Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

VIỆT TÂN TỰ LỘT MẶT NẠ

 

Vớ được Lê Chí Thành, Việt Tân mừng như bắt được vàng. Mừng vì gã này vốn từng là công an, lại là sĩ quan. Sử dụng một gã từng là sĩ quan công an “tố ngược” lại công an và chính quyền thì có thể khiến người khác tin rằng công an là xấu, chính quyền là kém? Thế nên, từ Thành, Việt Tân và một số phần tử khác ra sức nhào nặn hết bài này tới bài kia, đưa lên mạng xã hội, như bài “Đặt lòng tin vào lương tâm” ngày 15/5 này.

Khen Việt Tân “thâm” khác gì nói côn đồ hung hãn. Thế nhưng, trong trường hợp này, Việt Tân và ông Luân Lê luật sư (?) tác giả bài viết kia biết 1 mà hóa ra không biết 2.

Lê Chí Thành là nhân vật từng đã bị cơ quan công an kỷ luật với hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân vào ngày 31/7/2020. Nôm na, Thành bị “đuổi cổ” khỏi ngành vì vi phạm kỷ luật quân nhân. Vậy mà trong bài viết Việt Tân dám bốc phét Thành như người quả cảm “đã tự rời bỏ ngành để tố cáo các sai phạm của đồng nghiệp và cấp trên nơi mình công tác” (?).

Chuyện vi phạm kỷ luật của Thành, kể hết có mà cơ man giấy, mực. Chỉ nội việc thời gian ở trại giam Thủ Đức – Z30D, Thành tự tiện bỏ vị trí công tác tới 51 lần, cả khi được giao nhiệm vụ quản lý tội phạm trọng án, đủ hiểu y là người như thế nào. Rồi chuyên y phớt lờ triệu tập của công an Bình Thuận để làm rõ về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 bộ luật Hình sự năm 2015,v.v…Một khi có giấy triệu tập, dù chưa biết đúng, sai thế nào, nhưng trước tiên, cần một sự hợp tác – thế mới là người tử tế, hiểu và tuân thủ pháp luật.

Bị đuổi khỏi ngành, Thành hiển nhiên cay cú. Y sắm ngay vai “nhà dân chủ”, tung tới tấp lên mạng xã hội các clip thóa mạ lực lượng công an nhân dân. Sướt mướt rằng mình là “nạn nhân của chính quyền” vì chống tiêu cực (?), nhưng trong các clip, Thành ma mãnh giấu nhẹm nguyên nhân thực của việc bị đuổi khỏi ngành…

Đụng trần của sự ngông nghênh là việc y lập “nhóm giám sát cảnh sát giao thông”. Với nhóm này, y vênh váo thể hiện mình như người đang thực hiện “quyền giám sát” (?). Ra vẻ người thành thạo pháp luật, cách y thực hiện “quyền giám sát” là luôn vênh mặt, ngạo mạn chất vấn cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ bằng một câu hỏi cửa miệng xách mé: “các ông có biết luật không?”. Và cũng Thành sẵn sàng lia điện thoại livestream phứa phựa hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật tại hiện trường kèm theo những lời vu cáo, thách thức trắng trợn…, để bẫy lực lượng này mất tỉnh táo, không kiềm chế.

Hoang tưởng về “quyền công dân” vô chính phủ, Thành không biết rằng, hành động đó chẳng thể đánh đồng với “quyền giám sát” theo quy định của pháp luật. Say máu trong sự cổ xúy của các thế lực xấu và phần tử tiêu cực, Thành càng trở nên mù quáng, không hiểu nổi quyền giám sát của người dân với Nhà nước đi kèm với nghĩa vụ giải trình của cơ quan hoặc viên chức nhà nước bị giám sát; không hiểu: nghĩa vụ giải trình khi bị tố cáo khác với nghĩa vụ giải thích tại chỗ của công an với đương sự…

Đó là chưa kể: livestream, đôi co với cảnh sát cùng các hành vi ngỗ ngược khác (như ghếch chân, đứng lên, ngồi xuống một cách hỗn láo tại hiện trường…) của Thành còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến giao thông, trật tự thời gian dài…

Càn quấy, côn đồ chưa đủ thỏa mãn, bắt chước Lê Dũng Vova, Thành còn đâm đơn “tự ứng cử” đại biểu Quốc hội khóa 15 để được “nổi tiếng”. Dĩ nhiên, mặc cho y và đồng bọn la lối, vu cáo chính quyền kiểu nào, một kẻ “phẩm chất” như Thành, họa có thành đại biểu của “hội…cuốc” cũng còn chưa nổi. Và, dự đoán của dư luận chẳng sai: Lê Chí Thành đã bị khởi tố, bắt tạm giam vì liên quan đến hành vi chống người thi hành công vụ, xảy ra vào ngày 20-3 tại phường Hiệp Phú, TP Thủ Đức.

Trở lại bài “Đặt lòng tin vào lương tâm” trên trang Việt Tân. Việt Tân nhân danh đạo đức, ra rả về đạo đức. Thế nhưng, nói chuyện đạo đức mà Việt Tân lại lôi Lê Chí Thành ra như một thí dụ điển hình đức hạnh, thì chính Việt Tân, chứ không ai khác, đã tự lột mặt nạ của mình rồi./.

 LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG ĐÃ VÔ HIỆU HÓA MỌI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ TRONG NGÀY BẦU CỬ

Theo Hội đồng bầu cử Quốc gia, thống kê đến sáng 24/5, tỉ lệ cử tri đi bầu trên cả nước đạt 98,43%. Không có vấn đề nhức nhối về an ninh trật tự phát sinh tại 84.000 điểm bỏ phiếu trên toàn quốc. Ngày hội bầu cử có thể nói đã thành công tốt đẹp.
Trong thành công ấy có sự đóng góp lớn của lực lượng công an, những người đã bảo vệ an ninh, an toàn cho Ngày bầu cử và cử tri, đồng thời cũng trực tiếp xông pha trên tuyến đầu chống dịch Covid-19, hạn chế tối đa dịch bệnh lây lan khi hàng chục triệu cử tri đi bàu cử.
Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng Bộ Công an, Phó Trưởng Tiểu ban Thường trực Tiểu ban An ninh trật tự bầu cử cho biết, để bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cuộc bầu cử, công tác bảo đảm An ninh trật tự đã được triển khai rất chủ động, từ sớm, trên tất cả các mặt công tác. An ninh trật tự tại các khu vực bỏ phiếu được giữ vững. Việc chấp hành pháp luật về bầu cử được đảm bảo. Công tác bảo vệ các hòm phiếu, phục vụ cử tri là người già yếu khuyết tật, người đang bị tạm giam, người đang được cách ly xã hội... được thực hiện rất nghiêm ngặt, theo đúng các quy định. Đảm bảo tốt nhất an ninh, an toàn.
Trung tướng Tô Ân Xô cho biết thêm, qua công tác nắm tình hình phát hiện trên không gian mạng một số hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc cuộc bầu cử, kích động người dân không đi bầu cử. Tuy nhiên, bằng sự chủ động đấu tranh, ngăn chặn, lực lượng chức năng đã đập tan các âm mưu chống phá bầu cử.
“Cho đến thời điểm này, chúng ta đã vô hiệu hóa, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá bầu cử của các thế lực thù địch phản động. Do sự chủ động, hiệu quả trong công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động chống phá của các đối tượng này nên hoạt động của các đối tượng đã giảm nhiều so với trước đây” - Trung tướng Tô Ân Xô nhấn mạnh.
Song song với việc bảo vệ Ngày hội bầu cử, Bộ Công an cũng đặt ra việc phòng chống dịch Covid-19 là một trong những yêu cầu quan trọng, cấp bách. Các chiến sĩ công an đồng thời trở thành chiến sĩ tuyến đầu trong việc phòng chống dịch bệnh. Tính từ đầu năm đến hết quý I/2021, lực lượng công an đã phát hiện, xử lý 217 vụ, trong đó gồm 1.441 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.
Riêng ngày bầu cử, các chiến sĩ công an đã có mặt trong mỗi chốt kiểm tra phòng dịch Covid-19, các khu cách ly phong tỏa, trên tuyến biên giới, trở thành điểm tựa tinh thần của người dân, góp phần vào thành công của cuộc bầu cử.
“Lực lượng công an tích cực triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, bảo vệ tuyệt đối an toàn với các trại tạm giam, nhà tạm giữ, các cơ sở giáo dục bắt buộc... với hơn 100.000 phạm nhân, học sinh. Số lượng này rất lớn. Chúng tôi đã phải bố trí cán bộ làm việc theo ca. Đảm bảo không để lây nhiễm dịch bệnh, tổ chức tiêm phòng vaccine Covid-19 cho hơn 40.000 cán bộ, chiến sĩ tuyến đầu” – Trung tướng Tô Ân Xô cho biết.
Cuối ngày bầu cử 23/5, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Tô Lâm đã gửi thư khen Công an các đơn vị, địa phương trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Trong đó nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an là một chiến sĩ tiên phong tuyến đầu tham gia phòng, chống dịch; mỗi đơn vị, tổ chức trong Công an là pháo đài vững chắc, không bị lây nhiễm dịch Covid-19”.
Đại tướng Tô Lâm bày tỏ tin tưởng và mong muốn, Công an các đơn vị, địa phương tiếp tục phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được, đoàn kết thống nhất, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là chỗ dựa vững chắc của nhân dân./.

 BỨC THƯ BÁC HỒ GỬI ANH EM VĂN HÓA VÀ TRÍ THỨC NAM BỘ NĂM 1947


“ Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và tri thức phải làm cũng như là những chiến sỹ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

Lời dạy đó của Bác được trích trong bức thư Người viết “ Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ” vào ngày 25 tháng 5 năm 1947, khẳng định mặt trận văn hóa như một “cuộc chiến khổng lồ” giữa chính và tà, giữa cách mạng và phản cách mạng. Trong cuộc chiến đó, người “nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí” đấu tranh; đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất luongj hoạt động cuẩ hệ thống chính trị. Để làm tròn nhiệm vụ, đội ngũ nghệ sĩ, trí thức phải bám sát cuộc sống thực tiễn, đi sâu vào quần chúng, phê bình nghiêm khắc những thói xấu như tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, ca tụng chân thật những tấm gương người tốt, việc tốt cho mọi người học tập và giáo dục con cháu đời sau. Đôi ngũ trí thức với trình độ học vấn, chuyên môn cao của mình phải quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc thông qua các bài viết, lời nói để dẫn dắt, định hướng quần chúng nhân dân. Học tập và làm theo lời dạy của Nguời, nhiều nhà văn, nhạc sỹ, nghệ sỹ, trí thức, học giả, nhà nghiên cứu…đã hăng hái tham gia vào sự nghiệp cách mạng, dùng tri thức, sự hiểu biết và tài năng của mình cống hiến cho cách mạng, phục vụ nhân dân một cách tận tụy, hết mình thông qua các công trình, tác phẩm, bài viết.
Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã xây dựng nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật, cán bộ nghiên cứu khoa học có chất lượng tốt, số lượng phù hợp, cơ cấu hợp lý. Trong đó chú trọng quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ nghiên cứu, sáng tác các Viện, trung tâm nghiên cứu, các đoàn nghệ thuật, đoàn văn công, các học viện, nhà trường là những cán bộ vừa có trình độ chuyên môn giỏi, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo, vừa có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, luôn tâm huyết, yêu nghề, gắn bó với Quân đội và đơn vị. Đổi mới chính sách nhằm thu hút, giữ gìn và phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực khoa học công nghệ, về nghệ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để họ sáng tạo, nghiên cứu, cống hiến. Thường xuyên làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân có các công trình, đề tài, tác phẩm, sáng kiến đạt chất lượng tốt để cổ vũ, động viên, khích lệ phát triển thành phong trào sâu rộng trong toàn quân, góp phần hoàn thành tôt mọi nhiệm vụ được giao.

Hà Nội: Từ 12h ngày 25-5 tạm dừng nhà hàng, dịch vụ ăn uống tại chỗ, cửa hàng cắt tóc, gội đầu

 

Tối 24-5, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh có công điện về việc quyết liệt triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 cho đến khi có thông báo mới.

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HĐND CÁC CẤP

 

Gần ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là y như rằng các tổ chức phản động ở hải ngoại và những kẻ theo đóm ăn tàn trong nước lại rêu rao luận điệu rằng "Bầu cử ở xứ Cộng sản chỉ cho vui, đã sắp đặt sẵn đâu vào đấy cả rồi, chẳng có ý nghĩa gì". 

Cần phải khẳng định rõ ràng rằng, quyền bầu cử ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng được xem là quyền cao nhất của công dân về mặt chính trị. Khi chế độ phong kiến tập quyền bị đánh sập để dựng nền dân chủ cộng hòa, bầu cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu được xem là tối ưu nhất. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chọn hình thức này, thể hiện quyền tự do dân chủ. Ở Việt Nam, chúng ta đã cụ thể hoá lần đầu bằng Hiến pháp năm 1946, bầu ra Quốc hội, Chính phủ và Uỷ ban Hành chính các cấp. Kể từ đó, bầu cử trở thành ngày hội của non sông đất nước, ngày hội của toàn dân.

Bầu cử là quyền công dân được quy định ngay tại Hiến pháp 2013 - đạo luật gốc, cơ bản nhất của Nhà nước. Cụ thể, theo Điều 27: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định. Quy định này một lần nữa được khẳng định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015.

Nếu nói bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp "Bầu cử ở xứ Cộng sản chỉ cho vui, đã sắp đặt sẵn đâu vào đấy cả rồi, chẳng có ý nghĩa gì", đó là luận điệu xuyên tạc của những kẻ hằn học với chế độ. Nên nhớ, kể cả Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và nhiều vị trí chủ chốt trong Quốc hội, Chính phủ hay HĐND, UBND các cấp sẽ không thể tiếp tục yên vị nếu họ không trúng cử Đại biểu Quốc hội hay HĐND các cấp. Dân có quyền bầu ai, bỏ ai dựa trên lá phiếu tín nhiệm của mình. Ngay cả Chủ tịch Quốc hội nếu dân ở khu vực ứng cử không tín nhiệm thì không thể trúng cử và như vậy có nghĩa là sẽ phải có vị Chủ tịch Quốc hội mới được Quốc hội khoá mới trong phiên họp thứ nhất bầu ra, trong số các vị đã trúng cử Đại biểu Quốc hội. Vậy tại sao lại cho rằng "bầu cử đã được sắp đặt" khi mà quyền quyết định nằm trong tay cử tri?

Những chức người không trúng cử thì không thể được Quốc hội hay HĐND các cấp bầu vào các vị trí chủ chốt của Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND! Vậy nên, cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện tính dân chủ, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân. Là ngày hội non sông, là dịp để nhân dân thể hiện quyền làm chủ đất nước. Đảng chỉ giới thiệu, cơ cấu chứ không thể quyết định, lúc này thì quyền tối thượng, quyết định chọn ai là của nhân dân.

Trải qua ba vòng hiệp thương mới đi đến thống nhất, giới thiệu người ra ứng cử, các ứng viên trước hết cần phải được dân nơi cư trú tín nhiệm thì mới vượt qua. Và khi đã trúng cử Đại biểu Quốc hội hay HĐND các cấp thì các chức danh chủ chốt cần phải được các vị Đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp bầu, nếu không được sự tín nhiệm thì chắc chắn sẽ không thể đảm đương những chức danh đã cơ cấu.

Bầu cử ở ta rất chặt chẽ, dựa hoàn toàn vào lá phiếu của cử tri chứ như Hoa Kỳ, bầu Tổng thống nhưng lá phiếu Đại cử tri mới quyết định Tổng thống chứ không phải là phiếu phổ thông. Phu nhân Clinton thua cay đắng trước Donal Trump là ví dụ điển hình. Nhiều kẻ đòi tẩy chay bầu cử, cứ việc vì đó chỉ là nhóm thiểu số, không đại diện cho toàn dân Việt Nam. Chúng chỉ chầu chực để kiếm bơ sữa từ ngoại bang hay sẵn sàng "dâng nước Việt Nam" cho mẹ, cho cha nào đó. Những kẻ đó mãi mãi chỉ thất bại, chỉ là tôi đòi, chỉ là ký sinh trùng chứ chẳng bao giờ ra cái giống con người. Chắc chắn bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp sẽ thành công tốt đẹp, bầu những người đủ đức, đủ tài để gánh vác trọng trách của đất nước, của địa phương. Ngày bầu cử mãi mãi là ngày hội của non sông, ngày hội của toàn dân tộc./.

Nhận thức đúng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 

Thế lực thù địch thường tung những luận điệu xuyên tạc cho rằng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nước ta đang xây dựng là một nền KTTT "méo mó, không giống ai". Thế nhưng, thực tiễn cho thấy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mà họ tìm mọi cách phủ nhận ấy lại đang là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Lắm kiểu "cài số" "lùi"... "tiến" tuổi nghỉ hưu

“Nghỉ hưu”, thuật ngữ “xa xỉ” trong xã hội tiền công nghiệp, nếu có cũng chỉ dành cho tầng lớp quan lại. Trong xã hội công nghiệp và “hậu công nghiệp”, phạm vi đối tượng nghỉ hưu ngày càng được mở rộng sang nhiều lĩnh vực ngành, nghề khác nhau, từ công nghiệp đến dịch vụ, tại nhiều nước phát triển còn có cả “nông dân nghỉ hưu”. Cùng với thành quả đấu tranh của nhân loại cho tiến bộ xã hội, nghỉ hưu trở thành một quyền cơ bản của người lao động sau một quá trình cống hiến, được nghỉ ngơi khi tuổi cao, sức yếu, được hưởng bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc đóng - hưởng. Nghỉ hưu, tưởng chừng như chuyện đương nhiên kiểu “ngày sáng, đêm tối”, nhưng nhìn ra xứ người, ngó lại xứ ta, kể ra cũng lắm chuyện oái ăm! Ở xứ người, tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc biểu tình của người lao động phản đối chính sách kéo dài tuổi nghỉ hưu của người lao động. Truy ra ngọn nguồn mới vỡ nhẽ, do chất lượng sống con người ngày càng được cải thiện nên tuổi thọ người cao tuổi tăng lên, trong khi giới trẻ lại “lười” đẻ, nên dẫn đến tình trạng dân số già hóa, nhân lực lao động vì thế giảm dần, bởi vậy để giải quyết vấn đề này chính phủ nhiều nước tìm giải pháp bằng cách nâng tuổi nghỉ hưu. Chính sách này có tác dụng giảm áp lực suy giảm hoặc nguy cơ đổ bể quỹ lương hưu. Có nước ban đầu quy định tuổi nghỉ hưu là 60, nhưng rồi cứ nâng dần lên 62, rồi 65, thậm chí là 67... Thế là người lao động xuống đường phản ứng, biểu tình phản đối! Ở xứ ta, luật pháp quy định tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60, và nữ là 55, nhưng trong thực tế cũng thấy lắm chuyện “nực cười” xung quanh câu chuyện tuổi nghỉ hưu. Xin kể 3 câu chuyện có thật về từ xin “tiến”... đến xin “lùi” tuổi nghỉ hưu sau đây: Chuyện xin “tiến” hay nói đơn giản là xin nghỉ hưu sớm... vì “công ty sân sau”: Không kể những người ốm đau, lại phải nghề lao động nặng nhọc, độc hại, xin nghỉ hưu sớm là chuyện thường tình. Đằng này, có “quan bác” ở gần nhà tôi sức khỏe còn tốt, thậm chí đám trung niên tuổi ba mươi, bốn mươi còn phải “vái cụ”. Nghề nghiệp trước đây của ông cũng không phải bốc vác nặng nhọc hay độc hại gì. Ông là phó giám đốc một doanh nghiệp nhà nước có hạng. Theo quy định phải 3 năm nữa ông mới đủ tuổi nghỉ hưu. Thế mà ông làm đơn nằng nặc xin nghỉ hưu trước tuổi. Đơn của ông rất hợp tình, hợp lý, nào là ông nghỉ sớm cốt để tạo điều kiện cho thế hệ trẻ phát triển, nào là do tuổi đã cao, sức đã yếu, nào là tư duy không còn nhanh nhạy như xưa... trong khi việc cơ cấu lại doanh nghiệp bây giờ cần những lãnh đạo trẻ có tư duy mới... Tổ chức thuận theo nguyện vọng rất “chính đáng” và “đầy trách nhiệm” của ông. Ông được nghỉ hưu thật, thậm chí tính ra mỗi năm công tác còn được hỗ trợ 1 tháng lương. Là hàng xóm láng giềng, sáng nào tôi cùng ông cũng làm vài vòng cuốc bộ thể thao quanh phố. Thắc mắc về việc nghỉ hưu sớm của ông, có lần tôi tò mò hỏi vì sao còn sức khỏe, trí tuệ còn minh mẫn, cương vị khối người mơ,... thế mà ông lại xin nghỉ hưu trước tuổi. Ông cười: “Xin nghỉ hưu trước tuổi vì “công ty sân sau” ấy mà! Cách đây mấy năm mình đã lập một công ty “sân sau”, giờ “hưu” nhưng có được nghỉ đâu, vẫn đang trực tiếp điều hành quản lý cái công ty ấy đấy chứ, để khỏi uổng phí vốn nghề nghiệp tích lũy cả cuộc đời. Các quan hệ khách hàng, mối lái, thị trường, bí quyết công nghệ, những tay thợ lành nghề đáng máu mặt,... của công ty cũ đều theo mình chuyển cả sang công ty của mình rồi... bởi vậy, công ty do mình lập ra vẫn “sống khỏe”, “ăn nên làm ra”. Tôi vặn lại “Thế công ty cũ của bác bây giờ sao? Nghe đâu nó đang “vật vã” với “cơ cấu lại”, khó khăn đủ bề... đúng không?”. Ông lý sự tỉnh queo: “Ôi dào... “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”... lo gì bò trắng răng!”. Đến đây tôi vỡ lẽ lý do xin nghỉ hưu trước tuổi của ông. Cũng chuyện xin nghỉ hưu sớm... vì giữ “ghế” cho “quý tử”: Đó là chuyện giám đốc sở của một tỉnh nọ thuộc địa bàn tôi hay đến làm việc. Phải còn cỡ hơn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu, nhưng giám đốc sở “kiên quyết” xin nghỉ hưu sớm. Lý do thật “cao thượng” và “đầy trách nhiệm”, rằng nếu ông nghỉ hưu đúng 60 tuổi thì cấp phó của ông hết cơ hội, rằng người đi trước phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho người đi sau phát triển. Nói là làm. Ông một mực xin nghỉ trước 1 năm. Cấp phó của ông nhờ thế mà được bổ nhiệm làm giám đốc sở và biết ơn ông lắm. Mọi người cũng nể phục đạo đức của ông! Nhưng chẳng bao lâu sau khi mới lên chức thì vị tân giám đốc sở đã ký quyết định bổ nhiệm con trai người tiền nhiệm làm phó giám đốc sở. Khi ấy mọi người mới “ngộ” ra “hành vi ẩn dụ” đằng sau lý do xin nghỉ hưu sớm của nguyên giám đốc sở. Người trong sở nọ nhìn nhau chỉ biết gật gù thốt lên: Ông thật cao tay, lo cho “hậu duệ” tinh vi đáo để thật! Chuyện xin “lùi” tuổi nghỉ hưu hay kéo dài thời gian công tác... để được “cống hiến”: Đây là trường hợp thủ trưởng cũ của tôi. Khi sắp đến tuổi nghỉ hưu, ông “thò” ra một tờ giấy chứng minh “tuổi thật” của mình không giống như tuổi khai trong lý lịch cơ quan đang quản lý. Rồi ông làm đơn xin kéo dài thời gian công tác. Vì chuyện đó mà tập thể lãnh đạo cũng phải họp bàn lên xuống, nhưng cuối cùng cũng “chiều” theo ông, nhận đơn và “đá quả bóng” lên cấp trên xem xét. Ngồi đâu ông cũng hay chuyện là đồng chí lãnh đạo “nọ”, đồng chí lãnh đạo “kia” yêu cầu ông phải kéo dài thời gian công tác, vì sức khỏe ông còn tốt, vì trí tuệ ông còn minh mẫn, vì ông giàu kinh nghiệm nghề nghiệp, vì còn nhiều năng lực cống hiến, vì ông phải có trách nhiệm để đào tạo thế hệ kế cận đang còn “non”, v.v.. và v.v.. Mọi người tưởng vậy. Nhưng đùng một cái, ông vẫn có quyết định nghỉ hưu theo đúng quy định. Ngày nghe tin có quyết định nghỉ hưu, ông buồn lắm. Tôi thấy ông như gầy rộc đi. Mọi người lại tưởng, nhận quyết định rồi thì ông sẽ nghỉ như bao người khác. Nhưng không, sau khi nhận quyết định nghỉ hưu, ông vẫn đề đạt “nguyện vọng” được giữ phòng làm việc, mấy tháng đầu vẫn đến cơ quan như thường lệ. Văn phòng thấy ông nhiệt tình đến cơ quan nên “ngại” cắt chế độ xe đưa đón ông hằng ngày, vẫn bố trí người chuẩn bị chè nước, mang báo chí đến phòng cho ông,... Ban lãnh đạo mới cũng khó xử, nhất là khi ông vẫn “nhiệt tình” góp ý “chỉ đạo” công việc hằng ngày của cơ quan, vẫn ra tuyên bố “hùng hồn” không khác hồi còn đương chức lãnh đạo. Phải một năm sau, chẳng biết do có người nhắc khéo hay do ông tự “ngộ” mà ông mới trả phòng làm việc và ít khi lui tới cơ quan... Còn “nghìn lẻ một đêm” những kiểu xin “tiến”, “lùi” tuổi hưu, nhưng chỉ đơn cử mấy câu chuyện trên đã thấy “tiến”, “lùi” tuổi hưu xem ra đều gắn với “quyền” và “lợi” của con người. Chỉ khi nào cơ chế, chính sách “bịt” hết các lỗ hổng thì mới làm cho mọi chuyện trong xã hội lành mạnh, kể cả chuyện nghỉ hưu. Ở trường hợp thứ nhất, phải làm tốt quản lý cán bộ lãnh đạo khi đương chức, nhất là các hoạt động kinh tế phi chính thức do gia đình, vợ con, “chiến hữu” đứng tên chuẩn bị cho “hạ cánh an toàn”... Ở trường hợp thứ hai, phải tạo ra cơ chế thi tuyển nhân tài công bằng, công tâm để chấm dứt được tệ nạn lo “ghế” cho “hậu duệ” rất tinh vi. Ở trường hợp thứ ba, phải tiền lương hóa mọi khoản chi phí phục vụ cho lãnh đạo (xe cộ, thông tin, liên lạc, nhà cửa, báo chí...), cũng như các lợi ích phi chính thức có được khi “đương chức”, mà lúc nghỉ hưu không còn, nên thường cảm thấy hẫng hụt, tiếc nuối. Tin rằng những cải cách thể chế mạnh mẽ hơn thời gian tới có thể giảm dần và chấm dứt những trường hợp “cài số” “tiến”... “lùi” tuổi nghỉ hưu “oái oăm” trên đây./.

Cái sự... chọn người

Nhiều chục năm qua, nom những sự chọn người trong thiên hạ, mấy bận rắp toan biên lại và nhẩm bụng đem bố cáo. Nhưng, lòng còn e ngại, bởi chửa hợp thời. Vả nữa, còn càng ngại rằng, chả ai muốn nghe. Hay nghe rồi chẳng động lòng hoặc lại nghĩ “ý này ý khác”. Nên đem cất kỹ tận nơi đáy hòm. Lại ngặt đó toàn là những chuyện “trung ngôn nghịch nhĩ” cả. Đâm ra, lại... đợi! Một ngày cả gió, giở giời, mang đống bản thảo cũ ra phơi. Câu chuyện bật ra dưới nắng: Rằng, từ rất lâu rồi, có vị cán bộ làm ở cái nơi, mà ngày xưa gọi là Bộ Lại (chả rõ vì sao chui được vào nơi này) luôn ra vẻ ta đây bời bời học thức. Ông ta học đòi kiểu “nhung y xứng kỳ đức”, “thuyền đua thì lái cũng đua”, nên muốn đến cả những con chim, con thú mà ông ta chơi, cũng phải có học thức. Tối thiểu chúng phải biết nói tiếng người. Sằn sục mãi, cho tới một bữa, ôm một bị tiền, ông ta ra chợ. Ngắm nghía đô hồi, ông ta hất hàm hỏi ông già bán chim cảnh: - Con này nói được tiếng gì, bao nhiêu tiền? Ông già thưa: - Dạ, nó nói được tiếng Hoa, giá 2 đồng. Ông ta mua; và, chỉ sang con chim bên cạnh: - Con này sao, giá bao nhiêu? Ông già bán chim điềm đạm: - Dạ, nó nói được tiếng Nga và Pháp, ngài cho tám đồng. Cứ thế, cứ thế, viên cán bộ nọ mua hết con này tới con kia, và lũ chim có thể nói được tới cả vài ba chục thứ tiếng ngoại quốc từ Á sang Âu tới Mỹ La-tinh, có giá dễ cả mấy chục ngàn đồng. Viên cán bộ vô cùng hỉ hả. Đến con chim cuối cùng: - Con này nói được những thứ tiếng gì, bao nhiêu tiền? Ông lão bán chim tỉnh bơ: - Số tiền mua nó bằng tất cả số tiền lũ chim kia cộng lại và nhân với mười lần. Lão già có điên không đấy, nó có nói được tới trăm thứ tiếng không, mà đòi lắm tiền vậy? - viên cán bộ nọ nổi cáu. Ông già thờ ơ: - Dạ, chính vì thế, nó mới có giá nghìn đồng, lại bởi nó không hề biết nói một thứ tiếng nước nào. - Lão có điên thật không đấy? - Thì ngài xem, một con chim “hậu duệ”, vừa ra ràng, dù nó không biết nói tiếng nước nào, dưng được phong “tước”, lại bằng cấp treo khắp đầy mình. Và, quan trọng nhất, nó mù ngoại ngữ nhưng lại “có quyền chỉ huy” tất cả những con chim rất giỏi ngoại ngữ kia. Chả nhẽ nó không đáng được giá ấy ư, thưa quý bác? Lão còn một mớ mấy con “mua” được cả quyền chỉ huy, đại loại như kiểu ấy nữa. Nói đoạn, ông già bán chim hững hờ thả ánh mắt đến quá... chân mây. Và, viên cán bộ nọ cả vui và đếm tiền... Nghe đâu, ít lâu sau, những con chim ấy do viên cán bộ nọ mua tặng, vỡ tung đàn. Vì con chim “hậu duệ” có giá cả mấy ngàn đồng ấy làm đầu đàn. Tự dưng chả con chim nào trong đàn thèm tiếng ngoại quốc nữa, rồi bỏ đàn bay đi hoặc cứ chết dần chết mòn... mà tự tan. Nay, thấy tại rất nhiều chốn: Đây thì “con ông cháu cha”, “cả họ làm quan”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ...”, kia thì “làm quan thần tốc”, “mua danh ba vạn”, “dấm dúi lên... quan”... làm cho xôn xao trong dư luận lẫn chung chiêng cả chốn công đường. Nay, lại trông ở không ít cấp: Đó thì “hoạch phát hoạch tàn”, “tốc hỉ tốc... bại”, nọ thì “dục tốc bất đạt”, “nửa bước đi tắt thành... quan”, “nửa đời phấn đấu không bằng cơ cấu một giây”... khiến cho chuẩn mực ngả nghiêng, thật giả lẫn lộn, người tài người tốt ngoảnh... đi!. Những sự ấy nguy cơ làm cho nhân tâm ly tán, việc lớn nát bét, đội ngũ xộc xệch, cơ đồ xiêu nghiêng, bởi cái họa “cha truyền con nối” biến “việc của Đảng chứ đâu phải việc của họ nhà nào” thành sự nhãn tiền, như Bác Hồ nói, rồi “đầu tư quan hệ”, “buôn quan bán tước”... Tất cả vô hình, nhiều cơ quan thì chuốc lấy “vạ trong tường vách”, mấy người “đạo vị” (ăn trộm chức vụ), lại như Bác Hồ bảo, số phận thì cũng “gươm treo chỉ mành”, lắm tổ chức thì chênh vênh hơn “trứng để đầu đẳng”... Cơ hồ tai họa ập đến, tính chỉ độ bằng ngày, giờ! Nhưng, ai người có tội? Nên thiển nghĩ, cả quyết không thể không biên ra ở đây, dẫu biết rằng, có thể là tốn... giấy mực!./.

Sỹ phu tụ hội!

Nhớ thời khai quốc Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945, và các năm sau đó cho tới ngày kháng chiến thắng lợi chống thực dân Pháp, suốt chín, mười năm liền, xem các Chính phủ của ta: Chính phủ Cách mạng lâm thời, Chính phủ Liên hiệp lâm thời tới Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đều do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, người ta thấy hội tụ đông đảo các gương mặt trí thức đủ giai tầng tiêu biểu. Trí thức xuất thân từ quan lại triều đình phong kiến hay từ Nho học như: các Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Đình Hòe, Nguyên Văn Tố... tới các trí thức Tây học hiện diện: Cù Huy Cận, Vũ Trọng Khánh, Dương Đức Hiền, Dương Đức Tri, Đào Trọng Kim..., các trí thức từ nước ngoài nghe theo tiếng gọi non sông, đáp lời kêu gọi về với dân tộc: Nguyễn Văn Huyên, Phạm Ngọc Thạch... cùng với các trí thức cách mạng: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... Rồi các gương mặt trí thức dù không đảng phái hoặc của các đảng phái: Từ Đảng Cộng sản Đông dương (Việt Minh) tới Đảng Dân chủ và Xã hội, như các vị Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đăng Khoa... Tất cả cũng hiện diện, tề tựu đông đúc. Đó là các Chính phủ của toàn dân tộc, mà trí thức chiếm một vị trí xứng đáng, đã góp phần cùng toàn dân tộc đưa đất nước vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sinh tử, vừa kháng chiến vừa kiến quốc cực kỳ khó khăn lúc bấy giờ và tới ngày kháng chiến thắng lợi chống thực dân Pháp, 07-5-1954. Không chỉ trong nội các Chính phủ, lúc bấy giờ, nhìn rộng ra, trên khắp các lĩnh vực, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều công sức cho việc kêu gọi, tập hợp lực lượng trí thức, nhất là đối với trí thức cao cấp, uy tín xã hội cao, dù còn mỏng nhưng rất quý. Lực lượng đông đảo hơn cả là các trí thức tân học, được đào tạo căn cơ ở trong nước hoặc du học nước ngoài về: các Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng; các luật sư Phan Anh, Dương Đức Hiền...; các Giáo sư Hoàng Minh Giám, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum... Trí thức ở trong nước nhưng khá đặc biệt - các bậc túc nho, đại khoa, các quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn: Cụ Bùi Bằng Đoàn - nguyên Thượng thư Bộ Hình, Cụ Phan Kế Toại - nguyên Khâm sai đại thần; và các vị khác: Bùi Kỷ, Võ Liêm Sơn,... Các vị trí thức sau khi du học thành công, có học vị cao, vì những lý do khác nhau đã ở lại nước ngoài, thậm chí có người lập gia đình tại đó, đã về nước theo lời mời của Người: Kỹ sư Trần Đại Nghĩa - chuyên gia cao cấp về vũ khí ở Đức, Giáo sư Toán học Lê Văn Thiêm - người Việt đầu tiên được phong hàm này ở Đại học Zu-rích (Thụy Sĩ), Bác sĩ Nông học Lương Định Của, Tiến sĩ Y khoa Đặng Văn Ngữ ở Nhật... và khá nhiều vị thành tài ở Pháp như: Giáo sư Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo; các bác sĩ: Trần Hữu Tước, Nguyễn Khắc Viện... Hầu hết các vị kể trên đều được chính quyền cách mạng trọng dụng, tạo điều kiện để mỗi người phát huy tối đa năng lực sở trường, góp phần tích cực vào cuộc chiến tranh vệ quốc cũng như xây dựng nền móng ban đầu cho các lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục còn non yếu của đất nước. Có thể nói, các trí thức thời ấy, tân học cũng như cựu học, đã “tâm phục, khẩu phục” vị lãnh tụ cách mạng Hồ Chí Minh không chỉ về đức mà còn cả về tài. Xử lý công việc dù phức tạp đến đâu, Người cũng luôn tôn trọng chủ kiến sáng tạo của họ, bổ khuyết những gì chưa ổn, rồi sắp xếp, tính toán kế hoạch thực hiện sao cho hợp lý nhất, nhanh nhất. Điều mà ít ai có được như Người là, sự tiếp cận tự nhiên, chân tình, bình dị, cởi mở và thực sự tin cậy trí thức. Sỹ phu tụ hội! Đó là một ngọn nguồn làm nên vị thế dân tộc, sức mạnh Việt Nam trong cõi hoàn cầu! Sau 30 năm, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ đất nước, trong hành trang dân tộc bước ra thế giới, hội nhập hoàn cầu, trong không khí phát triển cách mạng khoa học thế hệ thứ tư, có thể nói, lực lượng trí thức càng quan trọng hơn hết bao giờ và đã góp phần to lớn làm rạng danh Tổ quốc. Nhưng nhìn lại, sao đây đó, không ít trí thức nghểnh ngảng, thờ ơ? Hỏi ra, vì lòng họ vẫn chửa thật vui? Họ nói về sự tin cậy! Sao không ít nơi, sỹ phu còn... ngoảnh mặt, nạn “chảy máu chất xám” như là vấn nạn, chửa thể cản ngăn, hóa giải? Họ nói về sự “bán tin bán nghi”, về thái độ “nửa dụng nửa ngờ”! Sao không ít chốn, lực lượng trí thức thì đông, nhưng đội ngũ lại xộc xệch, trí thức lại phân tâm, phân sức? Họ nói về sự tổ chức, về thực thi cơ chế, về hoạch định chính sách nhỏ to, về bàn tay vận hành! V.v. và v.v. Khảo lược mấy chục năm trước, cốt chỉ để nhìn lại, suy ngẫm và hành xử hiện thời, để kiên tâm nâng niu một mạch ngầm chảy suốt, mà sự thành bại của quốc gia một phần căn bản, phải chăng lại nằm ở chính chỗ này? Bảy, tám trăm năm trước, cổ nhân xác quyết và xác tín: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Nếu để “Sỹ phu ngoảnh mặt” thì đại họa vong quốc tới gần. Vì đó là một trong năm cái họa làm mất nước - gần ba trăm năm trước, cổ nhân cũng từng cảnh báo. Rồi, cách nay ngót trăm năm, cổ nhân lại nói thêm lần nữa:“Tôn tài đại thịnh”. Nhẽ thường cho thấy, mỗi trí thức là một cá tính sáng tạo. Và, sáng tạo chính là kết tinh của tư tưởng, cá tính, bản lĩnh kẻ sỹ. Tôn trọng mọi cá tính, miễn sao cá tính không phương hại tới việc chung. Do đó, tiếp tục dành sự trọng thị, nhân bản một cách xứng đáng với trí thức, cố nhiên cả cá tính của họ. Không kể là ai, với bất kỳ lý do gì, hễ xem khinh, cố chấp hay kỳ thị sỹ phu, xa lánh, ghét bỏ trí thức, hay nửa tin nửa nghi, dù vô tình hay hữu ý, thì sớm nên tẩy bỏ! Vì, trọng nhân tất nhân trọng! Thành tâm, tin cậy hành xử với trí thức là con đường ngắn nhất để tới với mọi kẻ sỹ xưa nay! Việc gần gũi hay xa lánh, chửa nói việc hội ngộ cùng kẻ sỹ mưu sự quốc gia, thường lại bắt đầu từ đây. Khởi thủy của thành công ấy là thường trực sự chân thành trọng thị kẻ sỹ! Thế nên, chả kể là ai, chả kể cấp nào, chả kể dành riêng với trí thức, thì hành xử “đối đãi sao cho xứng đáng với mọi người”, chân thành, tinh tế, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói. Ấy là bí quyết của thành công! Chưa tin chớ dụng, hữu dụng tất toàn tin. Kẻ sỹ chân chính không ưa thói nói suông, rao giảng phù phiếm. Vì, họ dám dấn thân bảo vệ vô điều kiện chân lý thì cũng sẵn sàng xả thân vì chân lý. Trí thức chân chính không ưa sự tâng bốc, luôn xa lánh mọi sự tỵ hiềm. Vì, họ căm ghét thói xiểm nịnh, thói khoe mẽ, thà chết không chịu bị làm nhục! Khi đã hèn thì làm gì có cá tính, huống chi nói gì tới có tư tưởng! Mà khi không có tư tưởng thì quá lắm chỉ là bản sao của cái gọi là kẻ sỹ mà thôi: ngụy sỹ phu(!). Và, khi Dân tộc không có Tư tưởng của mình thì không thể Phát triển được! Có nhẽ xưa nay kẻ sỹ ta luôn lo lắng thế, mong mỏi thế và dấn thân cũng vì nhẽ đó. Bởi họ là như thế. Ấy cũng là Liêm sỉ, là Tư tưởng và Khí phách của Dân tộc và của kẻ sỹ vậy! Những người đứng đầu hoặc người lĩnh trọng trách hãy tự mình làm muối! Bởi chưng có làm muối, mới mong ướp mặn được người khác! Bí quyết con đường của thành công rực rỡ xưa nay là, thành tâm trọng đãi sỹ phu! Vì thế, thử dụng công mà khảo lược xem, mấy chục năm qua, ta có quyết sách gì riêng và ngang tầm cho trí thức? Nếu có thì việc thực thi, rồi tổng kết ra sao? Đó là việc không thể nhỏ! Trước mắt, cần kíp đổi mới thể chế, định chế chính sách để ghi nhận, tôn vinh công trạng một cách dân chủ, bình đẳng và công minh là rất quan trọng. Tạo dựng môi trường cống hiến sáng tạo quan trọng không thể đứng sau điều đó. Cổ nhân dạy: Không thể thất bại chỉ khi không nhốt chung những bậc quân tử với hạng tiểu nhân. Dân gian cũng nói: Nếu muốn trắng tay thì hãy đem nhốt ếch vào giỏ cua là vậy. Vả chăng, vốn trọng liêm sỉ, nên trí thức cũng mong manh, dễ bị tổn thương! “Quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”! Làm sao cho mỗi trí thức trở thành một nhân cách khả sỉ, trước mắt mỗi trí thức là một chân trời sáng tạo đầy cá tính, dạt dào cảm hứng và kiên tâm bảo vệ họ! Ngọc tự tỏa sáng! Mong rằng, muôn sự vẹn toàn, để sao cho sỹ phu nước Nam ta, trong thì từ hang cùng ngõ hẻm nơi thôn dã tới chốn thị thành, ngoài thì từ chân giời tuyết phủ Bắc cực đến góc bể ba đào Á Âu hay ở bất cứ nơi đâu trên khắp hoàn cầu, sẽ chẳng còn kẻ sỹ nào có thể “ngoảnh mặt” với vận hội nước non nhà, như tiền nhân lo lắng nữa. Mà ai ai cũng... ngoảnh lại, tìm về hội tụ với non sông, gánh vác công việc xã tắc như là Liêm sỉ, như là Tư tưởng, như là Lương tâm, như là Bổn phận, như là nhẽ Danh dự tự nhiên trên đời của dòng giống Tiên Rồng! Sỹ phu nối chí ông cha tụ hội! Muôn người đồng lòng, mưu cầu làm nên Tư tưởng, Khí phách và Sức mạnh Việt Nam! Để mãi mãi là như thế, thiển nghĩ, thì vui nào vui hơn!?./.

“Biệt phủ”, “đi đêm” và sự minh bạch

Phàm ở đời, những gì to cũng dễ thấy. Những gì vượt trội, dị biệt cũng vậy. Nhưng “thấy” đến đâu, thấy được như thế nào và do đâu mà thấy lại là câu chuyện khác, với nhiều cách tiếp cận, lý giải khác nhau. Chẳng thế mà thời gian vừa qua, trên khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước đã nóng ran câu chuyện về những “biệt phủ”, về những khối tài sản khủng… Nhưng có điều lạ, các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng xã hội lại chỉ đưa tin, bàn tán, thậm chí mỉa mai, lên án,… về những “biệt phủ”, những khối tài sản khổng lồ, những sự siêu giàu, những ăn tiêu xa hoa, lãng phí,… của các “quan chức” đương nhiệm và đã nghỉ hưu. Phải chăng, người dân có sự “kỳ thị” những “quan chức” sở hữu khối tài sản “khủng”? Phải chăng, là tâm lý không muốn ai hơn mình? Còn nhiều câu hỏi khác có thể đặt ra, nhưng quả thực, ít nhiều đó là những hình ảnh phản cảm, bởi người dân không được tiếp cận nguồn gốc những tài sản nào của “quan chức” biểu hiện sinh động bằng các “biệt phủ”, “dinh thự”, “lâu đài”, xe sang… Mà một khi, những tài sản không có nguồn gốc rõ ràng, những tài sản được lý giải có được là do buôn bán nhỏ lẻ, do chạy xe ôm, do tích cóp cả đời công chức,... thì thật khó mà lọt lỗ tai. Vì thậm chí một người chẳng cần bằng cấp gì cũng có thể dễ dàng nhìn thấy sự vô lý, cũng nhanh chóng tính toán được rằng với thu nhập (công khai) của cán bộ, công chức như hiện nay, để có được số lượng tài sản lớn như nhìn thấy (chưa kể phần chưa được thấy) là điều không tưởng. Việc kê khai tài sản đối với cán bộ, công chức hằng năm ở ta là một yêu cầu bắt buộc. Nhưng trên thực tế, cho đến nay nó vẫn được xem là còn hình thức, bởi sự thiếu trung thực của những đối tượng thuộc diện phải kê khai; bởi chế tài xử lý việc kê khai không trung thực chưa đủ sức răn đe; bởi việc kiểm tra, xác minh việc kê khai tài sản còn chưa thật sự hợp lý, nghiêm minh, hiệu quả... Ở đời, qua bao thăng trầm các giai đoạn lịch sử, việc giàu có chưa bao giờ là có tội. Nhưng giàu bằng cách nào, bằng con đường nào mới là có tội, mới đáng lên án, xem thường? Trong những con đường làm giàu bị xã hội coi khinh ấy, có con đường khuất tất, với nhiều kiểu làm ăn phi pháp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn tư lợi bất chính, những phi vụ “đi đêm”, “lót tay”, “sân sau”, “lợi ích nhóm”, “buôn quan, bán chức”... Ở đời, sự nghèo khó do nguyên nhân chủ quan thường bị xem là có tội, ít nhất là với chính mình, với gia đình mình. Nhưng không phải vì sợ “mắc tội” nghèo mà làm điều phi pháp, mà tạo điều kiện để việc “đi đêm” sinh sôi, nảy nở. Bởi, ngay cả khi “đi đêm lắm” mà chưa “có ngày gặp ma”, thì sự giàu có vượt trội nhưng nguồn gốc không rõ ràng, khuất tất cũng chẳng lấy gì làm hãnh diện. Cũng chẳng hề được ai xem trọng, trái lại còn để lưu truyền những tiếng chê bai, khinh bỉ... Thực tế, lịch sử phong kiến Việt Nam ghi nhận nhiều tấm gương quan thanh liêm ở các thời kỳ, giai đoạn khác nhau, đều được dân kính trọng. Trong thời kỳ mới, những tấm gương các nhà lãnh đạo biết sống vì dân, biết hy sinh lợi ích cá nhân, sống trong sạch, không vụ lợi, vì số đông,... cũng không hiếm. Thời nào cũng vậy, những con người có chức quyền nhưng không màng danh lợi đều được người dân kính trọng, tin yêu. Thế giới cũng có không ít chính khách, nguyên thủ ngay cả khi đương chức lẫn khi về hưu vẫn sống cuộc đời hết sức thanh đạm, thậm chí tài sản của họ còn “không có gì để mà kê khai”. Nhưng họ thấy bình an, vui vẻ, thảnh thơi, an nhàn hưởng tuổi già mà không trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước... Thế nên, ở ta, khi nào còn xuất hiện những hình ảnh “chướng tai, gai mắt” vì nguồn gốc tài sản không rõ ràng thì công cuộc phòng, chống tham nhũng, chống “giặc nội xâm” vẫn còn nhiều việc phải làm. Và đương nhiên, chỉ khi nào những tài sản của “quan chức” được “ứng xử” như của dân thường, do được làm ra bằng mồ hôi, nước mắt, bằng sức lực, trí tuệ của chính mình một cách hợp pháp, minh bạch thì những câu chuyện về “biệt phủ”, “đi đêm”, “lót tay”, “lợi ích nhóm”, “bòn rút của công”… mới vơi vãn đi. Và như thế, việc chống tham nhũng mới có thể được xem là thành công..../.

Dân ở… chốn nào?!

Cồng kềnh, chòng… chành! Hiện thời, cả nước Nam ta có khoảng 58 nghìn đơn vị sự nghiệp công lập, với 2,5 triệu biên chế đang làm việc tại các nơi này. Nếu tính bình quân, ở xứ ta, cứ 40 người dân có 1 công chức; trong khi ở nước Mỹ, tới… 140 người dân, họ mới phải cần 1 công chức. Thảo nào, chỉ nom qua ở 11 địa phương, các nơi này đã vượt 7.951 biên chế so với chỉ tiêu biên chế công chức được Bộ Nội vụ giao. Ngoài ra, còn 19.900 người là lao động hợp đồng cho 18 bộ, ngành, 46 địa phương sử dụng nữa. Bộ máy vốn đã to, đã đông, đã xa dân một nhẽ, không ít người lại còn thêm cái thói sách nhiễu, vòi vĩnh, thậm chí “hành dân”, “moi dân”, đây đó xỉ vả Nhân dân, y như là… ban phát, “bố thí” hằng ngày, khiến dân không buồn, dân không oán thán, mới là sự… lạ. Đây thì, hành xử của không ít quan chức: “Tốt lễ dễ thưa”, “Thớt có tanh tao ruồi đổ đến”, “Quan thì ở xa, bản nha ở gần”. Nọ trông, công to việc nhớn dân sinh, ở không ít cơ quan, tổ chức, là: “Cha chung không ai khóc”, “Lắm sãi không ai đóng cửa chùa”, “Khua mõ không bằng gõ thớt”... Rẽ quan tìm… dân? Có phải vậy không? Dù phải hay không nhưng có một sự thật: Tỷ lệ công chức giữ chức danh lãnh đạo từ cấp phó phòng trở lên trong tổng số công chức, thật sự là… lạ, cao đáng kinh ngạc - tám, chín phần quan chỉ một phần dân, thậm chí có bộ phận: quan chiếm… toàn tòng.! Hình như tâm lý “không quan mới lạ” hiện thời đang độ trỗi dậy và lây lan? Tỷ như, có không ít bộ, cứ 4 - 5 công chức thì có 3 chức danh lãnh đạo. Lại tỷ như có một số tỉnh, thành, ở một số cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cứ 2 công chức thì có 1 lãnh đạo, thậm chí, cứ 4 công chức thì có 3 lãnh đạo,… Tới mức, có cơ quan, bộ phận chỉ toàn lãnh đạo, thậm chí có phòng, trưởng phòng lãnh đạo…chính mình! Hèn chi vào phòng, ra cửa, quan gặp chỉ… toàn quan(!). Một bộ máy thành thục không thể đi khập khiễng bằng chỉ một cái chân: quá nhiều người làm… lãnh đạo thậm chí... rất suông! Mà thiếu đi hoặc rất yếu cái chân: chuyên gia làm… nghề thiết thực! Trên thì như thế đã đành. Rồi, ở ngay cấp xã thôi, cấp nhẽ ra phải ở trong dân, thì cũng chả kém. Bộ phận hoạt động không chuyên trách ở đây, ở thôn, tổ dân phố, cỡ gần 1,3 triệu người. Quỹ lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước chi cho nhóm hàng xã, hương thôn này là hơn 32.400 tỷ đồng/năm. Thảo nào, có xã chỉ 8.000 người dân mà có tới gần 600 vừa cán bộ, vừa loại “xách túi ăn đẽo”. Quan ở “trụ sở” xã thì nhiều đã đành, đằng này “bản nha” ở ngay thôn, xóm, tổ dân phố cũng đông chả kém cạnh. Quan đông hơn cả… lúa khoai lúc được mùa! Nghĩ rằng: Miệng ăn núi… lở! Năng suất lao động xã hội ta dù có tăng gấp mười; và mỗi ngày đêm dù không phải 24 tiếng mà tạo hóa ban cho hẳn 30 tiếng, thì hầu bao ngân sách dẫu to cỡ nào cũng khó kham nổi bộ máy kềnh càng ấy mãi? Lại ai cũng muốn làm quan, quyết giật tý quan. Sức dân nào vô tận để nộp thuế… nuôi nổi bộ máy vốn đã cồng kềnh lại rất… lắm quan, lại đông đến mức… rẽ quan để tìm… dân như thế!? Tự vấn ba câu! Giảm gì? Câu giả nhời là: Giảm ngay lượng quan và giảm nhanh đầu số mối ở tất cả các cấp. Nghĩa là, hai việc của Giảm gì ấy làm phải đồng thời: Không do dự, không rụt rè, không cầu toàn. Lấy gì làm tiêu chí để giảm? Xin thưa: Công việc. Vì việc chọn người, chọn người giao việc. “Thà ít mà tốt”. Tuyệt đối không vì người nghĩ ra việc, vì người đặt ra bộ máy. Mà làm ngược lại. Cao thấp phân minh đối với chọn người, trọng khinh (nặng nhẹ) phù hợp đối với giao việc, dân chủ và quang minh chính đại đối với cả việc lẫn người. Giảm như thế nào? Để thấy dân, mười loại công việc xin được làm ngay: 1- Định rõ bao nhiêu bộ máy của toàn hệ thống. 2- Định rõ công việc tổng thể của mỗi bộ máy. 3- Định biên với từng bộ máy, từng loại cán bộ. 4- Giao quyền và kiểm soát quyền của người đứng đầu. 5- Mỗi người tự định việc mình trong bộ máy. 6- Thi tuyển và định kỳ thi tái tuyển nhân sự. 7- Khoán trọn quỹ lương và tài chính vận hành. 8- Thường xuyên kiểm soát, sàng lọc, sa thải và tuyển dụng. 9- Xã hội hóa công việc của bộ máy, khi cần thiết. 10- Thưởng phạt phân minh và kịp thời, không ngoại lệ: “Phạt không chừa khanh tướng, thưởng không sót thứ dân”. Khi ấy, bộ máy bớt cồng kềnh sẽ hóa ra gọn nhẹ, tinh thông; đội ngũ lãnh đạo, quản lý do việc mà định chế, mà dân chủ lựa chọn chọn sẽ thành ra tinh hoa vừa đủ; chuyên gia đức tài được trọng đãi sẽ hạnh ngộ phơi phới đua chen; sức dân muôn người sẽ yên lòng tin cậy và ủy thác mà thức dậy như sóng nâng thuyền; vạn vật trong Đất Giời nhất định đều hanh thông, xã tắc muôn dặm rộng dài thảy đều tươi tốt! Lúc ấy, chẳng phải tìm, vì ở đâu đâu, dù chốn công đường hay nơi hang cùng xóm vắng, cũng hiển hiện… tiếng nói, tấm lòng và khát vọng muôn dân!./.

Lẽ nào không đảo ngược được cái “nghịch lý” ấy?

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức. Chủ trương thật đúng đắn. Dư luận rất đồng tình. Ấy vậy mà, vẫn có một nghịch lý đáng buồn. Chủ trương thì “tinh gọn”, “tinh giản” nhưng trên thực tế thì biên chế vẫn tăng, số lượng đầu mối vẫn ngày càng nhiều. Gần đây, bên lề một hội thảo khoa học về công tác xây dựng Đảng, tôi có nghe được một cuộc tranh luận khá thú vị giữa các chuyên gia. Một người nói: Theo Báo cáo của Đoàn giám sát trình tại Quốc hội vừa rồi, tổng số biên chế tinh giản trong 2 năm 2015 và 2016 của khối các cơ quan hành chính chỉ được 1%. Trong khi đó số viên chức lại phình to, từ gần 2 triệu người năm 2011 lên đến 2,1 triệu người năm 2016. Người khác tặc lưỡi: Mấy năm trước, Bộ Chính trị có hẳn một nghị quyết yêu cầu đến năm 2021 phải giảm được 10% so với biên chế được giao năm 2015. Mà kết quả thì trái ngược. Chẳng phải là nghịch lý sao? Người thứ ba đặt câu hỏi: Chẳng lẽ quyết tâm của mình mới chỉ dừng lại ở việc hô hào? Và tự trả lời: - Tôi nghĩ, có nhiều lý do. Nhưng trước hết, có lẽ là trách nhiệm của người đứng đầu. Có anh đứng đầu tốt, nhưng lại chưa thực sự coi tinh giản biên chế là nhiệm vụ bức bách của đơn vị mình. Nhiều anh thì vì lợi ích, miệng nói rất quyết tâm, nhưng làm thì chỉ dừng ở mức độ cầm chừng, lấy lệ. Lý do rất đơn giản. Tinh giản biên chế, thu gọn đầu mối sẽ ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lực cá nhân và các mối quan hệ. Thêm đầu mối, thêm biên chế sẽ là cơ hội tăng thêm nguồn ngân sách; cơ hội đưa người thân vào bộ máy,... Hệ quả tất nhiên là, sẽ thêm vây, thêm cánh để thực hiện những quyết định đầy toan tính, có lợi cho cá nhân và phe nhóm mình. Lại cả những anh duy tình thì cũng khó làm đến nơi đến chốn, bởi việc tinh giản biên chế sẽ động chạm đến lợi ích của nhiều người, ắt họ không ngần ngại bằng nhiều cách khác nhau gây áp lực cho người lãnh đạo. Người thứ tư bổ sung: Bộ máy phình to, ngân sách eo hẹp thì khó mà cải cách tiền lương. Mà theo tôi, còn một hệ lụy nữa, đó là việc tinh giản “nửa vời” này sẽ dẫn đến tình trạng cán bộ vừa thừa lại vừa thiếu. Người sau cùng có vẻ trầm tư: Chuyện ta đang bàn đâu phải là chuyện mới. Bốn năm trước, một cơ quan truyền thông nước ngoài, ngày 31-10-2014, khi bình luận về bộ máy công chức Việt Nam có dẫn một số liệu để so sánh: Việt Nam có 2,2 triệu công chức/90 triệu dân. Mỹ có 2,2 triệu công chức trên 310 triệu dân. Về diện tích, Việt Nam bằng 1/10 diện tích của Mỹ. Và cơ quan truyền thông này dẫn lại câu nói của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc: 30% số công chức “sáng vác ô đi, tối vác về”. Có nghĩa 700.000 công chức là thừa. Nếu lương mỗi tháng 2 triệu đồng/người thì mỗi năm mất gần 17.000 tỷ đồng. Câu chuyện làm gợi trong người viết bài này nhiều suy nghĩ. Tinh giản bộ máy, biên chế là công việc khó, nhạy cảm, nhưng lẽ nào chúng ta không đảo ngược được cái “nghịch lý” đáng buồn nói trên? Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết đã thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng ta trong cải cách hành chính, tinh giản biên chế. Và, thực tế vừa qua, hiệu quả ở một số mô hình thí điểm về cải cách, đổi mới bộ máy hành chính, hệ thống chính trị tại một số địa phương đã được kiểm chứng, đánh giá. Đây sẽ là căn cứ để chúng ta tăng thêm niềm tin và sức mạnh đẩy việc tinh giản biên chế đến thành công./.

“Ngũ họa”, “Tứ tôn” và “Ngọn lửa” cháy lên!

Việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược... luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân nước nhà. Không một thời kỳ nào, một triều đại nào, một thời khắc nào, một người Việt Nam nào, hễ có lương tri, không nghĩ về chuyện trọng đại đó, trải suốt xưa nay! Ấy là quốc sỉ đất nước, là liêm sỉ mỗi người Việt Nam ta! Nay, nhìn khắp trong bờ cõi nước non, nhãn tiền thấy bao sự nhiễu nhương đã bất chấp quốc gia cường nhược, đau lòng thấy lắm người vô liêm sỉ, cam tâm bỏ mặc dân tộc thịnh suy. Kìa, trông lên, nào thì “trên có chính sách, dưới có đối sách” khiến cho đại cục đất nước như “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” làm rạn vỡ sự thống nhất chỉnh thể quốc gia; nào thì “đồ đệ đồng liêu”, “cả họ làm quan”, biến nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng” và họ là những “ông vua con, bà vua con” những mưu toan “anh hùng nhất khoảnh”, “rừng nào cọp ấy”, những “ông tướng, bà tướng”, cả những lũ “ruồi trên đầu hổ” tác yêu tác quái, làm muôn người, dù hiền lành nhất, cũng buộc nổi giận. Nọ trông xuống, đây thì đua nhau, mặc sức “làm quan thần tốc”, “nửa bước thành quan”, đó thì chạy vạy, luồn cúi “bố quan con bố cũng phải quan”, “chồng quan vợ cũng rắp lên quan”, dù đó chỉ là những kẻ “đổ bô”, “đuổi gà không đáng” hoặc phần đông là những hạng nhẹ thì “chữ chẳng hay, cày chẳng biết” hoặc một đống “bụt ốc, đầu rau”, “câu đương làm dấu chặt đứt ngón tay”... khiến cho nặng thêm bộ máy vốn đã cồng kềnh thân nặng, nhưng ngốn bồ thuế dân thì “như tằm ăn rỗi”, “đổ quán siêu đình”... đang làm ly tâm, những người bền lòng cố kết đổ mồ hôi, sôi giọt máu, chỉ vì quốc thái dân an. Quả đang là mối lo “vạ trong tường vách”, đại họa “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, như người xưa từng lo ngại! Lại nom sang phía trái, ở không ít nơi, nạn tham nhũng, nạn đạo chích tiền bạc của công nguy hơn chuột đào chân tường; nạn “đạo vị”, nói như Bác Hồ, là “ăn cắp chức vụ” hoành hành, thậm chí làm nhiễu loạn cả không ít chốn công quyền... khiến cho bao người hiền tài, không ít bậc trí giả đành “rũ áo khoanh tay” hoặc chịu thúc thủ, ngặt vì nỗi “nước xa không cứu được lửa gần”; lại ngặt nỗi “quan thì ở xa, bản nha ở gần”, “sấm sét chọn đánh vào... cột thu lôi”. Rồi, trông quẹo phía phải, những “sứ quân” xưa hiện về bằng “lợi ích nhóm” kéo kết nhau thành những “nhóm lợi ích” - nguồn cơn của những “liên minh tội phạm”, “liên minh ma quỷ” khuynh đảo nơi này, quấy phá chốn kia... đang “băm nhỏ” trăm mảnh lợi ích quốc gia, khiến cho muôn dân không ai không nổi giận, làm cho bè bạn, dù thành tâm nhất, cũng nản lòng. Bởi, “đục thì đánh chạm, chạm thì đánh khăng. Đòn đánh lý trưởng thì văng... cả làng”, vì cả sợ... Quả đang là mối họa “tự bắn chân mình”, “buộc đá chân mình nhảy xuống giếng khơi”, thậm chí “tự thắt cổ mình”, như tiền nhân truyền báo! Đoái trông lên, lại ngó xuống những bệnh hoạn khôn lường ấy rải rác ở khắp nơi, những hậu họa chết người ấy trú ngụ ở không ít kẻ, lại đang có chiều hướng lây lan... bỗng nhớ “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo, khuyên răn, như rút tự ruột gan mình: Rằng, có năm nguy cơ sẽ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; và năm là, sỹ phu ngoảnh mặt. Nhời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Lúc ấy, thử hỏi hối hận liệu có kịp không? Thật phải đáng lo xa! Nói như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Phải biết kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, chẳng khác gì chống họa ngoại xâm. Xem thế, lại chạnh nhớ chuyện của hơn trăm năm trước, với nhời của cụ Nguyễn Khắc Niêm, trong “Tứ tôn châm”: “Tôn tộc đại quy. Tôn lộc đại nguy. Tôn tài đại thịnh. Tôn nịnh đại suy”. Nghĩa là: Đề cao nòi giống ắt đại hòa hợp. Coi trọng bổng lộc ắt đại nguy nan. Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh. Ưa thích xiểm nịnh, ắt đại suy vong. Theo thiển ý, ấy là tư tưởng đau đáu, vì nước nhà tiến bộ. Nói rộng ra, “Tôn tộc đại quy” - đề cao sự đoàn kết dân tộc, mọi người phải quy về một mối quyết đặt Dân tộc, Tổ quốc, nòi giống lên trên hết. Có được điều đó thì vạn sự tất thành. “Tôn lộc đại nguy” không phải xem thường sự phát triển đất nước giàu có, vì dân giàu nước mới mạnh, mà “tôn lộc” ở đây muốn cảnh báo người làm quan nếu đặt lợi lộc của mình, mưu “lợi ích nhóm” để xâm hại lợi ích cộng đồng, phá vỡ lợi ích dân tộc, thì đó cũng là lúc nguy nan đang đến với đất nước. “Tôn tài đại thịnh” tức phải lấy “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nếu coi thường trí thức, nói như cụ bảng nhãn Lê Quý Đôn, thì “Sỹ phu ngoảnh mặt”. Nếu để họ đứng ra ngoài hành trình của đất nước, tất yếu đất nước suy vong. Nên cần thành thực trọng dụng tài năng, nói như Bác Hồ, “sao cho đối đãi với mọi người” thì việc họ toàn tâm phụng sự quốc gia, hỏi còn đáng lo gì nữa. Được thế, nhất định nước cường dân thịnh. “Tôn nịnh đại suy” - thời nào, ở đâu cũng nhan nhản người nịnh hót. Nếu chỉ thích nghe bọn xum xoe nịnh bợ, ắt biến phải thành trái, ắt biến người tốt thành người xấu... thì họa sát thân kia sẽ ở cận kề. Vì thế, phải đủ bản lĩnh, đủ trình độ, đủ độ tinh tế để nhận ra kẻ nịnh mà lánh xa, người trung để gần gũi, cộng sự. Từ chủ động cảnh giới, ngăn chặn “ngũ họa” quốc vong tới thành tâm hành sự “tứ tôn” vì nước, phải chăng ấy là một thái độ sống, bản lĩnh hành động cần có của bất cứ ai, trong đại cuộc dọn sạch hủ bại, chấn hưng và phát triển đất nước, ngõ hầu cũng tôn vinh quốc sỉ, gìn giữ và phát huy liêm sỉ cá nhân lúc này? Từ lâu, và đặc biệt, ngay chính lúc này đây, hôm 31-7-2017, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hạ quyết tâm, trong đại cuộc chống tham nhũng và hủ bại: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy... Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được...”. Cái Ngọn lửa Dân chủ - Đức trị và Pháp trị phải cháy lên! Và, càng không ai cản được, khi Lòng dân đã dậy sóng, đang giữ Lửa trong lò: “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”. Tất cả mỗi người, hãy giữ Lửa để rửa sạch “ngũ họa”, trên nền móng Dân là gốc Nước, Nước là nước Dân! Như thế, thiển nghĩ, chí ít việc khó hóa dễ, việc lớn hóa nhỏ, lo gì vạn sự hóa giải “ngũ họa” quốc vong kia chẳng thành!./.

Liêm Sỉ và Quốc Sỉ!

Xem khắp trong lịch sử từ cổ tới kim, dù bất cứ ở đâu, dẫu bất kể thời nào, cổ nhân ta cũng coi trọng, biểu dương, nêu cao và giữ gìn Liêm, Sỉ! Vì đặng làm một người chân chính thì dù là ai, cũng không thể xa rời Liêm, Sỉ! Ấy là cái Hồn để chăm cho cho cái Căn bản con người xứng đáng là Con người, cái Cốt để vun cho cái Gốc thể chế vững mạnh. Vì muốn xứng đáng một quốc gia thì cần phải có Quốc Sỉ, Quốc thể. Liêm Sỉ và Quốc Sỉ là những giềng mối căn bản làm nên địa vị, tiếng tăm, sức mạnh một con người; vị thế, sức mạnh và thanh danh Đất nước! Thanh sạch, liêm khiết ấy chính là Liêm vậy. Người liêm khiết thì bất luận gặp hoàn cảnh nào cũng không động lòng tham cầu, cũng chẳng muốn ham hố vật chất. Hơn nữa, chính là tinh thần chí công vô tư, “dĩ công vi thượng” và biết quên mình mà làm chuyện ích lợi chung. Người liêm khiết thì luôn giữ cho nhân cách mình được vẹn toàn, thanh danh mình được thơm tho, không lợi dụng địa vị mình để chiếm công vi tư, để nhũng nhiễu, bóc lột đồng loại. Một công bộc quốc gia liêm chính phải: có đức, tài, biết kính trọng nghề nghiệp, vui vẻ với mọi người, công chính vô tư, biết lễ biết phép, biết hay dở phải trái... Chung quy, một người liêm chính là người tài đức xứng với danh vị của mình, với chức tước, phận vị của mình. Liêm cũng lại là thấy của người, của quốc gia mà lòng không ham chiếm đoạt một cách phi pháp. Tức là biết xét nét đâu là giới hạn giữa công và tư, rồi không dám làm điều xấu, điều trái với quốc pháp và đạo lý luân thường. Nhất là không che đậy điều xấu, nghĩa là đức hạnh vẹn toàn. Nếu không Liêm thì của gì cũng cả gan lấy, không Sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế, thì không chỉ rước họa thân bại danh liệt, và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi lại là kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn làm, thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được! Sỉ là biết xấu hổ, tức là biết hổ thẹn. Gặp chuyện gì không hợp đạo lý, đi ngược lại với lương tâm của mình thì tuyệt đối chẳng làm. Sẽ là mang tiếng xấu hổ vì khi không làm tròn phận sự mình, vì những điều xằng bậy mình đã trót nhúng chàm. Càng là xấu hổ vì mình đã không theo được lý tưởng mình đã vạch ra. Xấu hổ là lúc trong lòng thời gian ác, xấu xa mà bên ngoài mặt thời dùng lời nói hay, bộ tịch khéo léo, lịch sự để che đậy. Xấu hổ là khi bề trong thì oán ghét người, mà bên ngoài lại giả tảng thân thiết với người. Xấu hổ là khi trong nước còn nghèo, Nhân dân thiếu thốn, mà mình dùng những phương tiện bất chính để trở nên “giàu có bất thường”, dư dật kệch cỡm. Xấu hổ là lúc nào cũng bo bo nghĩ đến lợi lộc, áo cơm vị kỷ, còn gia phong, vận nước thì mặc cho gió cuốn nổi trôi. Người xưa nói, xấu hổ khi tài đức không xứng với chức vị, khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách, để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ; khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố... vô hình trung đã vứt bỏ mất tấc lòng hổ thẹn của mình rồi. Vì thế, Liêm Sỉ là tính rất hay của loài người. Cổ nhân nói: Khi đã không còn có Liêm, Sỉ như mọi người, thì làm sao mà còn là giống người được nữa! Nó là cái đại tiết để giúp con người nên Người. Vì, người mà không Liêm thì cái gì cũng mưu đoạt lấy, không Sỉ thì việc gì cũng rắp tâm làm. Nhưng, khi mắc tội lại tỏ ra hèn hát, quỵ lụy, van lơn, tự hạ nhục mình! Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất là những bậc đứng chủ trương việc nhà, chủ trì việc công mà vô Liêm, vô Sỉ thì thân khoác ươn hèn, nhà phải suy bại, nước phải nguy vong! Cùng với Lễ, Nghĩa, thì Liêm, Sỉ hợp thành bốn đầu dây của một quốc gia. Một đầu dây đứt thì nước phải nghiêng. Hai đầu dây đứt thì nước phải nguy. Ba đầu dây đứt thì nước phải đổ. Bốn đầu dây đứt thì nước phải diệt.Nếu nghiêng thì còn làm cho ngay lại được; nếu nguy có thể làm cho yên được; nếu đổ thì có thể nâng lên được; nếu diệt vong thì không thể nào gây dựng lại được nữa. Thế mà từ bấy lâu nay, nhất là mấy năm nay, thử ngó trông mấy người đứng ra “giải trình” mà như là lấp liếm, cả tiếng “minh bạch hóa” nhưng lại tự chuốc tối tăm cho mình về sự phất lên chóng mặt đến mức bất thường của những khối tài sản to sụ của họ (cố bằng mọi cách để cướp đoạt): những “biệt phủ”, những “của nả như núi”, bào chữa cho “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, thậm chí nhen nhóm cả những “sứ quân”... mà thấy sự Liêm thời nay bị họ xúc phạm, chà đạp, bị làm cho tổn thương, thậm chí bị làm cho... bị xỉ nhục đau đớn! Lại đoái nhìn những bản “tự kiểm điểm”, “rút kinh nghiệm” chốn công vụ của những “bộ mặt mo” tới mức quẩn quanh, dối trá mưu toan che đậy những mánh lới, thớ lợ của âm mưu “lẻn” vào chốn quan trường, rắp “cả họ làm quan”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ...” mà không ai không... khinh bỉ. Rồi những thói lươn lẹo, cong queo, xảo trá, khuất tất nơi chính trường, trái với nghĩa chính trị là sự ngay thẳng (“chính giả chính dã”) khiến ai ai cũng... nổi giận! Vì chữ Sỉ bị chà đạp! Tệ hơn, cả thói quan chức “giả trang” thỏa chí “xuất ngoại chui”, rồi thói “táy máy” ti tiện, hành xử xa lạ với thứ văn hóa làm người ở nước ngoài, bất chấp thanh danh người Việt, thậm chí đây đó cả sự ươn hèn, hổ nhục trong bang giao quốc tế làm phương hại thể diện người nước Nam ta... mà dù ai trông thấy cũng phải bất bình, bỉ mặt! Họ có biết Quốc Sỉ bị tổn thương không? Gớm ghiếc thay, lắm người rình rập “cuỗm lấy” cả trăm, nghìn tỷ đồng trong quốc khố, giở trò “đạo vị” bất chấp Liêm, Sỉ ở chốn công đường mà làm ngơ quốc nhục, thậm chí cả mưu mô “ăn cắp, buôn bán niềm tin” của Nhân dân, nhắm mắt cố tình xúc phạm quốc an mà không biết sợ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”..., lại còn lên mặt rao giảng nghĩa khí, càng thấy điều Sỉ ở thời nay bị họ làm cho bại hoại, bất chấp cả đạo lý, luân thường. Họ có thấu đấy là xương máu, lòng tin ký thác của đồng bào gom góp lại không? Và, sự hành Sỉ bị họ bôi nhọ, bẻ cong, chặt cụt, báng bổ cả đạo lý ở đời, chỉ thoáng thấy thôi, nhưng cũng đủ khiến bất cứ ai ai, dù hiền từ nhất, cũng không thể không bị xúc phạm và nổi giận, mà họ vẫn cứ nhởn nhơ không sợ quả báo sao! Tham nhũng không chỉ táng thất Liêm Sỉ cá nhân mà còn làm nhục Quốc thể trong các mối quan hệ bang giao quốc tế. Họ có biết, ấy là sự tự sát không? Liêm, Sỉ là nền tảng của đạo làm người. Chính những người ấy, chứ không phải ai khác, là hiện thân của thói ô nhục làm cho nhân tình đảo ngược, làm cho phong tục suy đồi, khiến cho chính thể tổn thương, niềm tin nơi Nhân dân bị xâm hại. Những ai chỉ biết chăm chăm xu thời nịnh đời, vơ vét, biển thủ tài sản quốc dân,... nếu thử nghĩ lại, thì chẳng đáng cả thẹn lắm sao, chẳng đáng phải tự mình phải lấy đó làm run sợ, kinh hãi lắm sao! Nếu cho Liêm, Sỉ là sự xấu hổ chung cho cả nước, mà họ “nhân danh” mọi thứ hành xử như thế, dù trong bờ cõi hay ngoài cương thổ, thì Quốc sỉ bị tổn thương, Quốc thể bị vấy bẩn, âu cũng không phải là sự nói ngoa. Ở đời, những công bộc giữ Sỉ thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm kia sẽ còn; chứ khi Liêm, Sỉ đã mất, nhất là Sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý ở đời, ai còn mong, còn tin cậy vào chính nghĩa quang minh nơi đâu được nữa? Nhất là những người giữ trọng trách, dù ở cấp nào, mà Liêm bị khinh, Sỉ bị hạ, thì danh dự nước nhà như “trứng để đầu đẳng”, thì Đảng và Nhân Dân biết trông đợi và dựa vào ai chính đại và lỗi lạc được nữa? Lúc ấy, thì vận nước nguy nan như “Gươm treo chỉ mành” kia hoặc họa quốc vong như “Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, vòng Dân tộc bị nô lệ ắt sẽ cận kề, thì còn ai, còn đâu mà nói về Liêm, về Sỉ, mà luận về Quốc sỉ hay Quốc thể được nữa! Vì thế, dù cho thế nào, đã bao thời qua và nay muôn dân đã xác quyết: Ai đó có thể bị nghiêng, ai đó có thể tự diệt, vì không Liêm, Sỉ, chứ quyết không thể để Nước nghiêng, bị diệt hay tự diệt. Thế nên, thiển nghĩ, cùng với Lễ, Nghĩa thì Liêm, Sỉ nhất định phải được gìn giữ vẹn toàn, để mỗi người trở thành Người, để Quốc gia vững bền, Dân tộc cường thịnh! Liêm Sỉ được tôn vinh, Quốc Sỉ, do đó, mà ngày càng cẩn trọng làm cho sạch sẽ tinh tươm (“tuyết Quốc sỉ”), Quốc thể theo đó mà ngày càng vững vàng, tỏa sáng! Càng trông, càng ngẫm những chuyện như thế, nhỏ thì thử hỏi ai mà không lo cho Liêm, Sỉ, đạo lý ở đời bị nhiễu loạn; lớn thì không thể không tự vấn rằng, mọi cấp, mọi ngành, nơi đâu không canh cánh lo âu về trách nhiệm rửa sạch Quốc sỉ nước nhà, địa vị và uy tín cao thấp của Quốc thể giang san xã tắc nước Nam ta trên cõi hoàn cầu!? Đến đây, nhớ câu chuyện kể hơn 88 năm trước, khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được giới thiệu gia nhập Trung ương Đảng lâm thời, đã từ chối và đề cử đồng chí Trần Văn Lan thay mình, mà xiết bao cảm phục trước một nhân cách lớn, có thể là nói tấm gương vô song mang tầm vóc một lãnh tụ. Và nay, trước nghĩa cử “treo ấn từ quan”, “cởi áo”, “trả lại chức vụ” khi việc công được hứa trước Dân mà không thành do lẻ loi, do bị vô vàn “lực cản” hữu hình và vô hình ngáng trở; lại có người xin “về nghỉ sớm” mấy năm, để nhường vị trí lãnh đạo của mình đang nắm giữ cho lớp trẻ... càng bỗng vui rằng cái Liêm, Sỉ về sự “tri túc, tri chỉ” (biết đủ, biết dừng) hẵng còn vằng vặc sáng trong đời này! Nhưng, lo ngại rằng, mấy vị ấy chỉ là “quan nho nhỏ”, lại rất thưa thớt, còn bao “ông cả, bà nhớn” kia lại vốn gây bao nhời ong tiếng ve làm u ám Dân tâm, hoen ố thiên hạ, há đã mấy ai dám làm theo Liêm, Sỉ trên đời, và há mong gì ở họ về Quốc sỉ hay là Quốc thể nữa? Vì thế, hiện thời, chẳng thể lùi bước và quyết không thể không làm: Khi Đạo lý chưa đủ răn, Liêm Sỉ chưa đủ thức, Đạo đức chưa đủ chuyển, Trách nhiệm chưa đủ buộc, Hậu họa chưa đủ sợ, Tự thân chưa quyết sửa, chưa biết tự xử (tối thiểu là từ chức, là “tam ban triều điển” xưa)... thì Pháp lý phải được toàn dụng, Dư luận kiểm soát phải được tôn vinh, với tinh thần Dân chủ, muôn người Bình đẳng, với phương châm “Quốc pháp vô thân”! Không trừ một ai, không ngoại lệ một cấp nào, không bỏ sót một nơi đâu!

"Cầu thủ đa năng"

Trong trào lưu bóng đá hiện đại, bóng đá tổng lực, các huấn luyện viên, tuyển trách viên thường coi trọng xu hướng đào tạo, sử dụng các cầu thủ “đa năng” có thể chơi được ở mọi vị trí. Tuy vậy, họ không bao giờ tuyệt đối hóa điều đó. Tài năng của mỗi cầu thủ ở những vị trí chuyên biệt vẫn là tiêu chí hàng đầu trong lựa chọn cầu thủ cho đội bóng của ban huấn luyện. Đa năng hóa cầu thủ vẫn chỉ là một chiến thuật mà thôi. Nhưng đó là câu chuyện của bóng đá. Trong làm ăn kinh tế, người Việt ta có lời khuyên rất ý nhị: “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết” với hàm ý mỗi người hãy cố học lấy một nghề thật giỏi, thật “tinh” phù hợp với bản thân mình để mà kiếm sống, lập thân, lập nghiệp. Nhưng đó cũng chỉ là chuyện của “cái đời” dân dã. Bởi nếu có thua thiệt, thất bại thì cái hại mới chỉ liên quan đến một hay một nhóm ít người mà thôi. Trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý, vai trò người đứng đầu liên quan không chỉ đến số phận hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu con người mà còn đến sự phát triển hoặc trì trệ của cả xã hội, bởi vậy người đứng đầu ngoài đủ đức thì còn phải có chuyên môn sâu. Không thể “đa năng hóa cán bộ” như kiểu cầu thủ bóng đá đa năng trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ. Anh bạn tôi là một trường hợp thú vị của việc “đa năng hóa cán bộ” đó. Khi còn ở trường đại học, học lực của anh thuộc loại trung bình. Tốt nghiệp đại học, anh không được giữ lại ngạch cán bộ giảng dạy của trường. Song, do ở anh có những ưu thế: đã trải qua quân đội, là đảng viên, tính tình cởi mở, và đặc biệt là lý lịch của anh thuộc diện “thành phần cơ bản”, nên anh được nhận làm giáo vụ của trường. Sau đó, nhờ mối quen biết, anh được nhận về làm công tác nghiên cứu khoa học ở một viện nghiên cứu. Qua hai năm, anh không tỏ ra có năng lực nghiên cứu khoa học, nên lãnh đạo viện buộc phải chuyển anh sang làm trợ lý đào tạo của một đơn vị khác, phụ trách về hồ sơ, giấy tờ, thực chất công việc anh làm như một nhân viên văn thư lưu trữ. Rồi anh trúng vào cấp ủy của chi bộ. Còn trẻ, lại hiền lành, việc chuyên môn cũng ít, nên anh được giao “trọng trách” làm bí thư chi bộ. Rồi lại vì “cơ cấu”, anh trúng cử vào đảng ủy cơ quan. Và thế là, “do yêu cầu nhiệm vụ chính trị phải gắn với thực tiễn công tác”, anh được đề bạt làm phó ban đào tạo. Cũng vẫn phụ trách hồ sơ lưu trữ, nhưng nay đã là phó ban, anh có thêm chút quyền - quyền khen, quyền chê. Hai năm sau, đồng chí trưởng ban đến tuổi nghỉ hưu. Anh trở thành trưởng ban. Rồi một năm sau nữa, do yêu cầu khách quan và để tiện giao dịch, làm việc với các cơ quan bên ngoài được thuận lợi hơn, cái ban bé xíu của anh được nâng cấp thành vụ. Và anh trở thành vụ trưởng. Giờ thì anh nắm trong tay quyền khen, quyền chê, đánh giá năng lực, trình độ, khả năng phát triển của hàng trăm cán bộ khoa học đủ cỡ từ các giáo sư, tiến sĩ đến các nhà khoa học trẻ; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các đề tài nghiên cứu của họ; “ban phát” các chuyến xuất ngoại cho ai đó theo nguyên tắc “có trời mới biết được”. Và anh đang chuẩn bị để bảo vệ “đặc cách” luận án tiến sĩ chuyên ngành. Có lẽ cũng phải thế thôi, vì không lẽ người phụ trách việc đào tạo, phát hiện, nâng đỡ các nhà khoa học, tài năng khoa học của một cơ quan khoa học tầm cỡ mà lại không có một học vị khả kính nào! Chỉ có điều đáng nói ở đây là, chính vì anh không giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, nên vừa bị cấp dưới không phục, thậm chí lợi dụng để làm ăn phi pháp và tiến thân, vừa gây nên phản ứng, sự trì trệ, chồng chéo công việc trong vụ. Mặc mọi người, anh vẫn “yên bề tại ngoại”, vẫn ngồi “vững như bàn thạch” trên cái ghế của anh. Cứ cái đà này, và với kiểu bố trí cán bộ như vậy, thì rồi một ngày nào đó, nếu anh chuyển công tác thì tất nhiên anh cũng sẽ lại làm vụ trưởng hoặc được “thăng” cao hơn. Đã có cấp vụ trưởng rồi, ở đâu mà chẳng làm vụ trưởng được! Trong tình hình hiện nay, khi chúng ta đang nói nhiều, bàn luận nhiều về công tác cán bộ, về năng lực, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ cùng với việc tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn “thà ít mà tốt”, thì vấn đề đặt ra là phải căn cứ vào phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn và tính chất, yêu cầu công việc cụ thể để bố trí, tuyển chọn một cách cẩn trọng, khoa học và khách quan nhất, nhằm phát hiện những người có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để lãnh đạo công việc đó. Nhưng xem ra, từ chỉ thị, nghị quyết, chính sách đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách quá xa. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “người cứ như con dao pha”. Đó là lời khen cho những ai có khả năng làm được nhiều loại việc của đời thường. Thế nhưng, trong cái ngạch tổ chức cán bộ nếu chỉ dùng cán bộ như “con dao pha” hay như kiểu “cầu thủ đa năng” trong bóng đá, như trường hợp anh bạn tôi ở trên (mà trong xã hội ta hiện nay không thiếu), thì xem ra không ổn. V. I. Lê-nin đã nói: ở trong quần chúng nhân dân có rất nhiều tài năng, cần phải phát hiện và sử dụng họ vào cuộc kiến thiết xã hội mới. Nhưng vấn đề quan trọng là phát hiện ai và phát hiện như thế nào, với biện pháp nào và sử dụng ra sao, chứ nếu cứ như “sự phát hiện” ra người như anh bạn tôi thì không phải là phát hiện mà là phát… họa. Còn bao nhiêu “vị thủ trưởng” như anh bạn tôi đang yên bề tại ngoại trong các ngành, các địa phương?./.

MẢNH ĐẤT THIÊNG LIÊNG!

 


Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa

Mảnh đất thiêng liêng của nước nhà

Luật biển, năm châu - đều xác nhận

Cội nguồn, lịch sử - thuộc về ta.

Bao đời con cháu lo gìn giữ

Mấy thuở ông cha đã dựng cờ

Đất trời, biển đảo, biên cương đó

Da, thịt, xương ta - máu lệ nhoà.


Rủa nguyền bè lũ quân bành trướng

Luật lệ coi thường gây nhiễu nhương

Lợi dụng chiến tranh rồi chiếm đoạt

Hoàng Sa yêu quí mãi kiên cường.

Toàn dân kiên quyết cùng chung sức

Cả nước đồng lòng với bốn phương

Bền bỉ đấu tranh đòi chính nghĩa

Chủ quyền biển đảo của Quê hương.


(sưu tầm)

“Văn hóa diễn”

Sau Tết Nguyên đán được mấy ngày, Ủy ban nhân dân phường nơi tôi cư trú tổ chức Tết trồng cây. Đến giờ hiệp đồng, khi thành viên câu lạc bộ “tình nguyện xanh” đã tập hợp đông đủ tại thực địa thì cũng là lúc chị Hạnh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy đi xe tới nơi. Xuống xe, chị Hạnh nhanh nhẹn khoác chiếc áo lao động bên ngoài, đi đôi găng tay gai đã cũ và không quên lấy xẻng trong cốp xe rồi bắt tay ngay vào việc đào hố trồng cây như những người bình thường khác. Vừa làm chị vừa nói cười vui vẻ, động viên mọi người lao động mà không có khoảng cách. Điều này khác quá xa với những hình ảnh khá phổ biến trên truyền hình khi đưa tin về Tết trồng cây hoặc cán bộ, quan chức các cấp trồng cây lưu niệm khi đến thăm một cơ quan, đơn vị nào đó. Tại những sự kiện ấy, hình ảnh quen thuộc là các quan chức, lãnh đạo sang trọng trong những bộ véc; họ đội mũ bảo hiểm, đeo găng tay trắng muốt và cầm xẻng cán thắt nơ lụa rực rỡ hất tượng trưng tí cát, tí đất vào một gốc cây đã trồng từ trước rồi cầm cái roa nhỏ đã có sẵn nước ở bên cạnh tưới cây. Xung quanh “nhân vật trung tâm” là rất đông quan chức, lãnh đạo cấp dưới và cả phóng viên chứng kiến. Việc này chẳng có gì để nói nếu những hình ảnh như thế không lặp đi lặp lại giống một nghi thức đã quy định trong văn bản Nhà nước, được nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện rất giống nhau. Và dư luận gọi chung đó là “văn hóa diễn”. Chẳng thế mà trong phiên họp đầu xuân về tình hình và kết quả thực hiện Chỉ thị số 16 của Ban Bí thư về tổ chức Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, khi nói về chuyện trồng cây dịp Tết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận xét: "Hôm trước chúng tôi nêu cái ý định là năm nay làm một cái Tết trồng cây bảo vệ rừng vì cái nạn phá rừng nhiều quá mà. Làm sao cho nó thiết thực, cứ cầm cái xẻng nghêu ngao, cầm ra lút cán, trông là người ta biết ông này không phải là trồng cây. Gẩy gẩy mấy tí đất, chân thì đi giày, xong lại đưa cái khăn với chậu nước, nó phản cảm quá”. Hiện nay, “văn hóa diễn” mà thực chất là sự phát triển cao độ của bệnh hình thức đã được Bác Hồ chỉ ra từ những năm 1947 trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” không bị loại trừ mà ngược lại ngày càng ăn sâu bám rễ vào rất nhiều hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thứ văn hóa này như vi-rút độc hại không chỉ có ở các lễ kỷ niệm truyền thống, khánh thành, động thổ, đón phần thưởng... mà nó ăn vào cả trong công tác tổ chức của Đảng, nơi vốn được xem là có kỷ luật nghiêm minh và tính tư tưởng cao nhất. Điển hình là việc nhiều chi bộ không tổ chức sinh hoạt để ra nghị quyết định kỳ, không tiến hành kiểm tra Đảng theo đúng quy định của Điều lệ hiện hành mà “chống đối” bằng cách hợp thức văn bản. Hoặc ngay cả công tác tổ chức thi tuyển nhân sự cũng làm hình thức theo đúng quy trình, nhưng kết quả thì người tài, người giỏi không được chọn mà “trúng tuyển” lại là những “nhân vật” thuộc nhóm 5C (con cháu các cụ cả), trong đó có cả những “nhân vật” học các trường đại học chuyên ngành khác với chuyên môn và học lực thuộc diện “đứng thứ nhất” tính từ dưới lên. “Văn hóa diễn” còn hiện diện cả trong công tác kiểm tra. Khá phổ biến là khi có kế hoạch kiểm tra của cấp trên thì lãnh đạo đầu tư thời gian, nhân lực để củng cố môi trường, cảnh quan, sổ sách, văn bản sao cho đúng với quy định, để kịp báo cáo theo kiểu “nín thở qua sông”. “Văn hóa diễn” cũng được “bệnh thành tích” dung dưỡng để “có đất” phát triển, sống khỏe. Điển hình là việc các địa phương, cơ quan, đơn vị cố “vẽ” thành tích trên giấy sao cho đúng tiêu chí và thật kêu để đạt mục tiêu thi đua rồi liên hệ với cơ quan truyền thông phô diễn kết quả, nhằm để “vua biết mặt, chúa biết tên”. “Văn hóa diễn” về thực chất là chỉ nhằm đánh bóng tên tuổi, lấy lòng cấp trên và để đạt mục đích cá nhân, khoe mẽ, “quảng cáo” thành tích theo kiểu “nhờ bóng quan nhớn”. Hậu quả của “văn hóa diễn” là gì? Việc nhìn rõ nhất là lãng phí về vật chất, tiền của, thời gian và nhân lực. Bởi kết quả mang lại chỉ giải quyết được lợi ích trước mắt là khoe mẽ./.

Đi tìm hình bóng người thầy

“Tôn sư trọng đạo” vốn là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Xưa đã vậy, nay có khác. Sứ mệnh giống nhau, mục tiêu không thay đổi, nhưng góc nhìn và khoảng cách thầy - trò, nhà trường - phụ huynh, nền giáo dục - xã hội đang có những chiều không thuần nhất. Tín hiệu vui cũng có, nhưng những chuyện buồn không hiếm. Bệnh thành tích, thiếu lộ trình trong cải cách thi cử rồi bạo lực học đường đã và đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Liên tiếp những hành vi không đẹp diễn ra trong một thời gian ngắn đủ để người ta đặt ra câu hỏi: Đâu rồi hình bóng người thầy trong một môi trường mô phạm? Sự phát triển của xã hội cùng với sự du nhập của văn hóa ngoại lai đang làm nên một thứ “dân chủ quá trớn” trong trường học. Sự thân thiện thoái quá dễ trở thành thầy trò như thể ngang trang, ngang lứa với nhau từ kiểu cách xưng hô đến áo quần, giày dép. Lấy trò làm trung tâm, vì thế, vô tình học sinh và phụ huynh coi mình là số một. Nhất cử, nhất động của giáo viên được cập nhật lên mạng xã hội. Không học bài bị cô la, phạt (dù dưới hình thức nhắc nhở hay cảnh cáo) cũng là đề tài để có hẳn một cộng đồng mạng phán xét, truy kết. Để yên thân, thầy cô chọn “im lặng là vàng”. Nhưng “vàng” rồi lại biến thành “tro” khi vô hình chung lại là điều không thuận. Không nói đồng nghĩa là không có sự tương tác qua lại, không có sự gắn kết giữa thầy và trò. Đừng nói đến kiến thức mà tình cảm cô trò còn xa hơn khoảng cách giữa bục giảng và lớp học. “Thôi thì mặc kệ, chúng ưa học gì thì học”, không ít thầy cô chặc lưỡi trước sự nhếch nhác, lười biếng của không ít học sinh. Khi người học không chú trọng mục đích học tập, coi đến trường với tinh thần “vui là chính”, còn thách thức cả thầy cô cho chúng ở lại lớp, thì vị trí của người giáo viên là gì khi xung quanh trường giăng giăng những câu khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Sự bất lực hay tâm lý lo sợ đã ngấm ngầm ăn mòn nhuệ khí, nhiệt huyết của những người truyền lửa. Một thực tế không thể phủ nhận khi ở đâu đó, trình độ nhận thức và phẩm chất đạo đức của một bộ phận giáo viên chưa đạt chuẩn. Khi thầy cô đứng lớp, một tay cầm phấn, tay kia lướt điện thoại. Hay cô giáo mặc quần đáy ngắn, tóc nhuộm nâu vàng đủ kiểu, thầy hút thuốc lá phì phèo, lên lớp còn thoang thoảng mùi men. Nhìn qua những hình ảnh ấy, dù tân thời nhưng đã làm méo mó phần nào sự chỉn chu, nghiêm túc về mẫu hình sư phạm trong mắt trò, phụ huynh và xã hội. Đó là chưa kể sự non yếu trong giáo dục học sinh về tri thức và nhân cách. “Nhất quỷ nhì ma”, học trò thời nào cũng vậy, hiếu động và nghịch ngợm. Nhưng nếu để so sánh “trò xưa” với “trò nay” thì sự khác nhau dễ nhận thấy nhất, đó là: xưa ngoan ngoãn, nay nhạy bén. Sự “nhạy” từ việc tiếp nhận tri thức đến cách nhìn nhận cuộc sống. Do vậy, “dạy” gắn liền với “dỗ”, uốn nắn kịp thời. “Nhu” quá không được, nhưng “cương” quá không xong, thế nhưng không phải người cầm phấn nào cũng ý thức được điều đó. Họ tự cho mình quyền được bắt ép, dọa nạt, sỉ nhục với lập luận “thương cho roi cho vọt”. Thế nhưng, sự quá tay, quá miệng… lại trở nên phản tác dụng, phản đạo đức và đi ngược lại mục đích giáo dục con người. Ấy là họa, là mảng màu xám giữa một bức tranh tổng thể còn rất nhiều màu xáo trộn của giáo dục nước nhà. Khi cơ chế thị trường phát triển, giá trị vật chất được đề cao, ngày lễ tết của các thầy cô lại trở thành chủ đề của các phụ huynh hơn là học sinh. “Đi bì thư cho khỏe”! Mặt trái của vấn đề “nhạy cảm, tế nhị” này đã nhuốm vào đầu óc non trẻ của học sinh về mối quan hệ cô - trò, giáo viên - phụ huynh trong sự gọn nhẹ nhưng thờ ơ, vô cảm! Đời sống giáo viên vẫn mãi là bài ca muôn thuở khi chưa đến tháng đã hết lương, nghề tay trái của thầy cô trong thời đại công nghệ 4.0 không gì nhiều bằng bán hàng qua mạng, tiếp thị bảo hiểm… Chuyện bi hài là không hiếm học sinh, phụ huynh lại trở thành bạn hàng, khách hàng, đối tác của cô, thầy. Vì vậy, khó để có khoảng cách chừng mực cần thiết giữa người dạy và người học, cũng như sự toàn tâm của thầy cô. Đi tìm hình bóng thầy giáo già, áo dài quần nải, tay mang sách thánh hiền như những bậc hiền triết của một thời đã xa, giờ chỉ là dĩ vãng. Nhưng nhân cách của các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đồ Chiểu… mãi là những bức tượng đài trong nền tảng đạo đức - tri thức - cách mạng của giáo dục nước nhà. Hôm qua vẻ vang, hôm nay vẫn thế, còn có rất nhiều những chiến sĩ vô danh không tên, không tuổi ngày đêm vượt hàng nghìn ki-lô-mét đưa con chữ đến với những em nhỏ nơi địa đầu Tổ quốc hay hải đảo xa xôi. Đẹp thay là hình ảnh bà giáo già Hồ Hương Nam, ở cái tuổi 83 vẫn miệt mài dạy chữ bên những đứa trẻ bệnh tật, hay thầy Đặng Văn Cương tự tay chăm cậu học trò tí hon Đinh Văn K’Rể khôn lớn từng ngày. Còn nhiều, nhiều nữa những tấm gương nhà giáo chưa được biết tới, chưa được vinh danh, nhưng cái đích của họ chỉ là đơn giản với hai chữ “trồng người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “nghề nhà giáo không chỉ trau dồi về kiến thức phổ thông mà cần trau dồi đạo đức cách mạng”. Cái đẹp và cái chưa đẹp vẫn còn đan xen nhau, nhưng để phân biệt được cái nên học và điều nên tránh là trách nhiệm của những thầy. Tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, không ngừng trau dồi tâm lý sư phạm và phương pháp giáo dục hiệu quả, đó vẫn còn là con đường học hỏi không ngừng. Thế nhưng, để phân định chính xác vị trí của người thầy trong nhà trường và xã hội cần có sự chung tay. Thầy không thể tròn vai nếu người học không hợp tác, quan hệ nhà trường và phụ huynh sẽ rời rạc bất nhất nếu như cha mẹ ỷ thác toàn bộ nhận thức và lối sống lên thầy cô, xã hội thích phán xét hơn là khách quan và bình tâm, dễ dãi đầu vào rồi lại chật vật, sấp ngửa tìm kiếm đầu ra cho ngành sư phạm, lương sao cho giáo viên toàn tâm hơn để họ chân thấp, chân cao với nghề tay trái. Robot có thể làm hộ con người nhiều thứ trong cuộc sống sinh hoạt, nhưng người thầy trên bục giảng thì không có gì có thể thay thế được. Vị trí cao cả nhưng không kém phần vất vả, gian nan khi xã hội trao cho họ trọng trách đối với thế hệ tương lai của đất nước. Tự mình phải xây dựng hình ảnh và tạo nên thương hiệu “người giáo viên nhân dân” là một trọng trách và vinh dự của những ai đã, đang và sẽ trở thành những thầy, cô giáo./.

“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”

Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân. Đến hẹn lại lên, cứ cuối năm là các cơ quan, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả công tác của năm, đề ra phương hướng, kế hoạch cho năm tiếp theo. Bao giờ cũng vậy, phần không thể thiếu và được mọi người háo hức mong chờ là tôn vinh các danh hiệu thi đua. Đi kèm với bằng khen, giấy khen là chút phần thưởng, động viên, khuyến khích vật chất. Thi đua, khen thưởng là nhằm tạo động lực lôi cuốn, khuyến khích mọi người vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có sự kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích vật chất. Danh hiệu thi đua là hình thức ghi nhận, biểu dương, tôn vinh cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào, hơn thế nữa, còn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ… Tuy nhiên, tổng kết cuối năm ở không ít cơ quan, khi danh sách các cá nhân được xướng lên thường nổi lên những tiếng xì xào: “toàn thấy lãnh đạo nhỉ? nhân viên sao ít thế?”. Trên bục vinh danh đa số là lãnh đạo, tìm mãi mới thấy nhân viên… “Đúng là danh hiệu thì từ trên xuống, cuốc xẻng thì từ dưới lên”, “Lãnh đạo toàn xuất sắc thế thì từ năm sau để lãnh đạo làm hết một thể, lĩnh thưởng luôn, cần gì anh em nữa” - lại có những tiếng xì xào. Nghe xong những câu này, nhiều người giật mình, không khỏi e ngại. Đành rằng vai trò lãnh đạo là rất quan trọng, nhưng nếu chỉ có toàn lãnh đạo nhận khen thưởng thì đúng là anh em thực sự ngậm ngùi và chưa “tâm phục, khẩu phục”, bởi lãnh đạo hưởng đãi ngộ cao thì đòi hỏi phải cao, thành tích phải thực sự xứng đáng và thuyết phục. Người lãnh đạo, cùng trách nhiệm với công việc thì cũng đã có những đãi ngộ vượt trội, đòi hỏi phải có đóng góp tương xứng. Còn với người lao động, những lời khen và danh hiệu thi đua là nguồn động viên rất lớn, ghi nhận những nỗ lực mà họ phấn đấu trong suốt một năm trời. Đó cũng là sự nhìn nhận, đánh giá của lãnh đạo và tôn vinh của đồng nghiệp đối với họ. Hiện tượng “thành tích thì lãnh đạo hưởng, khuyết điểm thì tại nhân viên” ngày càng trở nên phổ biến, và có phần không bình thường, bởi trong số những lãnh đạo đó không phải ai cũng xứng đáng. Bởi lẽ, nếu lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngoài thành tích chung thì đơn vị còn phải đoàn kết, không để xảy ra tình trạng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ hay công tác luân chuyển, lựa chọn, cất nhắc cán bộ phải đúng người, đúng việc... Sự vinh danh không thuyết phục chính là một trong những nguyên nhân làm giảm đi tâm huyết, sự cố gắng phấn đấu và năng lực làm việc của cán bộ, nhân viên. Lại có ý kiến cho rằng tất cả đều đúng với “quy trình”, “quy định”, rằng lãnh đạo cũng được anh em bầu bán từ cơ sở, không có ý kiến phản đối?. Thực tế, đâu có đơn giản thế!!! Nhiều lãnh đạo chỉ lo vun vén bản thân, “trang bị” đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện để nhận danh hiệu mà quên đi những nhân viên dưới quyền; khi bầu chọn đã có sự “định hướng”, “gà bài” thậm chí là xin xỏ… để cuối cùng có người giới thiệu để đưa ra bầu với lý do rất thuyết phục “lãnh đạo là bộ mặt” của đơn vị!!! Nếu lãnh đạo không có danh hiệu thi đua thì người ta đánh giá thế nào về đơn vị!? Thôi thì muôn vàn lý do rất chi là xác đáng!!! Cán bộ dưới quyền thì e ngại, thấy sai, thấy chưa thuyết phục cũng không dám đấu tranh vì sợ bị “trù”, chọn dĩ hòa vi quý, ậm ừ cho qua chuyện. Tưởng như mọi chuyện êm đẹp, câu chuyện danh hiệu thi đua cứ thế trôi đi. Tuy nhiên, dần dà, một tâm trạng bất mãn, tư tưởng làm cho xong, tội gì phấn đấu, có cố gắng cũng chỉ đến thế thôi, bắt đầu len lỏi, ăn sâu bám rễ vào một số người. Nhìn qua thì thấy bình an, nội bộ đoàn kết, không có vấn đề gì, nhưng thực chất một “làn sóng ngầm” đã xuất hiện, lan dần và có nguy cơ trồi lên lúc nào không biết. Câu chuyện thi đua tưởng chừng nho nhỏ vậy thôi nhưng nếu cứ tiếp diễn từ năm này sang năm khác thì e rằng sẽ không hề nhỏ chút nào. Đành rằng, ai chẳng thích được khen, được hưởng danh lợi, là lãnh đạo ai cũng muốn được cấp dưới tôn vinh, ngưỡng mộ… Nhưng mọi danh hiệu đều phải xuất phát từ kết quả lao động, từ sự cống hiến xứng đáng, được những người xung quanh đánh giá, nhìn nhận và tôn vinh. Còn nếu chỉ là danh hiệu “hờ” do mình tự “giành lấy” mà không được quần chúng chấp nhận, nể phục, tôn vinh, thì đó chỉ là thứ trang trí phù phiếm mà thôi! Là người lãnh đạo, nếu không tỉnh táo, không kiềm chế được cái tôi bản thân, không biết nhìn ra xung quanh mà chỉ lo vun vén cho cá nhân, thì sớm hay muộn, uy tín cũng sẽ bị giảm sút. Và điều gì đến rồi cũng sẽ phải đến. Người xưa đã có câu “tức nước vỡ bờ”, những bức xúc, tâm tư dồn nén, tích tụ cũng đến lúc bùng phát, gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức, đến công việc chung. Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải biết thấm nhuần lời dạy của Bác, phải chí công vô tư, "khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Đối với công tác thi đua khen thưởng, để có cơ sở chặt chẽ trong công tác bình bầu danh hiệu cuối năm, thiết nghĩ cần có sự tính toán lại quy chế thi đua cho phù hợp hơn. Ví dụ: cần phân định rõ giành bao nhiêu phần trăm cho các vị trí lãnh đạo, bao nhiêu phần trăm cho cán bộ, nhân viên. Có như vậy mới động viên, khuyến khích và phát huy tối đa tinh thần làm việc hăng say, sáng tạo và thi đua của quần chúng. Và những người được tôn vinh cũng cảm thấy tự hào, hãnh diện ngẩng cao đầu trước anh em, đồng nghiệp. Hội đồng Thi đua khen thưởng mỗi cơ quan, đơn vị cũng cần có sự nhìn nhận đánh giá đúng người, đúng việc, bởi trong thực tế có những người âm thầm làm việc, cống hiến, không màng danh lợi, hoặc như đã nói ở trên, để “giữ bộ mặt cơ quan” nên “nhường” cho lãnh đạo, thì cũng nên có sự ghi nhận, động viên xứng đáng, qua đó bảo đảm mục tiêu động viên, khuyến khích của thi đua. Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân./.

Nhập nhằng... trách nhiệm

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi. Theo Từ điển tiếng Việt, “Trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Còn “quyền lực” được hiểu là “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”(1). Mỗi chức danh cán bộ đều có quyền lực, quyền uy nhất định do Nhà nước, tập thể ủy quyền, giao cho. Nhưng nhiều người cứ ảo tưởng đó là quyền của riêng mình, thế nên lúc nào cũng nghĩ mình như “ông vua con”, tự tạo cho mình “lãnh địa riêng, tài sản riêng” theo kiểu “anh hùng nhất khoảnh”, rồi tự do tự tung, tự tác, thậm chí “tác oai, tác quái”, làm biến dạng, méo mó quyền lực công. Làm người lãnh đạo ai chẳng hiểu rõ nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, tập thể ở đây là ban thường vụ và cấp ủy. Trên thực tế, “ông thường vụ” có quyền hành to lắm. “Ông” có quyền chỉ đạo, cho ý kiến và nhiều khi quyết định những vấn đề hệ trọng, như nhân sự, tài chính, dự án đầu tư kinh tế... của cơ quan, địa phương mình. Ấy nhưng đó không phải chuyện để bàn cãi. Dư luận chỉ bức xúc với trường hợp khi những chủ trương, quyết sách đúng đắn, phù hợp, mang lại hiệu quả thì “ông” nhận; còn khi những quyết sách đó có bất cập, sai sót, kém hiệu quả thì lỗi thường bị “quy”... là do tập thể lãnh đạo, chứ đâu phải lỗi của cá nhân ông?!. Cái thứ quy “trách nhiệm chung chung”, đổ lỗi cho “cả làng” như thế cũng chỉ tại thái độ đùn đẩy trách nhiệm của người lãnh đạo! Tương tự, quy trình bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng nhân sự do ban thường vụ, cấp ủy cho ý kiến thông qua, nhưng ký quyết định bổ nhiệm lại là cá nhân người đứng đầu. Nếu cán bộ được bổ nhiệm bảo đảm đủ điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, kinh nghiệm, tuổi tác và được dư luận “khẩu phục, tâm phục” thì công là của “ông”. Còn nếu cán bộ chưa đủ độ chín; tuổi tác, kinh nghiệm và năng lực chưa tương xứng với vị trí được giao, lại bị dư luận phê phán và sau đó bị cơ quan chức năng cấp trên bãi bỏ quyết định bổ nhiệm trước đó, thì người đứng đầu lại “lý sự” rằng: quyết định nhân sự đúng sai đều do thường vụ thông qua, chứ bản thân “ông” cũng chỉ góp một lá phiếu mà thôi?! Cái sự “đổ vấy” trách nhiệm cho tập thể thực chất là biểu hiện thoái thác trách nhiệm cá nhân của người “đứng mũi chịu sào”! Theo nguyên tắc lãnh đạo, những vấn đề quan trọng, chính yếu bao giờ cũng phải được thường vụ, cấp ủy thông qua. Nhưng một khi người đứng đầu có tư tưởng, tác phong gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ thì nhiều khi thường vụ, cấp ủy chỉ là “tấm bình phong” để che đậy “ý chí hóa” cá nhân thủ trưởng. Có người đứng đầu miệng hay “thao thao bất tuyệt” là phải tôn trọng và phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng trong lòng khi thì khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo nương theo ý kiến cá nhân; lúc lại lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy. Cái sự bám dựa, vin vào “trách nhiệm tập thể” này cũng là một dạng trốn tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có chuyện tiêu cực xảy ra! Tình trạng đưa “con ông cháu cha” vào bộ máy công quyền; đua nhau “chạy” những dự án kinh tế “béo bở” để rồi gây thất thoát nhiều tỷ đồng của Nhà nước; vấn nạn “chạy chức, chạy quyền” và mối quan hệ “đi đêm” quan chức - doanh nghiệp thiếu lành mạnh... nổi cộm thời gian gần đây bị dư luận lên án, là sự tích hợp từ nhiều lý do, nhưng có một lý do không thể xem thường là ở nhiều nơi, nhiều chỗ trách nhiệm giám sát, kiểm soát quyền lực của tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu đã bị lơ là, buông lỏng. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi. Gương tày liếp còn đang sờ sờ trước mắt của nhiều cán bộ lãnh đạo, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, quyền lực “nổi đình nổi đám” một thời nay đã bị “đứt gánh giữa đường” và sa vào vòng lao lý, hẳn ít nhiều sẽ thức tỉnh những ai đang tự nhập nhằng, bào mòn, mọt ruỗng trách nhiệm chân chính của người cộng sản!./.