Thứ Năm, 27 tháng 5, 2021

An ninh con người – mục tiêu, động lực bảo đảm sự ổn định chính trị xã hội của Việt Nam

Đại hội XIII của Đảng đã đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, bảo đảm an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, vấn đề an ninh con ngư­ời đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, chính trị gia, nhà nư­ớc, tổ chức quốc tế và khu vực. Các nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm về an ninh con người hay an ninh, an toàn của con ngư­ời được hiểu khá tương đồng với nhau. Ở phạm vi hẹp, an ninh con người hầu hết đề cập đến bảo vệ cá nhân khỏi những mối đe dọa bạo lực, cụ thể như: xung đột vũ trang, bất hòa dân tộc, nhà nước không hoạt động như mong đợi, buôn lậu nhỏ có vũ trang... Ở phạm vi rộng, an ninh con người đề cập đến giải quyết một dãy những nhu cầu con người và tự do được xác định để bảo đảm hạnh phúc của cá nhân, cũng như bảo vệ các cá nhân khỏi những mối đe dọa. Báo cáo phát triển con ngư­ời của Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) năm 1994 đề cập một cách khá toàn diện đến khái niệm “an ninh con ngư­ời”. Theo đó, an ninh con ngư­­ời thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản: (1) An toàn tr­ước các mối đe dọa triền miên như­ đói khát, bệnh tật, áp bức...; (2) Con người phải đ­ược bảo vệ trước những biến động bất thư­ờng và có hại đối với cuộc sống hằng ngày, bất kể con ngư­ời đang sống trong môi trư­ờng nào. Báo cáo chỉ rõ, an ninh con ngư­ời có bốn đặc trư­ng cơ bản: Thứ nhất, an ninh con ng­ười mang tính chất phổ biến. Thứ hai, những yếu tố tạo thành, tác động, ảnh hưởng đến an ninh con ngư­ời đều có mối tương liên, phụ thuộc, tác động chuyển hóa lẫn nhau. Thứ ba, các nguy cơ, yếu tố tác động tới an ninh con ngư­ời cần phải đư­ợc ngăn ngừa sớm, phòng hơn chống. Thứ tư, an ninh con ng­ười đang được hầu hết các nhà nước - dân tộc xác định con ng­ười vừa là mục tiêu vừa là động lực, con người luôn là trung tâm. An ninh thế giới, an ninh quốc gia, an ninh xã hội, an ninh cộng đồng và an ninh con ngư­ời đều có quan hệ, suy cho cùng cũng là vì con ngư­ời, do con ngư­ời và cho con người. Với ph­ương pháp tiếp cận trên về khái niệm, đặc trư­ng, nội hàm của an ninh con người, Liên hợp quốc đã đư­a ra bảy nhân tố cấu thành, tác động đến an ninh con người, bao gồm: (1) an ninh kinh tế; (2) an ninh lương thực; (3) an ninh sức khỏe; (4) an ninh môi trư­ờng; (5) an ninh cá nhân; (6) an ninh cộng đồng; (7) an ninh chính trị. Các nhân tố này chịu tác động, ảnh hưởng đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, môi trường, hoàn cảnh, ảnh h­ưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, cộng đồng người nhất định. Tóm lại, có thể hiểu, an ninh con người là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy cơ xâm hại, đe doạ… Nhờ việc bảo vệ như vậy, mỗi cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển”(1) . Với cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy; mục tiêu của an ninh con người là “tất cả vì con người”, “con người làm trung tâm trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia”. Theo đó, việc xây dựng tiêu chí, chỉ số đo lường về an ninh con người được dựa trên các nhân tố: an ninh kinh tế; an ninh sức khỏe; an ninh chính trị; an ninh môi trường; an ninh giáo dục... Những tiêu chí, chỉ số đo lường trong nội hàm an ninh con người luôn được bổ sung, mở rộng và cụ thể hóa tùy theo thời gian, môi trường, điều kiện, hoàn cảnh nhất định. “An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại; bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh”(2). Để bảo đảm an ninh con người, các nhà nước cũng như các xã hội phải tạo ra được môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự, văn hóa, sinh thái... lành mạnh, phát triển. Các cơ chế đó phải đảm bảo được tiêu chí bảo vệ con người tránh khỏi những xâm lược từ bên ngoài và những mối đe dọa từ bên trong bởi tổ hợp của các nhân tố tiêu cực như đói nghèo, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự mất an toàn trong cuộc sống, sự lo lắng trước những bất công, bạo lực… ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành; tình hình chính trị ổn định, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao... Kết quả ấy góp phần tạo lập nền tảng bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh con người. Tuy nhiên, trong điều kiện mới của quốc tế và khu vực, nước ta đang đứng trước hàng loạt các thách thức đặt ra cần giải quyết về an ninh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, xã hội. Song song với đó, những vấn đề liên quan đến trật tự an toàn xã hội cũng diễn biến phức tạp như: tội phạm và tệ nạn xã hội chưa giảm, xu hướng bạo lực gia tăng, xảy ra nhiều vụ thảm án nghiêm trọng; các mối đe dọa từ môi trường như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, rác thải, hóa chất tồn dư, gây nhiều bệnh tật cho con người và sức khỏe cộng động; vấn đề việc làm, nạn thất nghiệp, sự mất cân đối trong phát triển kinh tế, an toàn lao động, an toàn giao thông, an ninh cộng đồng, nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, nạn quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng, xung đột xã hội, dịch bệnh toàn cầu (COVID-19)… tất cả đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh xã hội, an ninh con người của nước ta. Tình hình trên cho thấy, vấn đề an ninh xã hội, an ninh con người đang được đặt ra là vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Nếu như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nêu ra một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nước ta là: “đảm bảo an ninh xã hội, an ninh con người gắn với an sinh xã hội”, thì Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh hơn nữa khi xác định: “An ninh con người là trung tâm để đảm bảo phát triển chính trị, xã hội”. Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh: Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, xác định bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân, do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân. Đồng chí cũng đã nêu những quan điểm mới trong nhận thức tư duy về an ninh quốc gia; những vấn đề mới về chủ trương, giải pháp trong bảo vệ an ninh quốc gia; một số nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhất là Báo cáo chính trị đã nêu những nhận thức mới, tư duy mới về an ninh quốc gia so với Đại hội XII, đó là “an ninh toàn cầu” và “an ninh con người”. Trong bối cảnh hiện nay, Đại hội XIII của Đảng đã xác định, những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hoà bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống; nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường… tiếp tục diễn biến phức tạp, an ninh có lúc chưa thật chủ động; tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa thật vững chắc, nhất là an ninh mạng, an ninh trong đầu tư nước ngoài; nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an ninh , an toàn con người chưa được quan tâm giải quyết triệt để; xử lý khiếu kiện đông người về đất đai và một số tình huống phức tạp nảy sinh ở một số địa bàn, cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng”. Do đó, vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống, như: An ninh mạng; khủng bố, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia; an ninh tài chính - tiền tệ; an ninh năng lượng; an ninh lương thực; an ninh môi trường (thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước...), dịch bệnh; thậm chí cũng cần phải bàn đến “an ninh chính quyền”, “an ninh chế độ”… Đây là, những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển (3). Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội XIII đưa ra tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2030, theo đó, xác định định hướng nhiệm vụ quốc phòng với tầm nhìn dài hạn, nên để thực hiện mục tiêu an ninh con người thì việc xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn lành mạnh là hàng đầu. Đảng ta đã khẳng định, nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Để thực hiện mục tiêu “an ninh con người”, Đảng ta không những khẳng định vị trí “an ninh con người” là trung tâm mà còn đưa ra hệ thống những nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới với những trọng tâm gắn với an ninh con người Việt Nam. Nghị quyết Đại hội XIII xác định: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”, do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân”. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 của Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ những nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước ta gắn với an ninh con người trong thời gian tới. Theo đó, trước hết, Đảng ta xác định an ninh con người gắn với độc lập chủ quyền của quốc gia - dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước” (4). Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra các “điểm nóng”. Kịp thời đấu tranh trấn áp hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, băng nhóm ma tuý…. Hai là, con người là trung tâm, nguồn lực của sự phát triển. Do đó, cần tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam. Phát huy tối đa nhân tố con người, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Ba là, bảo đảm an ninh con người cần phải tạo ra được ngày càng nhiều hơn những điều kiện vật chất và tinh thần để con người có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển. “Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại. Bảo đảm cung cấp và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế rong xã hội, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Nâng cao chất lượng dân số, tận dụng hiệu quả cơ hội thuận lợi từ cơ cấu dân số vàng; chủ động thích ứng với xu thế già hoá dân số. Tạo môi trường và điều kiện để phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, thống nhất, hội nhập và hiệu quả” (5). Bốn là, phát triển đất nước giàu mạnh với nhân tố con người là trung tâm. Đại hội XIII xác định: “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ”. Năm là,quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hoá, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tăng cường hoạt động đấu tranh, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Tăng cường hoạt động đấu tranh, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ XHCN, đến vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Do vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(2). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng. Khi quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Thứ nhất, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước được xây dựng trên cơ sở khoa học; có quan điểm, đường lối và chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội và hợp lòng dân, giữ vững được sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chính quyền cũng như trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo được lòng tin và sự ủng hộ của toàn dân. Đồng thời, xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thứ hai, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo và ban chỉ đạo 35 các cấp. Căn cứ đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị trong từng thời kỳ, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp phải đề ra được các biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận có hiệu quả; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần có sự chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành trong định hướng đấu tranh; có cơ chế cung cấp thông tin cho ban chỉ đạo 35 cấp trực thuộc Trung ương và các cơ quan thông tấn, báo chí; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội. Thứ ba, xây dựng lực lượng nòng cốt và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận. Phải tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, các phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí... Cần nghiên cứu tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên internet, các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao. Thứ tư, có cơ chế phối hợp chặt chẽ ở các cấp và phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận. Do tính chất hệ trọng và nhạy cảm của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phải coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp đấu tranh trên mặt trận này. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Cần công khai hóa các thông tin cần thiết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận trước hết trong cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng, để định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch.

Đẩy mạnh khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập

Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục và đào tạo; chú trọng nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo từ xa. Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị số 14/CT-TTg về đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030. Trong giai đoạn 2011-2020, công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Hội Khuyến học Việt Nam và các bộ, ngành tích cực triển khai tại 63 tỉnh, thành phố của cả nước. Dưới sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của cấp ủy, chính quyền các địa phương, sự hỗ trợ hiệu quả của các tổ chức, doanh nghiệp, sự vào cuộc, hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, ngành giáo dục và các cấp hội khuyến học đã phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong nhân dân, qua đó nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của chủ trương xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy việc học tập suốt đời cho mọi người. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục và đào tạo; chú trọng nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo từ xa, xây dựng các khóa học trực tuyến mở, đại chúng trong các cơ sở giáo dục đại học; đa dạng hóa nội dung giáo dục, đào tạo, đổi mới phương thức học tập, tăng cường sử dụng các phương tiện, công nghệ hiện đại hỗ trợ học tập, nhất là các phương tiện truyền thông xã hội trong tổ chức các hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên; nghiên cứu áp dụng các mô hình quản lý giáo dục theo hướng tiếp cận công nghệ, quản lý nhà trường theo hướng mở, kết nối, dùng chung hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu lớn. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, xây dựng tiêu chí đánh giá việc thực hiện xây dựng xã hội học tập của các địa phương; rà soát, hoàn thiện quy chế kiểm tra, công nhận kết quả học tập giáo dục thường xuyên; huy động đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong ngành giáo dục chủ động, tích cực tham gia xây dựng; khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên giáo dục mở và tham gia các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; nghiên cứu đổi mới mô hình trung tâm học tập cộng đồng hoạt động hiệu quả và tổ chức thí điểm, hoàn thiện, nhân rộng trong cả nước. Cùng với đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường công tác chỉ đạo và đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao tỷ lệ và chất lượng xóa mù chữ; chú trọng đối tượng là người mù chữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, nhất là phụ nữ, trẻ em gái dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc, bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; rà soát các quy định theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định chưa thực sự tạo sự liên thông giữa các trình độ đào tạo nhằm huy động, tạo điều kiện cho các loại hình cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy nghề nghiệp và tham gia giảng dạy văn hóa giáo dục phổ thông; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mới và các giải pháp phù hợp trong hoạt động dạy và học để chủ động thích ứng với tình hình dịch bệnh. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mô hình công dân học tập Hội Khuyến học Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí đánh giá, công nhận các mô hình học tập trong xã hội giai đoạn 2021-2030 phù hợp với thực tiễn triển khai ở các địa phương trong cả nước; nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mô hình công dân học tập và tổ chức thí điểm để triển khai nhân rộng trong cả nước. Hội xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng giai đoạn 2021-2030” theo hướng nâng cao chất lượng các mô hình học tập; tiếp tục củng cố và phát triển các tổ chức hội khuyến học ở các cộng đồng dân cư, trong các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và trong lực lượng vũ trang, tạo nên phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài, học tập suốt đời sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đa dạng hóa phương thức đào tạo dựa theo mô hình giáo dục mở, đa dạng, linh hoạt gắn với khung trình độ quốc gia và thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đẩy mạnh các hình thức đào tạo vừa làm, vừa học, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn để giúp người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, người khuyết tật, người nội trợ, người cao tuổi dễ dàng tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xây dựng và nhân rộng các mô hình đào tạo, đào tạo lại nghề nghiệp cho người lao động trong các doanh nghiệp, công ty; đào tạo nghề gắn với ngành nghề truyền thống, gắn với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nghề ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng cho công nhân, người lao động; tăng cường chuyển đổi số và đào tạo trực tuyến, chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động. Bên cạnh đó, Bộ chủ động rà soát, phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định có liên quan về giảng dạy văn hóa giáo dục phổ thông trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người học vừa được học nghề, vừa có cơ hội học tập liên thông nâng cao trình độ. Tham gia "Thành phố học tập toàn cầu" Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiện toàn bộ phận chỉ đạo xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030 các cấp ở địa phương theo hướng thiết thực, hiệu quả; chỉ đạo thực hiện việc đánh giá, xếp loại, công nhận các mô hình học tập trong xã hội một cách thiết thực, hiệu quả; chủ động đăng ký, lựa chọn và đề xuất các thành phố trực thuộc tham gia mạng lưới “Thành phố học tập toàn cầu” do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) điều hành. Đồng thời, tập trung chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên; rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng, đặc biệt là các trung tâm học tập cộng đồng ở các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Thủ tướng lưu ý các địa phương phải có chính sách thu hút, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào công tác xóa mù chữ; triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án hỗ trợ giáo dục cho người dân tộc thiểu số và miền núi sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chú trọng bồi dưỡng kiến thức và tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức theo dõi công tác dân tộc và công tác vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xây dựng, phát triển các mô hình học tập, ngành nghề đào tạo, các nghề đặc thù cần học tập suốt đời, đáp ứng nhu cầu xã hội và phù hợp quy hoạch của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2030./.

Khai mạc Phiên họp thứ 56 Ủy ban Thường vụ của Quốc hội

Sáng 27/5, tại Nhà Quốc hội, với sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Ủy ban Thường vụ của Quốc hội đã khai mạc Phiên họp thứ 56. Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội cho biết phiên họp lần này cho ý kiến vào hai nhóm vấn đề. Thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe và cho ý kiến về báo cáo sơ bộ về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Thứ hai, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe và cho ý kiến về ba báo cáo của Chính phủ, gồm: Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2019; báo cáo tài chính nhà nước năm 2019; báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020. Về báo cáo sơ bộ kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Chủ tịch Quốc hội đề nghị trên cơ sở báo cáo nhanh, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến sơ bộ, đặc biệt là đánh giá khái quát về kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử, cho ý kiến về những nội dung còn phải tiếp tục thực hiện, những yêu cầu đối với Hội đồng bầu cử quốc gia, đối với Văn phòng Hội đồng Bầu cử quốc gia để hoàn thiện chính thức báo cáo này và tổ chức các bước tiếp theo theo quy định của Luật Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Về báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2019, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ trên căn cứ là Báo cáo của Chính phủ, kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và việc tổ chức một số đoàn giám sát đi các địa phương; trên tinh thần tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, tất cả những vấn đề liên quan đến tài chính, ngân sách phải được xem xét và quyết định trên cơ sở quy định của pháp luật và Quốc hội mới là cấp có thẩm quyền thông qua hay không thông qua báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước. Do đó, trước khi trình ra Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải làm cho rõ tập trung vào những nội dung, gồm: liên quan đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu trong dự toán ngân sách nhà nước đã được Quốc hội thông qua; những tồn tại, hạn chế, yếu kém và những nội dung liên quan đến vấn đề lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước; những vấn đề liên quan đến việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước, bao gồm cả vấn đề xử lý các điều kiện tài chính, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc tiếp thu, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật; xử lý trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Về báo cáo tài chính nhà nước năm 2019, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nhiều lần cho ý kiến và kết luận, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tập trung phân tích sâu về việc thực hiện các kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này, đưa vấn đề về tài chính ngày càng đi vào nề nếp, thực chất. Về báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, bên cạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một nhiệm vụ quan trọng. Tại phiên họp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tập trung phân tích kết cấu, nội dung báo cáo này xem đúng quy định hay chưa, có bám sám chương trình thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký ban hành hay chưa; những kết quả cụ thể, những hạn chế, tồn tại cần khắc phục…; bảo đảm công tác này ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu cho ý kiến sâu vào nội dung cụ thể trong lĩnh vực lãng phí, tiết kiệm, những thành tích, ưu điểm căn bản và những tấm gương của các bộ, ngành, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện pháp luật, quy định, yêu cầu về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (cả về nhân lực, vật lực, tài lực); kết quả của thảo luận để hoàn thiện báo cáo trình Quốc hội, chắt lọc những vấn đề căn cơ nhất đưa vào báo cáo thẩm tra về tình hình kinh tế, xã hội cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày càng đi vào thực chất, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thực tế và quy định của pháp luật. Tiếp theo, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia trình bày báo cáo sơ bộ về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.

VỮNG TIN

 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM VỚI NHỮNG CHÍNH SÁCH CÓ THỂ THẤY NGAY ĐƯỢC ĐẦU NHIỆM KỲ


1. Thủ tướng phân cấp, phân quyền, giám sát cho các cấp rõ ràng qua đó quy trách nhiệm người đứng đầu. Nói đi đôi với làm và kiểm tra                                                                        2. Thủ tướng tập trung đầu tư vào các vùng trọng điểm và các cực tăng trưởng, phát triển trung tâm tài chính tại TP.HCM và Đà Nẵng để tranh thủ các dòng dịch chuyển vốn đầu tư sau đại dịch COVID-19 (2 thành phố này sẽ được nhiều ưu tiên trong thời gian tới).

3. Đẩy nhanh việc tiêm chủng vắc xin chống Covid-19 cho toàn dân và đưa ra đề xuất "hộ chiếu vắc xin" để phát triển du lịch.

4. Tăng cường và giải ngân nhanh vốn đầu tư công cho các dự án đường cao tốc Bắc - Nam, cảng biển, sân bay.

5. Chuyển kế hoạch thành lập các Đặc khu kinh tế đòi hỏi phải có các đơn vị hành chính riêng biệt sang việc thành lập các "tiểu đặc khu kinh tế" được tích hợp vào trong trung tâm của các đô thị. Các tiểu đặc khu này sẽ được hỗ trợ bởi các chính sách kinh tế thuận lợi để phát triển bứt phá.

6. Đề xuất thành lập các khu kinh tế lớn xung quanh các đô thị lớn như việc thành lập khu kinh tế rộng 32000 ha ở Long An, cạnh tp Hồ Chí Minh.

Sưu tầm

BHXH Việt Nam trao 2 tỷ đồng ủng hộ phòng chống dịch Covid-19

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 phức tạp, kéo dài, bên cạnh việc đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền lợi cho người tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), BHXH Việt Nam luôn theo dõi sát tình hình phòng, chống dịch Covid-19 để kịp thời có những đề xuất nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tối đa cho người tham gia trong việc thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT, BHTN. Ngay khi đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 bùng phát, BHXH Việt Nam đã kịp thời chỉ đạo: BHXH các tỉnh chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan đảm bảo tốt nhất quyền lợi KCB cho người tham gia BHYT; thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH tháng 5-6/2021 vào cùng một kỳ chi trả trong tháng cho người hưởng; đề xuất Bộ Y tế thống nhất về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng “VssID - Bảo hiểm xã hội số” trong KCB BHYT trên phạm vi toàn quốc, kể từ ngày 01/6/2021, đồng thời, tích hợp bổ sung các dịch vụ công của Ngành (cấp lại sổ BHXH/ thẻ BHYT; chuyển địa bàn hưởng lương hưu; đăng ký tài khoản giao dịch cho con,…) trên ứng dụng VssID;… nhằm giúp người dân không phải giao dịch trực tiếp, hạn chế đi lại trong các giao dịch với cơ quan BHXH, hoặc thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT; qua đó góp phần cùng cả hệ thống chính trị tích cực phòng chống dịch bệnh Covid-19 hiệu quả. Riêng trong năm 2020, bên cạnh các giải pháp linh hoạt như: Phối hợp với Sở Y tế và các cơ sở KCB trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người bệnh có thẻ BHYT được kịp thời KCB hoặc chuyển tuyến KCB BHYT khi nghi ngờ nhiễm virus Covid-19; hỗ trợ tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; thực hiện BHTN cho người lao động bị thất nghiệp do dịch bệnh gây ra…, ngành BHXH Việt Nam cũng đã trao tặng 2 tỷ đồng ủng hộ “Quỹ phòng chống dịch Covid-19” thông qua Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Qua đó góp phần làm sâu sắc thêm truyền thống tương thân tương ái của toàn thể CCVC ngành BHXH Việt Nam đối với đồng bào trong cả nước để cùng vượt qua khó khăn, dịch bệnh./.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

Phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) chính thức sử dụng trong các văn kiện Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001); theo đó, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”. Đại hội lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016) tiếp tục bổ sung, phát triển: “Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN”. Gần đây, các thế lực thù địch và những phần tử phản động càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một trong những luận điệu đó là phủ nhận cụm từ “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Họ cố tình "nhắm mắt" trước thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam. Cách đây mấy năm, một số người tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học”, “nhà dân chủ” đã phát biểu trên một số tờ báo nước ngoài, trang mạng xã hội rằng “KTTT" và XHCN khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm, hoàn toàn đối lập nhau”; “KTTT là phủ định của XHCN và ngược lại”... Gần đây những người này lên diễn đàn “góp ý” vào dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cũng vẫn luận điệu ấy nhưng lại “bổ sung thêm vấn đề mang tính lý luận” rằng "KTTT định hướng XHCN là khái niệm mơ hồ” vì thế họ “kiến nghị không nên để cụm từ KTTT định hướng XHCN trong văn kiện Đại hội XIII”. Không hiểu những người nói trên “nghiên cứu” những gì nhưng xem họ phát biểu thì những người có hiểu biết chút ít về kinh tế thì cũng cảm nhận được sự mơ hồ của họ. Bởi lẽ KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy KTTT làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. KTTT đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, tiến hóa theo thời gian cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, dưới tác động của cách mạng khoa học-kỹ thuật. Trong những năm gần đây, dựa theo những nét khác biệt và tương đồng, người ta đã chia các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành trên thế giới thành nhiều nhóm, tiêu biểu là mô hình thể chế KTTT tự do (Mỹ, Anh...); mô hình thể chế KTTT xã hội (Đức, Thụy Điển ...); mô hình thể chế KTTT nhà nước phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc...); mô hình thể chế KTTT định hướng XHCN như ở Việt Nam.... Tại dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục làm rõ thêm khái niệm KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển. Như vậy không thể coi “KTTT định hướng XHCN” là khái niệm mơ hồ. Cũng phải nói thêm rằng, trong thời gian gần đây ở các nước tư bản phát triển, dù ở mức độ khác nhau, nhưng KTTT đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của CNXH trong lòng chủ nghĩa tư bản. Do tính chất của thời đại, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, cũng có thể quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước này, sử dụng cả KTTT và cả kinh tế TBCN để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho CNXH. Thực tiễn đã chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam. Trong “bầu trời u ám” kinh tế thế giới năm 2020, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và tự hào. Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91% so với năm trước, Việt Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề thì đây là thành công lớn của Việt Nam. Lý giải nguyên nhân dẫn đến thành công này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có nguyên nhân quan trọng từ mô hình thể chế KTTT định hướng XHCN. Mô hình này tỏ rõ hiệu quả về khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường đồng bộ. Cùng với đó là sức chống chịu và thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với nguyên tắc quyền lực Nhà nước là tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ sức mạnh và có đủ thẩm quyền để ban hành quyết định nhanh chóng cho toàn hệ thống. Đây là một ưu thế rất lớn trong cuộc chiến chống dịch khi chính quyền Trung ương được điều hành bởi những người có năng lực và quyết đoán. Mô hình phân quyền của một số nước cho thấy việc ban hành các quyết định cần thiết đã bị chậm trễ hơn nhiều. Mà chậm một ngày thôi dịch bệnh đã có thể lây lan ra cộng đồng và vượt tầm kiểm soát. Chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là quan điểm nhất quán của Chính phủ Việt Nam. “Chúng ta đã thảo luận, cơ bản thống nhất: Chống dịch đồng bộ, quyết liệt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhưng phải thúc đẩy, giữ vững phát triển kinh tế, giữ ổn định xã hội, kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh”-Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu như vậy tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 1-2020. Có thể nói thể chế KTTT định hướng XHCN đã là cơ sở để Việt Nam hoàn thành mục tiêu “kép”, vừa phòng, chống dịch thành công, vừa tập trung nguồn lực phát triển kinh tế. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Theo BBC, hãng thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ngày 12-1-2021 đã khẳng định: “Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép, Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn. Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ thấp”. Nhờ phát triển KTTT định hướng XHCN mà nước ta từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỷ USD và GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo, chuyển sang thực hiện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tính chung 10 năm 2011-2020 đạt 39,0%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016-2020 là 5,8%/năm. Lạm phát cơ bản giảm từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 2,5% năm 2020. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 157,1 tỷ USD năm 2010 lên 543,9 tỷ USD năm 2020... Những nhận định đánh giá của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn quốc tế và các con số thống kê nói trên đã minh chứng cho hiệu quả của việc phát triển KTTT định hướng XHCN của Việt Nam và khẳng định “lời khuyên” của những người muốn Việt Nam đi chệch đường là không có cơ sở về thực tiễn. Thực ra không phải bây giờ mà từ nhiều năm trước, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị ở cả trong nước và nước ngoài thường xuyên chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta. Chúng vẫn xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế nào là nền KTTT định hướng XHCN; KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học. Có người còn “kiến nghị”: “Nếu bỏ, không có cái đuôi “định hướng XHCN” thì kinh tế đất nước sẽ phát triển nhanh hơn”... Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên CNXH; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác. Để đấu tranh có hiệu quả trước những luận điệu sai trái nói trên, một mặt chúng ta vẫn tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Trong đó cần ưu tiên xây dựng các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, ổn định, cụ thể, minh bạch gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Phát triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là các thị trường quyền sử dụng đất và thị trường khoa học-công nghệ. Mặt khác cũng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai lầm của các thế lực thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần có quan điểm vững vàng, kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách khoa học trong thời đại bùng nổ thông tin; kiên định, tỉnh táo, không chia sẻ, bình luận những loại thông tin xấu độc, xây dựng cho được “hệ miễn dịch” trước thông tin xấu độc. Đồng thời, cần chủ động hơn trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi loại thông tin này, như giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: "Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc". "Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát tài liệu sai trái...". Trong các văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định một trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là chế độ dân chủ thực sự

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp; đảm bảo dân chủ, đúng luật và an toàn. Cử tri cả nước nô nức tham gia “ngày hội non sông” với tỉ lệ đi bầu cử rất cao. Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu chung của cả nước là 99,63% (63/63 tỉnh, thành phố), nhiều địa phương đạt tỷ lệ bỏ phiếu cao đến 99,99%. Trong khi nhiều nước trên thế giới bày tỏ ngưỡng mộ đối với trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với đất nước, công tác chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ của Hội đồng Bầu cử quốc gia thì các thế lực thù địch lại đặt ra một câu hỏi lửng lơ rằng “Bỏ phiếu ở Việt Nam là nghĩa vụ hay trách nhiệm”. Mục đích của chúng là nhằm xuyên tạc bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự ở nước ta.


Bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện ở nhiều nội dung. Trong đó, nội dung nổi bật là vấn đề dân chủ. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từ đường lối, chủ trương cho đến hành động trên thực tế. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam” . Đây là một trong những luận điểm khái quát cốt lõi về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới là trách nhiệm của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta chỉ rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ và làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam lãnh đạo, thực hiện nhất nguyên về chính trị.

Trên thực tế, từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945) đến nay, nhân dân ta đã thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Nhà nước thực sự đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là chế độ dân chủ thực sự, không phải là dân chủ hình thức, cực đoan, vô chính phủ. Nó đối lập với chuyên quyền độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ thể hiện đầy đủ và sâu sắc tính pháp lý và tính nhân văn.

Xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã, đang và sẽ luôn được coi là sự nghiệp cách mạng lâu dài, là nhiệm vụ trọng yếu, phản ánh bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước. Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn xuyên tạc, hạ thấp giá trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

Chuyên gia Đức đánh giá cao vai trò của Quốc hội Việt Nam

Theo nhà báo Detlef-Diethard Pries của báo Nước Đức mới, những nỗ lực của Quốc hội Việt Nam trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân, trong đó có các dân tộc thiểu số, rất đáng được khen ngợi. "Quốc hội Việt Nam đã có đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước" là nhận định của tiến sỹ Gerhard Will, nguyên chuyên gia về Biển Đông của Quỹ Khoa học và Chính trị Đức (SWP), trong cuộc trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Đức. Theo tiến sỹ Gerhard Will, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV gắn liền với những thách thức lớn đối với nền kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam do sự bùng phát trên phạm vi toàn cầu của đại dịch COVID-19. Kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, có thể nói Việt Nam đã vượt qua những thách thức này tốt hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tiến sỹ Gerhard Will nhận định: "Nền kinh tế Việt Nam không rơi vào tình trạng suy thoái mà tiếp tục phát triển, đại dịch COVID-19 đã được không chế thành công, các đợt bùng phát mới nhanh chóng được dập tắt bằng các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt. Quốc hội Việt Nam đã hết sức ủng hộ và đồng hành cùng các biện pháp chống dịch hiệu quả của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Các đại biểu Quốc hội đã có những đóng góp quan trọng trong việc tuyên truyền cho nhân dân hiểu và thực hiện các biện pháp phòng chống đại dịch, do đó ngày càng được nhân dân đồng tình ủng hộ". Cùng quan điểm với tiến sỹ Gerhard Will, nhà báo kỳ cựu Detlef-Diethard Pries của báo Nước Đức mới (Neues Deutschland) chia sẻ rằng trong 5 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến hết sức ý nghĩa. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, Việt Nam đã có những đóng góp lớn cho các tổ chức quốc tế. Những nỗ lực của Quốc hội Việt Nam trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân, trong đó có các dân tộc thiểu số, cũng rất đáng được khen ngợi. Nhà báo Detlef-Diethard Pries chia sẻ: "Trên khắp thế giới, nhiều quốc gia đang phải đối mặt với những thách thức to lớn do hậu quả của đại dịch COVID-19. Nhưng ở Việt Nam, đại dịch đã được kiểm soát tốt và nhẹ hơn nhiều so với nhiều nước châu Âu. Tôi hy vọng rằng Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục có nhiều thành công hơn nữa trong cuộc chiến chống đại dịch. Tất nhiên, điều này cũng đòi hỏi tăng cường hợp tác quốc tế một cách chặt chẽ". Nói về vai trò của Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Đức trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, nhà báo Detlef-Diethard Pries cho rằng Quốc hội hai nước có thể tạo ra những xung lực mạnh mẽ cho sự phát triển quan hệ song phương. Hai bên cần tích cực tìm hiểu lẫn nhau, điều này sẽ giúp hai bên hiểu rõ hơn về tình hình và mục tiêu phát triển của mỗi nước, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực. Còn theo tiến sỹ Gerhard Will, sự hợp tác giữa Quốc hội hai nước chưa đạt được mức độ tương xứng như mối quan hệ kinh tế, xã hội Đức-Việt Nam. Đại dịch COVID-19 càng làm cho sự hợp tác này gặp nhiều khó khăn hơn. Tiến sỹ Gerhard Will cho biết: "Trong thực tế, dù khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và Đức rất xa nhau nhưng hàng chục năm qua, hai nước đã có mối quan hệ rất gắn bó. Rất nhiều người gốc Việt đang sinh sống và làm việc tại Đức, họ đã hòa nhập rất tốt vào xã hội sở tại và có những đóng góp ý nghĩa cho sự thịnh vượng chung của quê hương thứ hai của mình. Sự hợp tác giữa quốc hội hai nước chưa tương ứng với mối quan hệ kinh tế-xã hội chặt chẽ và đa dạng này. Trong Quốc hội Đức có rất nhiều nhóm nghị sỹ có gốc gác từ nhiều quốc gia khác nhau nhưng rất tiếc là hiện tại không có nhóm nghị sỹ gốc Việt nào để có thể kết nối và tăng cường hơn nữa mối quan hệ Đức-Việt". Nói về triển vọng thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới, tiến sỹ Gerhard Will cho rằng để có thể hợp tác sâu rộng hơn đòi hỏi hai bên phải sẵn sàng thảo luận và giải quyết các chủ đề mà hai bên còn có quan điểm khác biệt. Điều đó sẽ giúp hai bên hiểu nhau hơn và có thể hợp tác chặt chẽ, tin cậy hơn. Nhà báo Detlef-Diethard Pries thì cho rằng hai nước có thể hợp tác với nhau trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực y tế. Ông nói: "Sự hợp tác trong lĩnh vực y tế mang tính thời sự cao. Về lâu dài, theo tôi, các vấn đề về bảo vệ môi trường, khí hậu và tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo sẽ được đặt lên hàng đầu. Điều đó không có nghĩa là việc hợp tác kinh tế và thương mại truyền thống giảm đi. Việc nhiều người Việt Nam tìm được quê hương thứ hai của họ tại Đức tạo điều kiện để mối quan hệ Đức-Việt ngày càng phát triển trên mọi lĩnh vực. Điều này cũng có nghĩa là lòng tin giữa hai nước cần được khôi phục và củng cố càng nhanh càng tốt"./.

Lào đánh giá cao sự hỗ trợ của Đoàn chuyên gia y tế Việt Nam

Phó Thủ tướng Lào Khaykhamphithoune nhấn mạnh đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Ngày 23/5 tại trụ sở Bộ Y tế Lào, thủ đô Vientiane đã diễn ra lễ tổng kết, tri ân và trao giấy khen cho Đoàn chuyên gia y tế Việt Nam sau thời gian sang hỗ trợ nước bạn Lào trong cuộc chiến phòng chống COVID-19. Tham dự có Phó Thủ tướng, Trưởng Ban quốc gia phòng chống COVID-19 Lào, ông Kikeo Khaykhamphithoune; Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Bá Hùng; Bộ trưởng Y tế Lào Bounpheng Phoummalaysith, cùng đông đảo đại diện các bộ ban ngành của Lào. Tại buổi lễ, Trưởng Đoàn chuyên gia y tế Việt Nam, Tiến sỹ, bác sỹ, Vương Ánh Dương đã báo cáo với lãnh đạo Lào về kết quả làm việc thực tế tại tỉnh Champasak, tỉnh Savannakhet và thủ đô Vientiane kể từ ngày 11/5 đến nay. Theo đó cho biết trong những ngày qua, Đoàn đã có các chuyến khảo sát thực địa về công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại các làng, xã có tỷ lệ người mắc COVID-19 cao; cơ sở cách ly tập trung; đơn vị xét nghiệm; bệnh viện dã chiến; bệnh viện điều trị ca bệnh nhẹ; bệnh viện điều trị ca bệnh nặng; bệnh viện đa khoa tỉnh; trạm y tế xã và quầy thuốc tư nhân. Đoàn cũng trực tiếp tham gia hội chẩn, can thiệp điều trị một số ca bệnh COVID-19 nặng với bác sỹ của các bệnh viện; tổ chức hội thảo tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch; chẩn đoán điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn. Bên cạnh việc đánh giá cao công tác phòng dịch quyết liệt với sự tham gia đồng bộ của các hệ thống chính trị, các ban, ngành và chính quyền từ trung ương đến địa phương của Lào, Đoàn cũng thẳng thắn chỉ ra 5 nguy cơ lây nhiễm chéo và tái bùng phát dịch gồm nguy cơ các ca COVID-19 xâm nhập với các biến chủng mới có khả năng lây lan cao và thời gian ủ bệnh kéo dài như biến chủng B.1.1.7 hay B.1.615; Nguy cơ có thể từ các ca bệnh tại cộng đồng chưa truy vết, lấy mẫu và cách ly đầy đủ và chưa tuân thủ nghiêm ngặt quy định cách ly tại nhà; Nguy cơ lây nhiễm trong khu cách ly do điều kiện cơ sở vật chất hạn chế; Nguy cơ lây nhiễm chéo trong bệnh viện; Nguy cơ đến từ năng lực hạn chế của bạn Lào trong việc thu dung, quản lý điều trị ca bệnh. Để giúp công tác phòng chống và kiểm soát dịch bệnh của nước bạn Lào được hiệu quả hơn, Đoàn đề xuất 5 kiến nghị với Lãnh đạo Lào với từng đầu mục chi tiết về thời gian đáp ứng chống dịch, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, nâng cao năng suất xét nghiệm, bảo đảm phòng ngừa lây nhiễm chéo trong bệnh viện và từ bệnh viện ra bên ngoài và nâng cao năng lực thu dung, quản lý điều trị COVID-19. Phó Thủ tướng Kikeo Khaykhamphithoune đã bày tỏ đánh giá cao sự giúp đỡ kịp thời và hiệu quả của Đảng Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chỉ hỗ trợ tiền và các thiết bị y tế cho Lào, mà còn cử đoàn chuyên gia sang hỗ trợ Lào trong thời điểm nước này đang phải đối phó với đợt bùng phát COVID-19 nghiêm trọng. Phó Thủ tướng Kikeo Khaykhamphithoune nhấn mạnh đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước đang ngày càng tăng cường và không ngừng phát triển. Phó Thủ tướng Kikeo cũng nhiệt liệt khen ngợi những thành tích và kết quả mà Đoàn chuyên gia đã làm được trong việc hỗ trợ Lào trong hơn 10 ngày qua; khẳng định sự hỗ trợ của các chuyên gia y tế Việt Nam đã giúp Lào có thể ứng phó và kiểm soát tốt hơn sự lây lan của đại dịch và giúp từng bước giảm số bệnh nhân COVID-19 ở Lào. Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào, Phó Thủ tướng Kikeo chân thành cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam anh em đã luôn kề vai sát cánh, quan tâm và dành sự hỗ trợ hiệu quả chí nghĩa, chí tình cho Đảng, Nhà nước, nhân dân Lào; bày tỏ tin tưởng mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào sẽ tiếp tục được củng cố và ngày càng đơm hoa kết trái. Trong phát biểu của mình, Đại sứ Nguyễn Bá Hùng tin tưởng rằng những kết quả đạt được của Đoàn là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đưa ra các kiến nghị đối với Chính phủ Lào và Chính phủ Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc chiến chống “giặc COVID-19” giữa hai Nhà nước Việt Nam và Lào. Đại sứ cũng chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Lào đã hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho Đoàn chuyên gia y tế Việt Nam làm việc hiệu quả trong thời gian qua. Để ghi nhận đóng góp của Đoàn chuyên gia y tế Việt Nam, thay mặt Bộ Y tế, Bộ trưởng Y tế Lào Bounpheng Phoummalaysith đã trao giấy khen cho các thành viên Đoàn đã có công hỗ trợ Lào trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 những ngày qua. Liên quan tình hình dịch COVID-19 tại Lào, cùng ngày, Bộ Y tế Lào cho biết nước này ghi nhận 19 ca nhiễm mới trong 24 giờ qua, trong đó chỉ có 4 ca nhiễm cộng đồng, còn lại đều là các trường hợp nhập cảnh và được cách ly ngay. Mặc dù số ca nhiễm cộng đồng tiếp tục giảm, song số bản và phường bị đưa vào danh sách "vùng đỏ" tại thủ đô Vientiane tăng do phát hiện các ca nhiễm mới. Đến ngày 23/5, toàn thành phố Vientiane đã có 34 bản/phường thuộc 6 quận/huyện bị đưa vào danh sách "vùng đỏ", theo đó phong tỏa nghiêm ngặt và người dân không được ra khỏi nhà. Tới nay, Lào đã ghi nhận tổng cộng 1.801 ca mắc COVID-19, trong đó đã chữa khỏi cho 1.074 người và chỉ ghi nhận 2 trường hợp tử vong./.

Việt Nam lên án các cuộc tấn công vào lực lượng Gìn giữ hòa bình

Đại sứ Đặng Đình Quý kêu gọi các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an nhằm tăng cường an toàn và an ninh của nhân viên Gìn giữ hòa bình. Phóng viên TTXVN tại New York đưa tin, tại phiên thảo luận mở của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 24/5 về tăng cường an toàn an ninh cho lực lượng Gìn giữ hòa bình, Viêt Nam lên án các cuộc tấn công có chủ đích nhằm vào lực lượng này. Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc về Hoạt động Gìn giữ hòa bình Jean Pierre-Lacroix, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc về Hoạt động hỗ trợ Atul Khare và Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc về An toàn và an ninh Gilles Michaud đã phát biểu tại sự kiện. Các Phó Tổng Thư ký cho biết các phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc hiện đang hoạt động trong môi trường phức tạp, cùng với dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường, đặt ra nhiều thách thức và nguy cơ đối với nhân viên Gìn giữ hòa bình, với con số thiệt mạng và thương vong ở mức cao hàng năm, ảnh hưởng đến việc thực hiện sứ mệnh chung của phái bộ. Trong bối cảnh đó, Ban Thư ký Liên hợp quốc đã và đang nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện an toàn và an ninh cho nhân viên Gìn giữ hòa bình, như tăng cường xây dựng năng lực, bảo vệ căn cứ, thu thập thông tin, nâng cao khả năng nắm bắt tình hình, đào tạo quản lý khủng hoảng, năng lực và cơ sở chăm sóc y tế, sơ cứu, sử dụng công nghệ, chống thiết bị nổ tự chế và ứng phó với ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Bên cạnh những nỗ lực và thành tựu đã đạt được, các Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc cho rằng còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức cần giải quyết, đồng thời khẳng định Ban Thư ký Liên hợp quốc sẽ tiếp tục thúc đẩy các biện pháp bảo đảm, củng cố an toàn và an ninh của nhân viên Gìn giữ hòa bình. Các nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ghi nhận ý nghĩa của vấn đề an toàn và an ninh cho nhân viên Gìn giữ hòa bình, hoan nghênh sáng kiến Hành động vì Gìn giữ hòa bình (A4P) của Tổng Thư ký Liên hợp quốc, các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, trong đó có Nghị quyết 2518 (2020) của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, báo cáo của Ủy ban đặc biệt về hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (C34) trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, việc thành lập Nhóm bạn bè về an toàn và an ninh của nhân viên Gìn giữ hòa bình. Các nước cũng nhận định cần đẩy mạnh nỗ lực chung để ngăn ngừa các rủi ro đối với nhân viên Gìn giữ hòa bình và chia sẻ quan điểm về các biện pháp nhằm tăng cường an toàn và an ninh cho nhân viên Gìn giữ hòa bình, như nâng khả năng nắm bắt tình hình, thúc đẩy đào tạo, sử dụng công nghệ, bảo đảm thiết bị, nguồn lực, y tế, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Liên hợp quốc và nước nhận quân, hợp tác giữa Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực, xác định rõ ràng nhiệm vụ của các phái bộ, tôn trọng thỏa thuận về lực lượng giữa Liên hợp quốc và nước nhận quân. Nhiều nước cũng nhấn mạnh vai trò và sự cần thiết tăng cường sự tham gia của nữ nhân viên Gìn giữ hòa bình nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của phái bộ và nâng cao an toàn, an ninh nhân viên Gìn giữ hòa bình. Phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhận định lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc giúp giảm leo thang và chấm dứt xung đột, triển khai các thỏa thuận ngừng bắn, thỏa thuận chính trị, bảo vệ dân thường cũng như tạo điều kiện hỗ trợ nhân đạo, qua đó bảo đảm việc thực hiện sứ mệnh của phái bộ và trách nhiệm của Hội đồng Bảo an trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Tuy nhiên, nhân viên Gìn giữ hòa bình hiện phải đối mặt với nhiều hiểm nguy trước các cuộc tấn công, tai nạn khi thực hiện nhiệm vụ. Đại sứ kêu gọi các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an nhằm tăng cường an toàn và an ninh của nhân viên Gìn giữ hòa bình. Đại sứ đề nghị Liên hợp quốc và các quốc gia tăng cường nỗ lực bảo đảm sự sẵn sàng của nhân viên Gìn giữ hòa bình thông qua đào tạo trước và trong thời gian cử quân, báo cáo sau khi kết thúc nhiệm vụ, cập nhật chương trình đào tạo, đồng thời bảo đảm họ được trang bị đầy đủ cả về vật chất, thông tin và nguồn lực, được bảo vệ trước các rủi ro mới như COVID-19 và thiết bị nổ tự chế, dành sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt cho nữ nhân viên Gìn giữ hòa bình. Đại sứ cũng khẳng định Việt Nam luôn ủng hộ hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và hết sức coi trọng vấn đề bảo đảm an toàn và an ninh cho nhân viên Gìn giữ Hòa bình./.

Việt Nam thúc đẩy các nước cam kết bảo vệ thường dân trong xung đột

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 25/5 đã tổ chức Thảo luận mở trực tuyến thường niên về chủ đề Bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang với sự tham dự của Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các vấn đề nhân đạo Mark Lowcock và Chủ tịch Ủy ban Chữ thập Đỏ quốc tế (ICRC) Peter Maurer. Tại đây Việt Nam đã nhắc lại thông điệp cam kết thúc đẩy tuân thủ luật nhân đạo quốc tế và bảo vệ người dân ở các vùng có xung đột. Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Mark Lowcock bày tỏ quan ngại về nguy cơ thảm họa đói do xung đột gia tăng trở lại trong năm 2020, một phần nguyên nhân do mùa màng bị phá hủy, nông dân bị thiệt mạng, bị buộc phải rời khỏi nơi ở và nơi sản xuất, hàng hóa cứu trợ nhân đạo bị cản trở; tình trạng sử dụng vũ khí nổ trong các đô thị làm cho 90% người bị thương vong là dân thường; môi trường bị tàn phá, người dân gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn nước; chưa kể tình trạng tấn công, bắt cóc nhân viên y tế và phá hủy cơ sở y tế. Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc kêu gọi tìm kiếm giải pháp chính trị giải quyết xung đột, khẳng định nghĩa vụ của các bên xung đột phải tuân thủ luật nhân đạo, tạo điều kiện tiếp cận nhân đạo, lồng ghép vào quy định pháp luật và hướng dẫn tác chiến các nghĩa vụ theo luật nhân đạo, tránh sử dụng vũ khí nổ trong khu vực đông dân, theo dõi tác động của xung đột với người dân, đồng thời truy cứu trách nhiệm vi phạm luật nhân đạo. Trong khi đó, Chủ tịch ICRC Peter Maurer cho rằng cần tăng cường tham vấn và xây dựng lòng tin của người dân, bảo đảm tiếp cận vaccine COVID-19 công bằng, kể cả đến người dân sống trong khu vực do nhóm vũ trang kiểm soát, tăng cường bảo vệ cơ sở hạ tầng và dịch vụ y tế, nước sạch, vệ sinh. Đại diện phi chính phủ nhấn mạnh đến tác động của bom mìn và thiết bị nổ tự chế đối với dân thường ở Afghanistan. Các nước thành viên Hội đồng Bảo an cho rằng Hội đồng Bảo an và cộng đồng quốc tế cần nỗ lực hơn nữa, có hành động thiết thực nhằm giảm thương vong của dân thường, cần quan tâm xử lý các thách thức như nạn đói do xung đột gây ra, việc tấn công vào dịch vụ y tế, bạo lực tình dục và bạo lực trên cơ sở giới, suy thoái môi trường; kêu gọi tuân thủ luật nhân đạo và thực hiện đầy đủ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an, bao gồm Nghị quyết 2573 được Hội đồng Bảo an nhất trí thông qua trong tháng Việt Nam làm Chủ tịch. Đại sứ Phạm Hải Anh, Phó Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, bày tỏ quan ngại về tình trạng dân thường bị thương và thiệt mạng do xung đột vũ trang, trong đó có hàng trăm người dân bị thiệt mạng trong xung đột Israel - Plestine trong mấy tuần qua. Đại sứ Phạm Hải Anh nhấn mạnh các bên trong xung đột cần tuân thủ đầy đủ luật nhân đạo quốc tế, bảo đảm tiếp cận nhân đạo không bị cản trở; ủng hộ chia sẻ kinh nghiệm về lồng ghép nghĩa vụ pháp lý quốc tế vào quy định pháp luật và chính sách trong nước; khẳng định quốc gia có trách nhiệm hàng đầu trong bảo vệ dân thường; nhấn mạnh giải pháp hữu hiệu và lâu dài nhất là ngăn ngừa và chấm dứt xung đột, duy trì nền hòa bình bền vững, tăng cường sinh kế, khả năng chống chịu các thách thức như biến đổi khí hậu, dịch bệnh cho người dân. Đại sứ nhấn mạnh trong tháng 4/2021 khi Việt Nam làm Chủ tịch, Hội đồng Bảo an đã nhất trí thông qua Nghị quyết 2573 về bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu và dịch vụ thiết yếu với sự sống của người dân và đồng thuận thông qua Tuyên bố Chủ tịch về giải quyết hậu quả bom mìn và vật liệu nổ sót lại sau chiến tranh, từ đó kêu gọi Hội đồng Bảo an duy trì sự đoàn kết và thống nhất để gửi đi thông điệp mạnh mẽ về cam kết thúc đẩy tuân thủ luật nhân đạo quốc tế và bảo vệ thường dân và biến các cam kết đó thành hiện thực vì những người dân ở vùng có xung đột./.

Việt Nam lên án bạo lực, khủng bố nhằm vào dân thường tại Somalia

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 25/5 đã họp trực tiếp, công khai về tình hình Somalia và hoạt động của Phái bộ Hỗ trợ của Liên hợp quốc tại Somalia (UNSOM). Tại đây, Việt Nam đã lên án bạo lực, khủng bố nhằm vào dân thường tại Somalia. Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Trưởng Phái bộ hỗ trợ Liên hợp quốc tại Somalia (UNSOM) James Swan và Đại diện Đặc biệt của Chủ tịch Ủy ban Liên minh châu Phi (SRCC) tại Somalia, Trưởng Phái bộ Liên minh châu Phi tại Somalia (AMISOM) Francisco Madeira đã tham dự và báo cáo tại cuộc họp. Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Somalia Mohamed Abdirizak Mohamud cũng được mời phát biểu tại cuộc họp. Các báo cáo viên đánh giá tiến trình chính trị tại Somalia hiện vẫn gặp nhiều trở ngại. Việc Hạ viện Somalia thông qua Luật đặc biệt thay thế Thỏa thuận ngày 17/9/2020 trước đây đã làm cho tình hình càng thêm phức tạp, trong đó các cuộc đụng độ vũ trang, bạo lực diễn ra ngày 25/4 đã có nguy cơ bùng phát thành xung đột. Trước tình hình đó, ngày 1/5, Hạ viện Somalia đã quyết định hủy bỏ Luật đặc biệt nhằm hạ nhiệt sức ép trong nước và hướng tới các cuộc đối thoại mang tính xây dựng. Các báo cáo viên cũng ghi nhận nỗ lực của Thủ tướng Muhammed Hussein Roble trong việc tổ chức đối thoại giữa Chính phủ Liên bang và các bang thành viên. Các nước thành viên Hội đồng Bảo an phát biểu ủng hộ tiến trình bầu cử sắp tới tại Somalia và ghi nhận nỗ lực của Thủ tướng Somalia trong thúc đẩy đối thoại giải quyết những khác biệt về chính trị và hướng tới đồng thuận về thời gian và lộ trình bầu cử. Các nước cũng nêu quan ngại về các vụ tấn công khủng bố nhằm vào dân thường và lực lượng của Liên hợp quốc. Nhiều ý kiến chia sẻ với những khó khăn mà Somalia đang đối mặt, đặc biệt là tác động của đại dịch COVID-19 và biến đổi khí hậu. Các nước ủng hộ vai trò, hoạt động của UNSOM, AMISOM và các tổ chức khu vực trong hỗ trợ Chính phủ Somalia. Phái biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn đại diện Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh việc theo đuổi hòa bình, ổn định và phát triển ở Somalia cần được thực hiện theo một tiến trình chính trị do Somalia làm chủ và dẫn dắt trên cơ sở Thỏa thuận ngày 17/9/2020. Đại sứ bày tỏ quan ngại trước các cuộc đụng độ vũ trang ở thủ đô Mogadishu và cho rằng đụng độ vũ trang, chia rẽ chính trị là nguyên nhân trung tâm gây mất ổn định ở Somalia. Về tình hình an ninh, Đại diện Việt Nam lên án mạnh mẽ bạo lực và các cuộc tấn công khủng bố gần đây của lực lượng Al-Shabaab và đề nghị Chính phủ Somalia nỗ lực triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh cho dân thường và đẩy mạnh điều tra các vụ vi phạm, giết hại nhằm vào dân thường, đặc biệt là trẻ em, và đưa thủ phạm ra trước pháp luật. Về tình hình kinh tế, xã hội, Đại sứ chia sẻ với những khó khăn của Somalia trước sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nước ở nhiều khu vực ở Somalia và cho rằng các cuộc khủng hoảng do thiên tai là mối đe dọa và thách thức lâu dài đối với Somalia, làm cho tình hình ngày càng thêm tồi tệ và tác động tiêu cực đến đại bộ phận dân cư vốn đã bị tổn thương do nghèo đói và xung đột. Đại sứ đề nghị Liên hợp quốc, các tổ chức khu vực và quốc tế tăng cường hỗ trợ Somalia thông qua các chương trình nhân đạo và các dự án phát triển kinh tế. Đại sứ nhắc lại sự ủng hộ của Việt Nam đối với Somalia trong các nỗ lực hướng đến mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển. Phái bộ Hỗ trợ của Liên hợp quốc tại Somalia (UNSOM) được thành lập năm 2013, có nhiệm vụ hỗ trợ tiến trình hòa bình và hòa giải cho Chính phủ Liên bang Somalia. Từ năm 2013 đến nay, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc duy trì họp định kỳ 3 tháng/lần để nghe báo cáo về hoạt động của Phái bộ./.

Khẩn trương chấn chỉnh tình trạng văn nghệ sĩ tham gia quảng cáo trên mạng xã hội sai quy định

Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành công văn số 546-CV/BTGTU gửi các Hội Văn học nghệ thuật thành phố nhằm chấn chỉnh tình trạng một số văn nghệ sĩ tham gia quảng cáo trên các trang mạng xã hội sai quy định pháp luật. Công văn nêu rõ: Trong thời gian qua trên các trang thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội phản ảnh về một số văn nghệ sĩ Thành phố Hồ Chí Minh có tham gia bằng nhiều hình thức như đăng bài viết, video clip trên mạng xã hội trực tiếp giới thiệu quảng cáo về hiệu quả sử dụng một số mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm, tiền ảo… không đúng với quy định pháp luật, làm ảnh hưởng sức khoẻ, tính mạng, tài sản, niềm tin của người tiêu dùng và hình ảnh của các nghệ sĩ. Nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo không đúng quy định, Ban Tuyên giáo Thành ủy đề nghị lãnh đạo các hội văn học nghệ thuật thành phố trong thời gian tới cần kiểm tra, chấn chỉnh tình trạng một số hội viên tham quảng cáo các sản phẩm không đúng với chất lượng sản phẩm; vận động hội viên không tham gia quảng cáo nếu nội dung quảng cáo sai lệnh, không đúng chất lượng sản phẩm hàng hoá, gây thiệt hại và ảnh hưởng sức khoẻ người tiêu dùng. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo qua việc cập nhật thường xuyên các quy định của pháp luật để đăng trên các trang thông tin điện tử, trang website của các hội văn học nghệ thuật thành phố để tuyên truyền cho các hội viên. Ban Tuyên giáo Thành ủy đề nghị, trong sinh hoạt nội bộ định kỳ, Ban Chấp hành các hội lưu ý nhắc nhở hội viên khi tham gia hoạt động quảng cáo cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, tuyệt đối không tham gia quảng cáo các sản phẩm chưa được phép lưu hành (hàng tiêu dùng, các sản phẩm thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm ngoại nhập, tiền ảo…), hay sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh không đúng với chất lượng sản phẩm gây hiểu lầm cho người tiêu dùng./.

Lột mặt nạ

Nhâm nhi ly cà phê sáng cuối tuần, tôi kể cho mấy người bạn thân về thông tin từng thu hút sự chú ý của dư luận... Đó là một quốc gia phát triển đã cho ra đời loại mặt nạ làm bằng silicon siêu thực tới mức rất khó có thể phân biệt chúng với khuôn mặt người thật. Sau khi hoàn thành, các nhà nghiên cứu đã làm thử nghiệm đối với 200 người nhìn vào các bức hình xem họ có phân biệt được chính xác khuôn mặt nào có đeo mặt nạ hay không. Kết quả, có tới 1/5 số người không nhận diện được đâu là mặt người thật và đâu là mặt người đeo mặt nạ. Nghe tôi nói vậy, một người bạn bảo rằng, cậu ta cũng đã trực tiếp được xem chiếc mặt nạ siêu thực trong một cuộc triển lãm. Loại mặt nạ siêu thực quả là có làm “rối mắt” cho một số người xem, nhưng nếu nhìn kỹ, nhìn lâu thì trước sau cũng nhận ra. Còn một loại mặt nạ khác đáng quan ngại hơn, các cậu có biết không? Nhìn mấy đứa chúng tôi người nhíu mày, tìm câu trả lời mà chưa ra, cậu ta cười khểnh: “Tưởng các ông học cao hiểu rộng, chuyện cổ kim đông tây hầu như cái gì cũng biết, cũng phán, thế mà có loại mỗi loại mặt nạ đó mà không nhận diện được sao?”. Một người bạn bực mình gặng hỏi “Chỗ gì, ông nói ngay đi kẻo chúng tôi không bao giờ ngồi với ông hàn huyên, trò chuyện nữa đấy!”. Tôi thể hiện sự điềm tĩnh mà không khỏi hoài nghi: “Lạ nhỉ! Những lần trước bạn là người thẳng như ruột ngựa, xởi lởi, chẳng giấu diếm chuyện gì với bạn bè. Bỗng nhiên hôm nay lại cố ra vẻ mình là “VIP” nói năng khách khí, dè chừng. Mỗi câu trả lời mà ậm ừ, úp mở mãi làm gì?”. Lúc này, cậu ta mới cười khì khì: “Đấy, tớ đang đeo loại mặt nạ ấy đấy, các cậu nhận ra chưa? Nếu chưa, thì tớ giải đáp ngay nhé”. - “Mặt nạ”, nghĩa đen là một vật thể thường được phủ hay đeo vào mặt người nhằm hóa trang trong các hoạt động tế lễ, trình diễn, giải trí, hay trong các hoạt động nhạy cảm, nguy hiểm mà người ta muốn giấu mặt thật. Còn “mặt nạ” theo nguyên gốc từ tiếng Ả rập “markharat” có nghĩa là “trêu chọc, nói đùa”. Thì đấy, dưới cái vỏ bọc “markharat”, tớ vừa cố tình trêu chọc các bạn mà thực chất thể hiện sự giả dối trong hành xử để đánh lạc hướng mọi người. Tất nhiên, cái “mặt nạ” tớ vừa thể hiện thô mộc, chân chất nên gây khó chịu cho các bạn, mong mọi người đại xá nhé! Bạn dừng giây lát rồi giọng nghiêm túc: - Nhưng nếu các bạn lưu tâm để ý, một bộ phận quan chức thời nay - to có, vừa vừa có, nhỏ có - lúc nào họ cũng tinh vi “đeo” chiếc mặt nạ vô hình trên mặt mình mà rất ít người trông thấy bằng con mắt thông thường. Những dạng người đeo mặt nạ này thực chất là ngụy trang nhân cách, bên ngoài thì “tô son trát phấn” bằng những lời nói có cánh, ý tứ hay, diễn thuyết giỏi, hùng biện tốt. Khi trên đăng đàn, ở chốn đám đông, đứng trước tập thể thì thể hiện ta là người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người”, chuyện gì họ cũng có thể nói như “rót mật vào tai” người nghe; nhưng thực chất bản tính lại nhỏ nhen, ích kỷ, làm cái gì cũng chỉ muốn mang lợi lộc cho mình trước hết, trên hết, mà không hoặc ít nghĩ đến lợi ích của người khác, của tập thể, cộng đồng. Đặc điểm chung của những người đeo mặt nạ siêu tinh vi này thường nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo; giọng điệu thì tươi tắn, hào hiệp, nhân nghĩa nhưng thực tế đó chỉ là tấm bình phong để che đậy, giấu diếm bản chất tham danh háo lợi của mình. Chính vì biết cách đeo mặt nạ đến mức “siêu tàng hình” mà một bộ phận quan chức đã biết cách “lòe mắt” thiên hạ để leo lên hết tầng này đến nấc khác, chễm chệ ngồi trên những chiếc “ghế ngon” để thụ lợi hưởng lộc mà nhiều người không hay biết. Thế nhưng, theo quy luật, “cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”, “phấn son” được tô điểm trên những khuôn mặt ấy sẽ dần phôi pha, mai một. Và bản chất của những người ngụy trang nhân cách bằng cái mặt nạ siêu tinh vi trước sau rồi cũng sẽ bị “lột trần” bởi sự quang minh chính đại của nhân tâm, đạo lý và luật pháp là “con mắt thần” bóc mẽ chân tướng họ./.

Hội đồng Bảo an LHQ họp về tình hình Trung Đông

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 27/05 tổ chức cuộc họp định kỳ về tình hình Trung Đông, bao gồm vấn đề Palestine. Đại sứ, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ Đặng Đình Quý. Các nước thành viên Hội đồng bảo an hoan nghênh việc các bên tuyên bố ngừng bắn sau 11 ngày giao tranh căng thẳng, tuy nhiên, bày tỏ quan ngại về khả năng duy trì lệnh ngừng bắn này, kêu gọi các bên tiếp tục kiềm chế tối đa, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình. Các nước cũng đánh giá cao vai trò của các nước, các tổ chức trong và ngoài khu vực đã tích cực thúc đẩy các bên giảm leo thang, đạt được thoả thuận ngừng bắn. Về vấn đề nhân đạo, các nước thành viên HĐBA bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình hiện nay tại Gaza sau xung đột, đặc biệt là tình trạng các công trình hạ tầng thiết yếu bị phá huỷ, khiến cuộc sống của người dân đặc biệt khó khăn. Nhiều ý kiến kêu gọi việc tăng cường hỗ trợ cho các hoạt động nhân đạo và tái thiết. Một số nước công bố các khoản viện trợ nhân đạo cho người dân Palestine ngay trong dịp này. Phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ Đặng Đình Quý hoan nghênh tuyên bố ngừng bắn giữa các bên và đánh giá cao những nỗ lực mang tính xây dựng của các nước trong khu vực, LHQ, Nhóm Bộ tứ Trung Đông và các đối tác quốc tế khác trong vấn đề này. Đại sứ nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ lệnh ngừng bắn và tìm kiếm một giải pháp lâu dài, bền vững cho cuộc xung đột, trong đó tất cả các bên cần kiềm chế tối đa và có các bước cụ thể để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột. Đại diện Việt Nam kêu gọi Israel ngừng tất cả các hoạt động định cư ở Bờ Tây, bao gồm cả Đông Jerusalem, dừng việc phá dỡ nhà cửa của người Palestine và trục xuất người dân Palestine. Đại sứ cũng kêu gọi các bên liên quan thúc đẩy nối lại các cuộc đàm phán về vấn đề Palestine, khẳng định giải pháp duy nhất là giải pháp hai nhà nước, trong đó thành lập Nhà nước Palestine với Đông Jerusalem là thủ đô, cùng tồn tại hòa bình cùng với Nhà nước Israel, với đường biên giới an toàn, được quốc tế công nhận trên cơ sở ranh giới trước năm 1967 và đàm phán thoả thuận, phù hợp với luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ và các nghị quyết liên quan của LHQ. Đại sứ Đặng Đình Quý nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo đảm cung cấp nhân đạo không bị cản trở tại Gaza, hoan nghênh Cơ quan cứu trợ và việc làm cho người tị nạn Palestine của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế trong việc cứu trợ người Palestine ở Gaza trong và sau xung đột, đồng thời tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế tăng cường hỗ trợ cho các hoạt động nhân đạo và tái thiết ở Gaza./.

Tổng thống Syria Bashar al-Assad tái đắc cử nhiệm kỳ thứ tư

Tổng thống Bashar al-Assad đã trúng cử Tổng thống Syria nhiệm kỳ thứ 4 với 95,1% số phiếu ủng hộ trong cuộc bầu cử diễn ra ngày 26/5. Phát biểu tại hội nghị trực tuyến ngày 27/5, Chủ tịch Quốc hội Syria Hammouda Sabbagh thông báo Tổng thống Bashar al-Assad đã trúng cử nhiệm kỳ thứ 4 với 95,1% số phiếu ủng hộ trong cuộc bầu cử diễn ra ngày 26/5. Theo Chủ tịch Quốc hội Sabbagh, đã có 14,2 triệu cử tri Syria đi bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 76,64. Kết quả bầu cử chính thức cũng cho biết 2 ứng cử viên tổng thống khác là cựu Thứ trưởng Nội các Abdallah Saloum Abdallah và ông Mahmoud Ahmed Marei - lãnh đạo một đảng đối lập nhỏ theo đường lối ôn hòa tại Syria, nhận được tương ứng là 1,5% và 3,3% số phiếu bầu. Đây là cuộc bầu cử tổng thống thứ hai tại Syria kể từ khi quốc gia Trung Đông này rơi vào xung đột năm 2011. Tại cuộc bầu cử trước đó diễn ra năm 2014, Tổng thống al-Assad nhận được 88% số phiếu bầu của cử tri Syria. Ở cuộc bầu cử năm nay, khẩu hiệu tranh cử của ông al-Assad là "Hy vọng thông qua công việc." Mục tiêu của nhà lãnh đạo 55 tuổi này là thông qua công việc để từng bước xây dựng lại đất nước Syria vốn đang đứng trước nhiều khó khăn thử thách sau nhiều năm chịu cảnh xung đột, trước mắt là cuộc chiến chống đại dịch COVID-19./.

Về mối quan hệ giữa học tập, làm theo và nêu gương trong thực hiện Kết luận 01 của Bộ Chính trị khóa XIII,

Về nhận thức, cần thấy rõ mối quan hệ hữa cơ giữa học tập, làm theo và nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và hành động, giữa học và hành, giữa lời nói và việc làm, thể hiện trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu từ Trung ương đến cơ sở. Cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không là việc học tập chính trị đơn thuần, mà là nghiên cứu, quán triệt hệ thống các quan điểm lý luận, tư tưởng nền tảng của Đảng, vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh để vào giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quán triệt quan điểm học đi đôi với hành, học tập để vận dụng và làm theo. Học tập không phải là tầm chương, trích cú. Làm theo không là giáo điều, máy móc, nguyên xi, bắt chước mà là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Tổng kết thực tiễn phong phú của công cuộc đổi mới kết hợp với nghiên cứu lý luận để phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm theo tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh một cách thiết thực nhất trong trong giai đoạn hiện nay. Thực sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động nói đi đôi với làm, trong đó nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng, vừa là giải pháp để tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với công việc và mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

COI TRỌNG TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG

Coi trọng trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “muốn người ta theo mình thì phải làm gương trước” và “một tấm gương sáng bằng hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu gương vừa là trách nhiệm vừa là giải pháp quan trọng để vận động quần chúng nhân dân theo Đảng làm cách mạng. Nêu gương là giải pháp để hướng dẫn mọi người thực hiện các nhiệm vụ đặt ra. Nêu gương tạo nên mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa cán bộ với nhân viên, đảng viên với quần chúng và qua đó góp phần xây dựng Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương trong sạch, vững mạnh. Vai trò của nêu gương rất lớn. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, như Kết luận 01 của Bộ Chính trị đã nêu ra. Đảng ta đã xác định nêu gương là một trong 5 phương thức lãnh đạo của Đảng. Nêu gương là thực hiện vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” trong Đảng và từ trong Đảng lan tỏa ra toàn xã hội. Tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Quy định 08 xác định nội dung nêu gương gồm 8 điểm về “xây” và 8 điểm về “chống”, trong đó nhấn mạnh các mối quan hệ với tổ chức, với mình và với nhân dân. Thực hiện Quy định 08 về trách nhiệm nêu gương là yêu cầu chung đối với tất cả cán bộ, đảng viên, công chức trong mọi công việc, trong các mối quan hệ, trong đó có việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện Kết luận số 01, về nội dung nêu gương cần nhấn mạnh thêm một số điểm sau: Một là, cần đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong học tập và làm theo Bác. Hơn ở đâu hết, trong việc nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu là hết sức quan trọng để cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân noi theo. Nội dung nêu gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã được Kết luận 01 nêu khá cụ thể, bao gồm: “…phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể; luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, toàn diện, công tâm, công khai, minh bạch, chính xác, chống cục bộ địa phương, bè phái trong công tác cán bộ. Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh”. Hai là, nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần cụ thể, thiết thực, thể hiện trong các công việc sau: Cán bộ lãnh đạo cần nêu gương đầu, thể hiện trong thái độ của mình đối với việc học tập và thực hiện Chỉ thị, Kết luận của Trung ương về học tập và làm theo Bác. Cùng một buổi học tập chuyên đề, sinh hoạt tư tưởng về thực hiện Chỉ thị, cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thực sự nghiêm túc, thực sự quan tâm, thực sự gương mẫu sẽ có tác dụng rất tích cực đến chất lượng học tập cũng như sinh hoạt chuyên đề và ngược lại. Cán bộ, đảng viên nêu gương, làm trước trong đăng ký và thực hiện các nội dung đăng ký làm theo Bác. Một công việc cụ thể được làm trước bởi cán bộ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên vì lợi ích chung không chỉ mang lại lợi ích lớn cho tập thể, cơ quan, đơn vị, mà còn tác dụng kích thích, thúc đẩy, lan tỏa trong tập thể, góp phần hình thành các phong trào tự giác học tập và làm theo Bác. Nội dung cụ thể của nêu gương cần thực hiện theo Quy định 08, bao gồm 8 điểm trong xây và 8 điểm trong chống. Ba là, trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần chú trọng đến xây bao gồm: Đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu, nắm vững hệ thống các nguyên tắc cơ bản và kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia - dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và nhân dân. Lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Đối với công việc được giao là thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả; thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể. Chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả công tác cải cách hành chính, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ. Sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi được phân công. Tâm huyết, tận tuỵ với công việc. Tích cực giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp, bức xúc, tồn đọng kéo dài; chủ động, kịp thời xử lý có hiệu quả các tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ trong địa phương, lĩnh vực mình phụ trách. Tích cực thực hiện quy định về phân cấp, phân quyền và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chủ động thực hiện chủ trương thí điểm của Trung ương; khuyến khích mô hình, cách làm mới, hiệu quả. Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; tìm tòi, đổi mới, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ kế cận. Chủ động, tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài, khát khao cống hiến. Bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với bản thân, cần nêu gương trong không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành. Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công đổ lỗi. Dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm. Chủ động xin từ chức khi thấy mình không còn đủ điều kiện, năng lực, uy tín để thực hiện nhiệm vụ.

LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Việc làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là thực hiện học đi đôi với hành trong tư tưởng của Người. Cần có nội dung, phương thức, phương pháp phù hợp để việc làm theo có hiệu quả thiết thực, được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh căn bệnh hình thức. Chủ trương học tập gắn liền với làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có từ rất sớm và đã góp phần làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Ngay sau khi Bác mất (ngày 2/9/1969), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra khẩu hiệu hành động rất sát thực là “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Khẩu hiệu đó đã lôi cuốn sự tham gia của tất cả các tầng lớp trong xã hội, trong các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Thi đua hai tốt”…, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến “chống Mỹ, cứu nước”; giúp đất nước vượt qua những khó khăn, những tình huống ngặt nghèo trước đổi mới; thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 35 năm qua… Trong việc học và làm theo Bác, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị khóa X lần đầu tiên yêu cầu về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực tiễn, kết quả thực hiện cuộc vận động đã khẳng định yêu cầu và sự cần thiết phải gắn bó giữa học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII đã thống nhất và nhấn mạnh thêm yêu cầu phải gắn bó giữa học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhắc lại bài học về việc làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua, để thấy rõ vai trò to lớn và trách nhiệm tổ chức thực hiện có hiệu quả việc làm theo Bác trong giai đoạn mới. Nội dung làm theo đầu tiên và cơ bản nhất của tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể chính trị ở các cấp là gắn học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị; trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xây dựng chương trình hành động cụ thể, sát hợp thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở cơ quan, đơn vị địa phương, trong đó, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nguồn lực, động lực quan trọng để thực hiện. Quan tâm đến việc thực hiện có hiệu quả các khâu đột phá chiến lược, tập trung giải quyết 6 nhóm vấn đề trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII; từng địa phương cơ quan đơn vị phát hiện, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc trong thực tiễn để thúc đẩy nhanh hơn việc thực hiện Nghị quyết. Trong tổ chức thực hiện, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần đồng bộ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Quan tâm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán, xử lý nghiêm những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, liên tục, không ngừng, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân có hành vi không lành mạnh nào. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần phải gắn với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm cụ thể, không thể chung chung. Nội dung học tập có thể chung, giống nhau, nhưng liên hệ và việc làm cần phải cụ thể gắn với nhiệm vụ của từng người. Cấp ủy, tổ chức đảng phải hướng dẫn và tổ chức đăng ký làm theo Bác của mỗi người, phù hợp với công việc của họ, có kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng kịp thời… Cùng với tăng cường giáo dục nhận thức về những giá trị đạo đức, tinh thần, văn hóa cho cán bộ, đảng viên, công chức, cần nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn những tài liệu phù hợp để vừa tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vừa hướng dẫn việc làm theo, cung cấp tài liệu cho các chi bộ triển khai thực hiện từ cơ sở và đẩy mạnh tuyên truyền trong xã hội…