Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021
Văn hóa phê bình
Tự phê bình và phê bình là vấn đề rất quan trọng trong nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Vậy phê bình như thế nào là “phê bình có văn hóa”?
Ông Q. là cán bộ lãnh đạo cấp phó của một cơ quan thuộc khối tư tưởng - văn hóa của tỉnh L. Về năng lực, ông thuộc loại trung bình. Còn về tính cách cá nhân, ông thuộc loại kiêu căng, chẳng coi cấp trên ra gì và thường xuyên quát nạt cấp dưới. Đặc biệt, ông rất công thần, luôn khoe mình xuất thân từ một gia đình giàu truyền thống cách mạng, cha mẹ đều nguyên là những cán bộ cao cấp của Đảng. Con người ông Q. là như thế, cho nên đối với cấp trên, ông không được tín nhiệm, còn đối với cấp dưới, ông không được nể trọng. Chính vì vậy mà đã nhiều năm nay, ông chỉ ngồi ở cái ghế cấp phó. Mới đây, đồng chí thủ trưởng cơ quan ông được đề bạt lên một chức vụ cao hơn. Ông hy vọng mình sẽ là người thay thế. Nhưng cấp trên không đề bạt ông mà lại đưa một đồng chí còn trẻ ở nơi khác về.
Không được toại nguyện, ông Q. sinh ra bất mãn. Ông phê phán tất cả đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh từ Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Bí thư Thường trực đến các đồng chí ủy viên khác trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đặc biệt, đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo là đối tượng bị ông phê phán mạnh nhất, bởi vì ông cho rằng, đồng chí này là vật chướng ngại chính trên con đường phát triển của mình. Thế rồi ông viết đơn, thư tố cáo sai sự thật về họ và gửi đi khắp nơi. Trong các đơn, thư tố cáo đó, ông nói rằng cán bộ lãnh đạo của tỉnh là một nhóm lợi ích, chuyên tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền. Trong công tác cán bộ, họ chỉ dựa vào việc thích hay không thích, yêu hay ghét và người cán bộ đó có biết vâng lời hay không, hoặc hối lộ họ bao nhiêu... Ông còn bịa ra đủ các thứ tội mà họ không có.
Tự phê bình và phê bình là vấn đề rất quan trọng trong nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Đảng yêu cầu mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, trong đó, phải đặc biệt chú ý tự phê bình từ trên xuống và phê bình từ dưới lên. Đảng cũng nhắc nhở: phê bình không phải là sỉ vả, xúc phạm danh dự của nhau mà là sự thể hiện tình cảm đồng chí trong sáng, chân thành. Phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và để đoàn kết tốt hơn. Phê bình phải mang tính khách quan, vô tư, có lý, có tình, cổ vũ ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm. Phê bình phải trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, chống thổi phồng hoặc bóp méo sự thật; phải biết phân tích ưu điểm, khuyết điểm của đồng chí mình theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể... Chỉ có phê bình như thế mới là phê bình chân chính và mới có tác dụng. Ngược lại, chẳng những phản tác dụng mà còn làm cho người bị phê bình khó tiếp thu và bản thân người phê bình cũng sẽ trở nên tầm thường. Tinh thần cơ bản này của tự phê bình và phê bình đã được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
Chắc chắn ông Q. thừa hiểu những điều nêu trên. Song, có lẽ “cái tôi” trong ông quá lớn nên làm ông mất khôn. Cách làm của ông sao có thể gọi là “phê bình có văn hóa” được. Đó chỉ là sự chửi bới, lăng mạ. Những người có văn hóa không bao giờ làm như vậy./.
Bản lĩnh người đứng đầu
Một lần tôi nghe được hai vị cao tuổi đàm đạo. Qua cách nói chuyện, hình như hai vị là công chức hay quan chức đã nghỉ hưu, và có lẽ đã có lúc họ làm việc trong cùng một ngành nghề gì đó (?). Một ông da ngăm đen và một ông da trắng trẻo. Ông da ngăm đen nói:
- Ông có nhớ cậu T không? Bây giờ cậu ấy là người đứng đầu một cơ quan lớn rồi đấy! Cậu này rất bản lĩnh!
Ông da trắng trẻo trả lời:
- Biết rồi, cậu ấy được lắm! Nhưng mà nói cho đúng thì ai chẳng có bản lĩnh, phàm đã là con người. Có chăng là bản lĩnh gì và bản lĩnh như thế nào. Tóm lại, có rất nhiều loại bản lĩnh khác nhau. Cái ta cần là loại bản lĩnh nào mà thôi.
Ông da ngăm đen vội đáp:
Ông nói đúng, cậu T có bản lĩnh tốt, bản lĩnh của người lãnh đạo xuất sắc, người đứng đầu cơ quan tuyệt vời, đem lại nhiều lợi ích cho tập thể. Đấy mới là loại bản lĩnh đáng nể, chứ còn loại bản lĩnh chỉ có làm lợi cho cá nhân, làm hại tập thể, gây nên hận thù, ai oán cho mọi người thì kể làm gì!
Ông da trắng trẻo hỏi:
- Vậy cậu T có bản lĩnh gì? Tôi chỉ biết sơ sơ, còn cụ thể thế nào, xin “tiên sinh chỉ giáo”. Nói xong, ông này mỉm cười ranh mãnh.
Ông da ngăm đen chậm rãi giải thích:
- Để chứng minh bản lĩnh cậu T, tôi xin “trình bày” cho ông rõ. Trước cậu T là một ông khác đứng đầu cơ quan tôi. Ông này nói chung là tốt nhưng rất hay “xúc động”. Cho nên, mỗi lần anh em trong cơ quan có dịp “trình bày” với ông là ông rất thông cảm và linh động giải quyết... Cứ thế, mọi người trong cơ quan thi nhau gặp sếp để “trình bày hoàn cảnh” và nhờ sếp giúp đỡ. Kết quả là, trong cơ quan xuất hiện phong trào “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, tình hình cơ quan đâm dở, vì ai cũng chỉ chăm lo cho bộ phận mình, cá nhân mình. Sếp suốt ngày ngồi “nghe” các đối tượng trình bày và liên tục thay đổi kế hoạch công việc của cơ quan - có thể gọi là bản lĩnh “ba phải”. Khi những người cấp dưới chia rẽ, tạo phe phái thì sếp vẫn cứ “ba phải”, lúc thì nghe phe “tả”, lúc lại nghe phe “hữu” mà không có chính kiến riêng của mình. Vì đã là “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” nên xuất hiện cả hoa “độc hại” và cái “tiếng nói” không hay cho lắm, bởi tất cả đều xuất phát từ các động cơ khác nhau, lợi ích khác nhau. Thôi thì tình hình cứ nháo nhào, rõ là loạn... Ngừng một chút, rồi ông nói tiếp:
- Cũng may, tình trạng đó được khắc phục khi cậu T lên thay ông sếp nọ. Cậu T là người tốt, trung thực, chí công vô tư. Khi các phe phái đã chia rẽ thành “tả” và “hữu” thực sự thì hai bên luôn “tìm lông bới vết” của nhau và tình hình trong cơ quan có vẻ căng thẳng. Cậu T đã có những bước đi chứng tỏ bản lĩnh vững vàng và đáng nể. Cậu ấy vận động, thuyết phục các bên lấy lợi ích tập thể, cơ quan làm mục tiêu trên hết. Điều đáng nói ở đây là cậu ấy không nghe theo phe phái nào, mà chỉ lọc ra những ý hay, ý tốt của cả hai bên. Cái gì tốt thì phát huy, cái gì không tốt thì phê bình theo đúng Điều lệ của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của cơ quan. Từ đó, các phe phái dần hạn chế việc lên gặp lãnh đạo để “trình bày”, phần vì cách đó không có hiệu quả, phần vì cách làm của lãnh đạo đã khác. Các phe phái đều thấy sếp chí công vô tư, gương mẫu, mẫn cán nên chú ý vào công việc chung và chuyên môn của mình. Không khí đoàn kết, vui vẻ, đầm ấm vì tập thể, vì cơ quan được phát triển. Đương nhiên, có một vài cá nhân tỏ thái độ hậm hực, nhưng vì lợi ích cơ quan nên họ buộc phải nêu cao tinh thần đoàn kết. Chỉ có điều, sau đó cậu T được đề bạt lên giữ trọng trách cao hơn, và rồi một lãnh đạo khác về thay.
Thoạt đầu, người ta tưởng bản lĩnh của vị lãnh đạo này giống như bản lĩnh của cậu T. Số là vị lãnh đạo này cũng có vẻ chú ý lắng nghe tất cả các phe phái, gồm “tả”, “hữu” và cả “trung gian”. Thế nhưng, ở sếp có một “đức tính” khác hẳn cậu T là, bất cứ phe phái nào “làm lợi” cho sếp thì sếp đều ủng hộ. Tuy nhiên, chẳng rõ sếp có biết quy tắc “khách ba chủ nhà bảy” hay không, tức là lợi cho sếp ba thì phe phái “đó” được lợi bảy phần... Chỉ trong một thời gian ngắn, tình hình cơ quan lại trở nên phức tạp! Lúc đó tôi (ông da ngăm đen nói) cũng vừa đến tuổi nghỉ hưu. Nhưng nhớ lại, phần đông anh em trong cơ quan đều nhớ đến cậu T. Họ ước ao trở lại thời kỳ cậu T lãnh đạo. Nhiều người trong cơ quan cứ nhắc đi nhắc lại câu “Bao giờ cho đến ngày xưa?”.
Ông da trắng trẻo kết luận:
- Tóm lại là, lợi ích chính là thước đo bản lĩnh, đúng không ông bạn. Chỉ đứng trước lợi ích thì bản lĩnh con người mới bộc lộ rõ nhất. Chỉ có bản lĩnh dám hy sinh cái nhỏ cho cái lớn, cái cá nhân cho đất nước thì bản lĩnh đó mới được kính trọng. Cho dù lịch sử có thăng trầm thế nào thì bản lĩnh tốt đẹp đó sẽ vẫn được lịch sử ghi nhận. Có lẽ đó là quy luật bất di bất dịch, phải không “tiên sinh”. Nói xong, ông cười rất thoải mái.
Nghe qua chuyện của hai ông, tôi cảm thấy hình như ở không ít cơ quan cũng ít nhiều xảy ra những điều tương tự. Có lẽ, cần phải có cơ chế, chính sách, luật pháp quy định thật rõ ràng, cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu, để làm sao hạn chế đến mức tối đa mặt yếu kém và phát huy cao nhất mặt mạnh ở họ. Đó là cách tốt nhất, lâu bền nhất, để cơ quan, xí nghiệp,... phát triển bền vững và đi lên cùng đất nước./.
Bồi mồm
Gặp lại Ất sau gần 10 năm xa cách, tôi và bạn hàn huyên với nhau rất thân tình, sôi nổi. Tâm đầu ý hợp lại cậy có men bia hơi Hà Nội nên cả hai rất phấn chấn. Chúng tôi trao đổi với nhau tất tần tật những gì ẩn chứa trong lòng từ lâu nay và cả những điều chợt lóe lên khi “bia nồng”, nào là chuyện sức khỏe, chuyện văn chương, chuyện thời sự chính trị trong nước và nước ngoài…, nói tóm lại, không ngớt người nói, kẻ nghe và bia chảy.
Rồi cuộc nói chuyện đã chuyển sang chủ đề khác khá ấn tượng từ lúc nào không biết. Và cũng không ngờ chuyện này lại gây ấn tượng mạnh cho cả tôi và bạn Ất. Bất chợt từ câu hỏi của tôi:
- À, gần đây ông có gặp cậu Tú không? Tú bạn học cùng bọn mình thời đại học đấy!
Lẫn trong men bia, Ất sôi nổi:
- Ôi nhắc đến cậu ấy làm gì. Tú đã thay đổi, thay đổi nhiều quá, không nhận ra. Đành rằng con người cần thay đổi, nhưng có những cái cần phải giữ gìn. Như ông với tôi chẳng hạn, tình cảm trong sáng có được từ thời quân ngũ, học đại học cho đến bây giờ vẫn không thể đổi thay. Và cuộc sống chúng mình dù có khó khăn nhưng không thể làm những điều mang hại cho người khác để hưởng lợi về mình. Nhưng Tú thì khác, nó đã thay đổi cả những điều không nên thay đổi hay phải gìn giữ và trân trọng. Thay đổi nhất và cũng là tệ hại nhất là cách nói năng, làm sao hợp ý lãnh đạo, hợp ý người nghe và cái chính là làm lợi hay đem lại lợi ích cho mình, bất chấp đúng, sai. Đã có nhiều người gọi cậu ấy là “bồi mồm”. Ông biết đấy, “bồi bút” là chỉ người viết lách uốn cong ngòi bút để kiếm tiền hoặc mua danh, còn “bồi mồm” thì dùng lời nói hay uốn lưỡi theo thời cuộc để kiếm lời. Nói chung, cả hai loại “bồi” này đều rất tai hại. Tuy nhiên, “bồi bút” còn có lúc “bút sa gà chết”, đã viết ra là để lại chứng cứ không cãi được. Còn “bồi mồm” nguy hại hơn, vì “lời nói thoảng gió bay”, nhiều khi không để lại chứng cứ. Tú bây giờ hay nói, nói nhiều, nhất là những cuộc nói chuyện trước đông người và luôn luôn lựa lời để làm đẹp lòng sếp, mặc dù chưa chắc anh chàng này yêu quý, kính trọng sếp. Thực chất, chỉ vì lợi ích của anh ta. Bằng chứng là khi gặp sếp “này”, Tú chê bai sếp “nọ”, nhưng khi gặp sếp “nọ”, lại chê bai, nói xấu sếp “này”, và để ca tụng sếp “này”, thường là anh ta “hạ bệ” sếp “nọ”, hoặc ngược lại. Đáng ngại hơn là gặp ai, Tú cũng tự hào về tài “xuất bản mồm” của mình, thậm chí còn cho là mình khôn ngoan hơn mấy ông viết lách. Hay nói cụ thể hơn, “bồi mồm” chê “bồi bút” rằng, “bồi bút” đi đâu cũng để lộ dấu vết, còn “bồi mồm” không để lại dấu tích gì… Lúc đầu người nghe còn ngạc nhiên về cách nói của cậu ấy, sau đó nhiều người chán nản, thậm chí coi thường ra mặt. Cách nói chỉ mong có lợi cho mình dẫn đến trình bày sự việc một cách phiến diện. Ở đời, dường như cái gì cũng có hai mặt, mặt tốt và mặt xấu, mặt tích cực và tiêu cực, nhưng vì lợi ích, anh ta chỉ chọn một trong hai mặt đó rồi thổi phồng nó lên. Cách nói về sự thật mà chỉ đưa ra một nửa sự thật thì thật nguy hại, vì “một nửa bánh mì vẫn là bánh mì, còn một nửa sự thật thì không còn là sự thật nữa”. Đáng trách hơn, “bồi mồm” cũng giống “bồi bút” là ở chỗ, chỉ vì lợi ích cá nhân, phe cánh mà xuyên tạc, bóp méo sự thật, hay hướng sự thật vào những ý nghĩa thực dụng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, như đánh tráo khái niệm, làm lẫn lộn giữa hình thức và nội dung, hiện tượng và bản chất,… Nói tóm lại, Tú đã đạt đến nghệ thuật kha khá của “bồi mồm”. Nhiều người còn đùa rằng, để trở thành “bồi mồm”, anh ta đã đi phẫu thuật loại bỏ dây thần kinh “xấu hổ”. Thật lạ là, có bao nhiêu cách kiếm ăn, làm giàu mà sao cậu ấy lại chọn cái “nghề” ấy nhỉ?
Ông biết không, bọn mình còn có lúc khó khăn, chứ Tú thì không. Cậu ấy có nhà lầu, xe hơi hẳn hoi chứ có phải nghèo túng gì đâu. Thật không ngờ cậu ấy lại “bán linh hồn cho quỷ dữ” như thế…
Hậu quả của quá trình “phấn đấu, trưởng thành” của “bồi mồm” ở cậu ấy là, bạn bè xa lánh, một vài người coi thường, và điều tai hại là thằng cháu nội cậu ấy cũng bị nhiễm “vi rút” “bồi mồm” của người ông, theo “nguyên lý” “võ đánh trả thầy”. Chắc dần dần cậu ấy sẽ “sáng mắt” thôi, vì làm gì cũng có cái giá phải trả của nó. Đặc biệt, một lần, có người đã ngấm ngầm ghi âm lời nói của cậu ấy. Và thật không may, lúc đó Tú bốc đồng, nói năng thoải mái, nên khi băng ghi âm này đến tay lãnh đạo, Tú đã bị lãnh đạo cảnh cáo nghiêm khắc. Không biết cậu ấy có còn hứng thú với căn bệnh “bồi mồm” đó không?./.
Hối hận… ký
Gặp tôi, anh bạn tôi dạo này “không tay bắt mặt mừng” như hồi mới lên chức. Đôi khi tôi cảm thấy anh còn muốn tránh mặt. Tôi cứ nghĩ mãi mình có làm gì sai với anh đâu. “Không bao giờ làm phiền ai”, đó là nguyên tắc sống của tôi ở mọi lúc, mọi nơi. Thế mà sao anh ta lại lạnh lùng với tôi nhỉ?… Thật khó hiểu! Một lần, cố tình gặp anh trên cầu thang khu tập thể, tôi tiến thật gần anh, rồi chào hỏi trịnh trọng: “Chào ông anh! Từ khi ông anh lên chức đến giờ, anh em mình chưa “làm vài chén” với nhau để chúc mừng. Xin thứ lỗi, hôm nào bố trí nhé!”. Anh gượng gạo bắt tay tôi và nói: “Chào chú em! Chúc mừng cái con khỉ, vui gì đâu chú mày. Cả vợ anh cũng còn cằn nhằn: Thà không lên chức còn hơn”. Tôi hỏi anh: “Sao thế? Phải chạy mất nhiều tiền quá à!” Anh bốp luôn: “Đâu có”, rồi nói tiếp: “Vào chỗ nào nói chuyện cho vui chút đi”. Hai chúng tôi ra quán nước và tâm sự.
Anh cho luôn một tràng: “Tuy mình lên chức thật, nhưng không vui chút nào. Thực ra, chỉ vì thu nhập kém đi nên bà xã mình cũng không vui, bởi trước kia, mình làm trưởng phòng chuyên môn, có đồng ra, đồng vào.
Sự thể chuyện lên chức của mình bắt nguồn từ sự việc như sau: Có một lần, cậu D, cấp phó của mình, tỏ ra rất tốt với mình và đề xuất nên phân phối phúc lợi cho anh em để “nâng cao đời sống”. Cậu ấy nói: Anh (tức là tôi) bao công lao, vất vả, trách nhiệm cao, nên phải được phần nhiều, còn một số anh em khác được phần ít hơn và đặc biệt là mấy nhân viên làm ở bộ phận gián tiếp thì được phần ít hơn nữa (chính là mấy anh em làm công tác kỹ thuật).
Thế là một phương án ăn chia được cậu D phác thảo. Lẽ ra vấn đề này mình nên đưa ra tập thể bàn bạc thêm…, vì mình biết thế nào cũng có người không đồng ý. Do thấy có lợi nên mình đã ký luôn vào bản phương án đó. Mình đã “ăn” hơn người khác một chút và nghĩ rằng như thế là công bằng. Thế nhưng, từ đó sự mất đoàn kết ngấm ngầm xuất hiện. Nhiều người còn tỏ ra coi thường mình. Mình vẫn có thể chịu đựng được (miễn là có lợi). Nhưng chỉ được vài tháng, cậu D bắt đầu tâng bốc mình nào là tài cao, đạo trọng, xứng đáng với cương vị cao hơn... Cậu ấy tìm cách tác động với cấp trên để bổ nhiệm mình ở chức vụ cao hơn, nhưng lại là ở bộ phận gián tiếp (phụ trách công tác đoàn thể). Lúc đầu, mình định không nhận, nhưng nếu lấy lý do vì thu nhập thì thô thiển quá, nên đành phải chấp nhận. Vả lại, tuổi cao, sức đã yếu, nên lui về chỗ đó là phù hợp. Có lẽ chính vì thế mà cấp trên đã đồng thuận, cho mình chuyển vị trí công tác. So với lúc còn ở bộ phận cũ, thu nhập của mình thấp đi đáng kể. Thế là người khó chịu nhất lại là bà vợ mình. Đời lại éo le thế đấy. Nhưng đáng buồn và khó chịu nhất là chỗ mình ngồi trước kia, bây giờ chính là cậu D. Tất cả “lộc lá” mà lẽ ra mình được hưởng, cậu ấy được cả. Tệ nhất là cậu ấy rất lạnh nhạt với mình. Không săn đón, chăm sóc, quan tâm đến mình như lúc còn làm phó cho mình nữa. Nhưng gặp ai, cậu ấy cũng vẫn ca ngợi mình hết lời. Ai cũng bảo cậu ấy có nghĩa và rất chân thành, trung thực với mình. Chỉ mình mới biết cậu ấy là thế nào. Nghe nói, tất cả mọi sự liên quan đến việc lên chức của mình, cậu ấy đều “lo liệu” và “đạo diễn” hết. Thằng cha ấy đúng là yếu chuyên môn nhưng lại giỏi về khoản khôn vặt. Mình không thể chê trách, oán hờn gì cậu ấy! Mình chỉ tự trách mình vì không suy nghĩ chín chắn nên đã làm một việc dại dột, điều mà các cụ xưa vẫn nói là “cú kêu cho ma hưởng”. Hậu quả của vấn đề không chỉ dừng ở đấy. Khi lên thay mình, ngồi vào chỗ của mình, cậu D còn nghĩ ra nhiều “chiêu trò” khác để tăng thêm thu nhập và làm cho rất nhiều người bất bình. Và có nhiều người quy tội cho mình là đã “đầu têu”. Mình hối hận là tại sao không đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của cậu D để uốn nắn, giúp đỡ cậu ấy, mà đã quá thoải mái, dễ dãi đề nghị đề bạt cậu ấy thay mình.
Điều mình hối hận hơn là đã ký vào cái phương án ăn chia tai hại ấy một cách vội vã. Bây giờ mình cảm thấy thiệt thòi vì thu nhập, nhiều người vẫn oán ghét, coi thường mình vì cho là mình tham lam. Đáng buồn nhất là có không ít người còn cười chê mình “To đầu mà dại”. Giờ đây, chỉ còn ít thời gian nữa mình sẽ nghỉ hưu, nhưng mình vẫn tâm đắc một điều: Khi làm lãnh đạo, nếu phải ký một văn bản nào thì phải chí công, vô tư, như thế sẽ không bao giờ ân hận…”.
Tôi nhìn anh và mỉm cười: “Khổ thân ông anh! Mong vợ anh và mọi người thông cảm cho anh, vì dù sao anh còn biết ân hận; sợ nhất là anh không thấy ân hận, nghĩa là vẫn tưởng mình làm đúng khi đã sai, thậm chí rất sai”./.
Tóm lại,… đều tốt
Khi nghe sắp có việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình, nhiều người ở cơ quan nọ cảm thấy rất hào hứng và phấn khởi, bởi gần đây ở cơ quan họ xảy ra nhiều vấn đề “phức tạp” và “nhạy cảm”. Họ hy vọng rằng nhiều vấn đề trong số đó sẽ được làm rõ; các bên hữu quan sẽ sẵn sàng vào cuộc. Chắc chắn sẽ được chứng kiến “cuộc đấu tranh quyết liệt” giữa các cá nhân, làm cho chi bộ, đảng bộ mạnh hơn, mỗi cá nhân tiến bộ hơn.
Thế rồi việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình được tiến hành rất nghiêm túc và khá sôi nổi, bắt đầu từ cán bộ chủ chốt. Trước đó, các thành viên đều phải viết bản tự kiểm điểm; có người kỳ công, viết dài đến 9 - 10 trang. Nhìn chung, các bản tự kiểm điểm đều tỏ thái độ nghiêm túc trong tự đánh giá khuyết điểm, ưu điểm và vạch rõ phương hướng sửa chữa, không có vấn đề gì về đạo đức, lối sống của cá nhân. Cái chính là trong cuộc họp, các cá nhân sẽ trình bày và sau đó mọi người góp ý thì mới tạo nên sự sôi động, “quyết liệt” của tự phê bình và phê bình. Mọi người mong chờ là ở chỗ đó.
Trong khai mạc cuộc họp cán bộ chủ chốt kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đồng chí Bí thư Đảng ủy phát biểu chỉ đạo:
- Kính thưa các đồng chí …! Chấp hành nghị quyết của Đảng, hôm nay chúng ta tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình để làm cho mọi thứ tốt lên. Tôi xin có vài ý kiến thế này: Trong chúng ta ở đây, thời gian qua mặc dù có chuyện này, chuyện nọ, đó là sự thật, nhưng suy cho cùng, tất cả đều đã được giải quyết ổn thỏa và nhìn chung, không có vấn đề gì lớn dẫn đến vi phạm luật pháp nghiêm trọng, phải xử lý hình sự hay truy tố, hoặc không có vi phạm đạo đức, lối sống một cách nghiêm trọng dẫn đến phải kỷ luật cảnh cáo,… Tóm lại, chúng ta đều tốt, và để tiến hành tự phê bình và phê bình, tôi xin tự kiểm điểm trước và trình bày bản tự kiểm điểm của tôi.
Thế rồi Bí thư trình bày bản tự kiểm điểm của mình, dài đến chục trang đánh máy. Mọi người chú ý lắng nghe thì thấy, nội dung bản tự kiểm điểm gần giống ý kiến đã phát biểu khai mạc, đại loại là: Về cơ bản, đồng chí là người tốt, có nhiều ưu điểm; tuy nhiên, cũng có một vài nhược điểm nhưng không vi phạm gì lớn; cuối cùng, rất mong hội nghị góp ý để cùng nhau tiến bộ. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo ban đầu của Bí thư Đảng ủy, mọi người đã phát biểu, đóng góp ý kiến vào bản tự kiểm điểm của Bí thư. Tất nhiên, trong những ý kiến đóng góp cũng có vài điều mới so với bản tự kiểm điểm, như nhấn mạnh hơn về ưu điểm, công nhận sự thành thật nhận khuyết điểm, và bổ sung thêm phương hướng phấn đấu - phải “quần chúng hơn, quyết đoán hơn...”. Ai cũng biết rằng, thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình lẽ ra phải đề cập đến cả “chuyện này, chuyện nọ”, như đã nêu ra và phải mổ xẻ, phân tích nguyên nhân, hậu quả, đồng thời rút kinh nghiệm, và cái chính là để đề phòng và chống mọi sự vi phạm kỷ luật hay ngăn ngừa mọi sai lầm có thể dẫn đến kỷ luật. Còn nếu cứ để xảy ra khuyết điểm, phải xử lý kỷ luật thì đã quá muộn. Và như vậy, nội dung chính của tự phê bình và phê bình không được đưa ra bàn bạc thấu đáo.
Xin nói thêm, sau khi “nín thở” nghe “sếp” trình bày bản tự kiểm điểm, nhiều người đã “thở phào nhẹ nhõm”, vì không có gì phải đắn đo, suy nghĩ cho lắm. “Nín thở” là vì phải nghe xem sếp tự kiểm điểm thế nào thì mình sẽ làm như thế ấy; “thở phào nhẹ nhõm” là vì sếp tự kiểm điểm như thế thì mình cũng có thể làm được như vậy, không có vấn đề gì quá khó khăn. Sau khi tham gia đóng góp ý kiến cho Bí thư, các cử tọa lần lượt trình bày bản tự kiểm của mình và cùng đóng góp ý kiến cho nhau. Cứ thế, cứ thế…, “mô hình” ban đầu tiếp tục được áp dụng cho việc kiểm điểm của từng người. Có nghĩa là vẫn như cách làm ban đầu: “ưu” nhiều hơn, “khuyết” có một ít và bổ sung “ưu”, phát hiện thêm chút “khuyết”, rồi đóng góp cho phương hướng phấn đấu tiếp theo.
Vậy mà một số người cứ tưởng việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình lần này sẽ quyết liệt!
Phần cuối cuộc họp, một cán bộ cấp trên về dự có ý kiến phát biểu, khiến cả hội nghị lắng nghe. Đồng chí nói khá dài, đề cập nhiều vấn đề, trong đó có đoạn: “Hôm nay tôi được cấp trên cử về theo dõi cuộc họp cán bộ chủ chốt kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở cơ quan chúng ta. Tôi rất phấn khởi vì các đồng chí đã chân thành tự nhận rõ ưu, khuyết điểm và có phương hướng rõ ràng để sửa chữa khuyết điểm… Kết quả này là bước đầu. Tôi hy vọng sau hôm nay các đồng chí sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm để tiến hành đợt kiểm điểm sau sao cho chất lượng hơn lần này và làm mẫu cho các đơn vị cơ sở dưới noi theo. Cứ như thế này, e chưa thật thuyết phục… Xin chúc các đồng chí mạnh khỏe và có nhiều tiến bộ!”.
Mọi người vỗ tay vui vẻ, rồi nhìn nhau với ánh mắt như tự nhắc nhở: Lần sau phải làm tốt hơn, hay chí ít cũng phải làm cho khác đi, vì cấp trên nhận định như vậy cũng có nghĩa là kết quả lần này chưa thật mỹ mãn. Nếu coi đây như là kỳ thi thì tất cả mọi người đều đỗ “vớt”./.
“Uy” và “tín”!
Uy tín là một yêu cầu khách quan đặt ra đối với mỗi cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo nói riêng. Phải có uy tín thì người cán bộ mới lãnh đạo được cơ quan, đơn vị mình. Song, đáng tiếc là hiện nay, bên cạnh những cán bộ vừa có “uy” vừa có “tín” thì vẫn còn không ít cán bộ chưa có được uy tín thậm chí còn ngộ nhận về “uy” và “tín” của bản thân mình trước quần chúng.
Trước hết cần khẳng định ông cha ta đã hết sức sâu sắc khi đặt “uy” và “tín” đứng cạnh nhau để tạo thành “uy tín”. Uy tín có thể hiểu là sự tín nhiệm, mến phục của tập thể dành cho một cá nhân, là sự phản ánh phẩm chất và năng lực của cá nhân đó qua cách nhìn nhận, đánh giá của tập thể. Với người cán bộ lãnh đạo, uy tín còn là điều kiện bảo đảm hiệu quả công tác của người lãnh đạo, là cơ sở để họ có thể thuyết phục, tập hợp, lãnh đạo quần chúng. Người lãnh đạo có uy tín thì quần chúng không những phục tùng mà quan trọng hơn là họ tự nguyện phục tùng với niềm tin mãnh liệt.
“Uy” là uy quyền. Uy thường gắn liền với chức vụ công tác, cương vị đảm nhiệm của người lãnh đạo. Song với mỗi cán bộ, đảng viên nhất là với người cán bộ lãnh đạo thì “uy” không đứng tách rời mà luôn phải đặt trong mối quan hệ với “tín”. Tín là tin, niềm tin; là sự tín nhiệm trước tập thể. Nếu như “uy” thường đi với sự nể sợ thì đi liền với “tín” bao giờ cũng là thái độ nể phục của mọi người bởi “tín” là kết quả quá trình tu dưỡng, rèn luyện của bản thân người cán bộ. Và như vậy, “uy tín” tất yếu phải do phẩm chất và năng lực của cá nhân cán bộ quyết định, với những biểu hiện cụ thể như dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có năng lực tổ chức, trình độ chuyên môn giỏi; có phong cách gần gũi, dân chủ, cởi mở với mọi người, tôn trọng tập thể; gương mẫu trong mọi công tác… Nói cách khác là phải hội tụ đủ ba yếu tố: Tâm, Tầm, Tài ở người cán bộ lãnh đạo.
Có một thực tế đáng buồn là hiện nay không ít cán bộ vẫn đang ngộ nhận khi cho rằng “uy tín” đồng nghĩa với chức vụ. Họ lầm tưởng rằng cứ có chức vụ là sẽ có uy tín, chức vụ càng cao thì uy tín càng lớn! Từ đó dẫn đến thiếu tu dưỡng, kém rèn luyện và tự đánh mất sự tín nhiệm trước mọi người. Cũng có cán bộ thay vì tự thân nỗ lực, cố gắng thì lại tạo dựng uy tín bằng nhiều thủ đoạn như lôi kéo bè cánh; “nịnh trên, nạt dưới”; tìm mọi cách đặt điều, nói xấu, hạ thấp uy tín người khác để đề cao mình mà không biết cái họ có được rút cuộc chỉ là là “uy tín giả”, “uy tín ảo” mà thôi!
Trên thực tế để có được uy tín thực sự trước tập thể, người cán bộ lãnh đạo trước hết phải là người có trình độ, năng lực trên lĩnh vực đảm trách; có phong cách lãnh đạo, có lối sống mẫu mực và tấm lòng vị tha, nhân ái, biết quan tâm đến cấp dưới… tức là thu phục được lòng người bằng phẩm chất và năng lực, bằng tài năng và đức độ của bản thân chứ không phải dùng quyền lực hay thủ đoạn để có được uy tín.
Người xưa đã dạy: “Hữu xạ tự nhiên hương” - Người cán bộ lãnh đạo thật sự có uy tín tất yếu sẽ nhận được sự kính trọng, nể phục của đông đảo quần chúng. Ngược lại, với những kẻ cố gắng tạo dựng “uy tín giả’, “uy tín ảo”, dù có khéo léo ngụy trang, che đậy đến mấy thì sớm hay muộn cũng sẽ bị “lật tẩy”. Bởi “cái kim trong bọc” thì không thể giấu được mãi và “uy tín” chỉ có thể là thành quả quá trình phấn đấu, rèn luyện gian khổ, bền bỉ của những người cán bộ chân chính./.
Quy hoạch mật
Hôm làm việc với Ban Tổ chức Tỉnh ủy N, chúng tôi chỉ tập trung trao đổi về công tác cán bộ; đặc biệt là vấn đề quy hoạch cán bộ chủ chốt của tỉnh. Trong không khí trao đổi thẳng thắn, chân tình, đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy bộc bạch: “Chúng tôi thường xuyên làm công tác quy hoạch cán bộ và làm rất cẩn thận, chu đáo, nhưng đó là quy hoạch mật”. Tôi hỏi lại: “Quy hoạch cán bộ phải công khai. Như thế thì người cán bộ nằm trong diện quy hoạch mới có động cơ và phương hướng phấn đấu; còn quần chúng mới có điều kiện phản biện, theo dõi, giám sát và giúp đỡ người cán bộ đó”. Đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy chép miệng: “Đành rằng là như vậy, song thực tế diễn ra không đơn giản. Đã có thời kỳ chúng tôi công khai quy hoạch cán bộ, thế là lập tức xảy ra những hiện tượng không hay một chút nào. Xin nêu vài ba trường hợp điển hình:
- Đồng chí V.K. là Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư. Theo nhận xét của chúng tôi, đồng chí này là người có năng lực và phẩm chất tốt. Vì thế, chúng tôi đưa vào diện quy hoạch. Cụ thể là dự kiến sẽ đưa vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy, làm Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế. Biết được ý định này của Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí V.K. phấn khởi lắm và bắt đầu có những động thái chạy chọt, bôi trơn, nịnh bợ những người ở cấp có thẩm quyền quyết định và mua chuộc những đối tượng cần thiết để tranh thủ sự ủng hộ của họ.
- Trường hợp của chị N.T.T.H. thì lại hoàn toàn khác. Chị cũng là Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách khối văn - xã. Chị thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hơn nữa lại là cán bộ nữ, vì thế dự kiến sẽ đưa chị vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy để làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra khóa tới. Biết được ý định đó, chị liền gặp những nhân vật quan trọng kể cả ở tỉnh và Trung ương nhờ họ can thiệp để không phải đưa vào cơ cấu Ban Thường vụ. Đã không ở trong Ban Thường vụ thì đương nhiên không thể giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra.
- Đáng buồn hơn cả là có không ít người cố ý phá quy hoạch. Chỉ vì ghen ăn, tức ở nên họ cố phá cho bằng được. Thí dụ, họ viết thư nặc danh tố cáo đồng chí A. nhận hối lộ hàng trăm triệu đồng; tố cáo đồng chí B. có thái độ độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, lôi bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ; tố cáo đồng chí C. sống buông thả, sa đọa, v.v.. và v.v.. Thôi thì đủ thứ, toàn những chuyện chưa biết đúng, sai ra sao nhưng rất cần thời gian để thẩm định, xác minh. Thế là chúng tôi đành phải gác lại”.
Ngừng một lát rồi đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy nói tiếp: “Các anh thấy có lạ không? Cùng là dự kiến đưa vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhưng một người thì chạy chọt, bôi trơn để chắc chắn được vào; còn người kia lại chạy chọt, bôi trơn để chắc chắn không phải vào. Và cũng thật trùng hợp, những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm vào những chức vụ thuộc khối kinh tế thường có nhiều thư tố cáo hơn các khối khác. Cái tổ con chuồn chuồn chính là vấn đề lợi ích. Một bên được vào Ban Thường vụ làm Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế thì oai hơn, quyền cao hơn và “mầu” cũng nhiều hơn. Một bên vào Ban Thường vụ làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra tuy có oai hơn, quyền có cao hơn nhưng lại chẳng có “mầu”. Nếu chúng tôi giữ bí mật quy hoạch cán bộ thì sẽ không có những trường hợp chạy chọt, bôi trơn như của anh V.K. và chị N.T.T.H.; cũng không có thư nặc danh tố cáo người này, người kia mà nội dung chẳng biết thật, giả ra sao”.
Vừa qua, Hội nghị lần thứ sáu và thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã cho ý kiến chỉ đạo việc xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Biết vậy, tôi rất mừng nhưng lại liên tưởng ngay đến những chuyện của tỉnh N. Những trường hợp tiêu cực xung quanh vấn đề quy hoạch cán bộ như ở tỉnh N không phải là chuyện hiếm nếu không muốn nói là “chuyện thường ngày” ở cấp tỉnh, thành phố. Còn ở Trung ương thì sao? Tôi cứ băn khoăn tự hỏi: “liệu ở cấp Trung ương có những hiện tượng tiêu cực như thế không?”. Tự hỏi rồi tôi lại tự trả lời: “không nhiều thì ít, thế nào cũng có”. Song, tôi cũng rất tin là Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có kế hoạch để cho những hiện tượng tiêu cực như thế không thể xảy ra./.
Bộ Y tế: Ca tử vong thứ 47 liên quan đến COVID-19 là nữ bệnh nhân 22 tuổi có bệnh máu ác tính
Chiều 28/5, Bộ Y tế thông tin ca tử vong thứ 47 liên quan đến COVID-19 là nữ bệnh nhân 22 tuổi ở Phú Thọ có bệnh máu ác tính
Hậu duệ và trí tuệ
Nhiều năm nay, nói về hiện tượng tiêu cực trong công tác đề bạt, bổ nhiệm, tuyển chọn cán bộ của ta trong xã hội đã lưu truyền câu vè: “Thứ nhất quan hệ/ Thứ nhì tiền tệ/ Thứ ba hậu duệ/ Thứ tư trí tuệ”. Thật ra, câu vè này còn có tới mấy dị bản. Thí dụ: Dị bản 1, “Thứ nhất tiền tệ/ Thứ nhì hậu duệ/ Thứ ba đồ đệ/ Thứ tư trí tuệ”. Dị bản 2, “Thứ nhất hậu duệ/ Thứ nhì quan hệ/ Thứ ba tiền tệ/ Thứ tư trí tuệ”. Điều đáng chú ý là ở tất cả các dị bản đó, trí tuệ đều bị xếp ở cuối bảng tổng sắp.
Với các dị bản nêu trên, theo tôi, dị bản 2 xem ra là phù hợp nhất với những hiện tượng có trong thực tế của nước ta hiện nay. Bởi vì, dù có quan hệ rộng rãi hay có nhiều tiền bạc đến mấy thì những cán bộ trẻ chưa đầy 30 tuổi, rất thiếu vốn kiến thức chuyên ngành và thiếu cả kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, không thể bỗng chốc nhảy phóc lên tới chức vụ trưởng, cục trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch cấp huyện, cấp tỉnh hay tổng giám đốc một tổng công ty cực lớn có tới mấy nghìn cán bộ, công nhân viên nếu không phải là “con, cháu các cụ”. Vì thế, người ta đưa hậu duệ lên đầu bảng tổng sắp là rất có lý. Hậu duệ ở đây, dân gian thường gọi là lớp người thuộc “4c”: “con, cháu các cụ”.
Người Nhật có câu: “Quan hệ tốt coi như đã hoàn thành tới 70% công việc”. Vì thế, quan hệ được xếp ở vị trí thứ hai. Khái niệm quan hệ mà người Nhật nói chủ yếu là quan hệ giao tiếp, ứng xử; nhưng ở Việt Nam chủ yếu lại là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết, thậm chí là quan hệ theo nhóm lợi ích.
Dù giao tiếp, ứng xử giỏi đến mấy; dù có là quan hệ bà con, họ hàng hay bạn bè thân thiết với những cán bộ “cốp” mà thiếu tiền thì nhiều khi cũng không được việc. Vì thế, trong bảng tổng sắp, tiền tệ được xếp ở vị trí thứ ba.
Còn trí tuệ? Xin mời xuống cuối bảng. Tôi biết, có không ít sinh viên học rất giỏi ở các trường đại học danh tiếng tại Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a,... nhưng không phải là “con, cháu các cụ”; tiền không nhiều; quan hệ lại không rộng rãi, không khôn khéo, hoặc không được những người thân, quen có địa vị cao trong xã hội giới thiệu thì vẫn cứ lang thang, thất nghiệp. Tài năng và trí tuệ của các em chẳng có nghĩa lý gì.
Từ một số hiện tượng nêu trên, tôi xin nêu ra ba trường hợp với mong muốn cùng độc giả trao đổi. Một là, nếu “con, cháu các cụ” thật sự có năng lực và phẩm chất tốt thì cho dù họ còn rất trẻ cũng xứng đáng được giao những chức vụ quan trọng, và chúng ta phải mừng vì đó cũng là hiện tượng “hổ phụ sinh hổ tử”. Hai là, nếu “các cụ” đặt con, cháu mình vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng thấy họ không đủ năng lực và phẩm chất để đảm đương công việc, “các cụ” lại tỉnh táo động viên, khuyên bảo họ từ chức để người khác làm thay. Trường hợp này đương nhiên không thể khen, song cũng không đáng trách. Ba là, “các cụ” bế con, cháu mình lên đặt vào những chiếc ghế đầy quyền lực, nhưng khi thấy con, cháu không đủ năng lực và phẩm chất đảm đương công việc mà “các cụ” vẫn “cố đấm ăn xôi”, quyết dùng ảnh hưởng của mình để giữ ghế cho họ. Trường hợp này chẳng những đáng phê phán mà còn phải có hình thức kỷ luật thích hợp; bởi vì, như vậy rõ ràng là “các cụ” đã vi phạm nghiêm trọng Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm”.
Các cụ ta từ xưa đã tổng kết: “cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”. Thâm thúy quá!
Hội chứng “Bắn chỉ thiên”
Nói chung thì cơ quan nào cũng có quy chế, nội quy, quy định hoạt động, được tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể cụ thể hóa từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của các đoàn thể chính trị - xã hội. Hằng năm, tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh còn phát động các phong trào thi đua, ký kết giao ước, cam kết thực hiện đến từng đảng viên, hội viên, đoàn viên, người lao động. Nếu ai không thực hiện đúng cam kết thì trừ vào kết quả thi đua cuối năm.
Vậy mà, ở không ít cơ quan, vài việc cỏn con liên quan đến sinh hoạt hằng ngày nhưng chẳng mấy khi thực hiện được trọn vẹn, năm nào cũng phải nhắc nhở. Đó là việc thực hiện: 1- Ra vào cơ quan và trong lúc làm việc tất cả mọi người phải đeo thẻ có dán ảnh, ghi tên, chức danh cụ thể; 2- Ra vào cơ quan tất cả mọi người phải xuống xe, tắt máy, dắt bộ; 3- Ra khỏi phòng làm việc phải tắt điện, tắt quạt, tắt điều hòa không khí; 4- Cấm hút thuốc lá trong cơ quan. Thường thì bao giờ cũng được thời gian đầu, sau đó vì nhiều lý do, không ít cán bộ, công chức, người lao động không đeo thẻ khi ra, vào và trong thời gian làm việc ở cơ quan; có những người cứ phóng thẳng xe khi ra, vào, chả mấy khi xuống xe, lại càng không bao giờ tắt máy; nhiều cán bộ, công chức khi ra khỏi phòng, thậm chí, khi cơ quan lên hội trường họp hết, nhiều phòng làm việc điện còn sáng choang, điều hòa vẫn chạy ù ù; ở chân các cầu thang, trong khu vệ sinh, vẫn thấy vương vãi những mẩu thuốc lá.
Mỗi lần sơ kết, tổng kết công tác hay hội nghị tại cơ quan, những vi phạm quy định, hạn chế, thiếu sót cũng được chỉ ra trong văn bản rằng “có những đơn vị”; “có những đồng chí”; “một số cán bộ, đảng viên”; “đôi khi”; “có nơi, có lúc”... nhưng không có địa chỉ đơn vị, cá nhân người vi phạm cụ thể, mặc dù trong cơ quan không lấy gì làm đông người lắm và hoàn toàn có thể chỉ đích danh từng đơn vị, cá nhân vi phạm. Chính vì vậy, có người trong cơ quan gọi hiện tượng này là “hội chứng bắn chỉ thiên”. Vì là “bắn chỉ thiên” chỉ để cảnh báo, không trúng vào ai, cho nên dần dần, nếu có ai vi phạm quy định, tuy có nghe thấy “tiếng súng” này nhưng họ cũng không sợ vì có nhằm cụ thể vào ai bao giờ đâu. Đi tìm nguyên nhân của “hội chứng” này, anh em trong cơ quan nói nửa đùa nửa thật mà rằng:
- Các “sếp” sợ “bắn” nhầm vào “sếp”; “vuốt mặt cũng phải nể mũi chứ”!
Hóa ra, trong việc thực hiện các quy định nói trên, không ít “sếp” là thủ trưởng, thủ phó cơ quan, đơn vị rồi cả người đứng đầu, đứng thứ các đoàn thể ở cơ quan cũng vi phạm, trong đó phổ biến nhất là không đeo thẻ, không tắt điện khi ra khỏi phòng làm việc và hút thuốc lá trong phòng. Có lần, trong Dự thảo kiểm điểm cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, có nêu tên những tập thể, cá nhân cán bộ, đảng viên (không có “sếp” nào là lãnh đạo cấp vụ trở lên có tên trong danh sách vi phạm các quy định). Đến lúc duyệt lần cuối, “sếp” trưởng cơ quan lấy bút đỏ gạch bỏ hết những tên đơn vị, cá nhân vi phạm và “chua” bên cạnh dòng chữ: “Đề nghị chỉ nêu hiện tượng, không nên nêu tên cụ thể thế này!”. Từ đó, những người được giao chấp bút các báo cáo, kiểm điểm thường “biết ý”, khi nói đến khuyết điểm, yếu kém, tuyệt nhiên không bao giờ nêu đích danh tổ chức, cá nhân nào. “Hội chứng bắn chỉ thiên” xem ra đã trở thành hiện tượng khá phổ biến trong không ít cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay. Không biết có phải là do người ta đề phòng chuyện “quân ta bắn vào quân mình” hay không?
Tư duy nhiệm kỳ
Nhắc tới “tư duy nhiệm kỳ”, người ta thường nghĩ ngay đến mặt tiêu cực của nó. Hiểu như thế là chưa đầy đủ. “Tư duy nhiệm kỳ” có cả hai mặt: tích cực và tiêu cực. Để minh chứng cho điều này, tôi xin nêu ra ba trường hợp điển hình sau đây:
1- Đồng chí Q. là Bí thư Tỉnh ủy một tỉnh miền sơn cước. Những năm gần đây, tỉnh này xuất hiện một loạt tiêu cực làm cho nhân dân rất bất bình. Các đơn, thư khiếu nại, tố cáo gửi đến Tỉnh ủy nhiều vô kể, nhất là những đơn, thư tố cáo ông Chủ tịch tỉnh. Họ bảo ông này có cổ phần trong một công ty xây dựng tư nhân rất lớn của tỉnh. Công ty này được ông “chống lưng” nên làm ăn rất ma giáo. Riêng chuyện ông chỉ định thầu (mà không tổ chức đấu thầu) cho công ty này xây dựng con đường từ thị xã tỉnh lỵ tới thị trấn một huyện vùng biên đã làm cho công trình này bị “rút ruột” hàng mấy chục tỷ đồng (tất nhiên ông Chủ tịch tỉnh cũng được hưởng lợi không nhỏ). Ông Chủ tịch tỉnh cũng là người hết sức độc đoán, chuyên quyền, coi thường và lấn át cả Bí thư Tỉnh ủy. Những cán bộ dưới quyền, cho dù có làm tới chức phó chủ tịch tỉnh mà không chịu khuất phục ông, cũng bị vô hiệu hóa, trù úm. Ngoài ra, ông còn có lối sống hết sức buông thả, sa đọa, quan hệ nam nữ bất chính…
Tất cả những chuyện như thế, đồng chí Bí thư biết hết, nhưng lúc đầu ông nghĩ chỉ còn một, hai năm nữa là hết nhiệm kỳ và cũng đến tuổi về hưu nên ông không muốn làm to chuyện, không muốn “vạch áo cho người xem lưng”, mà chỉ cố gắng dàn xếp, giải quyết trong nội bộ, cốt sao giữ cho được “trong ấm, ngoài êm”. Song, nghĩ lại làm như thế là có tội với Đảng, với dân, ông đã quyết định phải thay đổi tư duy, cố gắng làm cho được mấy việc lớn trong những năm cuối nhiệm kỳ. Một là, lập lại trật tự, kỷ cương trong đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở, không để cho đồng chí Chủ tịch thao túng. Hai là, khôi phục lại chức vụ cho những cán bộ vì đấu tranh chống tiêu cực mà bị Chủ tịch tỉnh trù úm, cách chức. Ba là, thay mặt Tỉnh ủy, ông trực tiếp phát biểu trên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, công khai xin lỗi người dân về những tiêu cực đã xảy ra ở địa phương. Bốn là, có kế hoạch thiết thực để ổn định kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và xóa đói, giảm nghèo. Quyết tâm của đồng chí Q. bước đầu đã mang lại những kết quả tốt đẹp, lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chính quyền có những chuyển biến tích cực. “Tư duy nhiệm kỳ” của đồng chí Bí thư là như vậy đó.
2- Ông B. là Bộ trưởng. Còn một năm nữa là hết nhiệm kỳ, ông phải về hưu, nếu không được đưa lên chức vụ cao hơn. Vì thế, muốn để lại cho những cán bộ dưới quyền một tình cảm tốt đẹp trước khi nghỉ, ông “ký đại” một loạt quyết định, như quyết định bổ nhiệm cán bộ; quyết định thành lập thêm đơn vị này, công ty nọ trực thuộc Bộ để tạo điều kiện cho nhiều người được cất nhắc, đề bạt... Đã có người hỏi ông: “Tại sao Bộ trưởng lại ký đại như thế?”. Ông thản nhiên trả lời: “Đó là quà của mình tặng anh, chị em trước khi mình về hưu”. Tư duy của ông B. cũng là một kiểu “tư duy nhiệm kỳ”.
3- Ông S. là Chủ tịch tỉnh. Nhiệm kỳ làm chủ tịch tỉnh của ông cũng sắp hết. Song, tư duy của ông lại khác hẳn đồng chí Bí thư tỉnh ủy Q. và cũng khác ông Bộ trưởng B. Sắp hết nhiệm kỳ nên ông “sống gấp”. Ông không ngần ngại nhận hối lộ khi ký duyệt các dự án. Ông cũng ký quyết định đề bạt, bổ nhiệm một loạt cán bộ giống như ông Bộ trưởng B. Song, khác với ông B. ở chỗ, những người do ông đề bạt, bổ nhiệm đều là “tay chân” của ông, trong đó có cả những người chẳng có tài cán và phẩm cách đạo đức gì để mọi người tôn trọng. Ông quyết tâm cài cắm người của mình vào bộ máy quyền lực để khi nghỉ còn có chỗ dựa. Đó là kiểu “tư duy nhiệm kỳ” của ông S.
Viết đến đây tôi xin có mấy lời bình: 1- “Tư duy nhiệm kỳ” của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Q. thật đáng ca ngợi. 2- “Tư duy nhiệm kỳ” của ông Bộ trưởng B. thật đáng trách. 3- Còn “Tư duy nhiệm kỳ” của ông Chủ tịch S. thì thật đáng bị kỷ luật./.
Phê bình “cầm roi” và phê bình kiểu “Nhiệm Tỏa”
Năm ngoái, ở một cơ quan nọ, trước khi bước vào đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, N. - một cán bộ lãnh đạo cấp vụ, vốn nổi tiếng là “bạo mồm” nói với mọi người trong lúc vui vẻ:
- Bấy lâu nay, việc phê bình ở cơ quan mình hiền lành quá, toàn “mũ ni che tai”. Lần này theo tinh thần mới, phải “quất” cho “sếp” nhà mình “mấy roi” thật đau, để xem “sếp” lồng lên thế nào.
Nói là làm, hôm họp đảng bộ cơ quan cuối năm, chờ cho một số ý kiến phát biểu, cơ bản là khen, phần “tuy nhiên” chỉ rất “nhẹ nhàng”, N. giơ tay xin phát biểu:
- Trước khi đi vào vụ việc cụ thể, tôi xin phép kể ra đây một câu chuyện: “Trong một buổi thiết triều, Ngụy Văn Hầu đột ngột hỏi:
- Các khanh thấy quả nhân là một vị vua thế nào?
Bị hỏi bất ngờ, hầu hết các quan văn võ có mặt đều đồng thanh đáp:
- Bẩm bệ hạ! Bệ hạ là một minh quân ạ!
Bỗng dưng trong hàng có một vị quan bước lên phía trước, khoanh tay trước ngực tâu:
- Bẩm, bệ hạ không phải là minh quân.
Mọi người bị bất ngờ ngoái đầu nhìn lại, hóa ra đó là Địch Hoàng.
Ngụy Văn Hầu giận tái mặt, quát:
- Khanh căn cứ vào đâu mà dám nói rằng trẫm không phải là minh quân?
Địch Hoàng thưa:
- Bệ hạ đánh thắng và thu phục nước Trung Sơn xong, nhẽ ra Bệ hạ phải đem lãnh địa đó giao cho người có đức, tài cai quản. Người đó chính là em ruột của Bệ hạ. Thế nhưng, Bệ hạ đã không giao cho em mình mà lại giao phong cho con của mình, mà con của Bệ hạ thì còn rất nhỏ, e rằng không đảm đương việc nước, không giữ nổi giang sơn. Xem như vậy thì Bệ hạ không sáng suốt, chỉ biết lo cho mình và con của mình. Như vậy sao gọi là minh quân được?
Ngụy Văn Hầu đỏ mặt, nổi giận đuổi Địch Hoàng ra khỏi triều. Địch Hoàng đi ngay không hề nuối tiếc”.
Đến đây, N. nói tiếp:
- Tôi kể câu chuyện này để sau đây dù tôi có phải buộc thôi việc thì cũng hả dạ vì đã dám có gan nói ra điều mà mọi người cứ thì thào to nhỏ bấy lâu nay. Thủ trưởng cơ quan ta tuy có nhiều mặt được, nhưng cũng có những hành động na ná kiểu Ngụy Văn Hầu trong chuyện trên đây. Do “định kiến” với đồng chí A, cho nên dù đồng chí A. có cả phẩm chất lẫn năng lực, nhưng đã bị thủ trưởng “đẩy” đi học để thế vào đấy là người nhà thủ trưởng. Thế đâu có phải là thủ trưởng công minh?
Cả hội trường im lặng, căng như sợi dây đàn.
Bỗng một cánh tay giơ lên:
- Tôi xin phát biểu. Trước hết xin kể đoạn kết câu chuyện mà đồng chí N. chưa kể hết:
“Sau buổi đó, Ngụy Văn Hầu lại đem sự việc nói trên hỏi quan đại phu khác là Nhiệm Tỏa.
Nhiệm Tỏa thưa:
- Bẩm, Bệ hạ thật là đấng minh quân.
Ngụy Văn Hầu nghe vậy nở từng khúc ruột, mặt mày rạng rỡ hỏi lại:
- Tại sao vậy?
Nhiệm Tỏa đáp:
- Thưa bệ hạ! Người xưa thường nói rằng, có minh quân mới có trực thần. Hạ thần thấy Địch Hoàng nói thẳng, nói thật, tỏ ra là bậc trung thần lắm. Vậy Bệ hạ có Địch Hoàng là trực thần thì tất Bệ hạ phải là minh quân rồi đó sao?
Ngụy Văn Hầu nghe vậy tỏ ra hối hận về hành động của mình đối với Địch Hoàng. Và ngay lập tức cho vời Địch Hoàng trở lại triều đình giúp việc như trước”.
- Tôi được biết chính đồng chí A. là người có phẩm chất, năng lực, có triển vọng để phát triển cán bộ nguồn sau này, cho nên thủ trưởng đề xuất lãnh đạo cơ quan ta quyết định cho đồng chí A. đi học. Còn người thế chỗ đồng chí A., tuy có là người nhà của thủ trưởng cơ quan ta thật nhưng đều qua tuyển chọn, lại đúng chuyên môn, cho nên theo tôi như thế cũng phù hợp chứ không phải vì cục bộ hay “cánh hẩu” ở đây. Đồng chí N. đã dám nói ra điều bấy lâu nay có dư luận không đúng. Thế là tốt, cần hoan nghênh!
Đến lúc đó, thủ trưởng cơ quan mới xin phép chủ tọa hội nghị cho phát biểu:
- Tôi rất cảm ơn ý kiến phê bình, xây dựng của các đồng chí. Rất tốt là ở cơ quan, đảng bộ ta có cả những người như Địch Hoàng, phê bình “cầm roi” và cả những người phê bình theo kiểu “Nhiệm Tỏa”. Cả hai cách phê bình này bổ sung cho nhau và cuối cùng sự việc được chính các đồng chí làm sáng tỏ. Xin chân thành cảm ơn các đồng chí!
Những kẻ còn nguy hiểm hơn cả virus!
Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang vừa ra quyết định xử phạt 10 triệu đồng đối với bà P.Q (44 tuổi, ở phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang).
“Chi bộ” … nhà ta
Sáng chủ nhật, nhân có mấy anh đồng môn lớp học lý luận chính trị, hiện đã là lãnh đạo một số tỉnh, thành phố về Hà Nội họp, chúng tôi gặp nhau hàn huyên, vui vẻ. Mấy người bấm máy gọi P, nguyên là cán bộ lãnh đạo lớp học, nay là lãnh đạo một tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng P. đều cáo lỗi vì phải chủ trì cuộc họp chi bộ, mà theo nguyên văn lời P. là “chi bộ của gia đình tôi”. Sau này hỏi ra thì được biết đó là “chi bộ” đảng có 5 đảng viên trong gia đình “tam đại đồng đường”: bố đẻ P, gần 75 tuổi đời, hơn 40 tuổi đảng, nguyên đại tá quân đội nghỉ hưu; mẹ đẻ P, 70 tuổi đời, 30 năm tuổi đảng, nguyên là bác sĩ nghỉ hưu; đảng viên P, con trai trong gia đình, gần 50 tuổi đời, 20 năm tuổi đảng, hiện là thành viên trong ban lãnh đạo ở một tập đoàn tổng công ty nhà nước; vợ P, con dâu trong gia đình, 45 tuổi đời, 15 năm tuổi đảng, hiện là bác sĩ sản khoa ở một bệnh viện, tham gia làm thêm ở phòng khám tư; con gái P, cháu gái nội trong gia đình, 25 tuổi đời, hơn hai tuổi đảng, tốt nghiệp đại học ngoại ngữ, hiện là cán bộ của một dự án thuộc tổ chức phi chính phủ của nước ngoài. “Chi bộ” còn có một quần chúng là con trai P, là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hiện đang là sinh viên đại học.
Gọi là một “chi bộ” bởi vì tổ chức này tuy không được tổ chức, cấp ủy nào công nhận, không có cấp trên trực tiếp nhưng họ tự nguyện tập hợp nhau lại và thống nhất tên gọi là “chi bộ... nhà ta”; sinh hoạt rất đều đặn vào sáng chủ nhật của tuần lễ cuối cùng trong tháng. Lúc cần thì họp “chi bộ” mở rộng, tức là có “quần chúng” tham gia. “Bí thư chi bộ” thì luân phiên nhau làm, nhiệm kỳ là 01 tháng, bắt đầu từ người nhiều tuổi đảng nhất. Các đảng viên trong “chi bộ” này cũng phải đóng “đảng phí” với mức là 1% mức lương, số tiền này làm quỹ và trích ra liên hoan buổi trưa hôm sinh hoạt. Đảng viên bắt buộc sinh hoạt đầy đủ, trừ lý do bất khả kháng, nhưng không được vắng 03 kỳ họp liên tiếp. “Chi bộ” này không có cấp ủy cấp trên trực tiếp, cho nên không có ai giao nhiệm vụ, không tổ chức nào kiểm tra, giám sát mà hoạt động theo hình thức “3 T: tự nguyện, tự giác, tự quản”.
Lý do trước khi “chi bộ” này ra đời là khi đảng viên bà nội lúc chuyển nơi ở có ý định “cất thẻ đảng viên vào tủ” như “kỷ niệm một thời”. Nhưng khi đó, tất cả các thành viên gia đình đã nhất loạt biểu quyết phản đối ý định trên, yêu cầu “đồng chí bà nội” chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ: cá nhân phục tùng tập thể.
Điều quan trọng nữa là, qua thực tế cuộc sống xã hội hiện nay, môi trường làm việc của P. và vợ, rất nhiều cám dỗ, mua chuộc, sa ngã nếu không có bản lĩnh phấn đấu, giữ gìn phẩm chất của người đảng viên cũng như không có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ thường xuyên. Lúc đầu chỉ là những cuộc sinh hoạt gia đình trong các bữa ăn, người đảng viên có nhiều tuổi đời, tuổi đảng, kinh nghiệm sống trong gia đình đã đề xuất, thuyết phục mọi người họp gia đình vào ngày nghỉ để tổ chức bữa “ăn tươi” và trò chuyện về công việc, giải quyết vướng mắc, khó khăn của gia đình và từng cá nhân, trao đổi, góp ý kiến cho các thành viên. Nhờ thuyết phục, bằng tình cảm mẫu tử mà việc sinh hoạt gia đình dần đi vào nền nếp, có tác dụng rất rõ rệt.
Đến nay, “chi bộ” này đã đề ra một số “nghị quyết” được thực hiện và đi vào nền nếp. Chẳng hạn, cứ có số đảng viên quá bán, nhất thiết duy trì sinh hoạt “chi bộ” và ăn trưa sau buổi họp. Nhất thiết các đảng viên phải ăn bữa tối cùng nhau (nếu đảng viên nào về ăn trưa được thì biểu dương, khen thưởng). Nếu có việc phải ra ngoài vào buổi tối, các đảng viên nhất thiết phải về đến nhà trước 22 giờ. Thực hiện “gia đình không hút thuốc”, không rượu chè bê tha, “đã uống rượu bia thì không lái ô-tô, xe máy”. Các đảng viên không ai được nhận những đồng tiền không do sức lao động của mình làm ra và thực hiện công khai thu nhập trước “chi bộ”...
Cứ như thế, mỗi lần họp, mọi đảng viên ở đây đều gọi là sinh hoạt “chi bộ nhà ta”. Chắc chắn, nếu xã hội tổ chức được nhiều “chi bộ nhà ta” như thế sẽ góp phần ngăn cản sự “bắn phá” từ các tiêu cực bên ngoài vào các “tế bào” của Đảng và của chế độ xã hội chúng ta./.
Hà Nội chống dịch với “từ khoá” 3-3-4: “3 lớp”, “ba trước”, "4 tại chỗ"
Trong văn bản mới nhất về triển khai thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Thành phố (TP), Hà Nội yêu cầu các đơn vị, địa phương chủ động rà soát, xây dựng bổ sung các kịch bản, phương án phòng, chống dịch theo nguyên tắc “3 lớp”, “3 trước” (nhận diện trước; chuẩn bị phương án, lực lượng, vật tư trước; phát hiện, hành động, xử lý trước) và “4 tại chỗ” trong mọi cấp độ, tình huống của dịch bệnh, kể cả mức cao nhất.
Cán bộ… tắc kè hoa!
Ai cũng biết sở trường lớn nhất của tắc kè hoa là khả năng biến hình - tự thay đổi màu sắc cơ thể để thích ứng với môi trường và đánh lừa kẻ thù. Song nếu người cán bộ “học được” sở trường này của loài tắc kè hoa thì lại là một nguy hại lớn…
Là một cán bộ có thâm niên công tác nhiều năm ở huyện A, ông S được mọi người biết đến không phải vì năng lực công tác mà chính bởi khả năng “biến hình” tài tình. “Biến hình” ở đây không có nghĩa là ông có tài ảo thuật gì cao siêu mà là việc ông S luôn có những chuyển biến “tích cực”, những “tiến bộ” rõ rệt “đúng vào thời điểm cần thiết”. Hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng, lẽ ra ông S phải là người cán bộ có tác phong công tác quần chúng, gần gũi cấp dưới, tinh tế nhạy bén khi tiếp xúc với nhân dân. Nhưng ngược lại, ông luôn tỏ ra “quan cách”, “trịnh thượng”, ngại đi cơ sở, ngại tiếp xúc với nhân dân; giải quyết công việc một cách máy móc, “kinh nghiệm chủ nghĩa”… Tại các hội nghị, với tinh thần tự phê bình và phê bình, mọi người trong cơ quan đã không ít lần đóng góp ý kiến một cách chân thành, thẳng thắn, những mong ông S nhận rõ khuyết điểm, từ đó chủ động, tích cực khắc phục để hoàn thiện bản thân. Song với tư duy bảo thủ, thái độ thiếu cầu thị, việc khắc phục khuyết điểm ở ông “gần như bằng không”. Hay như cách ông S vẫn thường ngụy biện thì những khuyết điểm ấy là do “cá tính” nên “rất khó thay đổi”, “phải sửa dần dần” và “tập thể cần thông cảm cho ông”!
Tuy vậy, cứ gần đến những thời điểm “nhạy cảm”, ông S lại làm cho mọi người trong cơ quan, nhất là những cán bộ mới chuyển về thực sự “bất ngờ” trước sự “chuyển biến vượt bậc” của ông. Còn nhớ thời gian đầu khi mới về cơ quan công tác, tôi đã thực sự “choáng” bởi khả năng “biến hình” của ông S. Đó là trước mỗi kỳ đại hội hoặc những khi cần lấy phiếu tín nhiệm hay đề bạt, bổ nhiệm… thì chẳng cần đến ý kiến phê bình, góp ý của mọi người, ông S vẫn “chủ động, tích cực khắc phục khuyết điểm của bản thân” - như ông tự nhận trong bản kiểm điểm. Mọi người trong cơ quan thấy ông gần gũi hơn, nhiệt tình hơn trong các công việc tập thể, quan tâm đến cấp dưới một cách “đột xuất”, thậm chí là thái quá! Ông hạn chế va chạm với mọi người, cũng không còn hách dịch, quan cách; dường như ông S đã trở thành người khác, “con người của công việc”, “người cán bộ của quần chúng”. Tiếc rằng, hình ảnh đẹp đó chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi, để rồi sau khi đã qua thời điểm nhạy cảm ông lại trở về với con người thật của mình bởi đó là do “cá tính trời sinh”.
Tuy chưa phải quá phổ biến song hiện nay, những “cán bộ… tắc kè hoa” như ông S cũng không còn là cá biệt. Nhiều người tự hỏi, phải chăng đó là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, lối sống thực dụng ở một số cán bộ, đảng viên? Vẫn biết “nhân vô thập toàn”, trong sinh hoạt, học tập, công tác… ai cũng có thể mắc khuyết điểm song điều quan trọng là thái độ thành thực trước khuyết điểm và quyết tâm khắc phục những khuyết điểm đó. Những cán bộ như ông S dù có “biến hình” tài tình đến mấy thì cũng không thể mãi đánh lừa được tập thể.
Thiết nghĩ, với những “cán bộ… tắc kè hoa”, cách làm hiệu quả nhất là mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần nêu cao tinh thần đấu tranh, phê bình thẳng thắn, kiên quyết để từng tổ chức đảng, từng cơ quan thực sự là một tổ chức đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động xứng đáng với niềm tin của quần chúng, nhân dân./.
Ông Nghè xưa và nay
Ông Nghè là tên dân gian để gọi những người đỗ Tiến sĩ. Vì thế, Tiến sĩ và ông Nghè chỉ là một.
Thời phong kiến, ở các đô thị miền Bắc nước ta, cứ vào dịp Tết Trung Thu, ngoài những đồ chơi bày bán khắp các phố phường như đèn ông sao, đèn kéo quân... còn có một món đồ chơi cũng được các bậc cha mẹ và các em bé rất ưa chuộng là hình ông Tiến sĩ bằng giấy. Ông Tiến sĩ này mặc áo thụng xanh, đi hia, đội mũ cánh chuồn, ngồi bảnh chọe trên ghế, có lọng che, trông thật oai phong và danh giá. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã miêu tả ông Tiến sĩ giấy này trong một bài thơ trào phúng có tiêu đề: "Ông Nghè tháng tám" với những câu rất dễ nhớ:
Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông Nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế tréo lộng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi
Từ xưa tới nay, khi đọc bài thơ này, ai cũng bảo đây là Nguyễn Khuyến chửi mấy ông Tiến sĩ rởm, chẳng có tài cán gì và tự đề cao mình; coi mình mới là Tiến sĩ xịn. Nhưng không phải như vậy. Hiểu thế là oan cho Nguyễn Khuyến. Thật ra, ông làm bài thơ này là để tự nhạo báng mình và những Tiến sĩ cùng thời với ông. Họ đều thuộc hàng tinh hoa của dân tộc, chữ nghĩa đầy người, tài năng không thiếu mà chẳng giúp ích được gì cho đất nước, cho dân tộc, đành chịu bó tay, rơi lệ, bất lực trước tầu đồng, súng sắt của thực dân Pháp xâm lược. Theo ông, Tiến sĩ như vậy thì có khác nào "đồ chơi".
Nói cho thật khách quan và công bằng thì các ông Nghè (Tiến sĩ) thời xưa vào loại cực kỳ thông minh, chứ không hề dốt nát một tý nào. Ở nước ta, nền khoa cử theo kiểu của Trung Quốc bắt đầu có từ thời nhà Lý. Đến thời nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX, nền khoa cử này đã đạt đến một trình độ cao và được tổ chức rất chặt chẽ, quy mô. Khi đó, Triều đình quy định cứ ba năm mở một khoa thi. Trước hết là thi Hương ở các địa phương để chọn Cử nhân; sau đó thi Hội ở kinh đô Huế để chọn Tiến sĩ; cuối cùng là thi Đình do Nhà vua trực tiếp ra đề. Thi Đình là cuộc đọ sức quyết liệt giữa các Tiến sĩ với nhau để xếp thứ bậc cao, thấp. Thời ấy không có chuyện mua bằng cấp. Đạt được các học vị Cử nhân hay Tiến sĩ đều là những người thật sự có tài. Thí dụ: Khoa thi Hương năm Tân Mão (năm 1891) có 1.600 thí sinh, nhưng chỉ có 20 người đỗ Cử nhân. Khoa thi Hội năm Tân Mùi (năm 1871) có 200 Cử nhân dự thi nhưng chỉ có ba người đỗ Tiến sĩ (trong đó Nguyễn Khuyến đỗ đầu).
Ngày nay, trong xã hội ta có rất nhiều Tiến sĩ (ông Nghè). Dù được đào tạo ở trong nước hay ở nước ngoài thì học vị mà họ đạt được nhìn chung đều xứng đáng, ngang tầm với trình độ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Đó là một thực tế hiển nhiên, không thể phủ định. Song, bên cạnh đó, còn một thực tế khác nữa cũng phải thừa nhận là có một số Tiến sĩ "rởm". Nghĩa là, họ bỏ tiền ra mua bằng cấp đó chứ không phải họ đạt được do thực lực của chính mình. Chuyện này ở trung ương và địa phương đều có cả. Không ít trường hợp đã bị phát giác và bị xử lý kỷ luật. Song, những trường hợp lọt lưới vẫn còn nhiều.
Ngoài việc mua bằng cấp thì trình độ của một số ông Nghè (Tiến sĩ) có bằng cấp hẳn hoi chứ không phải mua cũng rất đáng quan ngại. Trước đây, khi còn đương chức, tôi được mời tham dự nhiều buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ. Có lần, tôi chứng kiến một nghiên cứu sinh trong buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ của mình đã nói ngọng giữa chữ L và chữ N. Xin dẫn chứng một câu điển hình: "Tôi nuôn ghi nhớ và biết ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo sư, Tiến sĩ N.K.Đ". Thấy tôi cười, ông bạn ngồi cạnh tôi bèn nói đỡ: "Anh thông cảm, trong ngôn ngữ học, người ta gọi đấy là phương ngôn chứ không phải là nói ngọng". Đó là chuyện ở trong nước, còn ở nước ngoài thì sao? Hồi tôi học ở AOH (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô) được biết có một số nghiên cứu sinh Việt Nam (tất nhiên chỉ là số rất ít) tiếng Nga kém nên họ phải thuê người viết luận án và viết luôn cả bản tóm tắt để đến hôm bảo vệ cứ thế mà đọc... Còn rất nhiều thí dụ khác nữa, nếu viết hết ra đây làm sao đủ giấy!
Có lúc tôi nghĩ, nếu cụ Nguyễn Khuyến sống lại thì thế nào cụ cũng sẽ viết bài: "Ông Nghè tháng tám thời nay"./.
Bắt quan tham
Mấy năm trước, học xa nhà, buổi tối mùa đông băng tuyết đầy trời, ai cũng đóng cửa kín mít. Nghiên cứu mãi cũng mỏi. Đọc sách mãi cũng mệt. Mở tivi xem, cả trăm kênh truyền hình nội địa toàn một thứ tiếng loảng xoảng. Chết nỗi cái thứ tiếng này một chữ bẻ đôi mình không biết.
Một mình đêm vắng bật tivi cho có tiếng người. Không biết tiếng, xem hình lâu rồi cũng hiểu. Cứ tối, kênh tivi nào cũng phát phim truyện. Tò mò xem thử, hóa ra toàn phim bắt quan tham. Hay đấy. Mỗi đêm bắt hàng chục quan tham. Từ quan to đến quan nhỏ, từ quan béo đến quan gầy, quan nào tham nhũng đều bắt hết. Đang quan chức com-lê cà-vạt phương phi, đường bệ bỗng tay còng áo tù co ro, mặt cắt không một giọt máu. Đáng đời quan tham. Không biết tiếng, chỉ xem hình cũng khoái chí lắm.
Một hôm, nhân thảo luận về công tác tổ chức cán bộ. Mình nói với giáo sư: Truyền hình tối nào cũng chiếu phim chống tham nhũng, có cả trăm kênh, kênh nào cũng bắt rất nhiều quan tham.
Giáo sư cười tươi: Đúng quá. Tham nhũng là quốc nạn. Liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Ảnh hưởng đến uy tín của đảng. Một bộ phận không nhỏ đảng viên lãnh đạo thái hóa, biến chất. Cả nước chống tham nhũng. Cả nước giăng lưới bắt quan tham. Bắt quan tham thì sướng lắm. Càng bắt được nhiều dân càng sướng. Càng bắt được quan to dân càng sướng. Xem truyền hình cả nước vui mừng, hể hả, phấn khởi sung sướng không sao kể xiết.
Mình nói: Truyền hình ở đây đấu tranh chống tham nhũng mạnh quá, quyết liệt quá, vui quá. Giáo sư nói: Đấy là anh mới xem truyền hình, nếu đọc báo, nếu dự các cuộc hội nghị tình hình còn quyết liệt hơn nhiều, chống tham nhũng sôi sục lắm. Đọc báo, đến hội nghị, hội thảo mới thực sự là kiên quyết bắt quan tham. Có biết bao vụ đại án bị phanh phui. Có biết bao đại quan sắp tống ngục. Quan tham nguy to rồi. Nhân dân cả nước cứ gọi là hả hê sung sướng vô cùng.
Mình nói: Không đọc báo, không đến hội nghị, nhưng xem phim bắt quan tham như thế đã thích lắm rồi. Nhưng, thích thì thích thật cũng băn khoăn.
Nghe thế, giáo sư tỏ vẻ ngạc nhiên. Mình nói: Tối nào cũng bắt hàng trăm quan tham thế này thì chả mấy năm là bắt hết quan, bắt hết người mất, làm gì còn quan nữa.
Thấy mình lo lắng, giáo sư cười hóm hỉnh: Anh đừng quá lo cho quan tham, trời lạnh thế nay mà ốm thì gay đấy. Ha ha, quan tham chỉ bắt trong phim ảnh, báo chí, hội nghị thôi, đừng sợ. Nói xong, giáo sư lại cười ha hả, rất khoái chí.
Chống tham nhũng thế này thì siêu thật. Dân vô cùng sung sướng, quan sung sướng vô cùng. Ai cũng sung sướng. Quả là, đúng phương châm: tất cả cùng thắng./.
Rượu vào, lời ra
Một lần đi công tác, tôi bày tỏ ý định muốn tìm hiểu về mô hình bí thư cấp ủy trong các doanh nghiệp nhà nước, đồng chí bí thư thành ủy H. liền cử cán bộ dẫn chúng tôi tới bốn doanh nghiệp điển hình. Doanh nghiệp thứ nhất: giám đốc kiêm bí thư đảng ủy. Doanh nghiệp thứ hai: phó giám đốc kiêm bí thư đảng ủy. Doanh nghiệp thứ ba: bí thư đảng ủy chuyên trách. Doanh nghiệp thứ tư: trưởng phòng tổ chức kiêm bí thư đảng ủy. Bài viết này chỉ tập trung vào mô hình thứ tư.
Trong buổi tiếp chúng tôi (có tất cả các thành viên ban giám đốc và đảng ủy), đồng chí bí thư báo cáo một số nét cơ bản về công tác xây dựng Đảng của doanh nghiệp. Anh nói khiêm tốn, cầm chừng và luôn luôn khẳng định: “có được những kết quả như vậy là nhờ sự quan tâm của ban giám đốc nói chung và đồng chí giám đốc nói riêng đối với hoạt động của đảng ủy”. Anh nói rất ngắn và dường như cũng không có gì để nói dài hơn. Sau đó, anh quay sang giám đốc rồi khép nép: “Thưa anh, được anh cho phép, em đã báo cáo với đoàn một số nét cơ bản về công tác xây dựng Đảng, có gì cần bổ sung, xin anh nói thêm”. Đến lượt mình, đồng chí giám đốc cũng rất khiêm tốn. Ông giới thiệu những thành tích nổi bật trong sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân viên trong mấy năm gần đây và không quên nói tới vai trò đặc biệt quan trọng của đảng ủy. Ông nói thêm: “Còn việc đồng chí hỏi trưởng phòng làm bí thư đảng ủy có trở ngại và hạn chế gì không thì tôi xin trả lời ngay rằng: không. Điều đó là sự thật, bởi vì mọi công việc của doanh nghiệp và của đảng bộ đều trôi chảy, mối quan hệ giữa ban giám đốc và đảng ủy đều rất tốt đẹp. Thú thật tôi rất thích mô hình bí thư cấp ủy mà chúng tôi đang áp dụng”.
Sau buổi làm việc, trong bữa tiệc rất thịnh soạn do ban giám đốc và đảng ủy chiêu đãi, tôi giả vở mượn hơi men, ghé vào tai đồng chí giám đốc và hỏi nhỏ: “Này, ông khoái cái mô hình bí thư cấp ủy ở đây chỉ vì ông dễ điều khiển phải không?”. Xin mở ngoặc để nói thêm là, bắt đầu từ đây, tôi và đồng chí giám đốc xưng hô với nhau một cách thân mật là ông - tôi; chứ không gọi nhau là đồng chí nữa. Có lẽ vì đã ngấm hơi men nên giám đốc trả lời rất thật thà. Tất nhiên, ông cũng chỉ ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Ông nói rất đúng. Bí thư đảng ủy chỉ là trưởng phòng thì mình nói gì nó chẳng phải nghe; nếu bí thư là phó giám đốc có khi nó còn dám cãi lại mình. Ở đây, bí thư chỉ là chậu hoa, cây cảnh mà thôi. Mọi vấn đề của doanh nghiệp và của đảng bộ đều do tôi quyết hết. Tôi chẳng dại gì ham hố như mấy ông giám đốc khác là kiêm luôn chức bí thư đảng ủy. Cho trưởng phòng làm bí thư, mình vừa được tiếng là dân chủ, tôn trọng đảng ủy, không độc đoán, chuyên quyền, vừa dễ sai bảo và lại vừa được kính trọng. Ông thấy quyết định của tôi có sáng suốt không?”. Đúng là “rượu vào, lời ra” và những lời nói khi ngấm chút hơi men thường rất thật.
Tìm một mô hình bí thư cấp ủy thích hợp nhất trong các doanh nghiệp nhà nước là vấn đề lâu nay chúng ta rất quan tâm. Nhưng mô hình nào thì cũng phải phụ thuộc vào những con người cụ thể, trước hết là những cán bộ chủ chốt như giám đốc và bí thư. Nếu những người đó có tính đảng cao, có năng lực và phương pháp công tác tốt, biết tôn trọng nhau, biết đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, tập thể và của hàng nghìn, hàng vạn công nhân, lao động trong doanh nghiệp mà mình phụ trách lên trên những tính toán cá nhân thì không có gì là khó khăn, trở ngại. Còn nếu không như thế, dù có áp dụng bất cứ mô hình nào thì phía sau nó cũng nảy sinh những điều bất ổn./.
Hưu trí = HT = Hết tất ?
Chi bộ khu dân cư chúng tôi, 100% đảng viên là cán bộ hưu trí. Để cho gọn, tôi xin gọi tắt là chi bộ hưu. Mặc dù là chi bộ hưu nhưng chúng tôi sinh hoạt đều đặn và nghiêm túc lắm, vào đúng ngày mồng ba hằng tháng. Và, đã trở thành thông lệ, trong các buổi sinh hoạt chi bộ, trước khi đi vào những nội dung chính, bao giờ chi ủy cũng dành khoảng 30 phút “ngoại khóa” để các đảng viên uống trà và trao đổi, đàm đạo việc Đảng, việc đời. Trong buổi sinh hoạt gần đây, ông Đ. nêu ra câu đố: “Đố các cụ biết hưu trí là gì?”. Ông đố thế, rồi tự giải thích luôn: “Hưu trí là hắt tê, là hết tất!”. Hầu như cả chi bộ đều cười, tỏ vẻ tán thưởng. Được thể, ông nói thêm: “Bây giờ chúng mình là “phó đảng viên, phó thường dân” rồi. Đấy, ngay cái chuyện nhỏ như lương hưu mới kỳ này, Chính phủ quy định được hưởng từ tháng 7-2013, nhưng hết tháng 7 rồi lại hết tháng 8, cán bộ hưu vẫn chưa được lĩnh lương mới”. Có một số ý kiến khác chêm vào: “Thêm mỗi tháng được mấy trăm bạc, ăn nhằm gì”; “Các cụ không đọc báo mạng à, Nhà nước lúc đó cạn kiệt tiền trả lương hưu rồi”. “Ai bảo cho về hưu sớm; ở nhiều nước, cán bộ phải làm việc đến 65 tuổi mới được về hưu”. “Các quan chức ở nước ta thì lại chỉ mong kéo dài tuổi về hưu thôi cụ ạ”, v.v. và v.v.. Thôi thì đủ thứ. Chuyện của các cụ hưu mà.
Sau buổi sinh hoạt chi bộ, ông T, một cán bộ cao cấp về hưu, kéo tôi về nhà ông uống cà phê. Tôi và ông rất hợp nhau nên thường hay tâm sự và tham khảo ý kiến của nhau về đủ các thứ chuyện trên đời. Ông đi ngay vào vấn đề: “Nói như ông Đ, mình không tán thành chút nào. Song, đấy không thuộc phạm vi nội dung sinh hoạt chính thức của chi bộ nên mình không muốn tranh luận. Cán bộ hưu trí chúng mình khi đương chức, không ít người là cán bộ lãnh đạo, quản lý, được Đảng và Nhà nước đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ hết sức chu đáo. Nay về hưu lại phát sinh những suy nghĩ tiêu cực như thế là hoàn toàn không nên. Mình biết, ông Đ. trước khi về hưu là vụ trưởng; đã từng được Đảng và Nhà nước cho đi học tập và đào tạo ở Liên Xô nhiều năm; có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo sư”.
Ngừng một lát, rồi ông tâm sự tiếp: “Đúng là người về hưu có nhiều cái hẫng hụt như hẫng hụt về thu nhập, hẫng hụt về thông tin, hẫng hụt về nếp sinh hoạt... Song, tự mình phải tìm cách khắc phục, không nên bất mãn và buông xuôi. Phải nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới và luôn tự điều chỉnh bản thân để đạt tới độ thích nghi cao nhất. Có như thế thì mới thấy thoải mái, thanh thản, yêu đời, tin Đảng, tin chế độ. Thí dụ, đối với mình, khi về hưu, điều hẫng hụt lớn nhất là thông tin. Lúc còn đương chức, mỗi sáng đến cơ quan, trên bàn làm việc của mình, cô thư ký đã để đầy ắp các loại báo, tạp chí, tài liệu, bản tin... Vì thế, thông tin được cập nhật hằng ngày, thậm chí có thể nói khi đó, mình ở vào tình trạng bội thực thông tin. Đến khi về hưu lại rơi vào tình trạng đói thông tin một cách ghê gớm. Để khắc phục tình trạng đó, trước hết, mình mua ngay một bộ máy vi tính để bàn rồi đăng ký hòa mạng in-tơ-nét, hằng ngày lướt nhanh qua các trang báo mạng để cập nhật thông tin. Mình còn đặt mua thêm một số tờ báo và tạp chí cần thiết; theo dõi thường xuyên các chương trình thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam. Quỹ thời gian của người về hưu nhiều lắm. Vì thế, cùng với việc xem báo chí, hằng ngày, mình đọc thêm sách. Thí dụ, đọc lại Hồ Chí Minh toàn tập, hệ thống và phân loại tư tưởng của Người về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mình cũng đọc lại cả bộ Tư bản của C. Mác. Thú thật, khi còn đương chức mới chỉ đọc được những phần phục vụ sát sườn cho công tác chứ không đọc toàn bộ một cách có hệ thống vì đơn giản là không có thời gian. Làm những việc đó, mình thấy rất có ích và thời gian trôi đi rất nhanh, sống rất thanh thản, thoải mái, tránh được tình trạng “nhàn cư vi bất thiện”.
Về hưu, nhiều lúc tôi cũng cảm thấy buồn. Có lần tôi đã viết đơn xin miễn sinh hoạt Đảng với lý do tuổi cao, sức yếu để lui vào cuộc sống ẩn dật cho “quên hết sự đời”, nhưng ông T. khuyên không nên như vậy. Bây giờ, nghe thêm tâm sự của ông, tôi đã có suy nghĩ khác trước. “Hưu trí đâu phải là hết tất”. Đúng thế./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)