chất của chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam không hề thay đổi.

Các thủ đoạn mới chỉ là việc thay hình, đổi dạng cho phù hợp với tình hình và diễn biến của thời cuộc. Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch đã coi thủ đoạn “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang (LLVT) là một trong những mục tiêu, nội dung tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT.

LLVT nhân dân là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân nên việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với LLVT là cần thiết. Vì vậy, để thực hiện “phi chính trị hóa” LLVT, trong thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng tìm mọi thủ đoạn để tán phát, truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, công kích sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục tung ra những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân Việt Nam.

Thực chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” LLVT là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với CAND và QĐND, làm cho hai lực lượng trọng yếu này không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, các thế lực thù địch đã không ngừng gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” LLVT. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho LLVT ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu và hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với CAND và QĐND.

Thứ nhất, chúng đã và đang triển khai mạnh mẽ các mũi tấn công vào đạo đức, lối sống bằng các chiêu bài dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong LLVT dần dần bị suy thoái về đạo đức, lối sống, quen dần với cuộc sống hưởng thụ, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích vật chất, sao nhãng, xem nhẹ việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Thứ hai, trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của LLVT.

Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an.

Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an, làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, CAND...

Đồng thời, trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, chúng lợi dụng ưu thế của internet để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là sử dụng các hình ảnh cắt ghép, có nội dung lệch lạc nhằm bôi nhọ, làm mất uy tín của lực LLVT với nhân dân, cùng với đó, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước, LLVT với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội và đặc biệt là trước các vấn đề nhạy cảm, vào các thời điểm nhạy cảm như tổ chức đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước.

Trước thực tiễn đó, việc tiến hành đánh giá, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hoá” LLVT nhằm chống phá cách mạng trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hoá” LLVT là vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết hơn bao giờ hết.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên.

Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.


Khi nào công bố kết quả bầu cử và danh sách đại biểu trúng cử?


Theo kế hoạch về công bố kết quả bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là ngày 12 tháng 6 năm 2021 (hoặc 20 ngày sau ngày bầu cử).


Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là ngày 02 tháng 6 năm 2021 (hoặc 10 ngày sau ngày bầu cử).

Ủy ban bầu cử ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện chậm nhất là ngày 02 tháng 6 năm 2021 (hoặc 10 ngày sau ngày bầu cử).

Ủy ban bầu cử ở xã, phường, thị trấn căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chậm nhất là ngày 02 tháng 6 năm 2021 (hoặc 10 ngày sau ngày bầu cử)./.