Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

“Chạy”... nhiệm vụ

Anh Hùng, công chức làm việc trong viện nghiên cứu trực thuộc một bộ lớn kể với tôi câu chuyện khá trăn trở. Số là vào cuối buổi thông tin thời sự, báo cáo viên mạnh dạn nêu một số vấn đề về thực trạng trong xã hội ta hiện nay. Người này cho rằng, trong những vấn đề “nóng” đang tồn tại, có vấn đề mà hệ lụy của nó thì rất nguy hại và lâu dài. Đó là “chạy”... nhiệm vụ. Hùng kể, người báo cáo viên phân tích, thực thi tốt công vụ, đem lại lợi ích cho nhà nước, nhân dân là mục đích xưa nay. Công chức, cơ quan có chức năng tham mưu càng năng động, càng triển khai nhiều nhiệm vụ kết quả tốt thì rõ ràng là càng góp phần quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, việc năng động này lại là “điểm tựa” để nhiều cá nhân thực hiện những ý định riêng, có lợi cho các mối quan hệ và nhằm thu vén lợi ích cá nhân. Trăn trở là ở chỗ, người báo cáo viên đó chỉ nêu vấn đề để các cán bộ trong hội nghị nghiên cứu, tìm lời giải và hứa sẽ trả lời vào lần sau. Mang băn khoăn này về nhà bày tỏ với tôi, anh Hùng khẩn khoản: “Bác xem, mệnh đề trên có lý không?” - Việc này không ai, không cơ quan chức năng nào của ta đưa ra con số thống kê chính xác, nhưng rõ ràng biểu hiện của nó thì hiển hiện ở nhiều nơi lắm. - Đúng đấy bác ạ! Em thấy cái món “chạy”... nhiệm vụ này khá phổ biến và ẩn dưới các hình thức khác nhau. Nhỏ thì tham mưu cho thủ trưởng cơ quan mua sắm A, B, C... để có tý chênh lệch hóa đơn gọi là làm lộ phí xăng, dầu, nước uống. Lớn tý nữa thì xin “làm kế hoạch 3”, đơn giản như cho thuê mặt bằng, tăng nguồn phúc lợi cơ quan, nhưng chi thì “tù mù” và “tít mù” không dấu vết. Dừng một lát, Hùng lên giọng: To nhất là cái “chạy” dự án. Món này thông tin đại chúng chỉ ra nhiều rồi. Khi lập báo cáo khả thi họ vẽ ra đủ mọi thứ về lợi ích kinh tế, xã hội. Nhưng dự án thực hiện xong, nghiệm thu đưa vào sử dụng thì không hiệu quả, dân kêu lãng phí. Ví dụ của ông chưa lột tả hết nội hàm của cái “chạy”... nhiệm vụ mà ông cáo viên nêu ra đâu. Tôi phê phán. - Bác chứng minh xem nào? - Này nhé, nhiệm vụ của một cơ quan thường căn cứ vào chức năng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nhưng ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ khiến nhiều vấn đề, nhiệm vụ cần triển khai của các cơ quan công quyền cũng phát triển. Trước yêu cầu mới thì cái gì cũng cần thiết, cái gì cũng ý nghĩa và phải triển khai ngay, không thì muộn. Thế nên, theo chức năng, các cơ quan thi nhau tham mưu xây dựng đề án, để cấp trên phê duyệt, triển khai mở rộng. Họ tìm mọi cách để thuyết trình, thuyết minh bảo vệ tính đúng đắn. Cá biệt, để “thuận buồm xuôi gió”, họ tổ chức hội thảo, gây dư luận, gặp lãnh đạo để “vận động hành lang”, xin ủng hộ... Nhưng cái chính là, khi triển khai những nhiệm vụ ấy thì sẽ kéo theo nhiều vấn đề khác cần giải quyết, nổi bật là vấn đề nhân lực. - Nhân lực thì có liên quan gì đến việc “chạy”... nhiệm vụ hả bác? - Sao lại không liên quan? Này nhé, muốn thực hiện nhiệm vụ thì phải có nhân lực. Thường là, khi một cơ quan nào đó có thêm nhiệm vụ mới thì người ta vừa tăng cường nhân lực trong nội bộ vừa tuyển thêm. Đây là dịp, là cơ hội để tăng biên chế, để trả nghĩa các mỗi quan hệ hoặc là để tăng vị thế và mở rộng ngoại giao theo hướng có lợi. Chẳng thế mà, hầu như các cơ quan có thêm nhiệm vụ thì biên chế cũng đội cao hơn dự kiến và định biên phình ra. Tôi nghĩ, người báo cáo viên kia muốn nói đến điều này. - Bác thông thái thật, phân tích này rất có lý! Nói rồi Hùng kể lại câu chuyện mới xảy ra để minh họa thêm: Mấy tháng trước, Hùng được một người bạn cùng học phổ thông báo tin rằng, con anh ấy mới tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế, nhưng lại đi làm ở một lĩnh vực khác trong cơ quan nhà nước với nhiệm vụ chẳng liên quan đến chuyên ngành đào tạo, thậm chí còn khác biệt tới một trăm phần trăm. Vì quen biết nên khi rõ thông tin cơ quan X cần tuyển nhân sự cho nhiệm vụ mới anh đã cậy cục để đưa cháu vào đó công tác. Hùng tiếp tục kể, anh bạn thổ lộ chân tình rằng, cháu học không tốt, sợ không làm được ở doanh nghiệp bên ngoài; sợ cháu vất vả nên xin một chân “túc tắc”, để các bác, các chú, các anh quen biết “bồi dưỡng” thành người. Để sau này có cơ hội sẽ chuyển công chức, có việc làm, lương nuôi sống bản thân. Hùng kết thúc câu chuyện: Vừa rồi anh bạn lại khoe, cháu đã vào biên chế. Và lạ hơn là, cơ quan còn khuyến khích cháu đi học văn bằng 2, đúng chuyên ngành đang công tác, để sau này phát triển nghề nghiệp tốt hơn. - Và đương nhiên là rất đúng "quy trình" chứ gì? Tôi hỏi. - Vâng! Tôi phân tích. - Vấn đề đó được núp trong nhiệm vụ, trong những vấn đề “nóng” một cách rất hợp lý. Hệ lụy của nó là, cơ quan công quyền không kiếm tìm được người giỏi, người tài hoạt động đúng chuyên môn yêu thích được đào tạo. Việc “học văn bằng 2” là cái bình phong “hợp lý hóa vấn đề nhân sự”. Thế nên, tình trạng trên cứ hô hào tinh giản biên chế, dưới thì quyết liệt thực thi nhưng hiệu quả thì chẳng là bao. Biên chế cơ quan của nhà nước, địa phương liên tục phình ra mà hướng giải quyết vẫn còn là chủ trương thì “bầu sữa” ngân sách sẽ tiếp tục cạn kiệt là điều dễ hiểu. Và rõ ràng là, khi đã làm trái ngành thì sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đề khó giải quyết, thậm chí còn phải đi giải quyết hậu quả, sửa sai. Tóm lại là, cách làm ấy gây hại cho đất nước lâu dài, kéo lùi sự phát triển của xã hội. Câu chuyện giữa tôi và Hùng diễn ra cách đây không lâu, nhưng có một điều tôi còn chưa phân tích với Hùng rộng hơn. Đó là, khi có nhiệm vụ thì hằng năm cấp trên phải rót thêm kinh phí và các điều kiện vật chất khác đi kèm. Ở ta có thông lệ, khi đánh giá, tổng kết nhiệm vụ gì thì thành tích cũng nhiều và được khen thưởng rất trọng thị. Nhưng những vấn đề tồn đọng, yếu kém thì ít đề cập, ít phân tích, ít quy trách nhiệm. Hơn nữa, ngay cả những kết quả nêu trong báo cáo cũng chưa hẳn đã là chính xác vì thời gian đâu mà cấp trên kiểm tra, lôi ra ánh sáng những việc không cần “đi tới cùng của sự thật”. Thế nên, tác hại của “chạy”... nhiệm vụ như báo cáo viên kia đề cập là có lý và tác hại rất lớn. Đó là cách làm cần phải được loại bỏ, được xử lý, điều chỉnh dứt điểm bằng chế tài pháp lý, bằng sự sáng suốt của những cán bộ có tâm, có tầm và bản lĩnh trước tương lai đất nước, dân tộc./.

Vãi chài… khen… chê(!)

Chuyện khen chê là chuyện của muôn đời, muôn thời và vốn cũ rích, xưa như... quả đất, ngay từ khắc nó mới sinh ra! Cổ nhân cũng nói: Người khen ta đúng chỉ là bạn ta, người chê ta đúng mới thực là thày ta! Ai cũng thuộc. Nên từ rất lâu rồi, chẳng ai muốn nhắc lại làm gì cho rặm chuyện, thậm chí cho nhiễu sự! Nhưng, khen là để thưởng, chê là để phạt! Bởi chưng như thế, nên muôn đời sự khen chê lại càng không cũ, chuyện thưởng phạt lại càng như sự canh tân, thậm chí “nhật tân hựu nhật tân tân”! Vì thế, suốt bấy năm nay, chung quanh chuyện khen chê, thưởng phạt nảy nòi muôn điều ái, ố, hỉ, nộ... Theo đó, vô hình trung, lại đang là chuyện cửa miệng đàm tiếu không chỉ nơi nhân gian rộng nhớn mà còn biến thành bao việc xót xa đến... cười chảy ra nước mắt, làm cho nhiễu loạn... cả những chốn công đường!

Khen kiểu... hội làng!

Ấy là kiểu khen hờ khen hững. Đãi bôi. Tùy tiện. Mặc sức ký khen, đẹp lòng tất cả. Thậm chí cả bình bầu danh hiệu khen thưởng bằng... vỗ tay(!). Cả làng đều vui! Thế mới có chuyện ngực ai ai cũng treo đầy danh hiệu nhưng làng thì... nát như tương Bần, đơn vị thì rối như... canh hẹ! Chuyện khen chê như thế và đại loại như thế, kể sao cho xiết. Thảo nào, chủ nghĩa thành tích ngày một lan rộng. Nhưng nguy cơ nảy nòi thứ chủ nghĩa thành tích mới, còn nguy hại hơn! Một người nói dối để được khen đã là xấu hổ chỉ riêng họ và những ai khen! Nhưng, một tổ chức dối trá để được khen và những ai giúp sức để khen thì nguy cơ tan vỡ cả một tổ chức là nhãn tiền; và cả những người khen tự làm mất mặt mình! Vì thế, cổ nhân nói: Khen tùy tiện, phạt lung tung, tất là gieo... loạn! Mà loạn nhân tâm mới là đại họa; mà vãi chài... khen... chê thực là một trong những thứ đáng sợ bậc nhất trên đời!

Khen để... đắp tội, chạy tội!

Đó là trò công khai đánh cắp... danh hiệu. Loại này sử dụng danh hiệu như bùa hộ mệnh, để giảm tội, chạy tội khi bị xử phạt vì mắc tội. Nên họ chạy danh hiệu, thậm chí mua cả... danh hiệu. Vài năm trước, thậm chí năm trước nhận danh hiệu, năm sau bị khởi tố. Xưng xưng mọc mọc để... khen. Ai mua, ai “bán” danh hiệu? Chả cần nói thêm, cũng rõ! Cả hai tất rước họa vào mình!

Khen hất... xuống, phạt... thăng lên!

Đây là thứ khen hiểm! Khen để kiếm cớ đẩy họ đi, để rộng chỗ, thế người cùng cánh vế thế vào. Khen để điều động người được khen vào chỗ khó, để thách đố, để trừng phạt... Muôn vạn trò khen để hất đi, hất xuống. Ngược lại, chê để... đưa hất lên! Đây là thứ chê... để thưởng. Ai ai cũng thấy, giao việc gì của chuyên viên, anh ta làm cũng hỏng, ai cũng chê, thì tốt nhất cho làm... phụ trách. Không ít nơi, người không thạo việc gì thì cho làm... “lãnh đạo”! Thế là trắng đen lẫn lộn, phải trái đảo chiều, chả ai muốn hăng say làm tốt, chả ai nỗ lực để giỏi giang nữa! Thế là kỷ cương rối loạn, phép công như bùn, hậu họa khôn lường!

Giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng

 

Là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam có vinh dự và trách nhiệm vô cùng lớn lao. Vinh dự và trách nhiệm đó không tự nhiên mà có, không do sự áp đặt chủ quan của một lực lượng nào mà trước hết là do Đảng đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự phát triển và được quần chúng nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được vị trí lãnh đạo”

Như người sáng lập và lãnh đạo Đảng đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”, nghĩa là phải qua hành động, việc làm ích nước lợi dân, bằng phẩm chất đạo đức và năng lực của mỗi người thì chúng ta mới được quần chúng tin yêu và mến phục. Ngay từ khi chuẩn bị những điều kiện thành lập Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng cần có đội ngũ đảng viên tốt, đáp ứng yêu cầu của người “cầm lái”. Khi đất nước mới khai sinh, trong hoàn cảnh phải chống thù trong giặc ngoài, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm, tăng cường sức mạnh kháng chiến, Người yêu cầu “trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”. Có Đảng trong sạch, vững mạnh thì mới đủ sức lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người nhận thấy Đảng phải thật mạnh, thật trong sạch mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ: “Muốn lãnh đạo vững thì trước hết cán bộ và đảng viên phải có tư tưởng và lập trường vững chắc để lãnh đạo, để xung phong làm gương mẫu. Vì vậy, chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”, hơn 90 năm qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong công cuộc đổi mới, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta thu được nhiều thành tựu to lớn: đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, cơ đồ và vị thế của đất nước ngày càng được khẳng định. Niềm tin của dân với Đảng tiếp tục được chứng minh qua công cuộc phòng chống đại dịch Covid - 19 và phòng chống bão lũ ở miền Trung vừa qua. Toàn dân tộc đã chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng để cùng vượt qua khó khăn, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, được nhân dân đồng tình ủng hộ và bạn bè quốc tế ghi nhận. 

Trong bối cảnh hiện nay, để củng cố, giữ vững được niềm tin của nhân dân với Đảng, cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ nhận thức, trước hết là trình độ lý luận chính trị để có hiểu biết sâu sắc về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền và tổ chức thực hiện trong Nhân dân.

Hai là, cần tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đó là các nguyên tắc: tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng và củng cố quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân.

Ba là, xây dựng và rèn luyện đội ngũ đảng viên có đủ đức, tài. Muốn hoàn thành tốt công việc mà Đảng giao phó thì cần phải có cán bộ tốt. Muốn có thế hệ kế tiếp giỏi giang, trung thành, tận tụy, cần phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trong cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung”

Dưới ánh sáng của Đại hội XIII của Đảng, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được đội ngũ đảng viên nhận thức và tự giác chấp hành để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của mình, giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng. 

Mai Năm Mới (ST)

Khen thưởng trong... chum!

Ấy là kiểu khen dấm khen dúi, khen... vụng, khen vịu! Khen là do suy tôn mà có. Nhưng, người trình khen thì... liều lĩnh ký trình! Người ký khen thì quan liêu, tắc trách... liều lĩnh “ký đại”(?). Người được khen thì giấu nhẹm giấy khen, bằng khen tận đáy... hòm, chỉ lén “ghi thầm” cái gọi là thành tích, công lao, cống hiến được khen trong lý lịch! Chả dám công khai. Như là... đánh quả! Như buôn bạc giả vậy! Thế thì còn gì là khen, nếu không nói là phản khen? Thế là không ít nơi có những loại danh hiệu... tăm tối!

Khen từ trên xuống...!

Xưa các cụ bảo: Hình pháp không chừa khanh tướng, khen thưởng không sót thứ dân. Hồ dễ thời nay chả mấy ai thuộc mà làm. Mà họ có thuộc thì cũng làm... ngơ! Dân gian lưu truyền: Cuốc xẻng phân từ dưới phân lên, đường sữa phân từ trên phân xuống. Chuyện khen ở đây cũng thế! Khen theo phẩm trật, chứ chẳng vị công lao hay cống hiến nhỏ to. Cấp to khen to, cấp bé khen nhỏ, không cấp không khen! Thế mới có chuyện, một người cởi trần, thầm lặng dời cả quả núi, mà suốt đời không một lời đếm xỉa, đến mức chả thể sánh tày mười anh huân chương đầy ngực xúm xít chỉ khênh một cái... kim. Sự khen đã tự... làm nhục mình!

Khen... huếnh!

Ấy là kiểu khen “vẽ rắn thêm chân”, “khen phò mã tốt áo”... Nói như dân gian là: có một khen mười, khen để bốc thơm(!). Đó là sự điêu toa, thậm chí là giả dối và lừa phỉnh. Huếnh để khoe mẽ, để đánh bóng mình và đánh bóng nhau, để lừa lọc! Khen huếnh để trát phấn, bôi vôi, tô vẽ, phường tuồng cũng thua, để rắp mưu lên chức, đoạt quyền. Làm thì chơi khen thì thật, chả làm cũng vẽ ra khen. Cái được gọi là thành tích, công huân... chỉ do khen huếnh, chỉ là con diều bằng giấy, chẳng mưa cũng tan, chửa đốt đã cháy, làm hại tất cả. Thế mới có chuyện: Mười người ngực đeo đầy huân chương lại bề bề chức nọ quyền kia, nhưng chỉ khênh... một cái kim(!), đầy hài hước! Chẳng ai tin sự khen nữa. Khi mất hết lòng tin ở chuyện khen thưởng, thì người tốt thượng sách là... buông xuôi, người dở thì mặc sức tô trát huân, huy chương đầy ngực phù phiếm! Thế là giết chết sự khen chân chính!

Trên khen dưới... thưởng(!)

Ấy là kiểu khen nịnh, mà lại là... nịnh ngược(!). Cấp trên nịnh cấp dưới, tạm gọi là nịnh ngược. Mà nịnh ngược theo mùa: mùa bầu cử, mùa đại hội... Cấp trên ra sức khen... cấp dưới, tới mức không tiếc giấy, chẳng hẹp nhời bao giờ. Trình là khen, gợi ý... khen, thậm chí là chỉ tiêu... khen! Phần thưởng thì dưới... chủ động lo, thậm chí cả việc xã hội hóa mà lo thưởng. Mùa khen vãn, người khen đắc chí trúng cử, trúng bầu... thì khen kia cũng tàn, theo... gió mà bay đi! Và khen kia lại đợi đến... mùa nịnh ngược năm sau, nhiệm kỳ sau!

Nhìn lên? Nhìn... xuống?

Tôi đã tận thấy một con đường “cong... mềm mại” (nhại cách nói của một vị chức sắc ở Thủ đô Hà Nội) đến quyến rũ càng như tôn lên cái dáng vẻ oai phong nhưng thật la đà của một cây cổ thụ ở Thái Lan, vào năm 2005! Tôi chưa thể hiểu được điều “kỳ quặc” ấy, nếu đem cái nhẽ thông thường ở xứ mình ra mà suy. Tôi cũng tận thấy một con đường sắt còn “mềm mại... cong cong” hơn nhiều lần con đường bộ của xứ Thái Chùa Vàng, như quyết tâm phải... tránh một ngôi làng cổ (nhưng về tuổi có lẽ chửa đáng hạng chút chít làng Đường Lâm xứ Đoài mây trắng cả ngàn năm của ta) ở tít tận xứ sở khai sinh giải Nô-ben lừng lẫy thế giới, lại mới cách nay vừa 17 năm. Kỳ thực, tôi lại càng không hiểu được điều “trên Giời” của dân xứ Bắc Âu xa xôi ấy, nếu theo cái nhẽ của xứ mình, lại nom bằng “con mắt hạt đậu” của riêng tôi! Thì ra, các xứ dù ở rất gần ta hay rất xa ta, họ đều có chung một kiểu nghĩ nhưng lại rất khác xứ ta. Hay là ta “độc đáo”, ta “bản sắc”? “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”? Hay là “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”? “Duy ngã độc tôn”? V.v.. Có lẽ cái nhẽ của xứ ta hay chăng thường thế và... chỉ có thế? Chả thế mà bỗng dưng hàng ngàn cây xanh đã bảy, tám chục mùa Xuân đùng đùng ban ngày, lặng lẽ ban đêm bị... đốn hạ! Nắn một cái vỉa hè, lề đường thôi, mà tận một cái huyện vùng bán sơn địa xa lắc lơ kia, cũng triệt hạ cả một hàng cây xanh sừng sững suốt cả bốn, năm chục tiết Đông, cốt cho thẳng thớm chỉ mỗi cái... vỉa hè! Chả thế mà bỗng dưng bao ngôi đình chùa bị phá, làng cổ bị gặm nhấm bởi mấy cái “dự án treo ngược... chân mây”; mồ mả tổ tông bao gia đình bị di dời mà chả một ai ký lệnh mảy may rơi... nước mắt! Nhưng, nom sang xứ người, tôi đồ rằng, xứ ta chả phải thứ bỗng dưng! Nếu bỗng dưng, thì họa chăng chỉ có người rỗi hơi hay những kẻ loạn trí, mới bỗng dưng thế! Họ tự tô trát, đánh bóng mình? Họ ra oai với hàng tổng. Họ muốn tâng công với cấp trên? Chỉ là một nhẽ bé! To hơn, là họ hóng để thậm thụt cái “chân giò”? Họ đợi chấm mút cái “nậm rượu”? Họ thỉn thò cái thứ “của đồng chia ba, của nhà chia đôi”, đục đẽo, chia chác từ các dự án “nửa đực nửa cái”? Họ ngó, họ hóng... kiếm “màu” lúc xã tát ao? Dân ta vốn hiền như hòn đất vẫn râm ran thế! Và, tôi cũng nom và nghĩ thế! Chả có thứ... bỗng dưng nào cả! Chả thế, thảo nào dân ta chả chịu nổi mấy thứ... bỗng dưng ấy. Đơn kêu cứu chạy khắp nơi. Thư tố cáo tá lả ngược xuôi, đôn đáo ở mọi cấp. Có vụ, việc lê thê tới cả vài mươi năm. Thậm chí cả thôn làng, cả xã chả ai thèm hề hấn mà tiếc cái thân mình, nhất tề nhào ra cản bánh những xe ủi những toan đè nát rau màu... Để làm gì? Rồi thì bà già, con trẻ lăn xả với những người “thực thi công vụ” nai nịt trăm thứ đầy mình, xăm xăm dỡ đình chùa đã trăm năm của làng... Phỏng lợi lộc gì? Đâm ra lắm nơi tình hình cứ rối beng lên như canh hẹ! Đâm ra lắm cấp kỷ luật cán bộ dễ đến cả... xâu, thậm chí nhắm mắt mà khua cũng không oan những sự “chả bỗng dưng”! Tôi đem những sự đường bộ tránh cây, đường sắt tránh làng ở xứ Chùa Vàng, ở xứ Nô-ben (tất cả họ làm mà cứ “nhẹ tựa lông hồng”) hầu chuyện một cụ già ngót cả chín chục tuổi Giời ở làng! Cụ hỏi lại tôi: Chắc chính phủ họ hỏi ý dân? Tôi thưa, vâng! Cụ im lặng rất lâu, và thủng thẳng kể: Vào độ dững năm năm mươi, năm mốt, đây vẫn là làng tề. Pháp càn vào làng, đốt cháy vài chục nóc nhà. Trong cái hỏa hoạn, súng nổ tứ bề, thì một cán bộ Việt Minh bị thương ở chân gặp cụ. Anh ấy quỳ xuống, xin cụ giấu! Cụ bảo: Chú đứng dậy, và xốc nách anh ấy, giấu sau bờ đìa, thì giặc Pháp ập tới! Thoát chết! Sau này, anh ấy làm tới tận Chủ tịch tỉnh. To lắm. Nhưng, vẫn thường về thăm và vẫn giữ lễ quỳ xuống nhìn lên cụ, y hệt cái đận ấy. Cụ bảo: Nay, thì cán bộ xã này có tí chức tí quyền dân bầu cho, mà chỉ biết “vác mặt” lên, đứng trên bục cao, trên đủ thứ... cứ nhầm tưởng là “mục hạ vô nhân”(!). Rồi, nhìn xuống... mà phán bảo, mà ra lệnh(!). Chả thèm đoái hoài bụng dân nghĩ gì. Hay vì ngại “dân thì vốn gian”, lại không “sáng suốt”? Đâm ra cái làng này mới sinh “loạn” to, từ cái độ giải tỏa mặt bằng cho mấy ông doanh nghiệp, dễ cả năm giời, tới tận hôm rồi, chửa dứt! Không có ai nghe phán, thì mấy ông xã làm “quan” với ai? Chả nhẽ với... các em “quan” bé: tỉ như trưởng thôn, trưởng xóm? Hay vì chưa thấy “quan... tài”, quyết chưa... rỏ lệ? Tôi thưa với cụ: Nhìn lên thì lễ nghĩa, đáng phục; nhìn xuống thì vô sỉ, đáng khinh! Cụ thì bảo, cụ chả thiết kiểu nhìn lên, muốn quẳng đi lối nhìn xuống! Cụ duy chỉ cần mỗi điều to bằng... hạt gạo. Rằng, cán bộ xã này, huyện này cố mà nhìn... ngang, nom thẳng vào cái bụng dân, rồi biết nghĩ bụng, mà biết điều biết nẻo, bụng ta bụng người... Được thế, thì mọi sự dù rối rắm, thậm chí là vỡ đê, “cháy nhà chết người”, giặc giã hung hãn, đạo chích quấy nhiễu đến mấy như xưa kia, dân làng chỉ khua tay nhẹ, đã tan. Làng này xưa vốn thế, nay vẫn thế! Tỷ như tháng trước, cái ông chủ tịch xã bị bọn côn đồ lùa khắp xóm, vì tội cầm tiền rồi quỵt việc bao che cho chúng làm càn làm rỡ. Tưởng chết. Dân làng thương tình, lại vì thể diện xã, mới chỉ dùng đến mấy ngón tay thôi, lũ côn đồ nhung nhúc kia, bỗng như bèo... gặp bão. Việc “nhất sinh vạn tử” ấy, dân làng nhón tay làm phúc, lại hóa bé tẻo teo. Giỏi lắm, may ra cũng chỉ nhỉnh hơn nửa cái... móng tay này. Và, cụ giơ choạc ngón tay cái, móng đã mòn vẹt, vì công việc cấy cày đồng áng. Cụ bảo: Khó không làm nổi, thì chịu khó mà... hỏi dân. Hay nghĩ vì mình sáng suốt, không cần hỏi? Hay nghĩ vì sợ mình “hạ cố”(!), mà mất mặt với dân? Khi dân còn vì “máu chảy ruột mềm”, mà thiết tha mở miệng, là còn thương đấy. Để dân ngoảnh đi, coi như người dưng nước lã, chả ai buồn nhếch mép, chả ai thèm động thủ, kệ thây, thì đến cái ngày, chỉ còn mỗi một nước, là... hết! Chuyện cũ rích rác, đã đôi mươi năm trước. Giờ, vắn tắt xin biên lại vài nhời. Ngõ hầu may ra động nhĩ, cốt để mong sao lắm người chỉ những quen... nhìn xuống, thử nghĩ và thử tự hỏi mình!./.

Lộc giời?

Từ hơn ba năm trước, Thông chỉ là một nông dân trồng ổi. Giống ổi cao sản du nhập vào địa phương cũng giúp vợ chồng Thông có thu nhập ổn định. Những năm ổi được giá, thu nhập cao hơn tý chút thì gia đình vui lắm. Ấy nhưng, những năm giá ổi xuống thấp, tiền chi mua phân bón và công chăm sóc tăng, vợ chồng buồn chẳng muốn hái ổi, thậm chí cả buổi chẳng thèm nói với nhau câu nào. Bây giờ thì Thông không phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, xới, chăm bón, lo tỉa hoa cắt cành cho từng gốc ổi như trước đây nữa. Nói chính xác, Thông đã tạm biệt hơn một nghìn mét vuông đất trồng ổi chỉ để rong ruổi, hưởng “lộc giời”. Người đời truyền nhau câu nghèo lâu, giàu mấy quả không sai. Thông là trường hợp điển hình. Đang phát ngán vì giá ổi xuống thấp thì ông anh họ bên nhà vợ đến ép vợ chồng Thông phải làm ông chủ bãi tha ma. Thoạt nghe tưởng chuyện lạ xưa nay, nhưng là có thật. Từ ấy, lộc giời rơi vào đầu Thông như là một lẽ đương nhiên của cuộc sống. Này nhé, mỗi gia đình ở địa phương cần cải táng hoặc hỏa táng đem hài cốt, tro cốt về chôn cất là Thông có tiền triệu trong tay. Nào là tiền đất, tiền xây, tiền hoàn thiện công trình, đến chăm sóc phần mộ... Đấy là chưa tính những dự án xây dựng trên diện tích đất thuộc những nghĩa địa khác có nhu cầu chuyển đến. Mỗi năm, ước ra Thông thu lời mấy trăm triệu. Trồng ổi mười năm chắc cũng chẳng được như thế. Mỗi khi vi vu trên xe hơi hiệu Forcus bóng lộn, êm du mới sắm, Thông lại mỉm cười một mình. Thông nhớ lại chuyện gần 3 năm trước. Độ ấy, vào đúng dịp tháng bảy, mùa thu hoạch ổi thời tiết nóng như đổ lửa thì ông anh họ đằng vợ bất ngờ xuất hiện như ông bụt trong chuyện cổ tích. Ông anh chui ngay vào cái lều trồng ổi chật chội ẩm mốc và bảo vợ chồng Thông ký vào một loạt các giấy tờ gì đó đã làm sẵn để có thu nhập hơn trồng ổi, có của ăn của để và nhanh giàu. Làm sao mà Thông dám từ chối, dám hỏi han nguyên nhân, lý do cho được cơ chứ khi ông anh làm việc ở cơ quan tài chính của quận nhiều năm, thông thạo pháp luật lại có tiếng nói, uy tín cao trong gia đình, dòng họ. Hơn nữa, Thông trộm nghĩ, anh em trong nhà, chắc chẳng bắt nhau đi tù vì chữ ký. Thời gian ngắn sau, ông anh đằng vợ gọi Thông sang nhà. Ông anh ngọt nhạt, tỷ tê, rỉ tai với Thông kế hoạch tuyệt mật. Số là, miếng đất mà người dân gọi là “đuôi lươn” của phường vốn bị bỏ hoang hóa từ lâu chẳng ai ngó ngàng tới nay được xếp vào quy hoạch, trở thành khu công viên vĩnh hằng. Nói thế cho oai chứ thực chất là nơi an táng, an nghỉ của những người quá cố. Theo lệ xưa thì, đất công của làng nào, phố nào do người dân ở đấy được quyền sử dụng và quyết định. Nay đã thành đô thị, đất thuộc quyền quản lý, định đoạt của quận, của thành phố. Để thực hiện dự án thì phải tổ chức đấu thầu mới đúng quy định địa phương và đúng pháp luật hiện hành. Vấn đề làm thế nào để trúng thầu mới là câu hỏi hóc búa. Một nông dân thứ thiệt học chưa hết cấp 3 như Thông thì quả là khó. Nhưng được cái bố mẹ đặt tên là Thông cũng không thừa. Thông cho rằng, từ khi sinh ra và lớn lên, cái tên Thông với hy vọng là thông thái, thông tuệ, hiểu người, hiểu đời hôm ấy mới được phát huy tác dụng. Thông ngọt nhạt với ông anh rằng, em nông dân chân chất, ít học, ít va chạm, biết gì, bác thuộc tuýp người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người. Việc lo, việc nghĩ đâu đến phần em. Em cứ thực hiện theo lệnh của bác. Bác bảo em chặt to, em chặt to, bác bảo em bổ nhỏ thì em bổ nhỏ. Đấy, bác nói thế nào em làm đúng như vậy. - Được. Nhưng cấm chú tiết lộ thông tin đấy nhé. - Vâng. Thời nay, thông tin là vàng là bạc. Đấy, như cái món trồng ổi của em đấy thôi. Chỉ cần lộ thông tin phun thuốc sâu sát thời điểm hái quả thì ổi có ngọt và ngon cỡ mấy cũng chẳng có khách tới mua. Thậm chí cho người ta cũng không lấy chứ nói gì đến bán rẻ. - Chú nghĩ thế là phải. Giờ thì nghe này. Hôm tổ chức đấu thầu thì cậu cứ đến, cứ ngồi im, bảo gì làm lấy. Tôi nhắn vào điện thoại số bao nhiêu thì ghi đúng số đấy. Bây giờ tập nhé. Ông anh lấy tờ lịch cũ và đưa cho Thông chiếc bút bi. - Xong chưa, nhìn vào máy điện thoại và đợi tin nhắn. - Vâng. Sau tiếng báo tin nhắn kêu bít, Thông mở máy và đọc to: Ba trăm sáu mươi triệu. - Chết, ngu ơi là ngu! - Sao vậy anh, cái này em học từ bé, đơn giản mà. Em đọc đúng hàng triệu, trăm, nghìn và đơn vị đấy thây. - Mày ngu lắm em ạ. Khi đấu thầu, mỗi người đều có một con số để ghi vào. Ai bỏ thầu giá cao sẽ trúng. Chú đọc to thế, nhỡ người ta nghe được, cho thêm số 1 vào thì chú có trúng thầu được không? - À ra vậy. Em hiểu rồi. - Ừ, chú nhẩm ở trong đầu thôi, sau đó ghi ra giấy nhé. - Vâng. - Nào, ta làm lại. Ngay hôm sau, buổi đấu thầu diễn ra như kế hoạch và Thông cũng làm đúng như những gì mà ông anh bên nhà vợ đã tập huấn. Mãi sau này Thông mới biết, người ngoài khó mà có thể chen chân được miếng ngon như vậy. Bởi như sau này ông anh chia sẻ, nếu người địa phương trúng thầu sẽ dễ quản lý hơn, tránh được sự va chạm với người khác khi sử dụng dịch vụ. Thế nên, Thông là nhân vật số 1 mà ông anh chọn. Trong buổi đấu thầu ấy, ngoài Thông thì chẳng có ma nào ở phường biết được thông tin này. Bởi như Thông suy đoán, ai mà rỗi hơi tìm hiểu mấy cái thông tin kia. Với lại, đặc nông dân, biết gì mà làm giấy tờ, biết gì mà làm hồ sơ dự thầu cơ chứ? Đời người có số. Và Thông là một minh chứng. Chỉ một con số chẳng có nghĩa gì Thông đã đổi đời. Từ nông dân xịn trở thành ông chủ công viên vĩnh hằng. Tuy nhỏ, nhưng ý nghĩa lắm. Cũng may nhờ ông anh quan hệ rộng, nhiều quyền uy hơn người, chỉ đạo quân xanh bỏ thầu thấp nên Thông mới được như ngày hôm nay. Thời buổi đất chật người đông, của ít nên cái gì cũng phải mưu mẹo, khôn ranh và lanh lợi. Thông đang dự định bàn với ông anh đằng vợ, xây thêm nhà để tro cốt người quá cố. Mục đích là tạo ra các ô ngăn như ở Đài Loan hoặc Hồng Công, vừa đẹp vừa lịch sự lại tiện lợi, văn minh. Sau này, các chung cư mọc lên, người đến ở đông hơn, nhu cầu lắm chắc chắn sẽ hốt bạc. Đấy, số đỏ là đấy chứ đâu. Ấy nhưng, để việc này được thông đồng bén giọt, Thông cũng phải chi ra tấm ra món. Buôn có bạn, bán có phường. Lộc giời mà hưởng tất đâu được. Từ ngày lên ông chủ, Thông hiểu ra, có tiền, có quan hệ, được các quan bao bọc và bật đèn xanh, nắm chắc thông tin, xử lý chính xác thì chẳng sợ nghèo./. Đức Tâm

Trăm năm, chuyện... tưởng cũ càng!

Năm 1928, bàn về bệnh “Bệnh giả dối quá nặng”, Cụ Phan Bội Châu viết: “Tục ngữ có câu nói rằng “Trăm voi không được một bát xáo”; lại có câu rằng “mười thóc không được một gạo”. Xem đó mới biết tính chất người nước ta chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng. Sĩ (từ đây trở xuống, điểm qua sĩ nông công thương là bốn loại người trong xã hội) hay giả dối thì tìm tòi đạo lý không cậy óc mà cậy tai (ý nói chỉ nghe hóng mà không chịu suy nghĩ); Nông hay giả dối thì cày cấy ruộng trưa (mãi trưa mới ra ruộng), không cậy người mà cậy đất (dựa vào đất đai màu mỡ chứ không dựa vào lao động chăm chỉ); Công hay giả dối thì phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng; Thương hay giả dối thì đua nhau bòn vặt mà mất cả lợi to, thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà trát vàng ở ngoài mặt, mướn nhân nghĩa làm mồi cầu lợi mà xức mật ở đầu môi. Chẳng những ngoài đối với xã hội trên đối với quốc gia, gốc cây trăm năm đủ bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn dặm đã bị con mối giả dối kia xoi (làm cho thủng) tan; mà lại trong đối với một nhà, dưới đối với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đo đục thấu cao hoang (chỗ trọng yếu trong con người), khoét vào cốt tủy; tay dối lòng, miệng dối dạ; ăn bánh vẽ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy mà đi với ma, kết quả không việc gì là việc thật...”. Ngược lên 20 năm trước Cụ Phan, vào năm 1908, cách nay cả 109 năm, Cụ Trần Chánh Chiếu, khi luận về chữ Tín, viết trên Lục tỉnh tân văn, rằng: “Không giữ chữ tín thì anh lừa tôi, tôi lừa anh, trăm chuyện sẽ nát, tinh thần xã hội tan rã (...). Bất tín lớn nhất: một là dối trá. Nhiều người nước ta vụng trong đường mưu sinh (kiếm sống) nhưng lại giỏi dối trá giả mạo. Hai là bội ước các quy chế, chương trình, mà lại làm ra vẻ tuân hành. Nói mười không giữ được hai, ba. Ngay khi ký quy ước đã không có ý thực hiện, cứ ký bừa, bất kể sau này ra sao. Cho nên quy ước chưa ráo mực mà như đã bỏ đi. Còn như ước miệng (thỏa thuận miệng) thì chỉ là “nói láo mà chơi nghe láo chơi” (câu thơ cổ Trung Hoa, được dẫn trong lời mở đầu truyện Liêu trai). Những thói xấu ấy đầy rẫy mà cứ điềm nhiên không cho là quái gở”. Năm 1914, chung quanh chuyện kiêu ngạo, hợm hĩnh, theo đuổi những cái hão huyền, dưới nhan đề: “Gõ đầu trẻ”, Cụ Nguyễn Đỗ Mục viết trên tờ Đông dương tạp chí: “Kiêu ngạo lộ ra ngoài mặt là những kẻ làm bộ làm tịch, ta đây kẻ giờ (một thứ “anh hùng thời đại”), khinh người bằng nửa con mắt. Lại có thứ kiêu ngạo kín ở trong bụng, nghe điều trái tai không cãi, thấy điều chướng mắt không chê, chỉ nói mát một câu hay cười nhạt một tiếng. Có kẻ bụng dạ nhỏ nhen thì sinh ra kiêu ngạo, hơi một tí đã có tính hợm. Vậy nên đấng nghiêng trời lệch đất không kiêu ngạo bằng những kẻ đội lốt sư tử, tiền rừng bạc bể không kiêu ngạo bằng những kẻ mầu mỡ riêu cua. Có kẻ tư tưởng sai lầm thì sinh ra kiêu ngạo. Ăn tàn phá hại lại tự cho là sang trọng vào nhòng, lừa dưới dối trên lại tự cho là khôn ngoan chẻ vỏ (Vào nhòng chẻ vỏ là gì, chúng tôi chưa chú giải được). Kiêu ngạo lại thường là một người ngu, ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, vịt lội dưới ao chê sấm là nhỏ. Kiêu ngạo không chỉ là cái cớ riêng của đám người không có giáo dục mà còn tại tập tục và trình độ cả đám đông xã hội”. Dưới nhan đề “Tiếng gọi đàn”, để nhận diện thói đảo lộn các giá trị, năm 1925, Cụ Dương Bá Trạc viết: “Danh dự là có tài có đức có công nghiệp (cũng tức là sự nghiệp) có khí tiết thật, còn kẻ chạy theo hư vinh chỉ lo đâm đầu đâm đuôi chạy xuôi chạy ngược để cầu cạnh chen chúc, làm sao cho có được cái mã ngoài ấy thì tất là lộn sòng với cái chân giá trị. Nào trong xã hội mấy ai là người biết cân nhắc so sánh cái chân giá trị của người ta, mà vẫn thường lầm cái hư vinh là cái danh dự thực! Hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai; hỏi quý ai, tất là ông cả bà lớn; hỏi cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc; hỏi cái gì là sướng, tất là ăn trên ngồi trốc, nhận lễ thu tiền. Rồi xu phụ khéo luồn lọt bợm để cầu vinh, ấy là người giỏi; giết người tợn tâng công khỏe để cầu vinh, ấy là người tài; lắm quan thày tốt, thần thế lo gì cũng xong xin gì cũng được, ấy là anh hùng; nạt con em ức hiếp hàng xóm, anh làm ông nọ, em làm ông kia, ấy là nhà có phúc; khao phẩm hàm, vọng ngôi thứ (nộp tiền hay lễ vật cho làng để có ngôi thứ), ấy là vẻ vang; cổ kim khánh, ngực mề đay ấy là danh giá. Một người như thế, trăm người đều như thế, đời trước như thế mà đời sau cũng như thế nốt!”. V.v... Xin được lạm bàn: Từ rất lâu rồi, khảo tầm, đọc đi đọc lại cổ thư, cứ lần lữa mãi, chửa dám chép ra. Vì, lòng vẫn ái ngại, sợ kiến văn chưa đủ rộng, e bỏ sót; ngại sở học chưa đủ sâu, khơi lại cái nọc xấu xí của... thời xưa, người xưa cả hàng trăm năm trước, e thất lễ với cổ nhân. Nhưng, càng nghĩ càng buồn và xót xa thay! Vì, chính những thói ấy, một nguyên do căn bản, đã làm cho người nước Nam ta tự cùm trói mình, tự làm mình yếu hèn đi, tự mình làm nô lệ cho... chính mình, khó ngóc đầu lên đặng. Cộng thêm với họa lúc bấy giờ, nhân quần bị đọa đầy trong vòng vong quốc nô, dân tộc rên xiết dưới gót sắt thực dân, bị trói buộc bởi vòng vây phong kiến, nên nhân sinh, dân tộc lại càng thêm thê thảm, đằng đẵng ngót cả trăm năm giời, mù mờ đi giữa đêm đen. May mà Ất Dậu 45 tới, dưới ngọn cờ của Đảng, phải mất 15 năm toàn dân tranh đấu, mới thoát ra được vòng nô lệ, để dân tộc tới bờ độc lập, nhân dân cập bến tự do! Thói ấy trong nhân sinh, tưởng những theo đó mà... tan! Nhưng sau ngoài 70 năm, giờ trông lên, rồi nhìn sang, khi xem lại cổ thư, dẫu là những chuyện đã rêu phong, lại vẫn buộc phải tự vấn: Thời nay, ai người dám quả quyết rằng, những thói ấy chỉ của thời xưa, của người xưa, mà ở thời nay, người nay đã tẩy sạch? Nếu xem và đối sánh với 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong Đảng hiện thời, vẫn thấy những thói xưa cũ ấy đang... thập thò ở đảng viên này hoặc ẩn hiện trong tổ chức đảng kia: háo danh, phô trương, đánh bóng tên tuổi, “chạy” thành tích, giả dối, hư vinh... Và, nhãn tiền có thể, nếu không tỉnh táo tẩy trừ, âu sẽ lại mỗi người tự mình làm mình bạc nhược, yếu hèn, tự mình cùm trói mình, tha hóa, thoái hóa! Thì thật đắc tội với sự cảnh báo của các bậc tiền nhân lắm thay! Nhưng, mối nguy to nhất, nếu các chứng cũ ấy lây lan rộng khắp, lại ăn vào tận cốt tủy người đứng đầu tổ chức, mà không quyết sửa chữa, sẽ lâm cảnh “vạ trong tường vách”, thậm chí là chuốc lấy cả họa “sát thân”, khôn mà lượng trước! Con mối ấy đục ruỗng ngôi nhà, tổ kiến hổng ấy xoi tan đê vỡ... sẽ làm cho Đảng yếu đi, khó lòng “là đạo đức, là văn minh”, khó lòng tiếp tục xứng đáng là “đứa con nòi” của dân tộc, và càng khó là và làm “người đày tớ thật trung thành của nhân dân”! Lúc ấy, hối thì đã muộn! Bởi chưng nhẽ đó, xin chép nguyên lại và cẩn tắc chú giải ở đây, chỉ mong để cùng nhau nhớ, nghĩ, rồi nghiêm nhặt tự xét soi mình. Và nếu mắc, cần kíp tự chỉnh đốn mình, khi còn chửa muộn! ./.

Quyền thật và quyền ảo

Mới đây, trong một lần đến thăm ông bác họ là cán bộ cao cấp trong quân đội đã nghỉ hưu, tôi được chứng kiến nỗi lòng của những “người đồng chí già” về sự lạm quyền của một số cán bộ biến chất, mang nặng chủ nghĩa cá nhân thời nay thông qua câu chuyện giữa bác tôi và ông bí thư chi bộ tổ dân phố nơi gia đình cư trú. Có lẽ, những băn khoăn ấy của hai ông cũng là tiếng lòng chung của nhiều đảng viên với Đảng. Mở đầu câu chuyện, ông bí thư chi bộ đã hơn 70 tuổi thở dài đánh thượt, thổ lộ rằng, rất buồn vì nhiều cán bộ trẻ làm lãnh đạo thời nay bản lĩnh thì chỉ ở cấp “tiểu học”. - Bác nói hàn lâm thế thì sao hiểu được. Đã là cán bộ dù to, dù nhỏ cũng có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị tương xứng. Bởi, trước khi đề bạt, bổ nhiệm, tổ chức cân nhắc, đánh giá, thẩm định và thử thách chán. Làm gì có chuyện bản lĩnh chỉ ở cấp “tiểu học” mà được làm lãnh đạo đâu? Bác tôi phản pháo. - Anh đúng là “ếch ngồi đáy giếng”. Vụ “ông bí thư trẻ” ở Thành ủy Đà Nẵng vừa bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương lôi ra ánh sáng là thế nào? Hay như vụ nguyên Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Công thương chẳng hạn. Đặc biệt, vụ việc ở Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nữa. Có phải do bản lĩnh kém nên mới bị ăn “đạn bọc đường” và “ngã ngựa” không? Theo tôi, đấy là những trường hợp “say mồi”, bị đồng tiền làm mờ mắt nên thiếu bản lĩnh, lạm quyền, trở thành có hại cho Đảng, cho dân. - Vâng, bác nói đúng rồi! - Chuyện, tôi làm công tác tổ chức cán bộ bao nhiêu năm, kinh nghiệm không ít. Này, tôi trách họ là chính, nhưng cũng phải trách tổ chức Đảng của mình còn kém trong vấn đề kiểm soát quyền lực. - Vậy yếu ở chỗ nào trong vấn đề kiểm soát quyền lực hả bác? Ngẫm nghĩ một hồi, ông bí thư chi bộ tổ dân phố lý giải: Đảng ta lấy nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức lãnh đạo cao nhất. Nếu soi vào nguyên tắc này thì ông bí thư dù ở cấp nào đi chăng nữa thì cũng chỉ có cái quyền về tập hợp tổ chức, định hướng vấn đề để cấp ủy, chi bộ quyết định phương án giải quyết. Có nghĩa là, mọi việc dù to, dù nhỏ trong tổ chức đều phải đưa ra tập thể cấp ủy bàn bạc, thống nhất và quyết định. Các cấp ủy viên cần phát huy tốt vai trò và trách nhiệm của mình để kiểm soát quyền lực, các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ủy ban kiểm tra. Dừng lời, ông ví dụ, trong công tác cán bộ chẳng hạn, khi trên có chủ trương cho phép luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thì tổ chức đảng cấp dưới phải làm theo quy trình. Để bổ nhiệm vào chức danh lãnh đạo nào đó, đúng ra, họ thường đưa ra 2 đến 3 nhân sự có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh như nhau để cấp ủy so sánh, đối chiếu, cân nhắc, lựa chọn. Thế nhưng, thường các tổ chức đảng đưa ra những cán bộ có chất lượng không ngang bằng nhau để so sánh, lựa chọn nên mới có hiện tượng con quan trẻ tuổi đã lọt vào các vị trí lãnh đạo mà vẫn đúng quy trình, nhưng chất lượng thì thấp, đặc biệt là bản lĩnh chính trị chỉ ở bậc “tiểu học”. - Bác phân tích cũng phải, nhưng theo em, cũng vì cái uy giả, cái quyền ảo ấy mà nhiều cấp ủy viên của ta chỉ biết lẳng lặng giơ tay biểu quyết, bằng mặt mà không bằng lòng. Họ sợ gió, sợ mưa, sợ mất miếng cơm manh áo, sợ mất ghế, mất quyền nên không dám đấu tranh thẳng thắn, không dám phân tích điều hơn lẽ thiệt. Tóm lại, họ không làm tròn cái chức ủy viên đã được các đảng viên tin tưởng bỏ phiếu tín nhiệm trong đại hội. - Chà, trí não của cán bộ cao cấp về hưu đã được huy động rồi đấy. Tôi vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nhưng chỉ mong Đảng ta có cách thức để kiểm soát quyền lực của cán bộ các cấp sao cho kịp thời ngăn chặn những vi phạm, nhất là những hiện tượng lạm quyền trong tổ chức mà thôi. Nói rồi, ông bí thư chi bộ chào ra về để kịp giờ đón cháu. Ông bảo, “nghị quyết” của gia đình đã thông qua, tôi phải đón cháu còn việc tắm, cơm nước là của bà ấy. Dân chủ thế mà vẫn có lúc hai ông bà mất đoàn kết đấy. Tôi sợ bị bà ấy phê bình lắm. Khi ông bí thư chi bộ đã ra về, ông bác tôi mới phân trần: Làm cán bộ thời nay quả khó hơn ngày xưa nhiều. Khó vì bản lĩnh luôn bị nhiều đối tượng tấn công từ các phía bằng lợi ích vật chất. Nếu không tỉnh táo, không cương quyết sẽ gục ngã. Ông bác tôi kết luận, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng có lẽ cũng từ ấy mà ra./.

Bôi mỡ để kiến đốt

Trên chuyến xe buýt từ thị trấn Xuân Mai về Hà Đông (Hà Nội) cùng với anh bạn, chúng tôi nghe được hai nữ phụ huynh ngồi cạnh nhau ở hàng ghế trên trò chuyện rôm rả về giáo dục. Họ tâm đắc với những phân tích và phản ứng về hiện tượng lạm thu các khoản xã hội hóa đầu năm học mới. Cái lý của họ khiến tôi và anh bạn đi cùng, nguyên là một hiệu trưởng một trường THCS đã chuyển ngành, lặng người. Phụ huynh thứ nhất ước chừng chưa đến 40 tuổi mở đầu câu chuyện bằng câu nói hết sức băn khoăn. Chị mệt mỏi với các chi phí cho việc học tập của các con. Đầu năm học mới đã phải chi tới gần 15 triệu đồng để mua sách vở, đồ dùng học tập, đồng phục và đóng học phí rồi các khoản thu cho hai cháu. Chị than thở, sự học ngày nay tốn kém quá mà chưa biết các con có làm lên cơm cháo gì trong tương lai không? Phụ huynh thứ hai già hơn một chút cũng chia sẻ: “Dư luận phản ánh, lạm thu trong giáo dục chẳng khác nào việc đi mua chữ. Nếu được nói, được đề xuất, tôi sẽ đề xuất bỏ đào tạo ngành tài chính, ngân hàng ở bậc đại học và lấy giáo viên các cấp về làm thay thì có lẽ lại đỡ tốn kém, có lợi hơn”. Chắc vì hai vị “hàng xóm” bất đắc dĩ động đến tự trọng nghề nghiệp, nên anh bạn tôi vội rướn cổ lên phía trước góp chuyện bằng cách phản đối: - Các bà này hay thật, sư phạm là nghề cao quý, là nghề dạy học làm người sao lại chuyển họ đi làm ngành tài chính, ngân hàng? Chị phụ huynh vừa nói quay xuống rỉ rả, trông bác ăn vận đẹp đẽ, khuôn mặt sáng sủa chắc phải là trí thức. Vậy, em phân tích mà có gì không phải thì mong bác bỏ quá cho nhé. Bác thấy đấy, giáo dục của ta thừa giáo viên. Sinh viên tốt nghiệp ngành giáo dục của ta không có việc làm, phải đi làm công nhân có khổ không? Nói xong, chị ta lôi ra một chiếc điện thoại. Sau khi khởi động máy, chị lại quay xuống, mặt hướng về phía anh bạn tôi tiếp tục giải trình. - Bác xem này, Quyết định số 732/QĐ- TTg ngày 29-04-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”, nêu rõ, từ năm 2016 đến năm 2020, chỉ tiêu đào tạo toàn ngành giáo dục là 190.000 giáo viên. Trong khi đó, từ năm 2014 đến 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đào tạo 267.000 người, vượt so với đề án tới 77.000 người. Vậy từ năm 2019 đến 2025, ngành giáo dục có đào tạo thêm giáo viên nữa không? Nếu đào tạo thì số thừa sẽ chuyển đi đâu, làm việc gì? Xin thưa với bác, nguồn tin trên là chính thống đấy chứ không phải tin từ báo lá cải đâu. - Thế thì có liên quan gì đến việc chuyển giáo viên sang ngành tài chính, kế toán. Chị phụ huynh thứ hai cười đắc ý và nói với chị kia: “Chắc bác này không có con cháu đi học nên không hiểu”. Dừng một lúc chị ta quay xuống ông bạn tôi tiếp lời: - Bác không thấy đấy à, học sinh đi học phải cõng đủ các loại phí được bóc tách từ nhiều việc khác nhau. Nào là quỹ đội, nào là quỹ xây dựng, tiền nước, vệ sinh, tiền mô hình học 2 buổi trên ngày, tiền chăm sóc bán trú... Chỉ đơn cử như tiền phí dịch vụ sổ liên lạc điện tử thôi đã nhiều giá khác nhau. Trường thì thu 135.000 đồng/năm học, trường thì thu 180.000 đồng/năm học. Chị dẫn chứng, với giá 180.000 đồng, riêng một trường tiểu học ở phường của chị có hơn 1.000 học sinh thì số tiền ấy đã hơn 180 triệu đồng. Tính ra, nếu giáo viên gửi trung bình 2 tin nhắn/tuần thì mỗi tin ước tốn khoảng 3.000 đồng. Đấy, bác xem, dịch vụ ấy đắt gấp 6 lần tin nhắn dịch vụ điện thoại mà các nhà mạng cung cấp trên thị trường trong khi bản chất của 2 cái này có khác nhau đâu? Thử hỏi, giá trị của sổ liên lạc điện tử có tương xứng với tiền phụ huynh bỏ ra không? Vậy, giáo viên đào tạo thừa không xin được việc làm sẽ chuyển đi đâu cho hợp lý? Nên chị bạn tôi nói cho họ đi làm tài chính, kế toán là lợi nhất. Đó là ý tưởng tuyệt vời đấy bác ạ! Thấy khuôn mặt anh bạn tôi ngơ ngác, chị phụ huynh lại bồi thêm. - Bác chưa tin à? Em ví dụ thêm cho bác thấy nhé. Đơn cử như cái việc ăn bán trú của các con ở trường cũng là một vấn đề khiến nhiều phụ huynh lo lắng. Chị dẫn chứng, cả 5 năm con chị theo học ở trường tiểu học và qua tới 5 cô giáo chủ nhiệm, nhưng chẳng bao giờ chị được nghe các giáo viên phổ biến chi tiết về cách tổ chức ăn bán trú thế nào, nhà cung cấp dịch vụ ở đâu, chất lượng ra sao, có bảo đảm an toàn thực phẩm hay không? Chị phân trần, giá kể điều kiện công việc, gia đình cho phép, chị sẽ đưa đón con cả buổi trưa để cho con được ăn cơm ở nhà mới yên tâm. Câu chuyện của hai phụ huynh trên chuyến xe buýt này khiến tôi không thể không phân vân về ngành giáo dục hiện nay, nhất là cách làm việc tại các trường học bậc tiểu học, THCS và THPT. Thiết nghĩ, hằng năm các trường đều được cấp kinh phí hoạt động, trong đó có cả kinh phí sửa chữa công trình xây dựng, kinh phí xây mới và mua sắm thiết bị đồ dùng học tập cũng như nhiều loại kinh phí khác. Nếu các trường cứ bóc tách, tự vẽ và tự đẻ ra các loại kinh phí khác nhau thì người khổ nhất chính là các phụ huynh. Rõ ràng là, nền giáo dục công lập với những ưu việt từ sự đầu tư của nhà nước đang bị bóp méo, bị lợi dụng để trở thành nơi thu tiền. Quả thật, nếu nói như hai chị phụ huynh kia thì cũng có lý, cho con đi học chẳng khác nào đi mua chữ. Trên đường trở về nhà, anh bạn tôi ngao ngán, giá kể bây giờ mà còn làm hiệu trưởng thì cũng xin nghỉ hưu sớm vì không chịu được sức ép dư luận. Bạn tôi bảo, cách làm ở các trường hiện nay là dân chủ nửa vời, dân chủ chưa tới nơi và cần phải xem xét lại. Anh phân tích, dân chủ ở các trường không phải chỉ là việc thông báo đến phụ huynh nội dung về khoản thu nào đó để ký vào biên bản rồi nộp tiền là xong. Nếu xét dưới khía cạnh cung cấp dịch vụ thì rõ ràng sự phân tích của hai phụ huynh nói ở trên là hoàn toàn có lý. Thiết nghĩ, cha mẹ vốn là người đại diện hợp pháp cho học sinh trước pháp luật. Họ có nghĩa vụ, trách nhiệm lo cho con cái được hưởng những gì tốt nhất trong điều kiện và khả năng có thể. Trong những năm qua, rất hoan nghênh các trường học đã có nhiều cải tiến, chăm lo cho học sinh để có các điều kiện học tập, rèn luyện, phát triển trí tuệ, nhân cách tốt hơn, trở thành công dân có ích trong tương lai. Tuy nhiên, quá trình thực hiện, nhất là trong các khoản thu xã hội hóa, các trường cũng cần triệt để thực hiện dân chủ, đưa ra nhiều thông tin trung thực để định hướng, thuyết phục phụ huynh, tạo điều kiện để phụ huynh được kiểm tra, giám sát cho thỏa đáng. Xin đừng giấu phụ huynh thông tin, bởi đó chính là việc làm tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt./.

"Nỗi niềm"... trí tuệ!

Không ngẫu nhiên mà trong thành phần “tứ dân” cơ bản (sĩ, nông, công, thương) ở xã hội phong kiến thời xưa, sĩ luôn được xếp ở vị trí hàng đầu. “Sĩ” là từ để chỉ tầng lớp trí thức, những người có học, có hiểu biết về chữ nghĩa nên luôn được xã hội trọng vọng. Qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta dẫu có lúc thăng trầm, thịnh suy, nhưng hầu hết các vương triều, các bậc minh quân đều xem trọng tri thức, đề cao sĩ phu, ngưỡng mộ những người văn võ song toàn, kinh bang tế thế. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Câu nói bất tử của danh sĩ Thân Nhân Trung (1419 - 1499) được khắc ghi trang trọng trên bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), không chỉ hàm ý tôn vinh, khẳng định sức mạnh to lớn của tri thức, trí tuệ, mà còn thể hiện một khát vọng về cách ứng xử, đối đãi đúng mực của thể chế chính trị đối với những nhân tài của đất nước. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã tổng kết và đề ra bốn nguyên lý trị nước: “Phi nông bất ổn/ Phi công bất phú /Phi thương bất hoạt/ Phi trí bất hưng”. Nhấn mạnh hơn tầm quan trọng đặc biệt của nguyên lý thứ tư, vị danh nho kiệt xuất này còn khẳng định thêm: “Phi trí tắc vong”. Điều đó có nghĩa là, quốc gia mà không có trí thức, không trọng kẻ sĩ hay không biết sử dụng trí thức, hiền tài, thì đất nước chẳng những không hưng thịnh (bất hưng), mà còn có thể bị diệt vong. Vậy mà, ngày nay cứ tưởng câu “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” chỉ là sự râm ran trong dư luận hay xì xào to nhỏ khi “trà dư tửu hậu”, nhưng đó lại là nỗi trăn trở, đau lòng của người đứng đầu Đảng ta khi chỉ ra “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt câu hỏi: “Trong công tác cán bộ thì: “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”(1) khiến bất cứ ai nặng lòng với dân, với nước cũng không khỏi một nỗi niềm trăn trở, đau lòng. Không trăn trở, đau lòng sao được khi một tiêu chí đáng lẽ phải được đặt lên vị trí hàng đầu trong công tác cán bộ, nhưng ở không ít nơi, nó lại bị đẩy xuống sau cùng? Vẫn biết “hậu duệ” cũng có dăm bảy hạng người, có bậc tài ba xuất chúng xứng đáng nối tiếp dòng dõi “thế phiệt trâm anh”, nhưng lại có những kẻ “tài hèn đức mọn” mà vẫn được xếp vào hàng “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ, thì làm sao dư luận nguôi ngoai nỗi lòng? “Tiền tệ” cũng đáng quý, đáng trọng, nhưng chỉ là phương tiện thanh toán, trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, sản phẩm thông thường, lẽ nào lại để nó len lỏi, “tranh giành” lên vị trí thứ hai và biến thành “vật đấu giá” trong công tác cán bộ? “Quan hệ” cũng rất cần thiết, nhưng liệu nó có thể thay thế được “chất xám” của con người chăng? Cổ kim đông tây từng đúc kết: Một dân tộc giàu trí tuệ là một dân tộc có phúc. Một quốc gia giàu tri thức là một quốc gia may mắn. Một thể chế chính trị biết chiêu hiền đãi sĩ, xem trọng những người giàu kiến thức và năng lực là một thể chế chính trị tiến bộ, văn minh. Từ đó có thể nói rằng, một tổ chức đề cao tiêu chuẩn “trí tuệ” trong việc đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là một tổ chức lành mạnh, minh bạch, nhân văn. Ngược lại, tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó vẫn còn để cho “tiền tệ” lên ngôi, “quan hệ” lộng hành, “hậu duệ” chi phối trong công tác cán bộ sẽ làm nảy sinh tình trạng nội bộ lục đục, trên dưới bất hòa, lòng người bất an. Nếu không kiên tâm, kiên quyết ngăn ngừa, hạn chế, đẩy lùi được vấn nạn này, thì mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ cả đức - tài, trung thành, mẫn cán, vì dân, vì nước... xem chừng còn nhiều gian nan lắm!./.

Mong sao cuộc họp thứ...

Họp là việc bình thường và cần thiết của bất cứ tổ chức, cơ quan hay quốc gia dân tộc nào. Nhưng, sẽ là bất bất bình thường và thậm chí vô lối, về sự họp ở không ít cơ quan, ngay tại xứ ta. Lật thử xem trang báo, trong 11 tin đưa, có 7 tin về họp hành, hội thảo. Ấy là ở tỉnh! Ngó thử coi lịch làm việc treo trên bảng, trong 5 ngày làm việc, tổng cộng có tới 30 cuộc họp cho Bí thư. Đó là ở xã! Thì ra, từ tỉnh tới xã, đâu cũng họp... rất nhiều! Cái gì cũng... họp lu bu. Đoàn thể nào cũng... họp triền miên. Cấp nào cũng họp... vô tiền khoáng hậu. Hay chăng, đất nước ta bình quân mỗi ngày có 22 lễ hội, và hằng năm có tới 8000 lễ hội, nên nhiễm cả vào các cơ quan công quyền và nhiễm tận trong... máu mỗi người cái “đức... tụ vạ”, “thói... bàn suông”? Hay chăng, vì để chữa bệnh sợ trách nhiệm cá nhân kinh niên xưa nay... nên cần họp để trốn vào cái lồng “lãnh đạo tập thể”, khi mắc lỗi thì “cả làng cùng chịu” theo kiểu: “Toét mắt bởi tại hướng đình. Cả làng cùng toét chứ mình gì ta”, nên xểnh ra... là họp? Hay chăng, họp là có tiền, có đánh chén, nên... “đâu có họp là ta cứ đi”, “khua mõ ắt có gõ thớt” (!)? Hay chăng, họp là để... thay làm, kiểu như “mồm miệng đỡ chân tay”, “ngồi trong màn trướng định việc ngàn dặm”? Hay chăng để “đánh bóng” tên tuổi mình, để truyền hình, báo chí đưa tin, trương ảnh cho... oách, cốt: “Vua biết mặt, chúa rõ tên” rồi sau đó “Đi nhẹ, nói khẽ hay cười. Việc đâu bỏ đấy là người phiếu cao”? Vô vàn kiểu họp. Chả thế có người bảo: “Bé thì đi học, nhớn thì đi họp, già thì đi hội” (!), chả thế có người nói (đùa mà là thật, đầy “kiêu hãnh”): “Nghề nghiệp: Họp hành; thành phần: Theo vợ”, nên hở ra là...họp! V.v... Có nhẽ vì thế, nên cứ thế, ai ai, đâu đâu... cũng đua nhau bày ra các cuộc họp! Tất nhiên, ấy chỉ là chuyện họp ở công sở, họp về việc công! Nhân gian nom thấy, bèn gọi toẹt ra là... loạn họp, cuồng họp! Gọi thế có oan?! Chả nói ra, thì ai cũng thấy, họp hành kiểu ấy thì xiết bao tốn kém: thì giờ, tiền bạc, phiền phức, mà tất cả đều là thuế của nhân dân. Nhưng, điều đáng sợ hơn cả là, táng thất niềm tin: Họp lắm nát chuyện, đâm ra: “Nói dài nói dai hóa nói dại”, “Đâm bị thóc, chọc bị gạo”, thế là mất đoàn kết nảy nòi; thậm chí cả “họp vụng” kiểu bè nhóm, thế là nát bét mọi sự; nghiện họp rồi hóa “Lưỡi dài hơn tay”, đẻ ra thói “Nói nhiều làm ít”, “Nói đâu việc bỏ đó”, nói nhưng không làm, tệ lười biếng hoành hành; họp vô tích sự thành ra họp suông... thậm chí vừa nhàm vừa nhảm, làm công việc thì bê trễ, cơ quan thì lộn xộn, tổ chức thì rối beng! Họp thế đâu còn thì giờ để làm, để nghe dân, để đi cơ sở!? Tôi chưa có thì giờ và kiên nhẫn để thống kê toàn quốc mỗi năm có bao nhiêu cuộc họp và bao nhiêu thì giờ dành cho họp, từ thôn làng cho đến Trung ương!? Có nhẽ, nếu giao việc này cho những người nghiện họp, phải cần ít nhất tới... mươi cuộc họp để luận cứ, luận chứng cuộc thống kê cỏn con về sự họp này! Mà có khi lại thành một đề án khoa học hẳn hoi, tiêu tốn vài ba trăm triệu đồng thuế của nhân dân! Đang lay hoay nghĩ về sự họp, thì hôm 20-8-2017 mới đây, trên VTV đưa tin: Ở Thành phố H, bình quân mỗi năm trưởng ngành phải họp tới... 2000 cuộc! Tôi buột thành tiếng cười: Sao không dẹp bớt? Cô cháu ngoại tôi mới học lớp mẫu giáo bé, thấy tôi cười, liền bập bẹ hỏi: Thế để làm gì hả... ông!? Tôi im lặng... và quyết biên ra đây nhời khuyến nghị: Cần kíp thành phố ấy nên tổ chức cuộc họp thứ... 2001, để xóa hoặc làm bé đi nhiều lần con số 2000 cuộc họp, mà mỗi trưởng ngành của họ đang thực thi một năm! Và, ước gì đâu đâu cũng thế!./

Thêm 100 ca Covid-19, chủ yếu ở Bắc Giang

Bộ Y tế trưa 25/5 ghi nhận 100 ca dương tính nCoV trong nước, gồm tại Bắc Giang 87, Hà Nội 8, Đà Nẵng 2, Thái Bình, TP HCM và Điện Biên mỗi nơi một. Như vậy, trong buổi sáng nay Bộ Y tế công bố tổng cộng 157 ca Covid-19, nâng tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 2.506, ở 30 tỉnh thành. Riêng Bắc Giang trong sáng nay số ca nhiễm được công bố là 132, cao nhất từ trước tới nay tính theo địa phương và tính theo ngày. Số ca nhiễm mới đưa tổng số ca nhiễm ở Bắc Giang lên 1.156, địa bàn Hà Nội 316 ca (trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 89 ca, 48 ca ở Bệnh viện K), Đà Nẵng 154, Điện Biên 55, Thái Bình 19, TP HCM 8. 100 ca mới được ghi nhận từ số 5462-5561, cụ thể: Thái Bình Ca 5462, nữ, 82 tuổi, địa chỉ tại huyện Vũ Thư, có liên quan dịch tễ ca 3042, 3044. Kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV, bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. TP HCM Ca 5463, nữ, 37 tuổi, địa chỉ tại quận 3, là F1 của ca 4780, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV. Đà Nẵng Ca 5464, nữ, 9 tuổi, địa chỉ tại quận Thanh Khê, là F1 của ca 3610, đã được cách ly. Ca 5465, nữ, 14 tuổi, địa chỉ tại quận Cẩm Lệ, là F1 của ca 4132, đã được cách ly. Kết quả xét nghiệm ngày 24/5 họ dương tính với nCoV. Hà Nội Ca 5466-5471, 5473, 5561 gồm 2 ca là F1 của ca 5312, 6 ca liên quan đến ổ dịch Công ty T&T. Kết quả xét nghiệm ngày 25/5 họ dương tính với nCoV. Điện Biên Ca 5472, nữ, 17 tuổi, địa chỉ tại huyện Nậm Pồ, là F1 của ca 4590, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV. Bắc Giang Ca 5474-5560 gồm 86 ca có liên quan dịch tễ đến khu công nghiệp Quang Châu, Vân Trung, Đình Trám và một ca là F1 liên quan đến ổ dịch cũ, đã được cách ly. Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe là hơn 165.000, trong đó cách ly tập trung tại bệnh viện là hơn 5.000; cách ly tập trung tại cơ sở khác là hơn 35.000; số còn lại tại nhà, nơi lưu trú. Theo Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, thế giới ghi nhận hơn 168 triệu ca Covid-19, trong đó hơn 3,4 triệu người đã tử vong. Đứng thứ nhất về số ca mắc là Mỹ, sau đó là Ấn Độ và Brazil.

KẾ LY GIÁN – CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

 

Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: đó là đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột lý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác.

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người, hắt chậu nước bẩn lên những anh hùng dân tộc.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid. Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, đám chủ nghĩa xét lại được sự cổ vũ của Khrushchyov đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

(Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bât ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết).

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền.

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc.

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm.

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo.

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng Sản sau khi Hồ Chủ Tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam.

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

NGĂN CHẶN TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng. Tuy nhiên, những thông tin này không phải lúc nào cũng chính xác, trong đó có nhiều thông tin bịa đặt, không đúng sự thật do một số đối tượng đăng lên nhằm "câu like", "câu view" với động cơ không tốt.

Thời gian qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, mọi thông tin liên quan đến dịch bệnh đều tác động đến tâm lý, đời sống nhân dân. Lợi dụng cơ hội này, một số đối tượng đã tạo tin giả, đăng tin sai sự thật trên các mạng xã hội khiến nhiều người hoang mang, lo sợ, thậm chí còn có những hành động tiêu cực.

Nhiễu loạn thông tin trên mạng xã hội

Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 4-5-2021, Trần Văn Duy đã sử dụng tài khoản facebook “Hà Nội Phố” để đăng tải thông tin “Hà Nội phố thông thoáng trong ngày đầu phong tỏa” kèm theo một video về trải nghiệm đường phố Hà Nội ngày 4-5-2021. Qua xác minh, Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP Hà Nội khẳng định nội dung thông tin đăng tải trên là sai sự thật, vi phạm quy định tại Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Đây là thông tin nguy hại khiến cho một bộ phận người dân cảm thấy lo lắng, bất an. Nhiều người còn chuẩn bị các phương án tích trữ lương thực, thực phẩm, gửi con cái về quê... để sẵn sàng đối phó với những ngày “phong tỏa”.

Không riêng dạng tin giả kiểu này, nhiều trang mạng, tài khoản facebook còn đăng thông tin chưa được kiểm chứng về các ca bệnh lây lan trong cộng đồng. Sau đó tự nhận hoặc tự xác định các nguồn lây rồi truy vết F0, F1 theo hành trình kịch tính để tạo cơn sốt ảo trên mạng xã hội. Những hành động này chỉ nhằm mục đích gây sự chú ý, nhưng ảnh hưởng rất xấu đối với cộng đồng. Nhiều người theo dõi mạng xã hội có cảm giác sợ hãi, lo âu mỗi khi ra đường.

Tin giả được xác định có nhiều dạng thức. Loại thứ nhất là những thông tin hoàn toàn không chính xác, được cố tình đăng tải, lan truyền vì động cơ, mục đích xấu của cá nhân nào đó. Loại thứ hai là những thông tin có thể có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác, do người viết không kiểm chứng trước khi đăng tải, chia sẻ hoặc phóng đại, thêu dệt để "nâng tầm" câu chuyện. Một loại khác thường tồn tại trên mạng xã hội là tin giả dưới dạng tin đồn. Thông qua sự lan truyền, chia sẻ các bài viết, thông tin ngày càng bị biến dạng, bóp méo dẫn đến sự sai lệch cho người đọc khi tiếp nhận. Việc nhận diện tin giả, xác định nguyên nhân xuất hiện và tác hại của nó là điều vô cùng quan trọng. Nhận diện tin giả không chỉ bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh mà còn góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Cần các biện pháp xử lý nghiêm minh

Mới đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ra mắt cổng thông tin tiếp nhận phản ánh, công bố tin giả tại địa chỉ http://tingia.gov.vn và đầu số tiếp nhận phản ánh tin giả 18008108. Đây được coi là công cụ hữu hiệu giúp nhận diện được các thông tin giả, thông tin sai sự thật, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tin xấu độc, xây dựng môi trường mạng trong sạch. Cổng thông tin tiếp nhận trực tuyến các phản ánh về tin giả của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời công bố tin giả bằng hình thức dán nhãn tin giả, tin sai sự thật.

Bên cạnh đó, cơ quan công an đã phối hợp với các ngành chức năng xử lý nghiêm các đối tượng đăng tin giả. Ngày 22-2-2021, Công an thị xã Đông Triều (Quảng Ninh) đã ra quyết định xử phạt hành chính 5 triệu đồng đối với Nguyễn Đình Sinh (trú tại xã Nguyễn Huệ, thị xã Đông Triều) vì chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội facebook. Tại cơ quan công an, Nguyễn Đình Sinh khai nhận, tối 16-2, Sinh đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân đăng tải nội dung thông tin sai sự thật về khẩu phần ăn trong khu cách ly tập trung, xúc phạm uy tín của tổ chức liên quan. Tại cơ quan công an, Sinh thừa nhận do thiếu hiểu biết nên đăng nội dung thông tin sai sự thật, đồng thời gỡ bỏ các nội dung đã đăng tải trên mạng xã hội và cam kết không tái phạm. Mới đây, Sở Thông tin và Truyền thông TP Hà Nội cũng đã xử phạt hai trường hợp: Phạm Thị Ngọc (trú tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng) và Dương Ngọc Ánh (trú tại tòa B, chung cư Imperia Garden, số 143 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân) về hành vi sử dụng facebook đăng nội dung sai sự thật về bệnh nhân 1552 ở Hải Dương và 1553 ở Quảng Ninh...

Ngoài các hình thức xử phạt hành chính, có lẽ đã đến lúc cần các biện pháp mạnh tay đối với những đối tượng tung tin giả, tin sai sự thật để tránh việc "nhờn luật". Quan trọng hơn, những người dùng mạng xã hội cần nâng cao cảnh giác trước những thông tin thất thiệt, mang tính kích động, gây hoang mang dư luận; đồng thời phải có biện pháp tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu độc; tuyệt đối không chia sẻ, bình luận, like các bài viết đăng tải những thông tin chưa được kiểm chứng. Để nắm các thông tin chính trị, kinh tế-xã hội, tình hình dịch Covid-19, người dân cần tham khảo trang thông tin của các ban, bộ, ngành và cơ quan chức năng, thu thập, tiếp nhận thông tin ở các tờ báo chính thống, có uy tín. Làm được điều đó, chắc chắn tin giả, tin sai sự thật sẽ không còn đất sống./.