Thứ Năm, 27 tháng 5, 2021
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ GÌ VÀ VÌ SAO PHẢI ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI?
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐƯỢC TIẾN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?
THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA?
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"
Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 19-5-2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" trong tình hình mới. Báo Quân đội nhân dân giới thiệu toàn văn Chỉ thị:
Thành lập Quỹ vắc-xin phòng COVID-19
Ngày 26/5, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã ký ban hành Quyết định 779/QĐ-TTg thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19.
Tại Quyết định thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 nêu rõ: Thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 Việt Nam (Quỹ) để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng COVID-19 cho người dân. Quỹ do Bộ Tài chính quản lý. Quỹ có chức năng quản lý, điều phối các nguồn lực tài chính, hiện vật của Quỹ để tài trợ, hỗ trợ cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng COVID-19.
TỈNH TÁO NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH CHỐNG MỌI BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI
Chống chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, trong cách mạng Việt Nam nói riêng kể từ khi có Đảng, là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ. Nhất là trong tình hình hiện nay, đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa xét lại là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ dao động, hoài nghi đến xa rời, phản bội lý tưởng cách mạng
Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây... Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH.
Thực tế thì không phải bây giờ mà ngay từ lúc Mác, Ăngghen và Lênin còn sống, những thành phần đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện. Những người theo chủ nghĩa xét lại vẫn chấp nhận các lý tưởng cùng nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng phê bình những luận điểm của Mác, Lênin về cương lĩnh, chiến lược và sách lược cách mạng... mà họ cho là không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn trên thế giới và ở từng nước. Một số người đưa ra quan điểm rằng, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản (CNTB) bước sang thời kỳ phát triển tương đối hòa bình, các hình thức đấu tranh nghị trường được sử dụng rộng rãi, mâu thuẫn cơ bản của CNTB sẽ dịu đi và vì vậy, không cần đấu tranh xóa bỏ sự bóc lột của tư bản chủ nghĩa, mà chỉ cần sự thâm nhập hòa bình của khuynh hướng XHCN là thực hiện được mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột. Những người khác thì lập luận rằng, những thứ như tự do chính trị, dân chủ, quyền công dân trong CNTB sẽ loại bỏ tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Vì thế, mục tiêu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thiết lập dân chủ tư sản, cải cách CNTB, điều hòa xung đột giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân.
Tỉnh táo nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại
Ảnh minh họa: NGUYỄN TẤN TUÂN
Dù tên gọi, biến tướng có khác nhau nhưng tựu trung, chủ nghĩa xét lại có hai khuynh hướng chính. Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản. Và dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào, dù có những điều chỉnh nhất định, chủ nghĩa xét lại cũng không thể che giấu được động cơ là xa rời mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, từ bỏ cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho CNXH.
Vì mang tính chất hai mặt của những giai tầng xã hội tiểu tư sản, tiểu chủ trong điều kiện CNTB và trong điều kiện đấu tranh vì CNXH ngày càng gay gắt nên chủ nghĩa xét lại thường xuất hiện khi có bước ngoặt. Vào thời điểm khó khăn, phức tạp, thử thách hoặc khi những phát minh, sáng chế khoa học và tình hình mới dẫn đến phá vỡ giới hạn nhận thức cũ, người nhiễm tư tưởng xét lại thường không đủ khả năng nhận thức đúng những hiện tượng mới nảy sinh, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản nên hay dao động, không vững vàng. Thêm vào đó, trước sự tấn công điên cuồng của CNTB, họ tỏ ra yếu đuối, hoang mang, dễ bị lợi dụng, từ đó mà nảy sinh tư tưởng xét lại, thậm chí chuyển hóa thành phản bội.
Thực tế cho thấy, khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới thoái trào, những người mang tư tưởng xét lại bắt đầu tỏ ra bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Có người quy kết nguyên nhân đổ vỡ này là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Có người thì quay ra phụ họa với các luận điệu công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường XHCN, cho rằng cần phải đi con đường khác. Các quan điểm “tân Mác-xít”, “hậu Mác-xít”... thi nhau trỗi dậy, gây xáo trộn về tư tưởng.
Ở Việt Nam, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi cuộc chiến ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có những người tỏ ra dao động trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù, trước hy sinh, gian khổ nên không kiên định với đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam, ảo tưởng về con đường chung sống hòa bình. Vào thời điểm Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản suy thoái, đất nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc, một số người bắt đầu dao động, ngả nghiêng, do dự, mơ hồ, hoài nghi vào con đường đi lên CNXH. Thậm chí có người cho rằng lý luận về CNXH đã sụp đổ, cần phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây, phi chính trị hóa quân đội...
Thành tựu đổi mới khẳng định sự đúng đắn con đường đi của đất nước, dân tộc
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trước hết, phải thấy rằng theo đà phát triển không ngừng của thực tiễn và khoa học, bất cứ học thuyết nào tự bản thân nó cũng không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, và chính Mác cũng đã từng đưa ra câu cách ngôn “Mỗi bước tiến của phong trào thực tiễn còn quan trọng hơn hàng tá cương lĩnh”. Học thuyết Mác-Lênin mặc dù rất khoa học và đúng đắn cũng không thể giải đáp đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”.
Chính vì thế, học thuyết Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển không ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Tuy nhiên, dù bổ sung, phát triển ở bất cứ nội dung nào thì cũng phải đặt trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, bởi xa rời những nguyên lý này thì chắc chắn lý luận sẽ bị lệch lạc, bóp méo, mất định hướng và dễ sa vào chủ nghĩa xét lại. Bổ sung, phát triển thì cũng phải vì mục đích bảo vệ, chứ không phải là từ bỏ, là phản bội Chủ nghĩa Mác-Lênin. Với cách mạng Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận phải nhằm mục tiêu góp phần xác lập một đường lối chính trị độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo để dẫn dắt, chỉ đạo thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứ không phải là phủ nhận, đổi hướng.
Bên cạnh yêu cầu giữ vững nguyên tắc, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại còn đòi hỏi phải nắm vững và xử lý khéo léo mối quan hệ giữa kiên định và đổi mới. Bởi nếu chỉ kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ. Nhưng nếu không kiên định mà đổi mới một cách vô nguyên tắc thì cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Thêm vào đó, đấu tranh với chủ nghĩa xét lại lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới.
Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân. Đó là tấm gương đồng chí Kim Ngọc, người đã khởi xướng, chủ trì ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết này khi đó bị coi là vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế dần cho thấy tính đúng đắn của Nghị quyết 68 và tư duy của đồng chí Kim Ngọc. Sáng tạo đó đã được Đảng ta nghiên cứu, tiếp thu để năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (Khoán 100). Tiếp đó là năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10), tạo bước đột phá cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới.
Đó là câu chuyện với đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư của Đảng. Từ thập niên 1980, khi còn là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí đã thử nghiệm xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thí điểm đổi mới quản lý kinh tế ở một số doanh nghiệp nhà nước. Đây là những bước đột phá đầu tiên nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý cũ nên bị nhiều người phê phán, cho rằng chạy theo cơ chế thị trường nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh vẫn kiên trì từng bước với cách làm này. Thực tế sau này chứng minh sự đúng đắn trong tư duy sáng tạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh, và đường lối đổi mới của Đảng hình thành và phát triển chính là từ tổng kết thực tiễn sáng tạo của nhân dân, trong đó có cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh.
Và cũng chính thực tế sinh động của sự nghiệp đổi mới là bằng chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta mà không sa vào tư tưởng xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Sau 35 năm đổi mới, từ một nước chậm phát triển, đến cái ăn cũng không đủ, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Giờ đây, Việt Nam là hình ảnh của một đất nước đang vững bước đi lên với một tư thế mới, tư thế của người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển; với một tầm ảnh hưởng mới, ảnh hưởng của một đối tác đang chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các cấu trúc mới, luật chơi mới”, một đối tác luôn có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Đổi mới” đã song hành với “Việt Nam” đến khắp nơi trên thế giới, đã vang lên trên các diễn đàn quốc tế lớn như là một hiện tượng đặc biệt, một kỳ tích trong thế giới hiện đại. Thành công của đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn con đường đi mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cho đất nước, dân tộc.
TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM!
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA - BIỂN ĐÔNG, KHẢ NĂNG GIỮ VỮNG VÀ KHẢ NĂNG THU HỒI
Tất cả các nước phát triển trên thế giới đều là các quốc gia Biển. Đảng ta đã xác định chủ trương phát triển kinh tế Biển: “Việt Nam phải trở thành một quốc gia Biển, phải mạnh lên từ Biển, vươn ra Biển, làm giàu từ Biển”. Biển Đông có giá trị vô cùng to lớn, là cửa ngõ, là con đường để chúng ta vươn lên sánh ngang với các cường quốc Năm Châu như mong ước của Bác. Chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải giữ vững chủ quyền, chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để từng bước giành lại chủ quyền hợp pháp của mình với những đảo đã bị chiếm giữ trái phép.
Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đã có nhiều người đặt ra những câu hỏi thắc mắc, có người không nhận được câu trả lời thỏa đáng, đã vậy họ lại bị các thế lực thù địch xuyên tạc dắt mũi để kích động chống phá gây khó khăn thêm cho công cuộc giữ nước, thậm chí vô tình tiếp tay cho kẻ thù có thời cơ chiếm thêm lãnh thổ nước mình.
Ở PHẠM VI BÀI VIẾT HÔM NAY TÔI XIN TRAO ĐỔI VỚI CÁC BẠN ĐỂ TA CÙNG TRẢ LỜI CHO 3 CÂU HỎI:
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ MỘT SỐ ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA ĐÃ BỊ XÂM CHIẾM NHƯ THẾ NÀO?
KHẢ NĂNG GIỮ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TA HIỆN NAY?
KHẢ NĂNG THU HỒI CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO ĐÃ BỊ CHIẾM?
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất:
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ MỘT SỐ ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA BỊ XÂM CHIẾM NHƯ THẾ NÀO?
Lịch sử cho thấy kể từ lần thứ nhất năm 1946, trong tình thế đất nước ta ngàn cân treo sợi tóc trước sự trở lại của người Pháp và đó cũng là lúc Liên Hiệp Quốc yêu cầu người Trung Quốc (đó là 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch) đến giải giáp quân Nhật. Lúc đó, khoảng trống có lợi cho Trung Quốc, họ ra đòn. Họ cũng tranh thủ chiếm luôn đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa). Năm 1949, Trung Quốc giải phóng thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, họ đã tiếp tục lộ rõ ý đồ chiếm các đảo của Việt Nam.
Lần thứ hai vào năm 1956, sau hiệp định Geneva, người Pháp phải rút đi, để lại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền tay sai Mỹ tiếp quản, quân đội Ngụy lúc này chưa mạnh, chưa có tàu nên Trung Quốc chiếm gần như toàn bộ phần phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Lần thứ ba là năm 1959 họ ra đòn nhưng không thành công. Trung Quốc mang quân qua chiếm nốt phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa nhưng Ngụy quân VNCH đã có mặt ở đó.
Lần thứ tư là năm 1974, Trung Quốc mang quân tấn công phần phía tây quần đảo Hoàng Sa đang do quân đội Ngụy VNCH quản lý. Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong chuyến thăm của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972,, Trung Quốc đã thoả thuận với chính quyền Nixon một cuộc mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam, thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải. Theo đó, Trung Quốc mưu toan dùng “con bài Việt Nam” để ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung - Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Còn chính quyền Nixon có thể cứu vãn và khôi phục địa vị trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Do vậy, chính quyền Nixon đã không có bất cứ động thái nào đáp ứng lời cầu cứu của chính quyền VHCN khi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lược. Đã vậy, Mỹ còn trực tiếp can thiệp không cho Thiệu dùng không quân tại Đà Nẵng ra đánh chiếm lại Hoàng Sa. Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đe dọa cắt viện trợ, buộc Thiệu phải thu hồi lệnh.
Ngày 14/3/1988, quân đội chúng ta vẫn đang làm nhiệm vụ thời chiến ở biên giới Tây Nam và phía Bắc. Thời điểm đó, chúng ta cũng bị cấm vận bốn bề, bị bao vây cô lập không khác gì Triều Tiên hiện nay khi chỉ có 13 nước ủng hộ ta, còn lại đều lên án ta xâm lược Campuchia do nghe theo Mỹ và Trung Quốc tuyên truyền. Thời cơ đó Trung Quốc đã đưa quân vào chiếm đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa.
Trả lời cho câu hỏi thứ hai:
KHẢ NĂNG GIỮ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA TA HIỆN NAY?
Âm mưu của Trung Quốc và quyết tâm của ta?
Đảng ta đã nhận định: “Độc chiếm Biển Đông là âm mưu xuyên suốt các đời lãnh đạo Trung Quốc”. Từ năm 1946 đến nay Trung Quốc đã 5 lần đánh chiếm đảo của ta trên Biển Đông.
Ngày nay, Trung Quốc còn âm mưu đó không hẳn ai cũng rõ. Tham vọng đường lưỡi bò và quân sự hóa Biển Đông là một minh chứng nhưng ít ai biết rằng Lãnh đạo Trung Quốc đã hỏi Tướng lĩnh Quân giải phóng Trung Quốc: “Nếu đánh chiếm toàn bộ Trường Sa thì có chiếm được không, bao lâu thì chiếm được?”
Hiện nay, Trung Quốc đang âm mưu TẠO THẾ, TẠO LỰC và CHỜ THỜI để độc chiếm Biển Đông.
VỀ TẠO THẾ, Trung Quốc đang xây dựng thế trận liên hoàn từ Không quân, Hải quân, thế bố trí chiến lược các lực lượng và điểm tựa trên Biển Đông, kể cả sử dụng Campuchia như 1 con bài gây sức ép vào sau lưng Việt Nam cũng nằm trong thế trận chúng dựng lên.
VỀ TẠO LỰC, Trung Quốc đã cải tổ Quân đội, giảm vai trò của Lục quân, tập trung tăng cường phát triển Hải quân. Quân sự hóa các đảo đã chiếm giữ, xây dựng sân bay, cảng trú cho tàu thuyền, đưa tên lửa và ra đa lên các đảo ở Biển Đông, đóng mới hàng loạt chiến hạm, tàu sân bay...
VỀ CHỜ THỜI, theo các bạn, khi nào là thời cơ để họ đánh chiếm đảo của ta? Nhìn lại những lần Trung Quốc đánh chiếm đảo của ta thì chúng ta thấy, họ đều tận dụng thời cơ đất nước chúng ta loạn lạc, suy yếu, bị bao vây cô lập để đánh chúng ta. Tương lai cũng sẽ như thế, họ đợi chúng ta mất ổn định chính trị xã hội, đất nước rối loạn kích động thế giới can thiệp cô lập. Đó là thời cơ để ra tay. Họ có đủ thế, đủ lực nhưng thời cơ chưa đến thì họ không bao giờ ra tay. Vì vậy, phải giữ vững hòa bình, ổn định cho đất nước, không để xảy ra bạo loạn diện rộng để kẻ thù có thời cơ thôn tính biển đảo của ta. Đó là lý do, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri Thành phố Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào hãy yêu nước bằng cái đầu lạnh và trái tim nóng”, có như thế thì ta mới đủ tỉnh táo, sáng suốt để đấu trí với kẻ thù. Các cụ đã dạy: “Cả giận, mất khôn”, khi cái đầu nóng thì hành xử sao khôn ngoan được, chỉ tạo cớ cho kẻ thù mà thôi.
Về quyết tâm của ta: Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi tiếp xúc cử tri đã nói: “Mất đảo là mất nước”. Vậy mất nước thì chúng ta sẽ làm gì? Các bạn đã có câu trả lời cho mình rồi.
Âm mưu của địch là vậy, quyết tâm của ta là thế. Vậy khả năng của ta đến đâu?
Xét ở mặt đối tượng. Ở thế đối đầu 2 quốc gia bất kỳ thì người ta xét trên 4 mặt sức mạnh răn đe: Một là, răn đe về kinh tế, hai là răn đe về ngoại giao, ba là răn đe về chính trị, bốn là răn đe về quân sự.
Về kinh tế, quy mô nền kinh tế Trung Quốc gấp 86 lần Việt Nam, với ta là con Trâu thì với họ chỉ là bó rau muống. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam hoàn toàn không lệ thuộc kinh tế Trung Quốc, đòn kinh tế không răn đe được Việt Nam.
Về ngoại giao, Việt Nam ở thế chính nghĩa, được cả thế giới ủng hộ, trừ 1 vài nước bị khống chế về lợi ích với Trung Quốc mà có tiếng nói bất lợi cho Việt Nam. Ví dụ trong vụ giàn khoan Hải Dương 981, cả thế giới đứng về phía Việt Nam, đó là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao và tuyên truyền quyết liệt. Về ngoại giao, trong vụ này Trung Quốc đã thua ta.
Về chính trị, chính trị Trung Quốc có nét tương đồng Việt Nam, đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tuy nhiên, Trung Quốc không răn đe được Việt Nam về chính trị. Bằng chứng là Việt Nam đã đập lại Trung Quốc năm 1979 khi Trung Quốc xâm phạm biên giới Việt Nam. Thực tế, trong lịch sử chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa duy trì được sự độc lập khi không chấp nhận cho Trung Quốc đem quân tới Việt Nam trực tiếp tham chiến hoặc can thiệp vào đường lối chiến lược của mình. Có những lúc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối nhận viện trợ của Trung Quốc nếu khoản viện trợ đó đi kèm những điều kiện được xem là vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc đã từng đề nghị đưa cả chục vạn dân quân sang xây dựng đảm bảo toàn bộ tuyến đường Trường Sơn cho Việt Nam nhưng Việt Nam đã từ chối dù lúc đó ta rất cần. Ngày nay thì sao? Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng tranh cãi trực tiếp với Tổng bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào về chủ quyền Biển đảo. Bước vào hội nghị ông Đào nói: “Tây Sa, Nam Sa là chủ quyền của Trung Quốc, nếu Trung Quốc không thu hồi thì nhân dân Trung Quốc không tin vào Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không giữ được chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thì nhân dân Việt Nam cũng không tin Đảng Cộng sản Việt Nam. Đài Loan là của Trung Quốc, Trung Quốc không thu hồi tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn tin Đảng Cộng sản Trung Quốc?” Hồ Cẩm Đào cứng lưỡi không biết nói gì, nhìn lên trần nhà. (theo lời kể của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn)
Về quân sự, Trung Quốc được đánh giá mạnh gấp 10 lần Việt Nam. Binh pháp Tôn Tử chỉ ra: “Phép dụng binh, gấp mười lần địch thì bao vây, gấp năm lần địch thì tấn công, gấp đôi chì chia ra mà đánh, bằng địch thì phải đánh khéo, kém địch thì rút, tránh giao tranh với địch. Binh yếu mà đánh thẳng tất bị bắt làm tù binh”. Nhưng với Việt Nam thì phép dụng binh này của Tôn Tử không áp dụng được vì Việt Nam chuyên đánh với thằng mạnh gấp trăm lần mình, chứ 10 lần ăn thua gì.
Đảng ta xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tập trung xây dựng Hải quân, PKKQ, thông tin tác chiến điện tử tiến thẳng lên hiện đại”. Vậy chúng ta đã làm gì để xây dựng tiềm lực quân sự đủ sức răn đe:
Về vũ khí:
Với Hải quân, chúng ta đã mua 6 tầu ngầm Ki lô 636, đặt thêm những tính năng hiện đại vượt trội, đặc biệt là khả năng phóng tên lửa đối đất Club B, loại tên lửa hải đối đất này có tầm bắn tới gần 280km, sức hủy diệt vô cùng lớn, đủ để xóa sổ 1 đảo nhỏ hay đánh chìm một chiếm hạm lớn cỡ tàu sân bay chỉ bằng 1 phát bắn, làm tê liệt căn cứ tầu ngầm, tàu mặt nước của đối phương. Đó là lý do, Trung Quốc điên cuồng tìm cách ngăn chặn Việt Nam sở hữu loại tên lửa này, tiếc cho Trung Quốc là hợp đồng đã được ký và tên lửa đã được chuyển giao cho Việt Nam trước khi Trung Quốc kịp can thiệp. Bên cạnh tầu ngầm ta trang bị nhiều tầu mặt nước có khả năng tác chiến mạnh, tốc độ cao, hỏa lực mạnh với những cú đốt chết người như “Tia chớp- Molniya ” Gepard 3.9, và rất nhiều tàu tên lửa nhỏ “Ong độc”, nhỏ nhưng bay cực nhanh và đốt cực đau.
Với dải bờ biển dài, chiều sâu phòng thủ biển nằm trong tầm tên lửa bờ (tên lửa đất đối hải), đó là ưu thế lớn. Chúng ta có 1 chiến hạm không bao giờ chìm đó chính là đất liền. Bộ 3 hệ thống tên lửa phòng thủ bờ cực mạnh của Hải quân Việt Nam gồm Redut-M, 4K51 Rubezh và tổ hợp K-300P Bastion-P, bán kính tác chiến từ 300km đến 500km. Tổ hợp K-300P Bastion-P là hiện đại nhất, đầu đạn nặng gần 1 tấn, tốc độ bay lớn, độ chính xác cao, uy lực cực mạnh, đủ để xé đôi một chiến hạm cỡ lớn chỉ với 1 phát bắn. Đến nay, Mỹ vẫn chưa có biện pháp hiệu quả để khắc chế loại tên lửa này.
Với PKKQ, ta có các máy bay hiện đại Su -30 MK2 có bán kính tác chiến bao trùm Đông Nam Á, được thiết kế chuyên tác chiến Biển, là loại tiêm kích đa năng mang bom, tên lửa đối không và đặc biệt là tên lửa đối hải diệt tàu mặt nước hiện đại với uy lực lớn. Về tên lửa phòng không ta có nhiều loại, nhiều tầng, nhiều lớp, hiện đại nhất là S -300 PMU1 và tương lai sẽ trang bị hiện đại hơn.
Bên cạnh việc mua sắm vũ khí ta cũng đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo, những năm qua ta đã cử hàng nghìn học viên đi nghiên cứu học tập về khoa học chế tạo vũ khí ở Nga và các nước phát triển đồng thời tiếp nhận bàn giao công nghệ, tự phát triển công nghệ chế tạo tên lửa các loại đủ để tự chủ vũ khí hiện đại trong tương lai, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
Về chiến thuật tác chiến biển:
Ta sử dụng chiến thuật tác chiến phi đối xứng, chống tiếp cận để phát huy tối đa lợi thế địa hình của ta. Ngoài ra ta có khả năng khống chế Biển Đông, khóa chặt đường Biển, đánh vào hậu cần của địch. Ta biết rằng 1/3 lượng hàng hóa của thế giới đi qua Biển Đông, 2/3 lượng hàng hóa và dầu khí Trung Quốc nhập khẩu để duy trì nền kinh tế đều đi qua Biển Đông. Nếu thiếu dầu khí và hàng hóa 3 tháng thì kinh tế Trung Quốc khủng hoảng. Máy bay, tầu chiến Việt Nam cứ nện cho chìm vài chiếc tàu hàng Trung Quốc thì bố nó cũng không dám chạy qua nữa. Đó cũng là lý do, “Tướng Trung Quốc báo cáo lãnh đạo Trung Quốc là chiếm Trường Sa 1 tuần là được nhưng không giữ được. Lãnh đạo Trung Quốc nói, chiếm không giữ được thì chiếm làm gì”. Nếu nó đánh ta gãy 1 tay mà ta cứ ôm tay khóc là nó đánh ngay, nhưng nếu nó đánh ta gãy 1 tay mà ta lại đấm nó gẫy răng thì nó sẽ phải suy nghĩ lại. Gẫy răng thì sẽ không được đẹp trai lại còn phải húp cháo cả tuần. Nó sẽ phải cân nhắc.
Trả lời cho câu hỏi thứ ba:
KHẢ NĂNG THU HỒI CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO ĐÃ BỊ CHIẾM?
Câu hỏi đặt ra là chúng ta thu hồi chủ quyền Hoàng Sa bằng vũ lực hay bằng cách nào?
Thực lực quân sự của ta không thể dùng vũ lực để thu hồi. Vậy chúng ta có thể dựa vào 1 nước lớn khác như Mỹ để dùng vũ lực được không? Chúng ta không thể dựa vào Mỹ, lịch sử Mỹ chỉ chuyên đi xé nhỏ các nước chứ chưa bao giờ giúp nước nào mở rộng lãnh thổ. Chúng ta cũng không quên Mỹ đã bắt tay Trung Quốc bán Hoàng Sa ngay trên lưng chúng ta. Mỹ cũng xui dại Ucraina tiêu hủy các chiến hạm hải quân, các máy bay và tên lửa chiến lược để nhận sự bảo kê của Mỹ. Kết quả, Nga thu hồi C-rưm, Mỹ giương mắt ếch lên nhìn, Mỹ chỉ to mồm xui dại trẻ con chứ Mỹ dại gì xung đột quân sự trực tiếp với Nga, chẳng có lợi ích kinh tế gì, ú ớ mà gấu Nga điên lên thì chỉ có vỡ mồm. Lượng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc chỉ đứng sau Nga, 1 phần nhỏ phát nổ cũng đưa trái đất về kỷ băng hà. Mỹ đang sống sướng, tội gì phải chết.
Vậy thu hồi bằng cách nào?
Chỉ có 1 con đường là đấu tranh bằng pháp lý. Muốn đấu tranh thắng lợi phải biết đợi thời cơ để ra đòn quyết định. Quá trình chờ thời là quá trình ta xây dựng, chuẩn bị thế và lực chứ không phải đứng yên chờ thời. Giống như Cách mạng tháng Tám 1945, nếu nổ ra sớm, thời cơ chưa đến chúng ta sẽ thất bại. Philippines kiên Trung Quốc thắng lợi nhưng kết quả chẳng làm gì được Trung Quốc. Trung Quốc có thể vượt Mỹ nhưng thời điểm đó chắc chắn luật pháp quốc tế trong đó có Luật biển sẽ có hiệu lực mạnh hơn. Tiếng nói của các nước được tôn trọng hơn. Trong khi đó Trung Quốc cũng còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, Trung Quốc còn vấn đề dân tộc, vấn đề các khu tự trị, vấn đề Đài Loan... năm 1930-1931 chẳng ai biết được thời cơ Tổng khởi nghĩa sẽ đến vào năm 1945. Hiện nay chúng ta cũng không thể biết khi nào là thời cơ để chúng ta kiện Trung Quốc và ra đòn quyết định, có thể 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa nhưng thời cơ nhất định tới, chỉ cần chúng ta đoàn kết và tự tin, giữ cho đất nước ổn định và phát triển thì thời cơ sẽ đến. Dùng cái đầu nóng, dùng bạo lực hay dựa hết vào ngoại bang giúp đỡ thì chẳng những không có cơ hội thu hồi mà có thể chúng ta còn mất cả những những đảo đang đứng chân.
Yêu nước ST.
VÌ SAO PHẢI PHẢI ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI?
Nhân
kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử
Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2021-2026 (23/5/2021), ngày 16/5/2021, GS.TS. Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công bố bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam". Ngay sau đó, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bài
viết của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cố tình lèo
lái, cắt cúp, sử dụng ngôn ngữ vừa kích động vừa mị dân, dẫn dắt có chủ ý để
không chỉ dừng lại ở sự xuyên tạc nội dung bài viết của Tổng Bí thư mà sâu xa
hơn chính là âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thổi phồng những hạn chế
trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, những tồn tại trong công tác quản lý
kinh tế... để gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; làm xói mòn
lòng tin của nhân dân với Đảng, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu
đúng bản chất vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh trong bài viết của Tổng Bí thư là rất quan trọng, rất cần thiết để
tiếp tục kiên định con đường đã chọn, thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng vào cuộc sống.
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ GÌ VÀ VÌ
SAO PHẢI ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI?
Trong
bài viết của mình, Tổng Bí Thư nêu rõ: "Chủ nghĩa xã hội thường được
hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là
một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ... Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây
là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại
ngày nay".
Chủ nghĩa xã hội dựa trên học thuyết Mác -
Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, "nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"(1); "là
công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không
hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom"(2);
"chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung
sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ,
những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng
tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt"(3)… Vì
thế, "nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho
nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,
được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(4).
Cũng
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình
đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi
người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”(5). Vì thế, về bản chất, chủ nghĩa xã hội được hiểu với tư cách
là một chế độ xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó
chính là một chế độ xã hội do Đảng Cộng sản lãnh đạo; trong đó, nhân dân lao
động làm chủ và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; là xã hội luôn chăm lo
đến lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của mỗi người dân. Đó là một xã hội
kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với tập thể và lợi ích xã hội, giải quyết
thỏa đáng giữa cống hiến và hưởng thụ; đồng thời, cũng là một xã hội mà sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi
người,v.v.. Chủ nghĩa xã hội thực sự là một chế độ mới, khác biệt, ưu việt, đầy
tính nhân văn so với các chế độ xã hội trước đó như công xã nguyên thủy, chiếm
hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa và đó là giai đoạn đầu của chủ nghĩa
cộng sản, mà việc xây dựng, hoàn thiện nó là một quá trình lịch sử lâu dài, để
từng bước đạt tới mục tiêu.
Từ
đó, có thể thấy, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội được Tổng Bí thư khẳng định
trong bài viết: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn
đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan
hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới"… là hoàn toàn phù hợp
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội là bởi rằng, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước
trong thời đại mới và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6). Từ bài học kinh
nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã lựa chọn và đứng trên
lập trường của giai cấp vô sản để xác định rằng: 1) Phải thành lập Đảng Cộng
sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc; 2) Đảng phải lãnh đạo
nhân dân tiến hành giải phóng dân tộc bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước
phát triển tiếp theo là xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Luận
cứ để độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể trở thành hiện thực sinh động
ở Việt Nam chính là cách mạng giải phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách
mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu
tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và điều kiện
trước hết chính là “muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm
gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói
tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(7)… Vì thế, khi
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), trong Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(8) - tức
là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và
người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: Để xây dựng chủ
nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và đó là cơ sở; còn
đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được
độc lập dân tộc, xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Dưới
ngọn cờ độc lập, tự do có hướng đích chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm
nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản
chủ nghĩa) - mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam là sự lựa chọn
chính xác, đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ
thập niên 1930, đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Trong
quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhận thức rõ, độc lập dân tộc - điều
kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển đất nước chỉ được bảo đảm vững chắc khi
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giành được độc lập dân tộc mà không đi lên chủ
nghĩa xã hội thì chẳng những không bảo vệ được độc lập dân tộc mà còn không thể
mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội được Đảng ta, nhân dân ta đã luôn kiên định thực hiện; đồng
thời, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng được tiếp tục bổ sung,
phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam qua văn kiện các kỳ Đại
hội Đảng.
Vì thế, việc Tổng Bí thư khẳng định: "Độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng
Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh"; đồng thời, kết luận rằng vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; sự
kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự đồng lòng, đoàn kết của nhân dân chính là nguồn
sức mạnh sâu xa, cội nguồn của thắng lợi và sự phát triển… chắc chắn không phải
là "sự hoang tưởng", lại càng không phải là "cái bánh vẽ của
Đảng Cộng sản Việt Nam" như các thế lực thù địch bôi nhọ, phủ nhận.
MAI NĂM MỚI (ST)
(1)
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.13,
tr.30, 438.
(2)
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1,
tr.404, 496,
(4)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12,
tr.415.
(6)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9,
tr.30.
(7)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2,
tr.304.
(8)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, t.3, tr.1.
Nhật có thể cấp vaccine AstraZeneca cho Đài Loan
Đằng sau chiêu trò “tự ứng cử”
Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (năm 1946) cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Thế nhưng, việc thực hiện các quyền này phải do luật định. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng các tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội. Người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật còn quy định rõ: Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND). Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026” cũng nêu rõ: “Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”(2).
Thực tế trong các nhiệm kỳ vừa qua, có nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều công khai, rất dễ tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thế nhưng, một số người vẫn cố tình rêu rao rằng, “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND”(?!).
Trong kỳ bầu cử này, có nhiều người đăng ký tự ứng cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Thế nhưng, theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH theo quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trong danh sách sau Hội nghị Hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ, dân chủ, nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.
Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn, như trung thành với Hiến pháp; gương mẫu chấp hành pháp luật… Ngay những hành vi chống phá Đảng, không công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Nhà nước mà họ thực hiện đã thể hiện rất rõ sự vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Vì thế, họ rất sợ các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ/ĐBQH phải trung thành với Hiến pháp, tuân thủ pháp luật được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới.
Hơn ai hết, cử tri nơi người ứng cử cư trú hiểu rõ về người ứng cử đó nhất. Nếu người ứng cử thực sự có đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật thì không có lý do gì phải e ngại việc lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Quy định về tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri cũng thể hiện rõ tính khách quan. Cụ thể, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14, ngày 11-1-2021, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, “Quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung”, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú được tổ chức tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố nơi người ứng cử thường trú hoặc tạm trú. Đối với nơi có dưới 100 cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể cử tri và phải bảo đảm số lượng cử tri tham dự đạt ít nhất 50% tổng số cử tri được triệu tập. Đối với nơi có từ 100 cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị toàn thể hoặc hội nghị cử tri đại diện hộ gia đình và phải bảo đảm có ít nhất 55 cử tri tham dự hội nghị. Quy định như vậy để giúp hội nghị cử tri nơi cư trú cho ý kiến khách quan nhất, toàn diện nhất về người ứng cử.
Quy định dân chủ, khách quan và minh bạch như vậy, nhưng những phần tử chống phá đội lốt “người tự ứng cử” lại lên tiếng rêu rao trên mạng xã hội và một số trang thông tin nước ngoài rằng, hội nghị cử tri nơi cư trú là nơi để đấu tố, lên án, loại bỏ người tự ứng cử. Điều nực cười là, những kẻ đội lốt “người tự ứng cử” để chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, phá hoại bầu cử dù rất “tự tin” trưng ra những bản tập hợp chữ ký ảo trên mạng để giới thiệu ứng cử, nhưng khi đứng trước cử tri thật ở chính nơi họ cư trú thì lại tỏ ra run sợ. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự lòe bịp của họ về những bản “tập hợp chữ ký” và thể hiện rõ uy tín của họ ở nơi cư trú thảm hại đến mức nào! Đến cử tri nơi họ cư trú còn không muốn để họ lọt vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử, vậy mà họ còn muốn “ra oai” đại diện cho cử tri cả nước được sao? Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, họ lu loa xuyên tạc rằng, hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án họ để loại họ ngay từ vòng đầu (?!)
Vậy, đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử chống đối, phá hoại là gì? Họ “tự ứng cử” với hy vọng hão huyền rằng, nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho họ thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử nói riêng và của Nhà nước nói chung; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử của nước ta. Khi không thực hiện được ý đồ của mình, họ quay ra bịa đặt, xuyên tạc để phá hoại bầu cử. Đến khi họ bị các cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật thì các thế lực thù địch lại rêu rao “những cá nhân này bị khởi tố, bắt tạm giam là do “tự ứng cử”(?!).
Tuy nhiên, dù dùng âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm đến mức nào, họ cũng không thể đánh lừa được cử tri. Bằng chứng là, dù đợt bầu cử nào họ cũng “khua chiêng gõ trống”, ra sức “tự ứng cử”, nhưng đều bị cử tri nơi cư trú thẳng thừng không chấp nhận.