Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

Gương người tốt, việc tốt

 

 


Khoảng 10h53 sáng nay, 26/5, Công an phường Khương Thượng (Đống Đa, Hà Nội) nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một người phụ nữ có biểu hiện tự tử tại hồ Hố Mẻ, góc phố Tôn Thất Tùng - Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đống Đa.

Futsal Việt Nam lần thứ hai trong lịch sử góp mặt tại World Cup

 


ĐT Việt Nam đã xuất sắc vượt qua ĐT Lebanon sau 2 lượt trận play-off nhờ luật bàn thắng sân khách, qua đó lần thứ hai trong lịch sử góp mặt tại VCK FIFA Futsal World Cup.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

Quá tầm, quá sức!

- “Chúc mừng nhé, đại hội đảng bộ xã nhà thành công, ông lại tái đắc cử vào Đảng ủy xã!”. Bên ly trà đá của ngày đầu hè, tôi chúc mừng người bạn cùng học thời phổ thông hiện đang công tác tại quê nhà. - Cảm ơn ông, nói thật là đại hội thành công tôi cũng rất phấn khởi. - So với nhiệm kỳ trước, đại hội lần này có gì mới không? - Mới nhiều chứ, Ban Chấp hành đảng bộ có thêm nhiều gương mặt triển vọng, bảo đảm cơ cấu nam nữ, độ tuổi, mới cũ,… - Đó là vấn đề nhân sự, còn về chủ trương phát triển xã nhà trong nhiệm kỳ mới thì sao? - Cái này thì phải nói thật là “vẫn y nguyên”. Vì so với khả năng của xã, nhiều vấn đề quá tầm, quá sức. - Sao lại quá tầm, quá sức? - Về cơ bản, vẫn tập trung vào xây dựng nông thôn mới; thực hiện chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng; phát triển ngành nghề phi nông nghiệp;… Song cũng như các nhiệm kỳ trước, đại hội mới dừng lại ở việc “thống nhất quan điểm” chứ chưa thảo luận chi tiết về việc làm gì, làm như thế nào, bao giờ làm và lúc nào phải xong,… Vì ông biết đấy, xã mình vốn là xã nghèo, lại không có nghề phụ nên… khó lắm. Quay về cơ quan để bắt đầu tuần làm việc mới mà tôi cứ băn khoăn mãi về câu chuyện với anh bạn đồng môn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đại hội đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta… Cho nên, toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo đại hội thành công thật tốt đẹp”(1). Đại hội chỉ thực sự thành công khi đề ra được những chủ trương, biện pháp sát đúng, mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với nguyện vọng và góp phần nâng cao đời sống của quần chúng. Ở cấp cơ sở, tính thiết thực của những biện pháp đề ra lại càng trở nên quan trọng. Đại hội chính là dịp thuận lợi để các tổ chức đảng đề cao tự phê bình và phê bình; thắng thắn trao đổi, thảo luận những việc làm được và chưa được, những kinh nghiệm về lãnh đạo trong nhiệm kỳ trước để từ đó đề ra những chủ trương, biện pháp, chỉ tiêu cụ thể, khả thi. Nếu giữ mãi cách nghĩ “quá tầm, quá sức” thì đại hội sẽ không thể thành công dẫu công tác nhân sự vẫn “bảo đảm cơ cấu”./.

Đừng tự bịt mắt!

Đảng ta luôn giữ chặt mối liên hệ với nhân dân và lắng nghe ý kiến của nhân dân bởi đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi. Nhưng đâu đó vẫn có hiện tượng ngay cả một số đảng viên vẫn “tự bịt mắt” làm ngơ, không chung tay góp sức cho Đảng, đòi hỏi chúng ta cần kiên quyết đấu tranh. Cuộc họp của chi bộ thôn A hôm nay đông đủ và sôi nổi hơn mọi khi. Sau khi ổn định tổ chức, tuyên bố lý do, lựa chọn thư ký, đồng chí Bí thư thông báo nội dung cuộc họp gồm: thảo luận đóng góp ý kiến vào văn kiện của Trung ương; thông báo thông tin nội bộ; quán triệt nghị quyết của cấp trên; ra nghị quyết lãnh đạo của chi bộ; kiểm điểm trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ trì; giám sát đảng viên theo điểm 2, điều 30, Điều lệ Đảng. Sau khi chi bộ biểu quyết nhất trí về nội dung và chương trình cuộc họp, đồng chí Bí thư tiếp tục phần việc của mình: “Đi vào nội dung thứ nhất: Thảo luận đóng góp ý kiến vào Dự thảo văn kiện của Ban chấp hành Trung ương khóa XI sẽ trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ta. Để thảo luận có tập trung, tôi xin gợi ý một số vấn đề…” Một đồng chí vừa đứng dậy, vừa giơ tay lên: “Tôi xin ý kiến. Thưa đồng chí Bí thư, báo cáo chi bộ, tôi có ý kiến thế này. Như các đồng chí thấy, nội dung cuộc họp của chúng ta hôm nay rất dài. Nếu làm bài bản, đủ nội dung e rằng không kịp. Vậy tôi xin đề xuất, với nội dung thảo luận đóng góp vào văn kiện của Trung ương thì chi bộ cứ cho chủ trương, phương pháp, sau đó giao một đồng chí chịu trách nhiệm nghiên cứu kỹ rồi tổng hợp thành văn bản, coi đó là ý kiến chung của chi bộ để hoàn thiện gửi lên trên, vừa bảo đảm chất lượng, lại có tập trung và đúng thời hạn, ta có điều kiện làm kỹ các nội dung thiết thực còn lại. Nếu làm cụ thể vừa dài, vừa không thật cần thiết vì Trung ương đã có hẳn Hội đồng lý luận, rồi ban này, tiểu ban kia giúp việc với bao nhiêu giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, toàn những nhà khoa học đầu ngành mới soạn thảo ra văn kiện này. Hỏi chúng ta ngồi đây trình độ thế nào mà thảo luận, biết đóng góp về cái gì, hay cũng chỉ là làm cho có lệ thôi”. Một cánh tay khác lại giơ lên. “Tôi cơ bản nhất trí với ý kiến vừa nêu, thời gian thì ít, tài liệu lại dài, nội dung thì rộng. Nếu chúng ta thảo luận, muốn góp ý kiến làm rõ, bác bỏ hay bổ sung gì thì lấy số liệu, dẫn chứng ở đâu để thuyết phục Trung ương hay cũng chỉ chung chung “thầy bói xem voi” thôi. Cho nên, theo tôi ta cử vài đồng chí thạo vi tính, tinh thông google lên mạng tìm tin tức liên quan tới vấn đề này, copy về, xào xáo lại là thành ý kiến của ta ngay. Vừa trúng, vừa đúng lại vừa thuyết phục. Chứ giao cho một đồng chí e rằng quá sức”. Không khí cuộc họp hào hứng hơn, hai ý kiến vừa nêu được bàn tán và thảo luận rất sôi nổi. Cả phòng họp bỗng dừng lại, mọi ánh mắt đều đổ về một cánh tay từ từ đưa lên xin được phát biểu. “Thưa đồng chí Bí thư, báo cáo chi bộ, vừa rồi hai ý kiến đều đưa ra lý lẽ cụ thể. Còn tôi suy nghĩ thế này. Nếu xét về tính cần thiết, quan trọng, hẳn việc thảo luận, đóng góp vào Dự thảo văn kiện của Trung ương phải hơn hẳn các nội dung thường ngày, hằng tháng của chi bộ ta. Bởi việc thảo luận này 5 năm mới làm một lần, là thảo luận chủ trương, đường lối của Đảng ta, nói to thì to thật nhưng cũng chính là quốc kế dân sinh, là đời sống hằng ngày của nhân dân, của chính chúng ta. Nếu nói Trung ương có hẳn Hội đồng lý luận, rồi ban này, tiểu ban kia giúp việc với bao nhiêu giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ toàn những nhà khoa học đầu ngành mới soạn thảo ra văn kiện này mà chúng ta không biết thảo luận gì thì cũng không thật thuyết phục. Thiết nghĩ, cho dù là các nhà khoa học đầu ngành ở trên viết ra “Dự thảo” nhưng chưa hẳn đã phản ánh đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, có thể thiếu cái sôi động của thực tiễn. Còn chúng ta, đúng là thiếu lý luận, nhưng lại thừa thực tiễn sinh động, là người rõ nhất tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Vậy nên, chính việc chúng ta thảo luận, đóng góp ý kiến là đang kéo “Dự thảo” của Trung ương gần với đời sống của nhân nhân. Đó là thứ Trung ương cần ở chúng ta, chứ không phải vài ý kiến theo yêu cầu nhiệm vụ. Hơn nữa, chúng ta là đảng viên, chi bộ chúng ta như bao chi bộ khác là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là tế bào của Đảng thì phải nhiệt tình tham gia thảo luận với trách nhiệm cao nhất. Đồng thời, chúng ta phải vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức khác nhiệt tình hưởng ứng để Đại hội của Đảng hình thức là đại biểu đi dự mà như hội nghị của toàn dân. Đây là lúc Trung ương cần đôi mắt của nhân dân nhất mà sao lại tự bịt mắt mình rồi trách đường lối, chính sách “trên trời””. Nói tới đây, đồng chí rụt rè ngồi xuống khi phát hiện ra cả phòng họp đang im phăng phắc, mọi ánh mắt đang đổ dồn về phía mình. Không ai bảo ai, cả chi bộ đứng dậy, vỗ tay không ngớt, xen vào đó là lời đề nghị: “Hôm nay, ta chỉ làm những nội dung thường ngày, hằng tháng; còn thảo luận “Dự thảo” thì dành hẳn một buổi khác”./.

Tham vọng quyền lực và sự tha hóa

Lịch sử thế giới đã chứng minh mỗi quốc gia chỉ có thể thành công khi việc trao quyền lực được thực hiện một cách đúng đắn, bảo đảm mọi quyền lực thực sự là của nhân dân và có cơ chế kiểm soát để người được trao quyền không bị thoái hóa, biến chất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia muốn thành công cần phải có phương thức lãnh đạo trao quyền cho những người có đạo đức, có tài năng và cần tập trung kiểm soát quyền lực, bổ sung các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong đảng và trong xã hội. Trong buổi bình minh của nhân loại, khi con người còn hoang sơ, cuộc sống còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, người ta đã nghĩ và tin rằng, quyền lực thuộc về tự nhiên, do các thần linh nắm giữ. Sau đó, nhờ trình độ nhận thức tăng lên, con người đã dần dần nhận ra và phân biệt được sức mạnh của tự nhiên và sức mạnh của mình trong chế ngự tự nhiên và quản lý xã hội. Từ đó quyền lực bắt đầu xuất hiện. Quyền lực, khởi nguyên là của nhân dân, của cộng đồng mà không phải cá nhân ai bỗng nhiên có được. Khi mọi người tự nguyện đồng lòng tôn vinh ai đó là thủ lĩnh, là người phụ trách để thay mặt họ xử lý công việc chung, thì đồng thời cũng là trao quyền lực cho người ấy. Bắt đầu từ đó, người thủ lĩnh, người phụ trách có quyền lực. Về bản chất thì quyền lực không phải của họ mà họ được nhân dân trao quyền, ủy quyền để sử dụng cho mục đích chung. Khi quyền lực được trao cho người có nhân cách tốt thì nó được sử dụng đúng mục đích, bảo vệ và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Người xưa có câu: “Đức trọng, quyền cao”. Câu ấy có thể hiểu là dựa trên cơ sở của đạo đức, nhân cách mà trao quyền lực. Người có đạo đức là mười thì có thể trao quyền lực đến bảy, tám, tức là trao quyền lực ít hơn, càng không trao vượt quá. Người có đạo đức ít, thấp mà trao quyền lực nhiều, cao thì vô cùng nguy hiểm, giống như “gửi trứng cho ác”, sai lầm, tai họa là nhất định không tránh khỏi. Theo đó, người có chức quyền càng lớn thì đạo đức, nhân cách phải càng lớn hơn. Không biết từ bao giờ, câu “Đức trọng, quyền cao” lại bị người ta nói chệch sang là “Chức trọng, quyền cao”, tức là trọng chức tước chứ không phải trọng nhân cách. Khi quyền lực trao cho người không đủ nhân cách, thì nó trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân, “lợi ích phe nhóm”, thậm chí là công cụ để làm việc ác. Trong lịch sử thế giới và Việt Nam đã có nhiều trường hợp nhân dân trao quyền và bị mất quyền, trở thành đối tượng cho quyền lực cai trị. Như vậy, quyền lực có thể đem lại công bằng, hạnh phúc và cũng có thể đem lại tai họa, đau khổ cho con người. Điều đó phụ thuộc vào việc quyền lực được trao vào tay ai. Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp quyền lực của một cộng đồng đã bị người khác (hoặc một nhóm người) dùng thủ đoạn tước đoạt, tranh cướp mất. Quyền lực vốn là của nhân dân, nhưng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, các chủ nô đã chiếm giữ và sử dụng nó để cai trị xã hội, biến nhân dân (vốn là chủ nhân của quyền lực) thành những người bị mất quyền, phải làm nô lệ. Trong chế độ phong kiến, quyền lực của nhân dân rơi vào tay vua và tập đoàn phong kiến, còn nhân dân nói chung không có quyền, ngoài một số quyền ít ỏi nào đó do nhà vua ban cho; ngay cả đến quyền sống cũng không có, “ý vua là ý trời”, vua đại diện cho pháp luật, muốn giết ai thì giết, thậm chí giết luôn cả dòng họ, cả mấy đời (tru di tam tộc, tru di cửu tộc) của người đó. Thời kỳ đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền lực do giai cấp tư sản, nhất là giới tài phiệt chi phối, chiếm giữ và sử dụng. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tiến bộ rất nhiều theo hướng dân chủ, tuy vậy, nhìn chung, giới tài phiệt ở các nước vẫn còn chi phối đáng kể quyền lực. Dân chủ là một vấn đề khách quan, tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhất là trình độ dân trí, quan trí và sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Quyền lực luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu như họ không đủ nhân cách. Với những người như vậy, nếu quyền lực mà họ nắm giữ càng lớn thì nguy cơ tha hóa của họ càng nhiều. Một người khi giữ chức vụ thấp hơn thì nguy cơ tha hóa ít hơn. Mặc dù vậy, nói chung phần lớn quan chức đều tham vọng có nhiều quyền lực. Không có gì hấp dẫn, cám dỗ bằng quyền lực. Nó là “ma túy” gây nghiện, là “ma quỷ” xui khiến. Khi có quyền lực là có thể có gần như tất cả, nếu muốn. Vì vậy, quyền lực hấp dẫn bằng các thứ hấp dẫn khác cộng lại. Người ta đam mê nó, suốt ngày nghĩ về nó, dùng mọi thủ đoạn sống chết để giành và giữ lấy nó, dù phải mất nhân cách, dù phải làm việc ác. Có quyền lực rồi thì muốn có quyền lực lớn hơn, lớn rồi vẫn chưa đủ lại muốn lớn hơn nữa. Cứ thế, gần như không có điểm dừng, thậm chí không cần biết có nhiều quyền lực để làm gì. Bản thân việc ấy đã là biểu hiện của sự tha hóa. Quyền lực làm tha hóa con người một cách nhanh nhất. Không ít người chỉ cần sau một cuộc bỏ phiếu hoặc sau một quyết định phong chức, họ có thể bỗng nhiên khác hẳn, họ bắt tay theo kiểu khác, chào hỏi kiểu khác, dáng đi bệ vệ hơn, nói năng ra oai hơn... Quyền lực không chỉ làm tha hóa mấy con người cụ thể, mặc dù đúng là bắt đầu từ đó, mà còn làm tha hóa cả một chế độ, một vương triều. Nhìn lại các triều đại phong kiến Việt Nam, hầu hết, lúc đầu được nhân dân ủng hộ lên nắm quyền, làm được nhiều việc lớn cho đất nước, dân tộc nhưng sau đó thì bị tha hóa bởi quyền lực, từ tha hóa ở một số người đến một bộ phận rồi thành việc phổ biến của một vương triều, rồi sụp đổ, vương triều khác lên thay, sau một thời gian lịch sử lặp lại y như vậy. Nhà Ngô, nhà Đinh, Tiền Lê có công lớn nhưng mỗi triều đại chỉ tồn tại trong khoảng 15 - 30 năm. Nhà Lý, nhà Trần nhiều lần đánh thắng quân Tống và quân Nguyên nhờ biết “lấy dân làm gốc” mà chiến thắng, cầm quyền được lâu nhất, trên dưới 200 năm mỗi triều đại, dù vậy nhưng cuối cùng cũng do bị tha hóa mà kết thúc. Nhà Hồ tồn tại quá ngắn, mặc dù có một số tư tưởng và chủ trương cải cách nhưng ngay từ khi mới lên đã không được dân chúng đồng tình, mâu thuẫn quyền lực trong giới quý tộc và mất nước vào tay ngoại xâm. Nhà Hậu Lê (Lê sơ) mặc dù lúc đầu được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, đứng lên làm khởi nghĩa Lam Sơn, thắng giặc Minh hung bạo, nhưng khi lên cầm quyền rồi lại tha hóa, sát hại các trung thần vì họ can ngăn những việc làm sai trái và sợ họ chi phối quyền lực. Nguyễn Trãi cũng bị mưu hại trong giai đoạn này. Nhờ có minh quân mà nhà Hậu Lê gượng lại được một thời gian gần trăm năm, nhưng cuối cùng cũng tha hóa. Nhà Mạc cũng vậy, chỉ tồn tại khoảng 65 năm. Tiếp theo là thời kỳ vừa có vua, vừa có chúa, chúa giành nắm hết quyền lực, nhiều khi vua chỉ là hình thức cho có vì, các chúa cũng tranh giành nhau quyền lực, đến mức phải cát cứ vùng này, vùng kia, chia cắt đất nước ra để mỗi bên cai trị một vùng. Triều Tây Sơn với chiến công oanh liệt, lẫy lừng là thế, vậy mà sau khi Quang Trung mất thì tha hóa, tham nhũng và sụp đổ, tồn tại chỉ có 24 năm. Phần lớn các triều đại ấy đã thoái hóa ngay cuối đời vua thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, chứ không lâu, ngoại trừ một ít trường hợp. Lâu nay lịch sử nước ta đã ghi lại khá rõ các chiến công lừng lẫy của cha ông, nhưng lịch sử chưa viết kỹ về thời kỳ suy thoái, sự tha hóa quyền lực và nhất là nguyên nhân của nó. Đây rất có thể là một khiếm khuyết trong viết sử. Chính vì vậy mà không rút được kinh nghiệm đầy đủ để phòng ngừa, nên tha hóa quyền lực cứ lặp đi lặp lại. Liên Xô trước đây cũng vậy, thời kỳ đầu thực hiện khá tốt tư tưởng nhà nước của dân, quyền lực về tay các xô-viết là cơ quan thật sự đại diện cho đại đa số nhân dân, làm việc vì nhân dân nên đã lập nên nhiều công tích lớn lao, vĩ đại, đánh thắng 14 nước đế quốc đến bao vây, bảo vệ được chính quyền nhân dân non trẻ, chiến thắng trong Đại chiến thế giới thứ 2, cứu nhân loại khỏi thảm họa phát-xít, thực hiện thành công công nghiệp hóa ở một đất nước rộng lớn nhất thế giới trong thời gian ngắn, đưa một nước chủ yếu còn nông nghiệp, thủ công lên thành một nước công nghiệp hàng đầu thế giới, một cường quốc, dẫn đầu nhiều lĩnh vực; vậy mà sau đó không lâu giới lãnh đạo đất nước bị tha hóa về quyền lực, về đạo đức, bảo thủ và giáo điều, không chịu đổi mới, ai nói khác thì bị quy chụp là “xét lại”, là “muốn đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”... và cuối cùng thì Liên bang Xô-viết bị sụp đổ đến mức khó hiểu nổi. Trước đây có nhiều lần giải thích rằng, Liên Xô đổ là do các thế lực thù địch phá bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Địch thì lúc nào chẳng phá, do nó phá nên mới gọi là địch, mà phá sao bằng trước đó, khi 14 nước đế quốc đến bao vây Nhà nước Xô-viết còn non trẻ, khi trong Đại chiến thế giới thứ 2 quân đội phát-xít tập trung toàn lực tấn công Liên Xô làm chết hàng chục triệu người. Liên Xô sụp đổ chính là “tự đổ”, do suy thoái, tha hóa mà đổ. Liên Xô đã tự đánh gục chính mình. Sự tha hóa về quyền lực có thể dẫn đến cha con, anh em, chồng vợ giết nhau, người ta giết cả vua, gây ra những cuộc chiến tranh mất bao nhiêu sinh mạng để tranh giành quyền lực, thậm chí người ta bán rẻ Tổ quốc và đem dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang để đổi lấy ngai vàng. Tất nhiên trong xã hội thời nào cũng có nhiều người tốt, nhiều nhân cách đáng trọng. Đối với họ, quyền lực được giao là để phụng sự nhân dân, dùng để bảo vệ dân, đất nước và bảo vệ lẽ phải, đạo nghĩa, chống gian trừ tà. Họ luôn sẵn sàng trao trả quyền lực trở lại cho nhân dân khi đủ điều kiện. Đã có những ông quan thanh liêm treo ấn từ quan vì xét thấy mình không còn đủ sức gánh vác chuyện sơn hà hoặc là không muốn có lỗi với dân vì không ngăn cản nổi những điều ngang trái. Đã có những ông vua từ bỏ ngai vàng, trao quyền lực cho lớp người trẻ, kể cả vào chùa để thúc đẩy các công việc thánh thiện cho đời và cho muôn dân. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành lại được một đất nước đã mất, người có công lớn nhất lãnh đạo cuộc cánh mạng là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng lúc đầu Người kiên quyết từ chối làm Chủ tịch nước, không muốn công danh quyền lực. Chỉ khi tập thể phân tích đây là trách nhiệm trước quốc dân đồng bào, là gánh vác trọng trách và khó khăn, Người mới nhận lãnh trách nhiệm, phát biểu trước đồng bào sẽ làm hết sức mình để phụng sự nhân dân và mong nhanh có người thay thế để được về vui sống với điền viên, giản dị và thanh bạch. Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng cũng là một con người như vậy. Khi đang ở ẩn trong vườn mít ở miền tây tỉnh Quảng Nam, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra làm Phó Chủ tịch nước, rồi làm Quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, ông không cần mong vinh hoa phú quý, chỉ đem toàn bộ tâm lực phục vụ nhân dân. Đó là những con người có nhân cách lớn, quyền lực không đe dọa được và cũng không cám dỗ được. Thời gian vừa qua, ở nơi này nơi khác, thỉnh thoảng có những đồng chí bí thư thành ủy, thường vụ tỉnh ủy đã tự nguyện chủ động từ chức sớm, khi chưa hết tuổi và chưa hết nhiệm kỳ, để những vị trí lãnh đạo cho các đồng chí trẻ hơn... Tất cả những con người ấy đều đáng trân trọng, không được “vơ đũa cả nắm” đối với những người có quyền lực được trao. Ngược lại, trong xã hội, ở chốn quan trường, không ít người đầy tham vọng quyền lực. Khi quyền lực được gắn với chữ “tham”, lòng tham, thì đó chính là động cơ, nguyên nhân và biểu hiện của tha hóa quyền lực. Không thể hy vọng và tin tưởng gì ở họ, ngược lại phải hết sức cảnh giác, đề phòng bị lừa phỉnh, phủ dụ, mị dân, đừng “gửi trứng cho ác”, đừng đem sự nghiệp của dân, của nước trao vào tay họ. Mặt khác, quyền lực không thể trao cho ai mà không cần kiểm soát. Nó là con dao hai lưỡi. Nó có thể biến người sử dụng nó từ một người chưa xấu trở thành người xấu, biến người sử dụng nó thành nô lệ cho nó. Mấy chục năm sau khi thống nhất đất nước, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng. Nội dung các văn bản ấy nhìn chung đều đúng, không sai, việc tổ chức thực hiện cũng tích cực, thậm chí có lúc vất vả nữa, nhưng tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “mua quan bán chức”,... gọi chung là thoái hóa, không dừng lại mà còn tăng lên, lan rộng hơn, gây nhức nhối hơn, làm cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục giảm sút đến mức báo động. Vì sao vậy? Chắc chắn không phải việc chống các tiêu cực ấy là ta chủ trương giả vờ, không chống thật; mà là chống chưa được, chưa hiệu quả. Vậy còn thiếu cái gì? Có hai vấn đề còn thiếu, coi như chưa làm, mà nếu không làm thì không khắc phục được tình trạng trên và có thể nó sẽ còn tiếp tục trở nên xấu hơn, không tránh được. Đó là tập trung kiểm soát quyền lực và bổ sung mạnh các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Quyền lực, như đã nói, luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng nó mà không đủ nhân cách. Nó như con dao hai lưỡi, con ngựa bất kham, luôn lồng lên quật ngã những người cưỡi nó, nếu họ không đủ nhân cách, bản lĩnh, năng lực cầm cương. Nhất thiết phải kiểm soát quyền lực, không thể chủ quan, lơ là, không thể đùa với lưỡi dao nhọn. Đã có rất nhiều bài học thực tiễn, thực tế đã chứng minh điều đó; phải bàn kỹ và có quyết tâm chính trị để thực hiện. Đảng ta phải tập trung cao, tích cực lãnh đạo công việc này. Đây là công việc quan trọng vào bậc nhất, trong đó có các việc, như cơ cấu và phân bổ lại chức năng, quyền hạn của các cơ quan nhà nước theo hướng kiểm soát và điều chỉnh lẫn nhau (để Nhà nước thật sự là một cơ thể thống nhất và tự kiểm soát, tự điều chỉnh được mình, có sức đề kháng cao với căn bệnh thoái hóa quyền lực, có khả năng sửa sai nhanh nhất...); đổi mới căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó có phương thức lãnh đạo xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, bảo đảm quyền lực là của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước. Ủy quyền mà không mất quyền. Ủy quyền và kiểm soát được quyền lực, không để lộng quyền. Một dân tộc muốn tiến lên cần phải có bộ tham mưu chiến lược. Có sự lãnh đạo của một đảng chân chính và trí tuệ là yêu cầu khách quan. Nhưng khi trở thành đảng cầm quyền thì hoạt động của đảng không tránh khỏi có nhiều việc liên quan với quyền lực. Đảng ta luôn ý thức về sự lãnh đạo của mình chủ yếu phải bằng giá trị (văn hóa) chứ không phải bằng quyền lực, và Đảng phải nghĩ ra các cơ chế để đảng viên, nhân dân và pháp luật kiểm soát mình, kể cả nhân cách và việc sử dụng quyền lực, để Đảng được rèn luyện liên tục, thường xuyên; từ đó mà không bị thoái hóa và ngày càng trưởng thành hơn. Thực hiện điều ấy bằng cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế thực thi dân chủ. Để có thể thành công, bản thân Đảng phải gương mẫu, từng cấp ủy và từng cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu, vượt qua chính mình. Đảng phải là “con” của nhân dân, là “con nòi” của dân tộc, là đứa con trung hiếu và trưởng thành, để “lòng dân yêu Đảng như là yêu con” như cách nói của Bác Hồ và nhà thơ Tố Hữu. Làm được như vậy, Đảng sẽ được nhân dân luôn tin yêu, nhờ đó mà giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình để làm tròn sứ mệnh phụng sự nhân dân và Tổ quốc./.

Nếu như…!

Nếu như các cơ quan chức năng cung cấp thông tin, dự báo chuẩn xác, tích cực tìm kiếm, phát triển thị trường; nếu như nông dân biết lắng nghe tín hiệu thị trường, tuân thủ quy hoạch, kế hoạch trong việc lựa chọn phương án “trồng cây gì, nuôi con gì” thì chắc rằng câu chuyện “được mùa, mất giá” của người nông dân sẽ được hạn chế rất nhiều. Trong Diễn văn tại Lễ Kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta hãy thường xuyên noi gương Bác, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, học hỏi, tìm tòi, đổi mới, gắn lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, hoàn thành thật tốt nhiệm vụ được giao theo cương vị công tác và chức trách của từng người”. Suy rộng ra, để đất nước phát triển, hội nhập quốc tế hiệu quả, mỗi ngành, mỗi giới, mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cũng phải cố gắng hoàn thành thật tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Điều này thật thấm thía qua câu chuyện tiêu thụ nông sản của nông dân. Vấn đề “được mùa, mất giá” của người nông dân thời gian qua một lần nữa trở thành đề tài “nóng” trong dư luận xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cả xã hội quan tâm, lo lắng vào cuộc, giúp nông dân tiêu thụ nông sản,… Đây là những hành động tình nghĩa, sẻ chia với người nông dân lúc khó khăn; thể hiện tinh thần đùm bọc, tương thân tương ái của các ngành, các cấp, các tầng lớp xã hội với những khó khăn, vất vả của nông dân. Tình trạng “được mùa, mất giá” đã lặp đi lặp lại nhiều năm nay, khi thì với hạt gạo, hạt điều, hạt tiêu, cà phê, dưa hấu lúc thì với con tôm, con cá,… Nghĩa là, xảy ra với nhiều mặt hàng nông sản có quy mô sản xuất hàng hóa của nông dân. Báo chí đã lên tiếng, nhà khoa học, quản lý cũng đã đăng đàn, hiến kế. Câu chuyện này cũng được đề cập nhiều lần trong các phiên họp Chính phủ, trên diễn đàn Quốc hội, nhưng tình trạng vẫn lặp lại, lúc thì với mặt hàng này, khi thì với mặt hàng khác! Từ khi đổi mới, trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường là sự phát triển cao của sản xuất hàng hóa, khi mà đầu vào, đầu ra của sản xuất chủ yếu được thực hiện thông qua thị trường. Nền tảng của sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường là phân công lao động xã hội, trong đó, mỗi người, rộng hơn là mỗi cơ quan, doanh nghiệp làm một việc hoặc một vài việc xã hội phân công và phải làm những công việc đó tốt hơn người khác, cơ quan, doanh nghiệp khác. Mỗi sản phẩm, dịch vụ đều có sự tham gia đóng góp của nhiều người, nhiều cơ quan, doanh nghiệp, địa phương,… Trở lại câu chuyện về tiêu thụ các loại nông sản hàng hóa của nông dân. Người nông dân cần phải sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa của mình với năng suất cao, chất lượng tốt, lắng nghe các tín hiệu của thị trường, đồng thời, phải tuân theo quy hoạch của cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước, bên cạnh chức năng quản lý, có trách nhiệm cung cấp thông tin, đưa ra dự báo, tìm kiếm và phát triển thị trường. Doanh nghiệp, thương nhân tổ chức mua, vận chuyển, tiêu thụ,… Có thể kể thêm nhiều thành phần khác tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ nông sản của nông dân nhưng tựu trung lại vẫn là mỗi người, mỗi cơ quan, doanh nghiệp có việc của mình, tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa của nông dân, và phải làm tốt nhất phần việc đó. Thị trường đương nhiên bao hàm cả những rủi ro, nhưng nếu như các cơ quan chức năng làm tốt công việc của mình, cung cấp thông tin, dự báo thị trường chuẩn xác cho nông dân, tích cực tìm kiếm, phát triển thị trường, khai thông các ách tắc về thủ tục hành chính; nếu như nông dân biết lắng nghe tín hiệu thị trường, tuân thủ quy hoạch, kế hoạch trong việc lựa chọn phương án “trồng cây gì, nuôi con gì” thì chắc rằng câu chuyện “được mùa, mất giá” của người nông dân sẽ được hạn chế rất nhiều./.

Con phải hơn cha để nhà có phúc

Người xưa có câu “Con hơn cha là nhà có phúc”. Đó là lời tổng kết, sự nhắn gửi đến hậu thế, mong muốn của cha ông. Nhưng hơn là hơn cái gì? Có chức tước cao hơn, có tiền bạc nhiều hơn, bằng bất cứ giá nào? Câu hỏi ấy chắc các bậc làm cha, làm mẹ và những người làm con đã tự mình có câu trả lời. Ở đây chỉ xin nêu ít ý kiến liên quan đến nước nhà, dân tộc. Trải qua mấy ngàn năm, nay xin phép cha ông cho nhìn lại, xem thử người Việt Nam ta mạnh yếu mặt nào, không phải để chê trách cha ông, mà để phát huy và bổ sung, điều chỉnh. Có lẽ mặt mạnh nhất thuộc về văn hóa (trong) giữ nước. Truyền thống yêu nước, tinh thần và bản lĩnh chiến đấu để giữ nước, không để dân tộc bị đồng hóa của cha ông ta là bất khuất, anh hùng. Các thế hệ hôm nay và mai sau muôn đời cần noi theo, học tập đến cùng, để tự hào, để kính trọng, để trung thành, để xứng đáng và nhất là để tiếp tục giữ nước lâu dài trong điều kiện và nguy cơ mới. Một dân tộc yêu hòa bình, nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc đã phải đương đầu nhiều lần với các thế lực mạnh hơn ta rất nhiều đến từ phương Bắc và phương Tây, trong đó, với phương Bắc hàng chục lần và họ đã có thời kỳ đô hộ ta gần nghìn năm, dùng mọi thủ đoạn để đồng hóa dân tộc Việt Nam ta. Một nghìn năm bị đô hộ trực tiếp mà không bị đồng hóa quả là một dân tộc phi thường, kỳ diệu và bất diệt. Văn hóa dân tộc, dòng máu yêu nước đã ngấm sâu vào từng thế hệ, từng con người Việt Nam, biến thành sức mạnh bất tử trong công cuộc giữ nước bền bỉ và can trường. Các đảng viên cộng sản ngày ấy, các sĩ quan và chiến sĩ quân đội, kể cả những người dân bình thường dũng cảm khác, đã bước lên pháp trường và bước ra chiến trường bằng sức mạnh của một nền văn hóa ẩn chứa sâu xa trong mỗi con người. Nhìn xa hơn về phía cội nguồn sẽ thấy Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đã làm cho lịch sử dân tộc rạng ngời, đầy hào khí non sông. Thời đại Hồ Chí Minh đã nối tiếp một cách xứng đáng với truyền thống giữ nước ngàn đời của dân tộc. Đã bổ sung vào lịch sử những chiến công lừng lẫy và tên tuổi của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... Chiến thắng của người Việt Nam trong các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, bảo vệ tồn vong của dân tộc và toàn vẹn non sông là chiến thắng của một nền văn hóa. Nói như vậy không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của chính trị và quân sự, bởi trong chính trị, quân sự của Việt Nam đều có cái lõi văn hóa vô cùng quý giá và chắc chắn, nhờ nó mà bảo đảm tính chân chính của chính trị giữ nước và tinh thần thượng võ trong nghệ thuật chiến tranh. Nếu như không có những chiến công hiển hách và những người anh hùng ấy thì có lẽ lịch sử của dân tộc chỉ còn là những trang ảm đạm, tối tăm, buồn tủi. Ai nói gì thì nói, nhưng lịch sử sẽ mãi rạng ngời những sự tích oai hùng và những tấm gương nghĩa khí mà cha ông đã ghi tạc bằng xương máu và lòng dũng cảm được kính trọng muôn đời. Trong công cuộc giữ nước và trường tồn của dân tộc, làm theo cha ông, được như cha ông đã là rất giỏi, rất lớn lao, khó mà có thể hơn được, mặc dù phải luôn bổ sung, hoàn chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình và điều kiện rất khác xưa, dân tộc ta còn phải vượt qua nhiều thử thách hiện tại và trong tương lai. Mặt khác, bên cạnh niềm tự hào to lớn ấy, cần phải thấy một điều nữa là, mãi cho đến nay, ta chưa có được một Việt Nam phát triển, dù lịch sử dân tộc không chỉ có chiến tranh (đừng đổ lỗi hết cho chiến tranh) mà còn có nhiều thời kỳ dài trong hòa bình xây dựng. Nói vậy không nhằm mục đích phê phán cha anh, vì mỗi giai đoạn đều có những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể. Nhưng rất cần suy ngẫm, chiêm nghiệm, xem thử vì sao Việt Nam ta chưa thành một quốc gia phát triển, từ đó mà bổ sung, điều chỉnh cách nghĩ, cách làm khác với cha anh. Thực tế đã minh chứng cha ông giữ được nước và bảo tồn dân tộc qua muôn vàn thử thách, bàn giao lại cho hậu thế một quốc gia có vị thế như hôm nay; và đồng thời thực tế cũng minh chứng Việt Nam là một quốc gia phát triển trung bình. Nếu phân kỳ ra, thì trách nhiệm nặng hơn đang thuộc về chúng ta, thế hệ công dân sau 1975 đến nay, khi đất nước đã hòa bình thống nhất gần nửa thế kỷ rồi, khi nhiều nước đã tiến vượt bậc, còn chúng ta vẫn “lẹt đẹt”, chưa phát triển được như mong muốn. Chúng ta chưa xứng đáng với một dân tộc anh hùng và cũng chưa xứng đáng với truyền thống của Đảng ta, với hàng triệu người đã ngã xuống cho độc lập hòa bình và thống nhất. Lúc này, với tình hình như vậy, phải ra sức đổi mới và sáng tạo, đổi mới một cách căn bản, trong đó có nhiều việc phải nghĩ khác, làm khác cha anh, để tránh những sai lầm như đã có, thoát ra khỏi những nguy cơ, cản trở, giáo điều, lạc hậu, để phát triển vượt lên. Làm vậy là trung thành với cha anh, với mong muốn một Việt Nam phát triển, mong “con hơn cha” để nhà có phúc. Trung thành với lý tưởng một dân tộc và một đất nước Việt Nam phát triển cường thịnh, một xã hội thật sự tốt đẹp (chứ không phải trung thành là phải nghĩ, phải nói, phải viết, phải làm hệt y như cha anh, dù hoàn cảnh đã khác). Thế hệ người lớn hôm nay có ý định để lại gì cho lớp trẻ? Thông thường, nhiều người có trách nhiệm và tâm huyết vẫn nghĩ phải phấn đấu để lại cho lớp trẻ một quốc gia phát triển. Đó là mong muốn chính đáng, làm được như thế thì quá tốt. Nhưng làm sao mà để lại được cho lớp trẻ một đất nước phát triển khi mà ta chưa tạo ra được một đất nước như vậy? Ta không thể để lại cái mà ta chưa làm ra được. Có lẽ phải nghĩ cách khác, trước nhất, quan trọng nhất, là để lại cho lớp trẻ sự trưởng thành của chính họ, của cả cái sự họ suy nghĩ khác ta, để từ đó những con người Việt Nam (mới) ấy sẽ tạo ra một đất nước Việt Nam phát triển. Để lại con người mới là để lại tất cả. Còn để lại tất cả (nếu có) mà không để lại được con người thì tất cả cũng sẽ không còn. Sau việc quan trọng nhất ấy, làm được cái gì nữa để tạo tiền đề cho một Việt Nam phát triển thì tiếp tục làm, được càng nhiều càng tốt. Nhưng phải bám thật chắc, không lúc nào quên, là để lại cho lớp trẻ chính bản thân họ - những con người phát triển và sáng tạo. Sự phát triển của một quốc gia nhất thiết phải đạt được mục tiêu phát triển con người. Và khi có những con người phát triển thì không lo gì quốc gia không phát triển, bởi quốc gia là do con người xây đắp nên. Phải có một lớp trẻ hơn cha anh, bằng tầm nhìn thay thế cho kinh nghiệm, biết sử dụng thành thạo ngoại ngữ để hiểu và tiếp cận thường xuyên với nhân loại văn minh, biết quản trị đất nước theo cách hiện đại nhất, để từ đó mà làm nên một quốc gia phát triển. Cũng chính lớp người tương lai ấy, với tâm hồn trong sáng, với tinh thần hào hiệp, cao thượng và khoan dung, sẽ hóa giải những hận thù mà lớp trước chưa giải quyết xong, để cả dân tộc cùng nắm tay nhau bước tới. Muốn có một lớp trẻ như vậy thì người lớn hôm nay phải từ bỏ cách giáo dục theo kiểu bề trên áp đặt dạy dỗ bề dưới, phải tạo ra một nền giáo dục thật sự đổi mới, một nền giáo dục mở, thực học, tập trung phát triển năng lực Người thay cho việc truyền thụ kiến thức áp đặt một chiều, thực hiện tự chủ đại học và tự do học thuật. Ra sức tạo điều kiện tốt nhất, môi trường “thuận lợi” nhất, trong đó có sự gương mẫu về nhân cách và sự tận tụy của người lớn, để thế hệ trẻ trưởng thành lên từ chính nó, để nó giỏi dang hơn, hiểu biết hơn, năng lực hơn cha anh, vượt thầy và vượt sách, có thói quen phản biện khoa học (kể cả với những điều tưởng như thiêng liêng, như chân lý bất di bất dịch, và luôn phản biện với chính bản thân mình), biết tư duy độc lập, lật ngược lật xuôi vấn đề, không chấp nhận sự áp đặt hoặc bao cấp tư duy từ người khác, không thụ động, không phụ thuộc, không ỷ lại vào tư duy của người khác, không nói theo, làm theo một cách thụ động, tự do tư tưởng, tự do học thuật, biết tiếp cận mở để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và các thành tựu khoa học của thế giới, biết sống và ứng xử đúng trong đa dạng văn hóa, có chính kiến rõ ràng, có bản lĩnh và quyền thể hiện chính kiến, tự do ngôn luận, không sợ bị quy chụp trù dập, không phải nói dối vì sợ bị quy chụp, thành những con người trung thực và tự chủ hơn, tự do và tự tin hơn, tự do từ bên trong của mỗi người, tự do với chính mình, luôn năng động và sáng tạo. Lớp trẻ được bình đẳng đối thoại với người lớn, kể cả những người có chức vụ cao, kể cả cha anh và thầy giáo. Người lớn phải khai hóa văn minh, không làm cho lớp trẻ thụ động, phải tôn trọng lớp trẻ, dân chủ và bình đẳng với người trẻ, người lớn không độc quyền chân lý mà làm người bạn đồng hành với lớp trẻ trong quá trình đi tìm chân lý của cuộc sống, không áp đặt một chiều các tư tưởng giáo điều cũ kỹ cho lớp trẻ, luôn tìm cách tạo tự tin cho các em, khuyến khích các em có chính kiến riêng, dám “cãi lại”, tôn trọng cá tính của các em. Người lớn cần hiểu lớp trẻ không phải là cái bóng theo sau mình, chỉ biết gọi dạ bảo vâng và làm theo, phục tùng và cúc cung tận tụy, trung thành với mọi điều người lớn nghĩ, người lớn nói, người lớn đã viết, phải thuộc lòng không sai một chữ, kể cả sau này khi người lớn không còn sống. Suy nghĩ như vậy là lạc hậu, không phải minh triết. Nếu người lớn để lại một lớp sau giống mình, y như mình, bản sao chép của mình, thì cũng có nghĩa là một đất nước, một dân tộc không phát triển. Mỗi thế hệ đều có sứ mệnh lịch sử thiêng liêng của mình, lớp trước không thể quyết định thay, cũng không thể vô trách nhiệm đẩy hết mọi việc phải giải quyết về cho hậu thế. Người lớn không để nợ nần nhiều cho lớp trẻ phải nai lưng ra làm tối tăm mặt mũi để trả nợ, không ngóc lên được. Bằng đôi vai và bàn tay của mình, người lớn phải nâng lớp trẻ lên cao hơn mình để chúng có thể nhìn xa hơn mình, nhìn rõ năm châu bốn biển và nhìn thấy tận tương lai. Còn lớp trẻ thì phải hết sức khiêm tốn, chịu khó tự học không ngừng, học tập kinh nghiệm của cha ông và của thế giới, liên tục cập nhật những tri thức mới từ nhiều nguồn khác nhau. Và mặt khác, không được tự ti, phải tự tin vào chính mình, ý thức được vị trí chủ thể bình đẳng của mình, như người lớn, không phân biệt địa vị xã hội, không tự cho mình là nhỏ bé; luôn tự chủ và khát khao vươn tới những ước mơ, độc lập tư duy, dám đối thoại thẳng thắn, có chính kiến rõ ràng và dám bảo vệ chính kiến, biết phản biện, thấy đúng thì tiếp thu, biến thành của mình, thấy không đúng thì không nghe theo; luôn nâng cao sức đề kháng, thấy người lớn tha hóa đạo đức thì biết đấu tranh chống lại; trung thực và nhân ái, năng động và sáng tạo; không tham vọng quyền lực, không ỷ lại và dựa dẫm quyền lực của người thân, phải biết tự trọng, luôn nuôi dưỡng tinh thần tự lập nghiệp của bản thân, tâm huyết góp phần xây dựng đất nước… Điều quan trọng nhất là để lại một lớp trẻ như vậy - có nhân cách và năng lực, có những tư duy về văn hóa phát triển khác với cha anh - để lớp người ấy có thể nghĩ mới hơn, nghĩ khác và làm khác người lớn hôm nay, để Việt Nam có được một dân tộc và đất nước phát triển, có một xã hội thật sự tốt đẹp như Bác Hồ và nhân dân ta mong muốn, kế thừa và phát huy tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02-9 là “Dân tộc phát triển và dân chủ xã hội”. Dân tộc độc lập thì mới phát triển được, mà phát triển thì mới giữ vững độc lập lâu bền được. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Dân tộc phát triển cao và một xã hội có dân chủ thật sự thì mới là xã hội chủ nghĩa. Dân tộc, dân chủ là mục tiêu của Cánh mạng tháng Tám và vẫn còn là mục tiêu lâu dài phải tiếp tục phấn đấu, để có được một đất nước “dân chủ và giàu mạnh” như Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phấn đấu để lại cho được một lớp trẻ “con hơn cha” như vậy quả là một công việc lớn lao, trọng đại. Để có thể làm được việc này đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy đối với công tác tư tưởng, văn hóa, giáo dục và quản lý xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tập trung lãnh đạo tốt công việc này và đó sẽ là công lao to lớn đối với đất nước và hậu thế, từ đó mà năng lực lãnh đạo của Đảng sẽ nâng cao và vai trò lãnh đạo của Đảng cũng sẽ được bền lâu./.

Nghi án giết vợ con rồi tự tử

TÂY NINH Rạng sáng 26/5, Nguyễn Văn Hoàng, 39 tuổi, gọi điện cho người quen báo tin "đã giết vợ con". Sau khi nghe điện thoại, ông Võ Hồng Sơn (ngụ huyện Tân Châu) hoảng hốt báo cơ quan chức năng, cùng đến phá cửa nhà Hoàng ở xã Tân Phú. Khi vào trong, họ phát hiện thi thể chị Thu (39 tuổi) và con gái 8 tuổi trên sàn. Riêng Hoàng còn thoi thóp, bên cạnh là con dao nhọn. Người thân của nạn nhân cho biết, vợ chồng Hoàng lấy nhau được 10 năm và có con chung là bé gái. Thời gian gần đây, họ thường xuyên mâu thuẫn chuyện tình cảm, tiền bạc. Cơ quan điều tra bước đầu xác định Hoàng dùng dao đâm chết vợ con rồi tự tử. Động cơ gây án đang được làm rõ.

Chủ tịch Bắc Giang: Hàng trăm ca bệnh mỗi ngày nằm trong dự tính

Bắc Giang đã có phương án sẵn sàng cách ly xã hội toàn tỉnh, nhưng chưa áp dụng ở thời điểm này, bởi hàng trăm ca Covid-19 mỗi ngày đều nằm trong dự tính. Ngày 26/5, ông Lê Ánh Dương, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, trả lời phỏng vấn VnExpress về diễn biến dịch bệnh trên địa bàn. - Số ca nhiễm Covid-19 tại Bắc Giang liên tiếp tăng cao, trong đó hôm qua (25/5) lên đến 375 ca. Ông nhận định như thế nào về diễn biến khẩn cấp này? - Số ca nhiễm (F0) mới tăng nhanh không nằm ngoài dự đoán của Bộ Y tế và Ban chỉ đạo phòng, chống Covid-19 của tỉnh. Ngay từ khi dịch bệnh bùng phát, chúng tôi đã phân tích ổ dịch tại công ty Hosiden (khu công nghiệp Quang Châu, huyện Việt Yên) rất nguy hiểm. Nguyên nhân do chủng virus Ấn Độ có tốc độ lây lan rất nhanh. Hơn nữa, các phân xưởng của nhà máy trong các khu công nghiệp ở đây đa số là làm việc phòng kín, bật điều hòa - môi trường thuận lợi cho virus phát tán. Một ca nhiễm ngoài cộng đồng có thể chỉ lây cho một vài thành viên trong gia đình, những người tiếp xúc gần. Nhưng một công nhân trong phân xưởng làm việc cùng hàng trăm người khác, nên số lượng F0 và F1 đều nhiều. Vì vậy, chúng tôi có cơ sở để dự báo và lường trước tình huống cả nghìn công nhân sẽ nhiễm bệnh. Trước khi tỉnh đóng cửa các khu công nghiệp thì ổ dịch tại công ty Hosiden đã lây trong xưởng sản xuất số 1 và 4. Trong tổng số hơn 4.000 công nhân của công ty này, đến nay đã phát hiện hơn 700 ca dương tính, chủ yếu tập trung ở hai xưởng nêu trên. Vì vậy, có thể khẳng định phần lớn ca nhiễm ở khu công nghiệp Quang Châu và các ca F0 mới phát hiện những ngày gần đây là công nhân công ty Hosiden. - Vì sao số F0 ở Bắc Giang không tăng nhanh từ khi dịch bùng phát mà dồn dập vào mấy ngày gần đây? - Nguyên nhân bởi trước khi đóng cửa các khu công nghiệp, chúng tôi đã xét nghiệm, nhưng nhiều người lần 1, lần 2 đều cho kết quả âm tính. Đến mấy hôm nay, nhiều công nhân khi xét nghiệm lại lần 3 (trong khoảng thời gian 21 ngày), mới cho kết quả dương tính. Số F0 ghi nhận tại Bắc Giang hiện rất lớn nhưng đã nằm trong dự tính của chúng tôi, bởi số F1 (những người nguy cơ cao) rất lớn, lên đến hàng chục nghìn. Nhưng tất cả F0, F1 ghi nhận những ngày qua, dù lên đến hàng trăm ca mỗi ngày, đều nằm trong khu cách ly tập trung hoặc vùng phong tỏa. Những ngày gần đây, Bắc Giang ghi nhận 18 ca dương tính ngoài cộng đồng, nhưng không đáng lo ngại, bởi đều là người nhà của các công nhân, phần lớn rơi vào các khu đã được phong tỏa ở huyện Việt Yên. - Với 1.454 ca nhiễm tính đến sáng 26/5, cao nhất cả nước, Bắc Giang đang gặp những khó khăn gì trong chống dịch? - Tỉnh đang gặp ba khó khăn lớn. Đầu tiên là làm thế nào để sớm khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng, nhất là quanh các khu công nghiệp, nơi có mật độ công nhân tập trung rất đông. Khi chính quyền cách ly xã hội với những khu lưu trú của công nhân thì hàng vạn người phải nghỉ việc, ở nhà. Nếu thời gian cách ly dài sẽ gây khó khăn về cung cấp lương thực, thực phẩm, chăm lo đời sống công nhân. Thứ hai, làm sao sớm khởi động lại được chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu của tỉnh. Nếu để đứt gãy chuỗi cung ứng từ các doanh nghiệp ở Bắc Giang sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế cả nước. Đơn cử, nếu Samsung Bắc Giang đóng cửa thêm thời gian nữa thì Samsung Bắc Ninh, Thái Nguyên cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi không có đủ các sản phẩm đầu vào. Câu chuyện không để dứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất và chống Covid-19 là hai bài toán mâu thuẫn với nhau. Trách nhiệm của chúng tôi và các cơ quan Trung ương là làm sao hóa giải được mâu thuẫn ấy, vừa chống được dịch trong các khu công nghiệp, vừa từng bước khởi động lại chuỗi sản xuất. Đây là vấn đề lớn, chưa địa phương nào có kinh nghiệm, nhưng chúng tôi sẽ xây dựng từng bước, từ mô hình nhỏ, sau đó rút kinh nghiệm, nhân rộng ra. Quá trình này cần sự đồng thuận của xã hội. Về lâu dài, các địa phương như Bắc Giang cần xây dựng được nền sản xuất thích ứng và có khả năng tồn tại trong dịch bệnh. Thứ ba, Bắc Giang đang gặp khó khăn trong tiêu thụ nông sản, hàng hóa trong đợt dịch. Tỉnh có 180.000 tấn vải thiều đang vào vụ, nhưng thời gian thu hoạch và tiêu thụ chỉ trong một tháng. Dưa hấu, dứa cũng đang vào đợt thu hoạch. Ngoài ra, tỉnh còn đàn gà sản lượng 1.700 tấn; lợn 5.600 tấn. Tính riêng các loại nông sản chính, giá trị đã lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Làm sao vừa chống dịch hiệu quả, vừa tiêu thụ hàng hóa cho nông dân, là thách thức không nhỏ. - Tình hình điều trị bệnh nhân ra sao khi số ca bệnh lớn và sẽ còn tăng, thưa ông? - Toàn tỉnh hiện ghi nhận 1.454 ca nhiễm, nhưng mới bằng một nửa công suất giường bệnh mà chúng tôi đã thiết lập. Tỉnh đã có kịch bản cho tình huống có 3.000 ca nhiễm, nên chuẩn bị số giường bệnh tương ứng. Tuy nhiên, nguy cơ từ số người nhà của công nhân cũng rất lớn. Hơn nữa, số F0 tăng nhanh mỗi ngày đòi hỏi số người phục vụ điều trị, truy vết, cách ly rất lớn. Nếu không có các biện pháp đảm bảo an toàn thì lực lượng tuyến đầu có nguy cơ nhiễm bệnh hoặc quá tải. Bộ Y tế đã tổ chức Tổ công tác đặc biệt cắm chốt địa bàn Bắc Giang do Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn làm Tổ trưởng, gồm các chuyên gia đầu ngành về dịch tễ, truy vết, điều trị, điều phối xét nghiệm... để hỗ trợ, phối hợp với chúng tôi chống dịch. - Tỉnh tính toán như thế nào về việc áp dụng biện pháp mạnh hơn để dập dịch? - Những ngày tới, Bắc Giang có thể tiếp tục ghi nhận nhiều ca nhiễm mới, nhưng tốc độ lây lan sẽ giảm. Như tôi đã nói, số ca nhiễm đều là từ trước đây, bây giờ xét nghiệm lại mới ra kết quả dương tính. Đến nay, trên địa bàn chưa phát hiện thêm nguồn lây mới. Điều quan trọng nhất, là dù ghi nhận hàng trăm ca mỗi ngày, nhưng nguồn lây rõ ràng thì không đáng lo. Tình hình chỉ đáng lo ngại khi phát hiện dù chỉ một vài F0 nhưng không rõ nguồn lây. Các ca nhiễm mới đều trong khu phong tỏa hoặc cách ly, "nội bất xuất, ngoại bất nhập", nên rất ít có khả năng phán tán, lây lan dịch bệnh đến những nơi khác. Thời điểm hiện tại, Bắc Giang đang kiểm soát tốt tình hình. Chúng tôi đã có phương án sẵn sàng cho tình huống cách ly xã hội toàn tỉnh theo chỉ thị 16, nhưng ở thời điểm này chưa cần áp dụng. Các ổ dịch chính tập trung chủ yếu ở khu công nghiệp huyện Việt Yên, một phần huyên Yên Dũng, một phần TP Bắc Giang. Tỉnh đã cách ly xã hội 4 huyện Việt Yên, Yên Dũng, Lục Nam, Lạng Giang; TP Bắc Giang, huyện Yên Thế giãn cách xã hội. Như vậy, các biện pháp dập dịch quyết liệt đang tập trung vào các ổ dịch lớn để đạt hiệu tốt nhất. Những ngày tới, chúng tôi sẽ theo sát diễn biến của dịch, nếu có lý do cần thiết sẽ lập tức phong tỏa toàn tỉnh. - Vì sao tỉnh quyết định khôi phục dần hoạt động của 4 khu công nghiệp, khi số ca nhiễm là công nhân đang tăng cao? - Việc khôi phục dần hoạt động các khu công nghiệp nhằm đưa Bắc Giang sang giai đoạn mới, vừa chống dịch, vừa sản xuất an toàn. Để được hoạt động trở lại, doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện an toàn nghiêm ngặt. Yêu cầu đưa các khu công nghiệp hoạt động lại rất cấp bách. Nếu chờ đợi đến khi dập xong dịch mới sản xuất thì chuỗi cung ứng bị đứt gãy. Trước đây, khi quyết định đóng cửa các khu công nghiệp, chúng tôi đã lựa chọn cách giữ an toàn cho cả nước là xét nghiệm và giữ chân toàn bộ 60.000 công nhân của 61 tỉnh, thành ở lại. Chỉ một số rất ít chuyên gia hoặc công nhân về địa phương. Nếu Bắc Giang không giữ lại số công nhân này thì nguy cơ lây lan dịch bệnh ra cả nước rất cao. Nhưng cũng vì thế, địa phương đang phải giải quyết áp lực về chăm lo đời sống, đảm bảo lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, tiền hỗ trợ công nhân trong thời gian họ nghỉ làm, cách ly. Vận hành lại các khu công nghiệp cũng nhằm giải quyết bài toán này. Nếu so sánh giữa việc buộc công nhân không có nguy cơ lây nhiễm (vì đã được xét nghiệm 2-3 lần và thường xuyên xét nghiệm khi đi làm trở lại) nghỉ làm, ở lại trong khu phong tỏa hoặc cách ly với việc đưa họ trở lại sản xuất trong môi trường an toàn, thì tôi cho rằng, lựa chọn thứ hai tốt hơn. Tất nhiên, các doanh nghiệp sản xuất bây giờ khác với trước, chỉ duy trì công suất nhỏ, chứ không phải một nhà máy có bao nhiêu công nhân đều đi làm lại tất cả. Số công nhân tham gia sản xuất được xét nghiệm, sàng lọc rất kỹ, đảm bảo không có nguy cơ lây nhiễm. Đồng thời, sau giờ làm, công nhân sẽ ở tập trung tại một nơi để doanh nghiệp quản lý, không giao tiếp với xã hội trong thời gian dịch bệnh. Nghĩa là công nhân được quản lý khép kín từ công ty đến khi về nơi ở. Giai đoạn đầu, doanh nghiệp có chỗ ở cho công nhân ngay tại nhà máy sẽ được ưu tiên hoạt động trở lại. - Bắc Giang đề xuất Trung ương hỗ trợ gì để khắc phục khó khăn và dập dịch? - Chúng tôi đề nghị Trung ương, Bộ Y tế tiếp tục hỗ trợ sinh phẩm xét nghiệm, trang thiết bị, vật tư y tế, nhân lực để sớm dập dịch. Chúng tôi cũng mong muốn Bộ Y tế và các địa phương chia sẻ kinh nghiệm để tỉnh có thêm kinh nghiệm và năng lực chống dịch. Bắc Giang đề nghị Chính phủ ưu tiên tiêm vaccine cho công nhân các khu công nghiệp, bởi đây là giải pháp căn cơ về lâu dài cho bài toán duy trì sản xuất trong dịch bệnh. Công nhân là người lao động xung kích trên mặt trận kinh tế, nên cần được ưu tiên. Trước mắt, dịch bệnh tại Bắc Giang còn phức tạp, nhưng chiến lược chống dịch của Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia, Bộ Y tế và địa phương đang đi đúng hướng nên tôi tin tưởng sẽ sớm kiểm soát và đẩy lùi được dịch bệnh.

Biến thể Ấn Độ lây truyền nhanh hơn 50% so chủng Anh

Các nhà khoa học thuộc chính phủ Anh cho rằng biến thể từ Ấn Độ có khả năng lây truyền nhanh hơn 50% so với chủng B.1.1.7. Biến thể nCoV B.1.617 được phát hiện lần đầu ở Ấn Độ vào cuối năm 2020. Đến nay, nó đã lan sang hàng chục nước khác như Mỹ, Singapore, Anh... và Việt Nam. Các nhà nghiên cứu đã xác định ba biến thể phụ của nó, bao gồm: B.1.617.1, B.1.617.2 và B.1.617.3. Mỗi biến thể phụ có khác biệt nhỏ về cấu tạo gene. Giới khoa học đang gấp rút tìm hiểu về những biến thể này, chủ yếu xoay quanh tốc độ lây lan, khả năng né tránh miễn dịch và gây bệnh nghiêm trọng. Lây truyền nhanh hơn Julian Tang, nhà virus học tại Bệnh viện Hoàng gia Leicester, Anh, cho biết: "Tôi xem xét các đột biến riêng lẻ vì chúng mang đặc tính riêng biệt, có thể khiến virus lây truyền nhanh hơn". Ví dụ, biến thể B.1.617.2 từ Ấn Độ có đột biến 452R và 478K. Theo ông Tang, hai đột biến đều liên quan đến khả năng lây lan nhanh, làm thay đổi protein gai được virus sử dụng để xâm nhập vào tế bào người. Các nhà nghiên cứu cho rằng B.1.617.2 đang dần thay thế biến thể B.1.1.7 được phát hiện ở Anh vào cuối năm 2020. Tom Wenseleers, nhà sinh vật học tại Đại học Công giáo Leuven, Bỉ, cho biết: "Chúng tôi dự đoán số ca nhiễm B.1.617.2 sẽ chiếm 50% các ca tại Anh". Theo một báo cáo giải trình tự gene của Anh được ông Wenseleers chia sẻ, số ca nhiễm B.1.617.2 mỗi ngày có thể tăng nhanh hơn 13% so với ca nhiễm B.1.1.7. Trong một báo cáo ngày 12/5, nhóm khoa học của chính phủ Anh cho biết, B.1.617.2 có thể lây truyền nhanh hơn 50% so với B.1.1.7. Sharon Peacock, nhà vi sinh vật học tại Đại học Cambridge, Anh, nhận định: "Dự đoán này là hoàn toàn hợp lý. Khi có thêm nhiều dữ liệu, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn". Khả năng biến thể lẩn tránh miễn dịch chưa rõ ràng Điều các nhà khoa học quan tâm là vaccine có thể chống lại các biến thể B.1.617 hay không. Nếu biến thể vượt qua hàng rào miễn dịch do vaccine tạo ra hoặc do nhiễm trùng tự nhiên, chúng có thể gây ra các đợt dịch mới, cản trở kế hoạch nới lỏng phong tỏa và những hạn chế khác. Về lý thuyết, sự lây lan nhanh chóng của B.1.617.2 ở Anh - nơi hơn 50% dân số được tiêm ít nhất một liều vaccine - cho thấy biến thể có thể lẩn tránh miễn dịch do vaccine. Tuy nhiên, theo chuyên gia Wenseleers, có rất ít bằng chứng cho thấy khả năng lẩn trốn vaccine của biến thể Ấn Độ. Dữ liệu sơ bộ ở Bolton, một điểm nóng Covid-19 ở Tây Bắc nước Anh, cho thấy hầu hết người nhập viện do nhiễm biến thể B.1.617.2 chưa được tiêm phòng. Khoảng 5 trong số 18 người nhiễm biến thể này được tiêm một liều vaccine và chỉ một người được tiêm đầy đủ. Dữ liệu riêng do Wenseleers phân tích cho thấy các ca nhiễm B.1.617.2 ở Tây Bắc nước Anh ban đầu chủ yếu là thanh thiếu niên, nhóm không được tiêm chủng thường xuyên. Biến thể đã lây sang người từ 30 đến 40 tuổi, song những người ở độ tuổi 50, với nhiều khả năng từng tiêm đủ hai liều, có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn. Bên cạnh đó, ông Tang khẳng định không có đột biến nào trong các biến thể B.1.617 làm gia tăng mức độ mắc Covid-19 nghiêm trọng. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng B.1.617.1 có thể giảm tác dụng của vaccine. Kết quả từ các thí nghiệm tương tự với B.1.617.2 chưa được công bố, nhưng báo cáo ngày 23/5 của Cơ quan Y tế Công cộng Anh (PHE) cho thấy, hai liều vaccine Pfizer/BioNTech và Oxford/AstraZeneca vẫn hiệu quả chống lại B.1.617.2 lần lượt là 88% và 60%. Tuy nhiên, theo PHE, một liều vaccine Pfizer hoặc AstraZeneca chỉ có hiệu quả khoảng 34%. Mô hình dự đoán sự lây lan Các nhà nghiên cứu vẫn chưa đủ bằng chứng xác định chính xác khả năng lây truyền của B.1.617.2 nhanh hơn các biến thể khác ra sao. Christina Pagel, nhà nghiên cứu y tế tại Đại học College London, nhận xét: "Biến thể có thể lây nhiễm nhanh hơn 50%, hoặc 10% hay thậm chí hơn 60-70%". Xác định được điều này sẽ giúp các nhà khoa học xây dựng mô hình chính xác hơn về tác động của biến thể đối với các đợt dịch. Ngoài ra, nếu người được tiêm chủng vẫn nhiễm biến thể B.1.617.2, họ có khả năng mắc bệnh nặng hay truyền virus cho người khác hay không, cũng là điều quan trọng cần giải đáp. Theo bà Peacock, thu thập dữ liệu về đợt bùng phát hiện nay ở Anh sẽ giúp trả lời những câu hỏi đó, đồng thời dự báo tác động tiềm tàng của các biến thể B.1.617 tại những quốc gia khác, đặc biệt là các nước đang phát triển, chưa có nhiều vaccine. Tại Việt Nam, trong làn sóng Covid-19 thứ 4 đang diễn ra, nhiều bệnh nhân nhiễm biến thể B.1.617.2 từ Ấn Độ. Theo đó, hôm 19/5, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương giải trình tự gene virus 29 bệnh nhân Covid-19 ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Bệnh viện K, phát hiện biến thể B.1.617.2. Đây là chủng đã được Tổ chức Y tế Thế giới đưa vào danh sách biến thể nguy hiểm, có khả năng lây nhiễm nhanh gấp 1,7 lần so những chủng khác, có thể lẩn tránh kháng thể, lây trong không khí, đặc biệt lây nhanh trong môi trường kín.

Covid-19 của Ấn Độ đã đạt đỉnh?

Số ca nhiễm hàng ngày ở Ấn Độ đang giảm mạnh trong những ngày gần đây, nhưng nhiều chuyên gia lo ngại làn sóng Covid-19 thứ hai chưa qua đỉnh. Ấn Độ đã ghi nhận hơn 27 triệu ca Covid-19, chỉ đứng sau Mỹ, đang là tâm dịch của toàn cầu. Làn sóng Covid-19 thứ hai trong những tuần qua gây quá tải cho hệ thống y tế, khiến nhiều bệnh viện phải vật lộn vì thiếu thuốc men, oxy và giường bệnh. Tuy nhiên, số ca nhiễm mới hàng ngày đang giảm. Ngày 24/5, số ca nhiễm hàng ngày đã giảm xuống dưới 200.000, lần đầu tiên kể từ ngày 14/4. Các chuyên gia tin rằng ở cấp quốc gia, làn sóng Covid-19 đang suy yếu. Số ca nhiễm mới trung bình 7 ngày đã giảm đều đặn trong hai tuần qua kể từ sau khi đạt đỉnh 392.000 ca, theo Rijo M John, nhà kinh tế học sức khỏe. Nhưng không phải tất cả các bang của Ấn Độ đều chứng kiến xu hướng giảm chung này. Ca nhiễm dường như đã đạt đỉnh ở các bang như Maharashtra, Delhi và Chhattisgarh, nhưng vẫn đang tăng ở Tamil Nadu hay phần lớn khu vực đông bắc. Tình hình dịch ở Andhra Pradesh và Tây Bengal không rõ ràng. John cho rằng làn sóng Covid-19 ở các bang không đồng đều và một số bang vẫn chưa đạt đỉnh dịch. Nhưng một điều chắc chắn là số ca nhiễm ở hầu hết thành phố lớn đang giảm. "Khả năng giám sát dịch bệnh yếu kém ở vùng nông thôn đang khiến bức tranh đại dịch trở nên phức tạp. Có thể tổng số ca nhiễm toàn quốc vẫn chưa đạt đỉnh, nhưng điều này không được nhìn thấy qua tổng số ca bởi hầu hết lây lan ở vùng nông thôn", Murad Banaji, nhà toán học tại Đại học Middlese ở London nói. Sitabhra Sinha, nhà khoa học tại Viện Khoa học Toán học ở Chennai, cho rằng tình hình khác nhau ở cấp địa phương khiến rất khó đoán liệu làn sóng dịch giảm ở Ấn Độ hiện tại có bền vững hay không. Bhramar Mukherjee, một nhà thống kê sinh học tại Đại học Michigan, đồng tình với nhận định của Sinha. "Khái niệm đỉnh dịch đã qua có thể mang lại cảm giác an toàn sai lầm cho mọi người, trong khi bang của họ thực tế lại đang bước vào khủng hoảng. Chúng ta phải nói rõ ràng chưa có bang nào an toàn", bà nói. Hệ số lây nhiễm cơ bản (R0), số người bị nhiễm từ một người mang virus, là thông số để đánh giá tình hình của dịch. Hệ số này của Ấn Độ đã giảm xuống dưới một trong khoảng thời gian từ 14-18/5. "Nếu đây là một xu hướng bền vững và tiếp tục giảm trong những tuần tiếp theo, chúng ta có thể mong đợi số ca nhiễm giảm mạnh hơn", Sinha nói, nhưng thêm rằng R0 của Ấn Độ "gần như chưa từng xuống dưới một trong toàn bộ làn sóng thứ hai nên chúng ta cần cẩn thận rằng đây không phải dấu hiệu tốt". Tốc độ dịch giảm ở Ấn Độ khá chậm trong đợt bùng phát đầu tiên, khi số ca nhiễm chỉ bắt đầu giảm từ cuối tháng 9 năm ngoái trước khi làn sóng thứ hai bắt đầu vào giữa tháng 2 năm nay. Xu hướng giảm của làn sóng thứ hai nhanh hơn, nhưng các chuyên gia chưa biết chính xác lý do. Họ cho rằng một lý do có thể là virus đã nhiễm bệnh cho phần lớn dân số. Tuy nhiên, thực tế làn sóng bị thúc đẩy do các biến chủng của virus dường như không ủng hộ lập luận này. Tiến sĩ Mukherjee nói các mô hình dự đoán của bà chỉ ra số ca nhiễm của Ấn Độ có thể giảm xuống 150.000-200.000 ca cho tới cuối tháng 5, và tới cuối tháng 7 có thể quay trở lại mức như tháng 2. Nhưng bà nói thêm điều đó sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách các bang Ấn Độ nới phong tỏa. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị một bang hoặc một quốc gia có thể mở cửa an toàn khi tỷ lệ dương tính giảm xuống dưới 5% trong 14 ngày. Tiến sĩ John cho biết nếu Ấn Độ duy trì xét nghiệm trung bình 1,8 triệu người mỗi ngày, tỷ lệ dương tính 5% đồng nghĩa quốc gia này ghi nhận khoảng 90.000 ca nhiễm mới. "Đây sẽ là dấu hiệu cho thấy mọi thứ đang được kiểm soát", ông nói. Ấn Độ là vùng dịch chết chóc thứ ba thế giới với hơn 311.000 ca, đứng sau Mỹ và Brazil. Tuy nhiên, số liệu tử vong thực tế có thể cao hơn rất nhiều con số được báo cáo. Tiến sĩ Banaji cho rằng số ca tử vong hàng ngày có thể chưa đạt đỉnh bởi thường có thời gian trễ giữa thời điểm số ca nhiễm đạt đỉnh và số ca tử vong đạt đỉnh. Nhưng cũng như số ca nhiễm, số liệu về trường hợp tử vong cũng có nhiều khác biệt giữa các bang, cũng như giữa vùng thành thị và nông thôn. "Ngay cả khi số ca tử vong bắt đầu giảm, chúng ta vẫn cần cảnh giác cho tới khi không còn nghe những báo cáo về số lượng lớn người tử vong ở vùng nông thôn", Banaji nói. Tiến sĩ Mukherjee nói Ấn độ sẽ báo cáo nhiều ca tử vong hơn từ giữa tháng 5 tới tháng 6, với các mô hình ước tính khoảng 100.000 ca vào giai đoạn này. Giới quan sát nhận định Ấn Độ sẽ cần nhiều kế hoạch chiến lược và đa dạng hơn để nới phong tỏa trong thời gian tới. Các chuyên gia nói Ấn Độ nên trì hoãn mở cửa dịch vụ ăn uống trong nhà, quán rượu, quán cà phê, phòng tập gym và các cơ sở "có nguy cơ cao" tương tự. Các cuộc tụ tập chỉ được cho phép ở ngoài trời với số lượng không quá 10 người, cũng như tránh các đám cưới đông người tổ chức tại trung tâm tiệc cưới sử dụng điều hòa. Điều quan trọng nhất là phải tăng tốc triển khai vaccine, bằng cách tăng các điểm tiêm chủng lưu động. Ngoài ra, chuyên gia cho rằng Ấn Độ cũng cần theo dõi chặt chẽ biến chủng mới hoặc sự gia tăng ca nhiễm, bằng cách sử dụng dữ liệu phân tích gene và dịch tễ học theo thời gian thực, đồng thời tăng cường xét nghiệm. Tiến sĩ Banaji cho rằng sẽ là sai lầm nếu cho rằng nCoV đang "cạn năng lượng". "Miễn dịch không phải là tất cả hoặc không là gì cả. Người từng nhiễm trước đó bởi một biến chủng ban đầu có thể tiếp tục bị tái nhiễm và truyền bệnh", ông nói. Ấn Độ cho đến nay mới tiêm vaccine cho 10% dân số trong hơn 1,3 tỷ người. "Tôi không nghĩ chúng ta nên xem xét trở lại cuộc sống bình thường ít nhất cho tới khi tiêm chủng được 80% dân số", tiến sĩ John nói. Cho đến lúc đó, việc duy trì các biện pháp hiện tại như đeo khẩu trang, giãn cách xã hội, giữ vệ sinh và tránh tụ tập đông người sẽ giúp Ấn Độ kiểm soát dịch bệnh. "Các tuyên bố sớm về chiến thắng trước Covid-19 đều đã gánh những hậu quả thảm khốc. Chúng tôi không muốn lặp lại điều đó", tiến sĩ Sinha nói.

Đưa hơn 1.300 công nhân đi cách ly trong đêm

BẮC GIANGChính quyền xã Quang Châu (Việt Yên) đưa hơn 1.300 công nhân Công ty Hosiden từ nhà trọ đến khu cách ly tập trung lúc 2h sáng 26/5. Ông Nguyễn Tài Hải, Chủ tịch UBND xã Quang Châu, cho biết trong hai ngày 24 - 25/5, địa phương đã đưa 1.307 công nhân Công ty Hosiden đang trọ ở thôn Núi Hiểu đến các khu cách ly tập trung của huyện Việt Yên. "Số công nhân này đã xét nghiệm âm tính hai lần, song vẫn có nguy cơ cao nên chúng tôi phải tổ chức đưa đi cách ly tập trung", ông Hải nói. Thôn Núi Hiểu có tổng cộng 1.421 công nhân Hosiden ở trọ. Trước đó qua truy vết F0, xã đã đưa hơn 100 người là F1 đi cách ly tập trung; còn lại 26 người là tạp vụ, nấu ăn, không làm việc trực tiếp tại xưởng và xét nghiệm 2 lần âm tính nên được cách ly tại phòng trọ. Thôn, xã sẽ cử người giám sát thường xuyên số lao động này. Quang Châu là xã bao quanh Khu công nghiệp Quang Châu, nơi có ổ dịch Hosiden phức tạp nhất Bắc Giang. Ổ dịch được phát hiện ngày 14/5, tốc độ lây lan nhanh, ghi nhận 995 ca nhiễm tính đến chiều 25/5. Các ca dương tính tập trung chủ yếu công nhân xưởng 4, ba xưởng còn lại số lượng ít hơn. Trên cơ sở kết quả xét nghiệm, Bắc Giang xác định toàn bộ 4.000 công nhân làm việc tại Công ty TNHH Hosiden Việt Nam là F1. Hôm nay, Bắc Giang bắt đầu sử dụng test kháng nguyên tại các thôn Núi Hiểu, Tam Tầng (xã Quang Châu) và thôn Trung Đồng (xã Vân Trung) với hơn 18.700 cư dân là nơi có nguy cơ cao. Sau 15 phút, mẫu cho kết quả dương tính sẽ được xét nghiệm khẳng định lại bằng phương pháp RT-PCR. Chiến lược xét nghiệm nhằm sàng lọc những ca dương tính nhanh nhất, tách khỏi cộng đồng. Trong cuộc họp khẩn với Bắc Giang chiều 25/5, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long đánh giá những nơi công nhân ở trọ đông như Núi Hiểu (xã Quang Châu), My Điền (xã Hoàng Ninh) đều là những nơi có nguy cơ cao. Ông đề nghị tỉnh phải "đóng băng" và coi vùng này như các khu cách ly tập trung thì mới khống chế được dịch. Xã Quang Châu cách ly xã hội từ ngày 18/5 cùng với toàn bộ huyện Việt Yên. Xã có hơn 15.500 công nhân ở trọ, riêng thôn Núi Hiểu có hơn 8.000 người.

Vaccine Covid-19 Moderna hiệu quả ở thanh thiếu niên

Moderna ngày 25/5 thông báo vaccine đạt hiệu quả 100% trên thanh thiếu niên từ 12 đến 17 tuổi sau khi tiêm liều thứ hai 14 ngày. Vaccine không gặp vấn đề về an toàn nào trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, tạo tiền đề để hãng dược phát triển dòng vaccine thế hệ hai cho trẻ em trong độ tuổi đi học. Hãng cho biết vaccine này có thể được phê duyệt vào tháng 7. "Chúng tôi rất vui khi thấy vaccine mRNA-1273 hiệu quả cao ngăn ngừa Covid-19 ở thanh thiếu niên", Stéphane Bancel, giám đốc điều hành của Moderna, cho biết. Nghiên cứu thực hiện trên hơn 3.700 người. Hai phần ba trong đó tiêm vaccine, số còn lại dùng giả dược. Mục tiêu chính là tạo phản ứng miễn dịch ngang với thử nghiệm giai đoạn ba ở người lớn. Trước đó, vaccine cho thấy hiệu quả 94,1%. Hai tuần sau liều thứ hai, không tình nguyện viên nào trong nhóm tiêm vaccine nhiễm nCoV. Số người mắc bệnh ở nhóm giả dược là 4. Tham chiếu từ thử nghiệm dành cho người lớn, các nhà khoa học kết luận vaccine hiệu quả 100% ở thanh thiếu niên. Tác dụng phụ thường thấy sau hai liều là nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức cơ thể và ớn lạnh. Moderna cho biết hãng vẫn đang tổng hợp dữ liệu an toàn. Tất cả tình nguyện viên được theo dõi trong 12 tháng sau khi hoàn thành tiêm chủng để xác định vaccine có hiệu quả lâu dài hay không. Moderna cho biết sẽ gửi kết quả nghiên cứu lên Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) để xin cấp phép trong tháng 6. Nhà chức trách đã mất khoảng một tháng để xem xét đề xuất tương tự từ Pfizer. Vaccine Pfizer được triển khai cho thanh thiếu niên độ tuổi từ 12 đến 15 hôm 10/5. Hầu hết trẻ em mắc Covid-19 chỉ có triệu chứng nhẹ hoặc hoàn toàn không biểu hiện. Song nhóm này vẫn có thể làm lây lan virus và chuyển nặng trong một số trường hợp. Việc tiêm chủng đại trà cho thanh thiếu niên từ 12 đến 18 tuổi cho phép các em đến trường hoặc tham gia trại hè mà không phải đeo khẩu trang.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo điều trị bệnh nhân Covid-19

Theo Cục trưởng Khuê, rút kinh nghiệm từ trường hợp bệnh nhân trẻ, khỏe mạnh nhưng tử vong này, Bộ Y tế đang điều chỉnh phác đồ, xây dựng phần mềm có hỗ trợ trí tuệ nhân tạo nhằm phát hiện sớm người bệnh Covid-19 có nguy cơ cao, dễ diễn biến nặng trên cả nước. Trên ứng dụng theo dõi này, các bệnh nhân diễn biến nặng sẽ xuất hiện cảnh báo đỏ, giúp các bác sĩ điều trị trực tiếp và chuyên gia đầu ngành dễ dàng theo dõi, đánh giá, sớm đưa ra các chỉ định can thiệp. Ngoài ra, ứng dụng còn hỗ trợ sàng lọc các F1 nguy cơ cao có khả năng tiến triển thành F0. Với nguyên tắc 4 tại chỗ, hệ thống này khi được kết nối với tất cả cơ sở điều trị sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các y, bác sĩ, theo kỳ vọng của Bộ Y tế. Ngoài ra, Bộ Y tế cũng đang chuẩn bị phần mềm theo tiêu chí quốc tế, cập nhật từ các nước trên thế giới, gồm 5-10 tiêu chí để bác sĩ đánh giá tình trạng bệnh nhân. Ví dụ như khi nhịp thở bệnh nhân tăng 22 lần thì đội ngũ y tế điều trị phải cảnh giác ngay. Ứng dụng này cũng thể hiện các chỉ số về nồng độ oxy trên máu, một số chỉ số lâm sàng khác... giúp bác sĩ theo dõi tình trạng bệnh nhân. "Có thể bệnh nhân hiện tại vẫn thấy khỏe nhưng các chỉ số sinh tồn này sẽ cảnh báo cho bác sĩ biết diễn biến tiếp theo để chuyển trạng thái theo dõi và điều trị bệnh nhân, ví dụ chuẩn bị sẵn các thiết bị như oxy, máy thở, phương tiện cấp cứu hoặc chuyển tuyến...", ông Khuê giải thích. Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh đánh giá "Việt Nam vẫn đang làm chủ được tình hình". Dù vậy, do số lượng bệnh nhân tại các khu công nghiệp đông, đội ngũ y tế điều trị cần cảnh giác, tập trung trí tuệ và các biện pháp, cố gắng giảm tỷ lệ tử vong xuống mức thấp nhất. Tính đến sáng nay, hơn 2.500 bệnh nhân Covid-19 đang được điều trị tại 84 cơ sở y tế trên cả nước. Trong đó, 81 người tiên lượng rất nặng, một người nguy cơ tử vong.

20% bệnh nhân Covid-19 có thể nhanh chóng trở nặng

Cục trưởng Khám chữa bệnh Lương Ngọc Khuê đánh giá 80% bệnh nhân đợt dịch này ít triệu chứng, khoảng 20% có thể trở nặng và diễn biến nặng rất nhanh. Ông Khuê sáng 26/5 cho biết gần 80% bệnh nhân ít triệu chứng, cơ thể ít biến đổi như sốt không cao, ít mệt mỏi, viêm phổi chưa biểu hiện. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân triệu chứng nhẹ như vậy nhưng diễn biến nặng lên rất nhanh, gây khó khăn cho điều trị. "Các chuyên gia vừa hội chẩn một bệnh nhân có nồng độ oxy trong máu ở mức 99% nhưng nhịp thở tăng lên, tình trạng khó thở cũng tăng nên phải chỉ định đặt oxy trợ giúp", ông Khuê dẫn chứng. Chỉ số nồng độ oxy trong máu giúp đánh giá mức độ suy hô hấp. Thông thường nồng độ oxy trong máu trên 95%, nếu 90-95% tức là oxy trong máu thấp một phần, thấp hơn nữa thì ở tình trạng suy hô hấp với mức độ tương ứng lượng oxy trong máu. Cục trưởng Khuê nhấn mạnh, chiến lược điều trị trong giai đoạn hiện nay tập trung vào khoảng 20% bệnh nhân có thể diễn biến nặng. Trong số này, 10% có thể diễn biến từ biểu hiện ho, sốt, khó thở sang cấp cứu; 5% diễn biến chuyển thành nặng và 5% thành rất nặng. Tuy vậy, ông Khuê cảnh báo bệnh nhân Covid-19 khỏe mạnh, không bệnh nền vẫn phải cảnh giác vì có thể nhanh chóng chuyển nặng. Khi ấy họ cần được đưa vào khu điều trị đảm bảo an toàn, tăng cường thể trạng và theo dõi sát. Hiện tại, tỷ lệ bệnh nhân Covid-19 nặng tại nước ta ít thay đổi so với các đợt dịch trước. Tuy nhiên, do số bệnh nhân đông nên số ca nặng cũng nhiều hơn. Trong đợt dịch này đã ghi nhận 9 ca tử vong, hầu hết đều mắc bệnh nền và cao tuổi như ca 94 tuổi, 81 tuổi. Duy nhất, một trường hợp nữ công nhân trẻ tuổi, là ca 4807, 38 tuổi, không rõ bệnh nền nhưng diễn biến viêm phổi nhanh và tử vong.

Thủ tướng họp khẩn với Bắc Giang, Bắc Ninh

Lãnh đạo Chính phủ họp trực tuyến khẩn cấp với tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh trong bối cảnh dịch bệnh tại hai địa phương này diễn biến hết sức phức tạp, sáng 26/5. Cùng dự cuộc họp tại đầu cầu Bắc Giang có Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên. Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị thảo luận về tình hình Bắc Giang, Bắc Ninh, đề xuất các giải pháp mới quyết liệt hơn, thần tốc hơn, với mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh tại hai địa phương này. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp với tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang về các biện pháp phòng chống Covid-19, sáng 26/5. Ảnh: Nhật Bắc Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp với tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang về các biện pháp phòng chống Covid-19, sáng 26/5. Ảnh: Nhật Bắc Hiện Bộ Y tế đã tổ chức Tổ công tác đặc biệt cắm chốt địa bàn Bắc Giang do Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn làm Tổ trưởng, gồm các chuyên gia đầu ngành về dịch tễ, truy vết, điều trị, điều phối xét nghiệm... để hỗ trợ, phối hợp với hai tỉnh chống dịch. Đến sáng 26/5, cả nước ghi nhận thêm 80 ca mắc Covid-19, riêng Bắc Giang 55 ca, Bắc Ninh 23 ca, Thanh Hóa và Hải Dương mỗi tỉnh một ca. Còn trong ngày 25/5, ghi nhận 444 ca trong nước, riêng Bắc Giang có 375 ca và Bắc Ninh có 28 ca. Đến nay, Bắc Giang ghi nhận 1.454 ca, chủ yếu liên quan đến 3 ổ dịch tại xã Phương Sơn, huyện Lục Nam; khu công nghiệp Vân Trung; khu công nghiệp Quang Châu. Tổng số trường hợp Fl là 13.173, F2 61.341. Đến nay, toàn tỉnh đã lấy được 636.764 mẫu (riêng trong ngày 25/5 lấy thêm 35.990 mẫu); đã chạy được 591.604 mẫu, hiện nay, còn 9.032 mẫu gộp (45.160 mẫu đơn) chưa có kết quả. Nhận định chung, Bộ Y tế đánh giá số lượng F0 tại Bắc Giang tăng cao do việc tổng lực tăng tốc xét nghiệm 3 ngày qua tại tất cả các khu công nghiệp, nhà máy, khu lưu trú của công nhân trên địa bàn huyện Việt Yên. Các F0 đều lưu trú tại nơi cách ly, phong tỏa, số ca chủ yếu tập trung tại huyện Việt Yên. Dự báo những ngày tới, số lượng F0 vẫn tăng nhưng không nhiều như ngày hôm qua (25/5), do các trường hợp nguy cơ cao đã được xét nghiệm và có kết quả. Các ca bệnh phát hiện trong cộng đồng chủ yếu trong các khu vực đã giãn cách xã hội. Tỉnh Bắc Ninh ghi nhận 556 ca, liên quan đến các huyện, thành phố như: Thuận Thành (403), TP Bắc Ninh (48), Yên Phong (31), Quế Võ (26) và 5 huyện còn lại ghi nhận tổng cộng 48 ca. Tổng số các trường hợp F1, F2 là 37.012, trong đó Fl 4.806. Tổng số mẫu lấy xét nghiệm là 366.615, trong đó, 17.028 mẫu đang chờ kết quả (15.835 mẫu nhận từ 0h đến 6h ngày 25/5). Thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận trung bình gần 30 ca mắc mới trong ngày. Dự báo trong những ngày tới sẽ tiếp tục ghi nhận ca mắc mới từ các ổ dịch cũ, nhưng cơ bản tình hình dịch bệnh đang từng bước được kiểm soát. Các trường hợp hầu hết đã được cách ly từ trước hoặc phát hiện trong khu vực phong tỏa.

Đảng viên-

Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bên cạnh việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng cần có các biện pháp quyết liệt đấu tranh với tình trạng gia tăng số lượng các đảng viên- (đảng viên trừ). Đảng viên- là khái niệm quần chúng đặt cho những đảng viên, có vẻ cũng đầy đủ các tiêu chuẩn của người đảng viên nhưng lại không thể hiện được những phẩm chất đó trong cuộc sống. Thông thường, dấu (-) đặt sau danh từ hàm ý rằng còn thiếu tý chút thì đạt. Ví dụ, chấm điểm cho học sinh chẳng hạn. Giáo viên chấm bài cho điểm 5- nghĩa là bài làm về cơ bản đạt được 5 điểm nhưng còn “non non” một chút. Cho điểm 4 thì thiệt thòi cho học sinh nhưng cho 5 thì giáo viên thấy chưa thỏa đáng lắm. Thôi thì cho 5- với mục đích động viên, khuyến khích học sinh phấn đấu trong các bài lần sau. Các tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế cũng hay dùng dấu (+), (-) trong các bảng xếp hạng của mình. Ví dụ, đánh giá mức độ an toàn tài chính của nước A đạt loại B+ hay B-. Nếu chỉ “non non” một chút so với tiêu chuẩn đạt loại B thì xếp là B- nhưng nếu “non quá” thì xếp B- - hoặc B- - -, “non quá nữa” thì xếp xuống C,… Thế nhưng dấu (-) được đặt sau danh từ đảng viên thì quả thực rất mới lạ và đáng quan tâm. Đấy là trong một lần về quê, gặp lại anh bạn cùng học phổ thông, giờ đã là bí thư chi bộ thôn, sau khi thăm hỏi tình hình quê hương, tôi hỏi: Chi bộ thôn ta bây giờ có tới mấy chục đảng viên thì công tác lãnh đạo, tổ chức hoạt động chắc là thuận lợi? Sau một thoáng do dự, bạn tôi trả lời: Cũng chưa hẳn là thuận lợi, đông thì có đông nhưng không mạnh, còn nhiều đảng viên- (đảng viên trừ) lắm. Tôi ngạc nhiên hỏi: Sao lại đảng viên-? Thôn ta lại sáng tạo ra một danh hiệu nữa cho đảng viên à? Bạn tôi cười, nói: À, đấy là cách gọi nôm na của bà con với những đồng chí mà tiêu chuẩn, điều kiện của người đảng viên thì dường như có đủ, nhưng đó chỉ là hình thức. Còn trong thực tiễn, trong sinh hoạt cũng như trong cuộc sống thì họ lại không thể hiện rõ phẩm chất của người đảng viên. Thấy tôi còn ngơ ngác, bạn tôi tiếp tục: Trong công việc, nhất là việc khó khăn, vất vả, họ né tránh, đùn đẩy. Khi cần tinh thần cống hiến, hy sinh thì họ im lặng, lẫn vào số đông. Trong cuộc sống, họ không thể hiện được tính gương mẫu, tinh thần nêu gương lôi kéo quần chúng như lời Bác dạy: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Bạn tôi bức xúc nói tiếp: Mới đây thôi, thôn tổ chức họp dân làm đường liên thôn. Nhà nước cho xi măng, cát, sỏi, người dân đóng góp công sức để làm đường. Ai cũng phấn khởi, hăng hái tham gia. Một số người còn tự nguyện hiến đất hay đổi đất để con đường không bị cong. Riêng nhà đồng chí B, chỉ cần xây lùi cái cổng vào một chút, hiến cho thôn vài mét đất là đẹp cả nhà cả xóm nhưng vận động mãi không xong. Con đường đang phẳng phiu, thẳng tắp thế này tự nhiên bị cái cổng chòi ra một chút, trông có tức mắt không? Mà quan trọng hơn, lần sau làm sao mà vận động được nhân dân! Câu chuyện của đồng chí bí thư về những đảng viên- đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Nghĩ đi, nghĩ lại thì thấy đảng viên- không phải chỉ có ở nông thôn mà còn cả ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… Nơi nhiều, nơi ít nhưng cũng là một bộ phận đáng kể. Bộ phận này không những không làm cho Đảng mạnh lên mà trái lại, chỉ làm xói mòn uy tín của Đảng trong lòng nhân dân. Xem ra, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bên cạnh việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra, cũng cần có các biện pháp quyết liệt đấu tranh với tình trạng gia tăng của các đảng viên-, bởi lẽ, chỉ cần một bước nữa thôi thì những đảng viên- này sẽ trở thành những kẻ cơ hội trong Đảng hoặc gia nhập “bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,…”. Hiện tượng này gia tăng rất nguy hại, sẽ làm xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng./.

Liệu cơm mà gắp mắm

Đang ăn cơm tối thì tôi nhận được cuộc điện thoại của người bạn thân. Anh xin lỗi vì không thể tham dự chương trình giao lưu vào cuối tuần vì còn phải hoàn thiện nốt các văn bản, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh kêu gọi vốn xã hội hóa, xây dựng tượng đài vị anh hùng dân tộc là người của tỉnh nhà. Chưa biết lý do, mới nghe câu được câu chăng giữa tôi và anh bạn trao đổi qua điện thoại, vợ tôi đã chêm vào: “Anh Thuận không đi, lấy ai pha trò, mất cả vui. Anh ấy bận gì vậy anh?” - Nghe cậu ta nói là phải chuẩn bị văn bản để kêu gọi xã hội hóa việc xây tượng đài của tỉnh ấy mà. - Lại hội chứng “đua” xây tượng đài. Mấy hôm rồi, dư luận ầm ầm vì “tượng đài bỏ hoang” ở một địa phương miền Bắc, miền Trung mà các quan nhà ta vẫn không rút kinh nghiệm. Em thấy việc tuyên truyền lịch sử, danh nhân, người có công với nước là cần thiết, nhưng không nên đặt ra mục tiêu lớn, làm bằng được và quá khả năng ngân sách, trong khi vốn dành cho nhu cầu phát triển kinh tế thì đang rất cần. Đó là một sự lãng phí không cần thiết. - Ô hay, em buồn cười thật. Nước ta đang tiến sâu vào hội nhập kinh tế, văn hóa với khu vực và thế giới, ngoài những giá trị văn hóa hiện đại thì cũng cần tôn vinh những giá trị văn hóa lịch sử truyền thống chứ. - Mục đích ấy thì đương nhiên rồi. Nhưng anh cứ thử hình dung, một người thấp bé nhẹ cân mà khoác lên người cái áo rộng thùng thình thì liệu có sang trọng? Đấy là em chưa nói đến một xã hội còn nhiều khó khăn về kinh tế mà lại “chơi trội” về văn hóa thì khác nào “trưởng giả học làm sang”. - Suy nghĩ của em chỉ như “cơi đựng trầu thôi”. Em không thấy là, khi tham quan, du lịch đến địa phương nào mà có công trình văn hóa đẹp, hoành tráng là mọi người thi nhau chụp ảnh để “lưu giữ khoảnh khắc kỷ niệm” và đăng trên mạng xã hội, khoe với mọi người à? Đó là cách quảng bá hữu hiệu đấy. Em cũng còn có sở thích thế nữa là! - Anh buồn cười thật. Thôi, em không nói chuyện này với anh nữa. Anh ăn cơm đi để em còn dọn! Từ đó đến sáng, vợ tôi chẳng nói câu nào, không khí gia đình cứ “nặng như chì”. Sáng hôm sau đến cơ quan, tôi đem chuyện kể với anh bạn “chè thuốc” trước giờ làm việc. Nghe xong, đã không ủng hộ tôi, anh bạn còn lớn tiếng tuôn một mạch: - Vợ cậu nói đúng đấy. Theo tớ, để tôn vinh các giá trị văn hóa; tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước,… các địa phương cần cân nhắc, tính toán xây dựng các công trình văn hóa cho hợp với khả năng thu, chi ngân sách. Không nhất thiết phải xây dựng công trình văn hóa to lớn, hoành tráng mới đạt hiệu quả. Nếu thiếu kinh phí thì duyệt quy hoạch tổng thể và xây dần, như kiểu các chiến sĩ ta đào hào vây lấn, đánh bại từng cứ điểm trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các địa phương cũng không nên lạm dụng chủ trương “xã hội hóa” để huy động kinh phí, xây dựng những công trình dạng này. Bởi nếu quản lý không tốt, đưa vào khai thác không hiệu quả, để thất thoát, xuống cấp thì rất dễ bị dư luận hiểu lầm là “có vấn đề”. Những gì chúng ta nhìn thấy từ “các công trình văn hóa bỏ hoang” đăng trên báo thời gian qua ở các địa phương là minh chứng hùng hồn nhất cho “cách làm văn hóa chưa tới nơi”. Tôi không nói gì thêm, chỉ lẳng lặng ngồi vào bàn làm việc. Tôi thầm nghĩ tới câu “liệu cơm gắp mắm” mà các cụ xưa đã dạy. Có lẽ vợ tôi đã đúng. Chiều nay, tôi cần kiếm cớ để làm lành với cô ấy cho “cơm lành, canh ngọt”./

Kiểm điểm trách nhiệm gây lãng phí

Kết thúc phiên họp Hội Người cao tuổi xã, các cụ quay sang bàn về một số thông tin chung quanh công tác phòng, chống lãng phí. Cụ Chủ tịch Hội nêu vấn đề trước: Văn kiện tại đại hội Đảng cấp cơ sở và cấp huyện không nói gì đến lãng phí, trong khi có rất nhiều công trình lãng phí. Chẳng hạn như cái sân vận động đang xây đằng kia chả biết để làm gì, trong khi huyện đã có một sân vận động lớn hàng nghìn chỗ ngồi, năm thì mười họa mới có hoạt động. Cụ Phó Chủ tịch Hội góp thêm: Hầu hết các báo cáo chính trị nêu chung chung, đánh giá, nhận định chung chung về lãng phí. Nội dung phòng, chống lãng phí chưa được đề cập đầy đủ và đúng mức, mặc dù trong nhiệm kỳ qua đã xảy ra những vụ việc, dự án gây lãng phí vô cùng nghiêm trọng. Thấy vấn đề hay, các cụ mỗi người một ý: Tôi thấy lãng phí nhất trong mấy năm qua là đầu tư cho dạy nghề. Nhiều tỉnh tuyên bố giải tán trường cao đẳng, trung cấp vì mấy năm liền không tuyển sinh được. Một huyện mà có đến ba, bốn cơ sở có chức năng dạy nghề. Mà đầu tư cho một cơ sở dạy nghề rất tốn kém, từ lớp học, xưởng thực hành, ký túc xá, máy móc, thiết bị, con người … Chả nói đâu xa, ngay ở xã ta cũng có khu tái định cư, lắp điện, lắp nước, làm đường bê - tông rồi mà sáu năm nay không hộ nào chịu ra ở vì xa khu dân cư, xa đồng ruộng, xa họ hàng. Ngành xây dựng thất thoát mới nhiều. Có những công trình tiền tỷ xây xong, hạ tầng hoàn chỉnh nhưng không sử dụng được. Có con đường, cây cầu hàng chục tỷ đồng chỉ phục vụ vài hộ dân. Chưa kể lãng phí trong việc xây dựng mới các trường đại học, xây dựng cảng biển, sân bay, xây dựng các công trình thủy lợi, lãng phí trong đào tạo cán bộ, đi công tác nước ngoài ... Đâu đâu cũng thấy lãng phí trong khi đất nước ta còn nghèo. Khó nhất là tìm ra người chịu trách nhiệm lãng phí, thất thoát của công. Quy trách nhiệm cho ai cũng là việc rất khó, người này đổ lỗi cho người kia, cuối cùng đổ lỗi cho chính sách, cho khủng hoảng kinh tế, thị trường không ổn định … Cụ Chủ tịch Hội suy ngẫm hồi lâu rồi nói như kết luận: Dù gì cũng phải tìm bằng được người chịu trách nhiệm về lãng phí. Cán bộ kém năng lực, gây ra lãng phí lớn cũng phải chịu trách nhiệm. Đầu tư cho dạy nghề, cho nông nghiệp rất lớn nhưng hiệu quả thấp, vì sao thì phải làm rõ nguyên nhân. Tôi cho rằng, đại hội Đảng cấp tỉnh và Đại hội toàn quốc phải đánh giá, phân tích rõ mức độ lãng phí, nguyên nhân gây ra lãng phí, trong lãng phí có tiêu cực không? Phải làm mạnh theo đúng tinh thần Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, vì tham nhũng, lãng phí là một trong những nguy cơ lớn cần loại bỏ trong nhiệm kỳ tới./.

Khí phách làm người

Khí phách, theo định nghĩa của từ điển, đó là “sức mạnh tinh thần được biểu hiện cụ thể thành hành động”. Con người, dù ở đâu và ở thời nào, cũng có một đời sống tinh thần và sự thể hiện sức mạnh tinh thần của mình trong những hoàn cảnh nhất định. Do đó, đã là người, ai cũng có khí phách, chỉ có điều khí phách của người này không giống khí phách của người khác; có người khí phách kiên cường, bất khuất, lại có người khí phách kém cỏi, bạc nhược. Những người có khí phách kiên cường, bất khuất là những người cương trực, khảng khái, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, vì lợi ích của xã hội và không chịu khuất phục trước những cái giả - ác - xấu. Những người có khí phách kém cỏi, bạc nhược thường là những người sợ khó, sợ khổ, sợ thiệt, sợ trách nhiệm và chỉ muốn “an phận thủ thường”, thậm chí là đầu hàng, phản bội khi phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết. Tất nhiên, với những kẻ vì thù hận, bất mãn cá nhân mà có những hành vi hung hãn, gây tổn hại cho người khác và cho xã hội thì thiên hạ không coi đó là những kẻ có khí phách. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của dân tộc, khí phách kiên cường, bất khuất của những người con đất Việt đã làm cho các thế lực xâm lược phải run sợ, nể phục. Trần Bình Trọng - một danh tướng nhà Trần - trong lúc anh dũng chiến đấu, không may bị giặc Nguyên Mông bắt được; khi chúng dụ dỗ quy hàng, ông đã nói một câu đầy khí phách hiên ngang: “Ta thà làm quỷ đất Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan và nhiều sứ thần đất Việt khác cũng từng tỏ rõ tài năng, khí phách coi thường sống chết trước sự thử thách, mua chuộc, đe dọa của các triều thần phong kiến Trung Quốc. Vua Trần Nhân Tông dù đang ở phong độ quân vương, nhưng vốn là người có tư duy sâu sắc, tầm nhìn thông tuệ và đầy khí phách, Ngài đã nhường ngôi cho con để lên núi tu hành đắc đạo. Lê Thánh Tông đã thể hiện khí phách hiên ngang lẫm liệt của một vị vua tài đức song toàn khi Ngài ban hành Luật Hồng Đức để chấn chỉnh triều cương, trừng trị quan lại tham nhũng, bất tài vô đạo và “ngự giá thân chinh” cầm quân đánh giặc để bảo vệ từng tấc đất của cha ông. Khí phách của dân tộc Việt Nam không chỉ được thể hiện ở khí phách của những bậc anh hùng, danh nhân đất Việt như vậy, mà còn được thể hiện trong bài thơ bất hủ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, trong “Cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi và trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở thời hiện đại, thế giới đã biết đến dân tộc Việt Nam nhỏ bé nhưng đầy khí phách, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một… Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Khí phách hào hùng đó của dân tộc Việt Nam đã biến thành hành động, thành sức mạnh đánh thắng các thế lực xâm lược, từ phong kiến phương Bắc cho đến thực dân, đế quốc phương Tây. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, khí phách của các thế hệ cha ông đã được các sĩ phu yêu nước, như Hoàng Diệu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…, cũng như các chiến sĩ cộng sản, như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Võ Nguyên Giáp,… và vô vàn những anh hùng liệt sĩ khác tiếp nối, phát huy và tỏa sáng. Chính tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng của họ đã mang đến cho quần chúng nhân dân một niềm tin yêu, kính phục và đã trở thành hạt nhân đoàn kết, dẫn dắt dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Khí phách của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là như vậy, còn trong công cuộc xây dựng đất nước theo tinh thần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thời kỳ hiện nay như thế nào? Đây là vấn đề mà không ít người Việt Nam, nhất là những bậc cách mạng lão thành, những lớp người cao tuổi ở nước ta suy tư, trăn trở. Phải chăng khí phách đó cần được thể hiện, chứng minh bằng kết quả, hiệu quả lao động, học tập, sáng tạo vì một mục tiêu: làm cho dân tộc Việt Nam ngang hàng, sánh vai với các dân tộc văn minh trên thế giới. Nói về sự thông minh (chỉ số IQ) thì người Việt Nam không thua kém người Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Ấn Độ, nhưng tại sao kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật nước ta lại thua kém, đi sau họ đến mấy chục năm như vậy? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đó, nhưng phải chăng trong đó có một nguyên nhân là do khí phách của không ít người Việt Nam ngày nay đã và đang sa sút, mờ nhạt nghiêm trọng bởi thứ “chủ nghĩa cá nhân” của người tiểu nông tác động, chi phối. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người chỉ ra những tác hại, nguy hại mà “chủ nghĩa cá nhân” gây ra đối với Đảng, Nhà nước và đối với sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới ở nước ta. Các nhà nho trước đây có sự phân biệt 2 hạng người là quân tử - tiểu nhân và cho rằng chỉ có người quân tử mới là người có khí phách cao thượng, mới là người sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, coi trọng danh dự, liêm sỉ và không bao giờ lấy những cái gì của thiên hạ để làm cái riêng của mình. Còn những kẻ tiểu nhân - những kẻ “giá áo túi cơm”, thì thường có những thái độ, lời nói, hành vi bợ đỡ, luồn cúi, cầu cạnh, xin xỏ, mua danh, hám lợi và tham lam không biết đủ. Kẻ tiểu nhân còn hèn kém đến mức thấy đúng mà không bảo vệ, thấy sai mà không phê phán, không biết nhận lỗi về mình và vô trách nhiệm với xã hội. Nếu suy ngẫm và liên hệ với thực tế về những điều mà nho gia đã nói ở trên, có lẽ bây giờ ở nước ta người “quân tử” không có quá nhiều. “Chủ nghĩa cá nhân” là sản phẩm của xã hội tiểu nông, mà ở đó, người tiểu nông thường có những đặc tính, như vị kỷ, tư lợi, vun vén, cửa quyền, gia trưởng, tùy tiện, định kiến, sĩ diện, quan liêu, bảo thủ, giáo điều, ham danh, hám lợi, “sống chết mặc bay” không muốn người khác hơn mình... Tất cả những biểu hiện đối lập với xã hội dân chủ, văn minh, hiện đại và có tính chất tiêu cực, bất cập, lạc hậu đó của người tiểu nông, dù ở mức độ này hay mức độ khác, cũng đều hiện diện trong bộ máy nhà nước và trong cả hệ thống chính trị ở nước ta. Cách đây gần 100 năm, V.I. Lê-nin có nói đến những hạn chế, tiêu cực, bất cập của người tiểu nông trước xã hội công nghiệp và những thử thách, khó khăn lâu dài của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm đông đảo trong xã hội. Suy ngẫm và liên hệ với thực tế nước ta thì thấy V.I. Lê-nin nói rất đúng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội, đến lúc nào đó mọi người đều đầy đủ về cái ăn, cái mặc, cái ở, và khi đó các giá trị văn hóa, đạo đức cũng như phẩm giá, khí phách làm người có lẽ sẽ được đề cao hơn. Nếu ai đó nghi ngờ về điều này, xin hãy nhìn vào các xã hội văn minh, thịnh vượng, nhất là xã hội Nhật Bản, sẽ thấy đa số người dân ở các xã hội đó đang sống như những người quân tử theo quan niệm của các nhà nho xưa. Làm người thì phải có khí phách làm người, bởi có khí phách làm người thì mới cảm nhận được ý nghĩa, giá trị làm người. Làm người mà không có khí phách, tức là không có đời sống tinh thần phong phú, mạnh mẽ, sẵn sàng hành động sáng tạo và xả thân vì đại nghĩa, vì tập thể, cộng đồng thì cuộc sống sẽ buồn chán, tẻ nhạt, vô vị biết bao - một cuộc sống như thế, rõ ràng là uổng phí, chẳng khác chi là một sự tồn tại và chờ đợi đến ngày trở về với cát bụi. Nhưng ngay bây giờ và sau này, các thế hệ hậu sinh muốn có được khí phách làm người hào hùng của con dân nước Việt, trước hết họ phải được học, được giáo dục một cách đầy đủ, cẩn thận, hết sức khoa học, bao gồm từ sự tự giáo dục bản thân, giáo dục gia đình cho đến giáo dục trong nhà trường, đoàn thể và xã hội; nhất là sự giáo dục làm gương của những người làm cha, làm mẹ và của những người có danh vị, địa vị cao trong xã hội. Khi cha, mẹ, thày, cô và những người có danh vị, địa vị cao trong xã hội là những người có khí phách, chắc chắn con cái, học trò và các thế hệ hậu sinh của họ cũng sẽ là những người có khí phách như họ./.