Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

 

Những yêu cầu đặt ra đối với việc đấu tranh

chống các quan điểm sai trái, thù địch

 

Đảng ta do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng. Có thể nói sinh mạng của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng của công tác lý luận của chúng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.

 

Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định, và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận, mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. Đại hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp và đây là dịp các thế lực thù địch tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá những đường lối, quan điểm của Đại hội đề ra.

 

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn đọng một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. Văn kiện Đại hội XIII xác định rõ “kinh tế - xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Công cuộc đổi mới tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải tập trung giải quyết để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là việc nhận thức, giải quyết đúng, hiệu quả các mối quan hệ lớn.

Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý và những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội… cũng bị những thế lực đế quốc phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. Từ đó trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản nhất là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chính yếu sau:

 

Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan duy ý chí hoặc do bảo thủ trì trệ dẫn tới sự đình đốn thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu – những nơi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực tưởng như rất vững chắc, nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng, đã cho ta bài học sâu cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn của con đường đi tới tương lai của loài người. Vấn đề đặt ra là vận mệnh của chủ nghĩa xã hội sẽ phụ thuộc vào chính việc nhìn nhận rõ và khắc phục tốt những vướng mắc bên trong của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất là khi chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng một cách hoàn hảo. Đó là những vấn đề nảy sinh từ tính phức tạp của thực tiễn mà ta chưa lường hết và có trường hợp từ sai lầm về nhận thức dẫn tới sai lầm về hành động; từ sự thiếu hiểu biết mà làm sai, làm ẩu; sự thiếu nhạy cảm nên chậm chạp để mất thời cơ; sự vi phạm nguyên tắc dẫn tới sự chệch hướng.

Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Nhưng ai cũng biết, mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách đố đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.

 

 

Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng: Một mặt, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội và xã hội xã hội chủ nghĩa được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những qui luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về chủ nghĩa xã hội được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ những vấn đề, những yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. Lý thuyết nguyên bản cội nguồn đó khi được áp dụng vào những tình huống cụ thể, lẽ ra phải tính tới sự gắn kết những điều kiện bên ngoài với bên trong và phải được soi rọi từ thực tế thì sự vận dụng nhiều khi biệt lập, không cân nhắc đến khía cạnh đó nên dễ bị khiên cưỡng và thường gặp những vướng mắc khó có thể tháo gỡ.

Tính trừu tượng cao của chủ nghĩa xã hội khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể không tính đến, thậm chí phải hết sức tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

 

Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Vấn đề sở hữu cũng vậy, trước đây trong lý thuyết chúng ta chú trọng hết sức đến hai hình thức sở hữu trong xã hội chúng ta là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là điều tuyệt đối đúng, là hình thức cơ bản đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Cho đến hiện nay, khi xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện những nhận thức lửng lơ, phó mặc, ít chú trọng tới việc củng cố, hoàn thiện các thành phần kinh tế mang tính chủ đạo, nền tảng là kinh tế nhà nước và hợp tác xã.

Vấn đề công thức hóa cũng vậy. Khi nói về kết cấu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 

Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng chung sức.

 

Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là, triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cối lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, đối với mỗi chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mình khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.

Những vấn đề nêu trên là những yêu cầu đặt ra trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay và trực tiếp là cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng do Đại hội XIII vạch ra. Càng thực hiện tốt các yêu cầu đó, cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung và đấu tranh lý luận nói riêng sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi.  ST

 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam

 

1. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được thể hiện xuyên suốt trong các tác phẩm của Người, từ Đường cách mệnh đến Chánh cương vắn tắt và những bài viết sau này. Đó là tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc; xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tức là, cách mạng nước ta sẽ trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong các tác phẩm kinh điển đã dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề dân tộc và độc lập dân tộc; chỉ rõ con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc. V.I.Lênin đã phát triển luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen "vô sản toàn thế giới liên hiệp lại" thành "vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại", trở thành khẩu hiệu của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước bị áp bức trên toàn thế giới.

Hồ Chí Minh đã khẳng định tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc là một trong những vấn đề bản chất nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã nêu rõ mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặt nền tảng cho sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Độc lập dân tộc là quyền tự chủ, tự quyết của một dân tộc, quốc gia trong việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trong phạm vi lãnh thổ của mình, không chịu sự tác động, ép buộc, chi phối, thao túng của nước ngoài. Độc lập dân tộc phải trên cơ sở bảo đảm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, được luật pháp quốc tế thừa nhận và trên thực tế phải được khẳng định. Độc lập dân tộc là thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc không chỉ dừng lại ở độc lập dân tộc dưới chế độ phong kiến, vì vị trí của người lao động vẫn không thay đổi. Độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nền độc lập thật sự. Người nhấn mạnh: phải đấu tranh giành cho được độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, chứ không phải là thứ "độc lập giả hiệu", "độc lập nửa vời", "độc lập hình thức". Người đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới để giành độc lập thật sự cho dân tộc, cho đất nước. Tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn với tự do, dân chủ và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động; gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã trở thành mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội. Học thuyết này đề cao các giá trị độc lập dân tộc; khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là bước phát triển tất yếu, khách quan ở Việt Nam sau khi đã giành được độc lập dân tộc. Người viết: "Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân sung sướng, ấm no"[1]; "chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ"[2].

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng mà còn là động lực của cách mạng Việt Nam, Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc chỉ đạo tiến trình cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta kiên định, quán triệt trong Cương lĩnh, đường lối, chủ trương; Nhà nước thể hiện nguyên tắc này trong chính sách, pháp luật. Toàn thể hệ thống chính trị, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thực hiện đúng nguyên tắc, mục tiêu này. Đây là lý tưởng, định hướng chiến lược của Đảng, tâm nguyện của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao cả của độc lập dân tộc, độc lập dân tộc là điều kiện then chốt để bảo đảm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân; dân chủ được mở rộng, người dân thực sự trở thành chủ nhân của đất nước mình.

2. Mối liên hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai chặng đường nối tiếp nhau của một tiến trình cách mạng. Hay nói cách khác, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mục tiêu cụ thể của hai cuộc cách mạng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng dân tộc, dân chủ, làm tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác, như quyền lực chính trị, dân chủ, vấn đề ruộng đất, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao trình độ dân trí… xây dựng một thể chế chính trị do dân làm chủ, xây dựng nền dân chủ nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội…. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai đoạn tiếp theo của tiến trình cách mạng Việt Nam, sau khi kết thúc giai đoạn trước là cách mạng dân tộc, dân chủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mối liên hệ biện chứng giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này là cơ sở quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cách mạng xã hội chủ nghĩa đã kế thừa, khẳng định và bảo đảm vững chắc thành quả của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sự phát triển này là quy luật tất yếu của lịch sử. Các giai đoạn của tiến trình cách mạng là những bước đi không thể tách rời nhau dù mỗi giai đoạn có những mục tiêu cụ thể riêng.

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng và thực tiễn cách mạng nước ta là minh chứng lịch sử cho mối liên hệ biện chứng trên:

Giai đoạn 1930 - 1945: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua cương lĩnh vắn tắt, sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Trong đó, Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất, đấu tranh xây dựng một xã hội tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ cập giáo dục. Đảng xác định mục tiêu đánh đổ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, lấy ruộng đất chia cho dân nghèo.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 20 triệu nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đỉnh cao là cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chấm dứt chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp sau gần một thế kỷ. Thắng lợi vĩ đại này của dân tộc Việt Nam đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn 1945 - 1954: Đảng lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

 

Mục tiêu của giai đoạn này là tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, cụ thể hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu này mới đạt được ở miền Bắc. Sau hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Sau khi hòa bình lập lại, miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn này là hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam.

Giai đoạn 1954 - 1975: cả nước dốc lòng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc đã khơi dậy truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha, truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm của dân tộc. Cả nước xuống đường, cả nước hướng về miền Nam ruột thịt theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta "Tất cả cho tiền tuyến". Lịch sử Việt Nam chưa lúc nào được chứng kiến sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi, quy mô lớn như thời điểm này của cách mạng. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước - kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.

Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, thách thức to lớn: đất nước bị chiến tranh tàn phá; Mỹ và phương Tây tiến hành bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam; các thế lực phản động quốc tế phát động kiểu "chiến tranh phá hoại nhiều mặt"chống phá Việt Nam; nền kinh tế nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài nhiều năm. Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã từng bước hồi sinh đất nước về mọi mặt. Trước những bối cảnh mới của tình hình, Đảng ta luôn xác định phải giương cao ngọn cờ "Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương chiến lược đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tạo điều kiện, tiền đề cho chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong mối liên hệ gắn kết biện chứng

3. Nhận diện quan điểm sai trái, thù địch về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị và các phần tử chống chủ nghĩa xã hội luôn tìm mọi cách phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng đưa ra luận điệu: Ở Việt Nam không thể có độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nội dung tập trung vào những lập luận sau:

 

Thứ nhất, ở một nước như Việt Nam, nhất là đã trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ bởi ngoại bang và chế độ phong kiến, sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, thực hiện chế độ dân chủ nhân dân là phù hợp, không cần tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai phạm trù độc lập, tồn tại ở các thời kỳ khác nhau, ở các quốc gia có định hướng chính trị khác nhau, không có mối liên hệ gắn kết. Đồng thời, phải thực hiện xong độc lập dân tộc, sau đó trải qua một thời kỳ "trung gian" quá độ từ độc lập dân tộc lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Việt Nam không thể có độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Việc Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xác định độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội và cho đó là một tất yếu, khách quan của lịch sử dân tộc Việt Nam là một sự gán ghép khiên cưỡng, bắt chước rập khuôn, máy móc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây.

Thứ ba, học thuyết của Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời, trên thực tế đã cáo chung sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới tồn tại được 70 năm đã tan rã, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Sai lầm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam là vận dụng học thuyết về chủ nghĩa xã hội vào Việt Nam. Vì vậy, kết cục Việt Nam sẽ cùng chung số phận như Liên Xô và Đông Âu. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện hiện nay thực chất là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, không có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và cũng không thể có độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội như Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định.

 Những lập luận trên đây hoàn toàn mang tính mặc cảm, áp đặt, không có căn cứ thực tiễn và khoa học, nằm trong mưu đồ chiến lược chống chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch

Luận điệu của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và các phần tử chống  chủ nghĩa xã hội ít nhiều đã tác động vào các giai tầng xã hội, làm xuất hiện sự hoài nghi trong nhận thức của những người non kém về chính trị, những người có thái độ mặc cảm với chế độ xã hội chủ nghĩa. Vấn đề đặt ra là phải chủ động đấu tranh vạch rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; nâng cao cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; vô hiệu hóa luận điệu của chúng; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Để có cơ sở đấu tranh, cần xây dựng luận cứ cho cuộc đấu tranh này.

Thứ nhất, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc, là chiến lược, bước đi của cách mạng Việt Nam.

 

Học thuyết C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội luôn đề cao các giá trị của độc lập dân tộc, khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của độc lập dân tộc. Học thuyết đồng thời chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong việc thành lập Đảng chính trị và vai trò của Đảng trong lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đập tan xiềng xích, áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, giành độc lập dân tộc, tạo tiền đề cho con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Học thuyết về chủ nghĩa xã hội của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho giai cấp vô sản toàn thế giới.

Đối với Việt Nam, các sĩ phu yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đều hướng các phong trào cách mạng vào mục tiêu giành độc lập dân tộc, nhưng cuối cùng đều thất bại do sai lầm về chủ trương, đường hướng cách mạng, không gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tức là làm cách mạng nửa vời. Khác với các chí sĩ cách mạng, sĩ phu yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đã sớm tìm đến học thuyết Mác - Lênin, đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để xác định phương hướng, đường lối cho cách mạng Việt Nam, đó là kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định cách mạng Việt nam không thể dừng lại ở đôc lập dân tộc; đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tìm ra con đường đúng đắn dựa trên học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2-1930) đã xác định mục tiêu của cách mạng nước ta là giành độc lập cho dân tộc để đi tới xã hội cộng sản, gắn tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã là sự lựa chọn tất yếu, khách quan của lịch sử nước nhà, là đường lối, bước đi chiến lược của Đảng ta từ khi mới thành lập.

Thứ hai, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là định hướng chính trị, mục tiêu xuyên suốt của tiến trình cách mạng Việt Nam.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã đi qua những giai đoạn đầy cam go trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và kháng chiến chống ngoại xâm. Tiến trình đó được phân kỳ lịch sử theo bốn giai đoạn: (1) Giai đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930-1945); (2) Giai đoạn vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (1945-1954); (3) Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (1954-1975); (4) Giai đoạn cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975 đến nay).

Trong suốt các chặng đường lịch sử của cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Đảng, là ngọn cờ cách mạng mà Đảng ta luôn giương cao. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng  xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam đã được thể hiện rõ trong các cương lĩnh, văn kiện Đại hội Đảng. Đường lối của Đảng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã được cụ thể hóa trong chính sách, thể chế hóa thành pháp luật của Nhà nước; được quán triệt vận dụng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Ngày nay, quan điểm, mục tiêu đó được Đảng ta khẳng định trong đường lối đổi mới, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Thứ ba, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có mối liên hệ biện chứng, trở thành động lực, nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch sử.

Dân tộc Việt Nam đã sống dưới ách đô hộ của phong kiến, thực dân, đế quốc hàng ngàn năm, luôn khát vọng độc lập dân tộc. Khát vọng đó tập hợp được lực lượng, đoàn kết được các giai tầng xã hội, trở thành động lực cách mạng, tạo nên sức mạnh vô biên đánh thắng mọi loại kẻ thù, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi đã đem lại cho mọi người dân cơm no, áo ấm, hạnh phúc, ai cũng được học hành. Khi độc lập dân tộc được gắn liền với chủ nghĩa xã hội sẽ tiếp thêm luồng sinh khí mới cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc, cho động lực và sức mạnh của cách mạng Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch sử. Bởi lẽ, độc lập dân tộc là tiền đề, là nền tảng và điều kiện tiên quyết để đi lên chủ nghĩa xã hội; ngược lại, chủ nghĩa xã hội là điều kiện bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc đạt được những chân giá trị  đích thực của nó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Phải đấu tranh giành cho được độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứ không phải là thứ "độc lập giả hiệu"; "độc lập nửa vời"; "độc lập hình thức". Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, tư tưởng, nguyên tắc để Đảng định hướng, chỉ đạo, dẫn dắt tiến trình cách mạng Việt Nam ngay từ những đêm dài tăm tối của lịch sử dân tộc cho đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Mối liên hệ biện chứng không thể tách rời giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta luôn luôn khẳng định trong các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nội dung độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta từng bước hoàn thiện cả trong tư duy, lý luận và thực tiễn cách mạng; cả hệ thống chính trị, các đoàn thể, tổ chức, mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đều quán triệt vận dụng, thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng ta giương cao. Đó là lập trường, quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, đạo đức cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã kết tinh thành sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí quật cường dân tộc, làm nên sức mạnh, động lực của cách mạng Việt Nam trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước hơn 90 năm qua.

Thứ tư, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là phù hợp với ý Đảng, lòng dân.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nguyễn Trãi đã từng khẳng định: "Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân", lấy dân làm gốc là hòn đá tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người sớm nhận ra vai trò to lớn của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng và xác định mọi tiến trình cách mạng của dân tộc phải là của dân, do dân tiến hành và mưu cầu hạnh phúc cho dân. Song, Hồ Chí Minh cũng khẳng định sự nghiệp cách mạng của quần chúng muốn giành thắng lợi phải do Đảng cộng sản - Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lãnh đạo. Người đã sớm chỉ rằng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Để Đảng vững được "phải có chủ nghĩa làm cốt", "Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ Nam"[3]. Người rút ra kết luận: cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời "phải làm cho dân giác ngộ". Dân phải được tổ chức và được lãnh đạo thì mới trở thành lực lượng to lớn, mới là chủ, là gốc cách mạng được.

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội làm kim chỉ Nam cho nhận thức và hành động; đồng thời tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, giác ngộ để quần chúng nhân dân hiểu rõ và hành động theo mục tiêu, lý tưởng đó. Đảng đã vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh giành chính quyền, hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lịch sử ra đời, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức cho thấy rõ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Dân tin Đảng, theo Đảng, thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà nền tảng của mọi chủ trương, chính sách là vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy sự nhất quán trong tư duy, nhận thức và hành động của Đảng và nhân dân. Cơ sở của sự nhất quán thống nhất đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của nhân dân trong tiến trình cách mạng; về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu, tư tưởng; vừa là nguyên tắc để mang lại độc lập dân tộc, dân chủ, giải quyết vấn đề quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, vấn đề ruộng đất, đời sống ấm no hạnh phúc, nâng cao dân trí…Đây là tâm nguyện của ý Đảng, lòng dân.

Thứ năm, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tâm điểm của phong trào công nhân và phong trào cộng sản quốc tế mà Việt Nam được tôn vinh là ngọn cờ đầu.

 

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội, trong đó đề cao các giá trị độc lập dân tộc, phù hợp với khát vọng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động  bị áp bức trên toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội chính là mục tiêu hướng tới của độc lập dân tộc, là bó đuốc dẫn đường cho phong trào công nhân, phong trào cộng sản thế giới trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm tìm đến, giác ngộ và vận dụng học thuyết Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, oanh liệt của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay là những minh chứng hùng hồn cho thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã nêu gương cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước châu Phi, châu Mỹ - La-tinh, châu Á, châu Âu đều lấy Việt Nam làm tấm gương, bài học lịch sử để noi theo. Với mục tiêu và thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã thực sự trở thành điểm sáng, là ngọn cờ đầu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân loại tiến bộ. Nhiều nước đã giành được độc lập dân tộc, lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm vào khủng hoảng, Đảng ta vẫn kiên định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn, càng khẳng định đường lối của Đảng ta là đúng đắn. Vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Đó là thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây đồng thời là đóng góp to lớn, có hiệu quả nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế trong thời đại mới./.  ST

 

Đổi mới chính trị không làm thay đổi chế độ chính trị

1. Quan điểm đổi mới chính trị không làm thay đổi chế độ chính trị

Từ trước đến nay, các thế lực thù địch luôn xuyên tạc việc đổi mới chính trị của Đảng vì bản chất và mục tiêu của chúng là nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng, mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.

Không chỉ lập lờ giữa các khái niệm, các thế lực thù địch còn chống phá, nhằm vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, đặc biệt là vào những thời điểm khó khăn.

Mục tiêu sâu xa của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xóa bỏ Đảng và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ thành quả cách mạng của đất nước ta, của Nhân dân ta dày công xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thông qua các hoạt động chống phá, các thế lực thù địch muốn gây mất ổn định chính trị, mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho kinh tế không phát triển, xã hội tất yếu dẫn tới rối loạn, khủng hoảng và sụp đổ; làm cho chính trị rối loạn, đất nước không ổn định, tất yếu cũng dẫn tới xoá bỏ chế độ chính trị.

Đổi mới chính trị ở Việt Nam những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chẳng những không làm thay đổi chế độ chính trị, trái lại, làm cho chế độ chính trị ngày càng thể hiện rõ hơn sự tiến bộ và phù hợp với điều kiện, đặc điểm của đất nước Việt Nam. Mặc dù thế giới có nhiều biến động, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những chủ trương và giải pháp của Đảng theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, qua lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn của con đường mà Đảng ta và Nhân dân ta đã chọn.

Quan điểm đổi mới đúng đắn này đã được khẳng định và thể hiện đầy đủ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Chương I của Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp 1992, bên cạnh đó, đã làm rõ hơn một số vấn đề như sau[1]:

Thứ nhất, Hiến pháp bổ sung thêm một điểm quan trọng là “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ” cùng với việc tiếp tục thể hiện nhất quán, xuyên suốt quan điểm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Khoản 2, Điều 2)[2].

Thứ hai, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nguyên tắc “kiểm soát quyền lực” được ghi nhận trong Hiến pháp bằng quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2)[3]. Nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong các chương quy định về tổ chức bộ máy nhà nước tại Hiến pháp năm 2013. Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền, việc ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 làm sâu sắc hơn tính tiên phong, bản chất giai cấp công nhân và Nhân dân của Đảng, đồng thời bổ sung vào Điều 4 quy định về trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân, theo đó, “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” (Khoản 2, Điều 4)[4].

Thứ tư, Hiến pháp bổ sung thêm quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6)[5] được ghi nhận thành nguyên tắc trong Hiến pháp, đây là điểm mới quan trọng của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây. Theo đó, từ nay Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân mà còn thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Sự nghiệp đổi mới chính trị không những không làm thay đổi chế độ chính trị mà trái lại còn củng cố chế độ chính trị, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Giữ vững vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

2. Kết quả đổi mới chính trị và củng cố chế độ chính trị

Cũng giống chế độ chính trị của bất kỳ quốc gia nào, chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay là sản phẩm của quá trình phát triển, hoàn thiện và đang tiếp tục được phát triển, hoàn thiện. Phát triển, hoàn thiện chế độ chính trị ở Việt Nam không cản trở quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế của đất nước, mà càng làm cho đất nước độc lập, tự chủ, giàu mạnh, phồn vinh, người dân được tự do, hạnh phúc. Những thành tựu của đổi mới chính trị mà Việt Nam đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định điều đó.

 

Đúng như đánh giá đánh giá của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Năm 2020 được xem là năm thành công hơn năm 2019 và là năm thành công nhất trong 5 năm qua với những kết quả, thành tích đặc biệt. Những kết quả, thành tích đó đã góp phần làm nên những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ khóa XII và thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay”[6], với những dấu ấn nổi bật trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Uy tín, niềm tin và vai trò là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam được tăng cường. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, do Nhân dân làm chủ ngày càng đi vào thực chất. Quyền làm chủ của Nhân dân được phát huy và đi vào thực chất. Quyền con người, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm.

Nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được củng cố vững chắc. Quyền lực nhà nước được thực thi thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội được nâng cao. Biên chế được tin giản gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đến năm 2021 đã giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2015.

Cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn một số tổ chức và các đầu mối bên trong của từng tổ chức theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian, giảm cấp phó. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để kịp thời khắc phục tình trạng trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý. Thực hiện thí điểm thành công một số mô hình mới về tổ chức bộ máy và kiêm nhiệm chức danh để tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Sắp xếp thu gọn hợp lý các đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn theo quy định về quy mô dân số, diện tích tự nhiên và giảm số lượng thôn, tổ dân phố. Chi thường xuyên giảm, chính sách tiền lương được cải cách[7].

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đổi mới chính trị đã góp phần đưa nước ta trở thành nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

          3. Giải pháp đổi mới chính trị và củng cố chế độ chính trị

Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp và là năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và các kế hoạch 5 năm trên các lĩnh vực theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội. Dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa một số quốc gia, đối tác trên thế giới và trong khu vực tiếp tục diễn ra gay gắt. Đại dịch Covid-19 chưa thể sớm kết thúc, tác động tiêu cực có thể kéo dài, ảnh hưởng đến nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là đối với đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch, vận tải hàng không.

Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi và được kế thừa những thành tựu quan trọng của 35 năm đổi mới, tác động của dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp; yêu cầu cho đầu tư phát triển, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó với biển đổi khí hậu, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn chế. Các xu hướng mới về dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của các mô hình kinh doanh, phương thức sản xuất, tiêu dùng, giao tiếp xã hội, khoa học công nghệ... vừa là thời cơ, vừa là thách thức, đòi hỏi chúng ta tuyệt đối không chủ quan, tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn, biến thách thức thành cơ hội, nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao thực hiện thành công toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2021, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

Để đổi mới chính trị, giữ vững và phát huy tính ưu việt của chế độ chính trị cả hệ thống chính trị cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và quyền làm chủ của Nhân dân; bám sát Cương lĩnh, Hiến pháp, Điều lệ và các văn kiện của Đảng trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo việc đổi mới, sắp xếp và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị.

Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu. Bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; gắn đổi mới tổ chức bộ máy với đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản biên chế và cải cách chế độ tiền lương; cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút người có đức, có tài; bố trí đủ nguồn lực cần thiết và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp. Có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả. Lãnh đạo tập trung, thống nhất; thực hiện thường xuyên, liên tục, tích cực, mạnh mẽ, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình, bước đi vững chắc, đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài. Những việc đã rõ, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định, hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội; những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để có chủ trương, giải pháp phù hợp.

Thực hiện nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính. Mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, không để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ[8].

Tiếp tục bồi dưỡng, phát huy hơn nữa lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào và ý chí tự cường của dân tộc; củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo không khí phấn khởi, sự đồng thuận trong xã hội, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIII. Nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tiếp tục khẳng định những thành tựu vĩ đại của dân tộc ta đã đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong đổi mới chính trị, đổi mới đất nước. Tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc, lý tưởng và đạo đức cách mạng, giới thiệu chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, về đất nước, con người Việt Nam kiên cường, dũng cảm, cần cù lao động và yêu chuộng hòa bình đến bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài[9].

Chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng để phục vụ tổ chức thành công bầu cử Quốc hội khóa XV và bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Quyết liệt hành động, có chương trình, kế hoạch cụ thể thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030 ngay trong năm đầu của nhiệm kỳ. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập; giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Huy động, sử dụng các nguồn lực theo cơ chế thị trường. Nâng cao kỷ cương, hiệu quả trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với thực thi nghiêm pháp luật. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại. Xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự cường, niềm tự hào dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; chú trọng phát triển nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ; làm chủ một số công nghệ mới, công nghệ có tính chiến lược. ST

Một nửa “thường dân”?

Ông K - hàm thứ trưởng - công tác tại một cơ quan trung ương. Sau khi đã về hưu, dăm bữa nửa tháng ông lại về quê sống để thăm họ hàng, bạn bè, làng xóm, trò chuyện với những người dân quê, bồi hồi ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu, rồi tính chuyện “hậu sự” trăm năm. Ông là người dễ gần, nên nhanh chóng gây được cảm tình, làm quen, trò chuyện một cách cởi mở với mọi người. Vì vậy mọi người cũng thích đến chơi nhà ông, trò chuyện lúc rỗi rãi. Thời gian đầu thấy ông ở lại nhà lâu ngày, nhiều người hỏi: Bác đã nghỉ chưa? Ông rằng: Nghỉ rồi, bây giờ về làm “phó thường dân” cho các anh, các chị đây! “Quan nhất thời, dân vạn đại” mà! Dân quê ông cũng biết nhiều thông tin, hay lý sự, nhiều khi họ cũng nói những câu “hoắm” đáo để: - Bác cứ khiêm tốn thế chứ! Bác ở “đẳng cấp” khác, đâu phải bằng vai với thường dân chúng em! - Nói vô phép, bác bỏ qua đừng giận. Tuy đi công tác xa quê lâu ngày, nhưng tính tình, cách ăn, cách nói của bác vẫn còn rất hợp với dân quê chúng em. Nhưng dù bác có “phấn đấu liên tục”, chạy đến “tẹt ga” ở cái làng này thì từ nay cho đến trước lúc “sang thế giới bên kia”, giỏi lắm thì bác cũng chỉ là một nửa thường dân chúng em thôi. Vì bác là người làm “quan” suốt đời, làm dân nhất thời! Câu chuyện dở dang ở đó vì có mấy anh cán bộ huyện xuống chơi. Từ hôm đó, ông K cứ suy nghĩ: tại sao họ lại bảo mình có phấn đấu hết đời cũng chỉ xứng đáng là một nửa thường dân ở cái làng này? Cả đời công tác, học qua nhiều trường nhiều lớp, trong nước có, ngoài nước có, ông chưa mấy khi nghe người ta nói phải học làm thường dân đâu? Làm cán bộ tốt mới khó, chứ làm thường dân thì đương nhiên rồi, cần gì phải phấn đấu, phải học tập? Vậy người quê ông nói thế là có ẩn ý gì? Ông đưa điều băn khoăn này ra trao đổi với nhiều người xung quanh. Qua tìm hiểu, cuối cùng ông nhận được một loạt câu hỏi kèm theo lời giải thích rằng, nếu ông trả lời chính xác, cặn kẽ được các câu hỏi đó thì sẽ cắt nghĩa được tại sao ông chỉ xứng đáng là một nửa “thường dân” ở cái làng này. Các câu hỏi thì có nhiều, nhưng đại loại có thể gom lại thành một số ý như sau: - Bác là cán bộ hay thường dân? Dứt khoát bác là cán bộ rồi còn gì. Người ta gọi bác là cán bộ hưu trí đấy thôi chứ có ai gọi bác là dân hưu đâu. Đầu mỗi tháng, đều đặn là bác có dăm bảy triệu đồng tiền lương hưu. Còn thường dân chúng em nằm mơ cũng không có! Chỉ cần một triệu đồng/tháng ở quê là đã sống đàng hoàng rồi! - Đã là cán bộ - đảng viên, dứt khoát cho đến chết, bác vẫn là người lãnh đạo thường dân chúng em. Nếu trở thành thường dân, hóa ra bác lại đánh mất vai trò lãnh đạo của mình à? Lại cùng giai cấp với nông dân chúng em sao? - Không biết bác thế nào chứ không ít cán bộ lãnh đạo khi đương chức thì “họp có người ghi, đi có người chở, ở có người chăm, nằm có người bóp”; quen ở nhà lầu, máy lạnh rồi, nay về quê, xe máy không biết đi, xe đạp không biết đạp, nói gì đến ruộng đồng, trồng cấy. Làm sao có thể thích nghi nổi cảnh làng quê thiếu thốn, khó khăn đủ thứ được. - Cỡ chức vụ như bác, khi đương chức, không ít thì nhiều, bác cũng thường hay quát nạt cấp dưới, lên giọng dạy bảo người dân khi xuống địa phương, cơ sở? Chúng em đã biết không ít cán bộ lãnh đạo cấp này, cấp khác, vì suốt đời làm lãnh đạo chuyên đi dạy bảo, lên lớp người khác, khi về hưu thói quen này đã ngấm vào máu. Cho nên tuy không còn địa vị cũ, nhưng khi nói là nhiều vị cứ yêu cầu phải làm thế này, phải làm thế kia, rằng sao lại như thế này, sao lại để thế kia; rằng để tôi gặp mấy cậu lãnh đạo ở tỉnh, ở huyện xem sao. Hầu như mỗi lần các vị này xuống gặp dân chỉ là để răn dạy. Những cán bộ như thế, cuối đời không kiếm đâu ra bạn thân thiết, tâm giao chứ nói gì chuyện chơi được với thường dân. Có người mách nước rằng, nên chăng, các vị ấy lên một tỉnh miền núi, xin lấy một quả đồi, dựng ngôi nhà rồi sống ở đó cho đến hết đời còn hơn sống cô độc giữa đồng chí, đồng bào! Theo ông K thì chẳng ai sức đâu mà tranh cãi, làm rõ đúng, sai, đen, trắng. Nhưng người dân quê ông nói vậy là cũng có cái lý và cái ý của họ. Do vậy, dù sao, ông cũng cố gắng phấn đấu để đến cuối đời đạt được một nửa “thường dân” theo cách nghĩ của người dân quê ông./.

Non lắm!

Cậu H một thanh niên đầy nhiệt huyết, mới tốt nghiệp đại học và được nhận vào một cơ quan nọ. Cuộc đời với cậu đang “mặn nồng hứa hẹn biết bao hoa”. Mấy hôm nay cậu phấn khởi ra mặt, lý do rất đơn giản, như cậu khoe với ông chú đã nghỉ hưu của mình. Ông chú, một người mà cậu luôn cho là thông thái, sắc sảo và thành đạt trong cuộc sống và cái chính, chú là người cậu có thể chia sẻ và tâm sự một cách thành thật cởi mở: - Chú ạ cháu vui quá vì hôm qua cháu được khen! Ông chú hỏi. - Vì sao hả cháu? Cậu H líu lo: - Hôm qua ở diễn đàn tuổi trẻ, cháu phát biểu hăng say nhiệt tình nên được khen. Có nhiều bạn cùng phát biểu, nhưng cháu được khen, cháu cũng thích thú! Điều này là do cháu chuẩn bị rất kỳ công… Chú chộp luôn: - Ai khen? - Một vài bạn, chú ạ. Họ khen là cháu nói hay, nói gọn… Ông chú thận trọng hỏi: Có sếp nào khen không? - Không ạ! Ông chú nói luôn: - Thế chưa hẳn đã hay? - Tại sao ạ! Ông chú bắt đầu lên lớp: - Nói chung, để được khen là cả một quá trình phấn đấu và tu luyện của mỗi cá nhân. Tuy nhiên được khen như thế nào? Và khen ở đâu? Hay ai khen lại là vấn đề không nhỏ. Vì được khen phải chứng tỏ điều gì đó hay là phải có hiệu quả rõ ràng. Cùng là lời khen, nhưng nếu sếp khen là một nhẽ nhưng nếu lời khen từ một người nào đó (nhất là người mà sếp không ưa) thì có khi lại không hay. Chú làm sếp mãi chú biết… Khi khen ai mình phải thận trọng có nghĩa là phải khen cho mình nếu ai đó làm tốt mà có lợi cho sếp thì khen xả láng; nhưng ngược lại xuất hiện việc tốt, người tốt phục vụ cho đối tượng đang cạnh tranh quyền chức với mình, với phe mình thì phải cẩn thận và phải để ý không được phá vỡ thế cân bằng vốn có. Điều này rất quan trọng cháu ạ. Thấy khó hiểu, H hỏi lại: - Có nghĩa là chú chỉ khen ai khi có lợi cho sếp hay cho mình đúng không chú! Ông chú tủm tỉm cười: - Cũng gần như thế và cũng không hẳn thế; còn phải tùy lúc, tùy thời. Cháu còn non quá! Non lắm cháu ạ, lần sau phải chú ý. Nhất là làm việc gì phải chú ý đến thái độ sếp. Chú là sếp nhiều năm chú biết, sếp hay khen ai đó đại khái là phải đạt chuẩn như: “đi nhẹ, nói khẽ, mỉm cười; sai gì được đấy là người đáng khen”. Nếu không thì mình chỉ đi khen cho người khác mà mình chẳng có gì, hay được gì thì gay đấy cháu ạ! Rất tiếc là cháu non quá (hình như người chú rất thích điệp khúc “non quá, hay non lắm” thì phải). Mong rằng từ nay cháu khôn ngoan hơn, già dặn hơn mỗi khi thể hiện tài năng để nhận được quà tặng quý giá của cuộc sống, đó là lời khen. Đặc biệt nên nhớ là lời khen từ sếp trực tiếp của mình, nhớ nhé! Còn nếu không phải là sếp mà khen mình có khi lại là tai họa đấy; có thể sau lời khen này cháu sẽ bị nhiều người để ý soi mói… nếu cháu có sơ xuất gì thì hậu quả khó lường. Vấn đề ở đây là cháu có muốn khen ai cũng phải chú ý cho “trọn vẹn”, nhớ nhé! Sau một thôi, một hồi được chú cho “tu nghiệp” người cháu có vẻ hơi cụt hứng vâng vâng dạ dạ và lẩm bẩm một mình: - Vâng! Cháu non thật! nhưng có lẽ cháu khó mà già dặn được. Thay lời kết: Tuổi trẻ cũng sẽ có ý chí, bản lĩnh riêng của mình và sẽ tự quyết định tương lai của mình góp phần đóng góp phần mình vào tương lai của đất nước theo cách họ cảm nhận và sẽ tốt hơn, nếu được lớp trước dẫn dắt đúng hướng, kịp thời./.

Vết bẩn của những “người trong sạch”

Trong tình hình xã hội hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đang được tiến hành, thì vấn đề tìm đội ngũ “kế cận” nói chung và đặc biệt là “kế cận” đội ngũ lãnh đạo nói riêng mang ý nghĩa rất quan trọng. Vì con người, với hoạt động của mình là yếu tố cơ bản, là điều kiện tiên quyết nhất cho thắng lợi của mọi công việc. Đây là quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng ta, mà từ Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Ngoài những tiêu chuẩn khác, người lãnh đạo phải có khả năng nhận biết những cán bộ trung thành, thẳng thắn; người cơ hội, xu nịnh”. Nhưng cùng với quá trình phát triển của kinh tế, thì vấn đề “Nhận dạng con người!” lại càng khó khăn. Bản chất cán bộ, đảng viên bộc lộ khá đa dạng. Bên cạnh những người tận tụy, trung thành, vững vàng, liêm khiết, có năng lực và phẩm chất còn tồn tại không ít những người có tư tưởng và hành động thực dụng, cơ hội, gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến niềm tin của nhân dân, đến sự nghiệp chung của Đảng. Chúng ta có thể dễ dàng thấy một số cán bộ, đảng viên mang những “tính cách”: Một là, dạng người có biểu hiện giữ tâm trạng ôn hòa, “im lặng là vàng” - vì nói lên sự thật dẫn đến mất lòng. Nhiều việc họ biết, có khi rất rõ ràng, tường tận nhưng nói làm gì, góp ý làm gì,… để nội bộ va chạm, bị định kiến, bị phản công. Bản thân mình mang tiếng là người hay gây sự, chỉ săm soi, bị chú ý, đề phòng, hoặc bị lợi dụng cho mục đích khác,…Tốt nhất, chỉ phát ngôn chung chung, giữ cái gọi là đoàn kết nội bộ, không chết ai - Đấu tranh thì được gì, thì “tránh đâu”, đừng dại dột “tham chiến”! Hai là, dạng người thường thường có vi phạm nhỏ - to nhưng lại hay so sánh, tỵ nạnh, “lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng lại chê trai lệch mồm”. Hễ nghe thông tin thay đổi, đề bạt, cất nhắc, khen thưởng là tự thấy mình đủ tài, thừa đức, chẳng kém thua ai mà không được cấp trên chú ý, quan tâm; dẫn đến nói năng tùy tiện, thiếu kiềm chế, không xây dựng, mất kỷ luật. Nếu có ai góp ý thì họ sửng cồ, giẫy nảy đòi phải tìm chứng cứ cho rằng người khác vu khống. Họ từ chối tiếp thu, bằng mặt mà không bằng lòng, bất mãn. Hình ảnh đặc trưng của những người này là phát ngôn tùy tiện, ấm ức, bực bội, nghĩ một đằng nhưng nói và làm một kiểu. Ba là, dạng người có sự bộc lộ mà khó phát hiện bản chất bên trong (khó chứ không phải không để tâm!). Những người này có một kiểu cách chung là: bên ngoài thì vui vẻ, tích cực, tỏ vẻ quan tâm, nhưng bên trong thì sao? Họ khôn ngoan, khéo léo, tùy từng chỗ, từng nơi và từng đối tượng tiếp xúc mà phát ngôn sao cho có lợi nhất cho chính mình. Thậm chí, cùng là một việc, có thể sẽ nói khác, thậm chí nói ngược nếu ở các vị trí hoặc người nghe khác nhau; uốn éo, mềm dẻo, có lợi cho bản thân. Họ cố gắng đến cao nhất tránh va chạm, to tiếng; nhẹ nhàng bày tỏ, thể hiện sự quan tâm đến từng đối tượng cần thiết, tạo cơ sở thu hút, lôi kéo, mua chuộc, tăng cường lực lượng ủng hộ mình, bỏ phiếu cho mình (không loại trừ cả hối lộ, đút lót!) Ngoài cố gắng trên, họ còn thông qua những người khác (nhất là khai thác hai loại người trên) để lợi dụng tối đa - hoặc tự nghĩ ra hoặc tạo cớ,… để thêm bớt, nhỏ to, rỉ tai tâm sự, giãi bày thông tin các phía, “êm ái” tung hỏa mù về sự cố của người nào đó, khi cần thiết cũng nhằm lợi cho mình - gây lôn xộn, nghi ngờ, mất đoàn kết mà bản thân vẫn được tiếng là vô tư, vẫn là tốt bụng - xứng đáng được nhận bằng khen, huân chương,… Nghĩa là, bằng cách đó, họ tiếp tục thực hiện tham vọng lớn hơn. Phải khẳng định đây là dạng người “ném đá giấu tay”, “gắp lửa bỏ tay người” - những kẻ phá hoại, luồn lách, đánh bóng rất nguy hiểm. Họ làm cho những nguyên tắc của Đảng - nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ bị bóp méo. Có điều, khổ nỗi thay, những cá nhân có những “tính cách” ấy, dưới những “bộ cánh” ấy vẫn bị nhầm lẫn và được cho là “trong sạch”, thậm chí còn có những cá nhân được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo, quản lý./.

“Tạo điều kiện…”

Một lần trong chuyến đi công tác, tôi ghé qua đơn vị thăm anh bạn học cùng trường Sĩ quan Chính trị hiện đang là Bí thư chi bộ - Chính trị viên đại đội H. Đến thăm bạn vào đúng lúc đơn vị tổ chức sinh hoạt chi bộ, tình cờ tôi nghe được toàn bộ nội dung buổi sinh hoạt ấy, đặc biệt những lời kết luận của Bí thư chi bộ - người bạn thân thiết của tôi thời học viên - thực sự đã gợi trong tôi nhiều điều phải băn khoăn, suy nghĩ. “… Những ý kiến vừa rồi của các đồng chí khá chính xác. Đồng chí A bên cạnh những điểm mạnh vẫn còn nhiều khuyết điểm như: Việc chấp hành chế độ giờ giấc chưa nghiêm, mặc dù là trung đội trưởng nhưng lại vắng mặt trái phép, trong sinh hoạt có biểu hiện mất đoàn kết với cán bộ, chiến sĩ đơn vị bạn… Tuy nhiên, trên tinh thần xây dựng, góp ý là chính, đặc biệt thời gian tới đồng chí A sẽ chuyển đơn vị nên chi bộ cũng thống nhất “tạo điều kiện” cho đồng chí và nhất trí đồng chí A hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm. Những nội dung trên sẽ không ghi trong biên bản…”. Bạn tôi kết luận buổi sinh hoạt chi bộ bằng giọng điệu dứt khoát, rõ ràng với không khí nhẹ nhàng, thiếu tính đấu tranh, điều đó khiến tôi không khỏi băn khoăn về những nội dung công tác xây dựng đảng trong các bài giảng của mình! Điều cốt lõi và cũng là trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên là phải tích cực, kiên quyết đấu tranh với những vi phạm, khuyết điểm, những biểu hiện lệch lạc của đồng chí, đồng đội để giúp họ nhận ra yếu điểm từ đó quyết tâm sửa chữa, khắc phục. Thực tế ở các đơn vị cơ sở hiện nay cho thấy không phải chỉ riêng chi bộ đại đội H mà ở không ít đơn vị, tổ chức đảng, việc “tạo điều kiện” đã không được người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy hiểu đúng nghĩa, dẫn tới hàng loạt các “hệ lụy” không mong muốn, làm rào cản trong việc rèn luyện, phấn đấu và tiến bộ của cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cụm từ xuất hiện khá nhiều trong các buổi sinh hoạt chi bộ, nhất là sinh hoạt kiểm tra đảng viên, sinh hoạt đánh giá chất lượng cán bộ… “Tạo điều kiện” hiểu một cách đơn giản và đúng đắn chính là thường xuyên giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; là quan tâm nắm bắt và kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ từ đó giúp họ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mặt khác, “tạo điều kiện” còn thể hiện qua việc thẳng thắn phê bình trên tinh thần xây dựng vì sự tiến bộ của đồng chí, đồng đội; kịp thời chỉ ra những khuyết điểm của người vi phạm để họ nhận rõ hạn chế của mình, nghiêm túc sửa chữa, nhanh chóng trưởng thành, phát triển hoàn thiện bản thân. Trong sinh hoạt chi bộ, “tạo điều kiện” là việc nêu cao tính chiến đấu, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, kịp thời chỉ rõ những khuyết điểm, những hạn chế để đồng chí, đồng đội cùng tiến bộ chứ không phải là việc nhận xét, đánh giá thiên lệch theo kiểu “tô hồng, nói tốt”. Nếu hiểu “tạo điều kiện” theo cách của đồng chí bí thư và tập thể chi bộ đại đội H thì nguyên tắc tự phê bình và phê bình mới chỉ được thực hiện một nửa, việc giúp đỡ đồng chí A chỉ mang tính hình thức, nửa vời. Vô hình trung, chính sự “tạo điều kiện” của chi bộ H ấy, còn có thể làm cho đồng chí A tiếp tục “trượt dài” với những vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, không có cơ hội để khắc phục, sửa chữa./.

Đừng vì hiện đại mà lại… xa dân

Bấy lâu nay có một nghịch lý là, dường như cán bộ càng được cung cấp phương tiện, trang bị hiện đại bao nhiêu thì lại càng xa dân bấy nhiêu! Suy cho cùng, lỗi đâu phải tại phương tiện mà là ở người sử dụng nó. Nhiều người dân quê từ thực tế đã chỉ ra 3 phương tiện hiện đại nhưng lại làm cán bộ xa dân: 1 - Chiếc ô tô có máy lạnh. Thời bao cấp, cán bộ Trung ương, tỉnh, huyện xuống cơ sở công tác thường không có xe gắn máy lạnh. Cấp vụ thì dùng xe U-oát, cấp thứ trưởng thì xe La-da; cấp bộ trưởng trở lên thì xe Von-ga. Tất cả các xe đó đều không có máy lạnh. Nhiều cán bộ cấp huyện xuống xã, thôn thì đi bằng xe máy, thậm chí bằng xe đạp. Cán bộ xã xuống gặp dân thì đi bằng xe đạp, thậm chí là đi bộ. Chính những điều kiện khó khăn này lại làm cho cán bộ dễ gần dân hơn, thông cảm với nỗi khổ của dân hơn. Người dân cũng nhìn rõ cán bộ hơn. Không ai muốn khổ cực, lạc hậu làm gì, nhưng với những chiếc xe ô tô hạng sang đủ loại và hiện đại ngày nay đã vô tình làm cán bộ xa dân. Cán bộ nào không chịu được cái nóng 380c - 400c thì chẳng muốn rời xe để gặp gỡ dân, có chăng chỉ muốn làm việc mau mau, chóng chóng rồi “chui” vào xe cho nhanh. Có một giai thoại khá sâu sắc và thâm thúy rằng, đón tiếp đoàn cán bộ lên công tác tại bản người Mông, trưởng bản đã hỏi: Cán bộ đi đến với đồng bào bằng chân hay bằng mông (tức là ngồi xe ô-tô)?. Nếu bằng mông thì mỗi người trong đoàn phải uống hết 4 chén rượu đầy (tượng trưng cho 4 bánh xe); còn nếu bằng chân thì chỉ phải uống 2 chén (tượng trưng cho hai chân). Cái lý của người Mông là như vậy, “nhập gia tùy tục”! Vừa rồi, Công an thành phố Đà Nẵng có một sáng kiến rất hay. Để cán bộ gần dân, sát dân, nghe được tiếng nói của nhiều người dân hơn, các chiến sĩ cảnh sát khu vực ở một số phường buộc phải để xe máy ở cơ quan và đồng loạt xuống cơ sở bằng xe đạp hoặc đi bộ. Hiệu quả đem lại khá rõ ràng, tích cực. 2 - Khách sạn, nhà khách có điều hòa nhiệt độ. Có một thời, khi mà các phương tiện đi lại còn khó khăn thì hầu như huyện nào cũng có nhà khách với phòng ngủ, bếp ăn. Hầu hết các đoàn công tác của Trung ương, của tỉnh về làm việc với huyện đều ăn nghỉ ở huyện. Và những chuyến lưu trú qua đêm như thế rất bổ ích: cán bộ cấp trên gần gũi cán bộ cấp dưới hơn; đi dã ngoại buổi tối sẽ là điều kiện thâm nhập thực tế để hiểu biết đúng đắn, sâu sắc tình hình địa phương, cơ sở vì nghe được tiếng nói thật của người dân… Ngày nay, vì có phương tiện ô tô đi lại hiện đại hơn nên con đường từ huyện về tỉnh cũng xem ra càng “ngắn” hơn, vả lại điều kiện ăn, ở, sinh hoạt tại huyện cũng khó khăn hơn (bởi nhà khách ở huyện đã xuống cấp lại không có máy điều hòa), cho nên, hầu hết các đoàn công tác mau mau làm việc cho nhanh để về ăn nghỉ tại nhà khách ở tỉnh. Tại đấy mọi thứ đầy đủ, có chăng chỉ thiếu sự gần dân và sự sâu sát cơ sở mà thôi! 3 - Phương tiện thông tin, liên lạc hiện đại. Trước kia, khi phương tiện thông tin, liên lạc lạc hậu, yếu kém, mỗi khi cần nắm tình hình cán bộ thường phải đích thân xuống địa phương, cơ sở. Do vậy mà cũng gần dân hơn, sâu sát cơ sở hơn. Ngày nay, ngồi một chỗ mà biết được tình hình cả thế giới, cộng với bệnh quan liêu, bệnh thành tích, “làm thì láo, báo cáo thì hay”, cấp trên lại không kiểm tra, kiểm soát mà tình trạng khá phổ biến ở nhiều nơi là thực tế một đằng, báo cáo một nẻo. Ở nhiều nơi, người ta báo cáo thành tích, báo cáo sơ kết, tổng kết bằng cách mở máy vi tính lấy báo cáo cũ ra và làm mới nó bằng việc thay ngày, tháng, sửa đổi một vài con số, một vài dữ liệu, một ít hành văn, đôi chỗ chấm, phảy,... rồi cứ thế nộp cho cấp trên. Trong khi đó, tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của người dân thì nhiều khi cán bộ không nắm được. Chính vì thế mà có cán bộ cấp trên xuống tiếp xúc với người dân, đồng bào có lúc đã thắc mắc: Tại sao cán bộ “trên cây” (tức loa truyền thanh) nói khác, cán bộ dưới đất lại nói khác? Do vậy, làm sao hiện đại mà lại gần dân phải là một yêu cầu trong việc tăng cường, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận hiện nay./.

“Gặp may”!

Dân gian cứ đàm tiếu chuyện “con cháu các cụ cả”. Sẽ không có gì đáng nói nếu những “CCCC” thực sự có đức, có tài, làm nổi việc ích nước, lợi dân. Đáng tiếc, một phần trong số họ lại đang nô đùa trên những chiếc ghế quá khổ với mình. Mọi hậu họa nảy sinh từ đó. Chuyện là… Có vị lãnh đạo tỉnh X vẫn tự nhận là “vất vả” với đứa cháu con ông anh trai - cháu trưởng tộc của dòng họ. Vất vả cũng phải thôi bởi ngày nó còn học phổ thông, việc duy nhất trong năm học mà ông và bố mẹ nó phải lo đó là… làm thế nào để nó không bị lưu ban. Khi cháu ông thi tốt nghiệp, phải nhờ vào cuộc điện thoại ông “nhờ tình cảm” đồng chí giám đốc sở giáo dục thì nó mới được bổ sung vào danh sách “đỗ tốt nghiệp vớt”. “Sát cánh” bên cháu 12 năm học phổ thông nên vị lãnh đạo nọ quá rõ lực học của cháu mình. Không thể trông mong gì ở việc nó thi đại học, ông đã nhanh chóng thu xếp cho cháu một suất cử tuyển vào đại học Y. Chật vật mãi sau… tám năm học đại học thì đứa cháu của vị lãnh đạo kia cũng ra trường. Và đương nhiên, khi ông đang tại chức thì chẳng lý do gì mà nó lại không được nhận về công tác tại bệnh viên đa khoa tỉnh. Ông đã “thở phào” về đứa cháu trưởng họ, nào ngờ… Lần đó, giữa đêm ông bị đau bụng dữ dội buộc phải đưa ngay vào bệnh viện đa khoa tỉnh. Bác sĩ trực đêm đó sau khi khám đã kết luận ông bị đau ruột thừa nên phải mổ gấp nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Đúng lúc chuẩn bị lên bàn mổ, khi bụng đã bớt đau, ông mở mắt nhìn mọi người xung quanh và bất ngờ… hét toáng lên khi phát hiện thằng cháu trưởng họ trong áo blu trắng đang chuẩn bị dao, kéo để mổ cho ông! Ông gắng sức quát lớn: “Mày gọi điện cho bác sĩ Y ngay!”. Đứa cháu trưởng họ mếu máo: “Cháu xem kỹ rồi, chú bị đau ruột thừa thật mà!”. Lúc này, ông mới thều thào: “Chú biết, chú biết rồi, mày thương chú thì gọi ngay cho bác sĩ Y đi!”. Đúng như sự lo lắng của ông, sau khi bác sĩ Y đến khám, chụp, kiểm tra thì hóa ra ông bị xuất huyết dạ dày cấp chứ không phải bị đau ruột thừa như "ông bác sĩ cháu" quý hóa kết luận. Chuyện vỡ lở, người bảo ông may mắn, kẻ nói nhà ông “phúc lớn”. Riêng ông, ông tự thấy mình... “gặp may” thật! Ông lãnh đạo “gặp may”. Rủi dài dài ai chịu!

Chậu hoa, cây cảnh

Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, khi công nghệ thông tin hiện đại du nhập mạnh mẽ vào nước ta, các cơ quan trung ương và địa phương thi nhau trang bị máy vi tính cho cán bộ lãnh đạo. Ở trung ương, cán bộ từ cấp cục, vụ, viện và tương đương trở lên, còn ở địa phương (tỉnh, thành phố) thì cán bộ từ cấp trưởng, phó các ban, ngành trở lên đều có cả. Đã trang bị máy vi tính thì phải biết sử dụng, thế là người ta lại đua nhau mở các lớp bồi dưỡng cấp tốc khoảng một tuần lễ cho mấy vị đó. Học xong, có vài, ba người võ vẽ biết sử dụng, nghĩa là cũng biết điều khiển con trỏ, biết gõ bàn phím theo kiểu “mổ cò”... còn đa số thì vẫn ở trong tình trạng “mù” máy vi tính, nghĩa là không biết sử dụng. Đã không sử dụng được, hoặc sử dụng không thành thạo thì mỗi khi sờ đến nó là rất ngại. Thế là cái máy vi tính (bộ óc điện tử thông minh) với muôn vàn tính năng khi vào tay mấy vị quan chức lại chỉ còn mỗi một tính năng duy nhất là vật trang trí, chẳng khác nào kiểu “chậu hoa, cây cảnh”. Bước sang thế kỷ XXI, các quan chức còn xài sang hơn nhiều. Chiếc máy vi tính để bàn bây giờ đối với họ đã lỗi mốt và không tiện dụng một chút nào. Thế là chiếc laptop (máy tính xách tay) lập tức lên ngôi. Đúng là chiếc laptop tiện ích hơn chiếc máy tính để bàn rất nhiều. Đi công tác xa, các quan chức chỉ việc nhét nó vào trong cặp. Mọi thông tin đã được lưu giữ ở trong đó, khi nào cần đến thì lôi nó ra sử dụng. Chính vì thế, ở tỉnh Q, các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đều được trang bị laptop với giá 20 triệu đồng/máy. Theo một quan chức cao cấp của tỉnh thì mục đích của việc làm này là để "giúp các đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp nhận thông tin một cách thuận lợi, có thời gian đọc và tham khảo tài liệu trước ở nhà, tiết kiệm chi phí trong việc in ấn, sao chụp tài liệu". Ông còn cho biết thêm: "Trước đây, mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, tỉnh phải in bộ tài liệu dày cộp hàng chục, thậm chí hàng mấy trăm trang rồi photo gửi cho các đại biểu, rất tốn kém. Nếu trang bị laptop cho các đại biểu thì công đoạn đó sẽ không còn. Song đáng buồn là, mặc dù đã được trang bị laptop nhưng đến kỳ họp Hội đồng nhân dân, các đại biểu vẫn yêu cầu photo tài liệu phát cho họ. Sở dĩ như vậy vì chỉ có rất ít đại biểu sử dụng được laptop, còn đa số đã biến chiếc laptop thành vật trang trí, thành “chậu hoa, cây cảnh” để khoe mẽ với thiên hạ. Mấy năm gần đây, chiếc laptop lại bắt đầu lỗi mốt. Các quan chức chỉ thích dùng iPad vì nó xịn hơn, sang hơn, nhiều tính năng hơn và nhẹ hơn. Hiện đã có không ít cơ quan trung ương và địa phương mạnh tay móc hầu bao đầu tư khoản ngân sách không nhỏ để trang bị đồng bộ công nghệ iPad cho các quan chức. Điều đáng ngạc nhiên là không chỉ có các cơ quan trung ương, các tỉnh, thành phố lớn, mà các tỉnh, thành miền núi,vùng sâu, vùng xa cũng rất mạnh tay trích từ ngân sách Nhà nước để chi cho việc này. Một số địa phương còn trang bị iPad cho cả cán bộ lãnh đạo cấp quận, huyện. Ở thời điểm hiện tại, một chiếc iPad loại tốt trị giá khoảng 30 triệu VND. Nếu lấy số tiền đó nhân với số iPad đã trang bị cho các quan chức trong cả nước thì sẽ thấy số tiền mà ngân sách phải chi lớn biết nhường nào. Song, giống như chiếc máy tính để bàn và chiếc laptop, chiếc iPad hiện nay cũng phải chịu chung cái kiếp "hồng nhan, bạc phận" bởi vì có rất nhiều quan chức "không trọng dụng" nó, hay nói toạc ra là không biết dùng. Cũng là "chậu hoa, cây cảnh" cả thôi, chỉ khác nhau ở chỗ "chậu hoa" iPad đẹp hơn các chậu hoa khác một chút. Trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay thì việc trang bị cho các quan chức những phương tiện làm việc hiện đại như điện thoại di động, máy tính để bàn, laptop, iPad... là rất cần thiết và nên làm. Song, vấn đề đặt ra là sử dụng nó như thế nào. Nếu biết khai thác, sử dụng nó đúng mục đích, có hiệu quả và tiết kiệm thì chẳng có gì phải bàn cãi. Còn nếu sử dụng nó như những vật trang trí, những chậu hoa, cây cảnh, cốt cho hợp thời thượng và để khoe với thiên hạ thì rõ ràng đó là hiện tượng cần phê phán./.

Bốn phép tính cơ bản

Từ hồi học phổ thông, nữ nhà văn M.H. đã rất giỏi về môn toán, đặc biệt là tư duy toán học. Mới đây, có lần trò chuyện với tôi, chị nói: “Ở đời, trong các mối quan hệ nếu ai cũng giải đúng và hiểu đúng bốn phép tính cơ bản là cộng, trừ, nhân, chia thì tất cả đều tốt đẹp. Cộng là thêm bạn; trừ là bớt thù; nhân là làm gia tăng tài sản, gia tăng lợi nhuận, làm giàu cho bản thân mình, cho tập thể và cho xã hội một cách chính đáng; chia là phân phối công bằng của cải xã hội cho người lao động theo phương thức “ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”. Mọi đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước cũng đều xuất phát từ bốn phép tính cơ bản ấy mà thôi. Ðảng và Nhà nước ta thường tuyên bố “Việt Nam là bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”... như thế chẳng phải là chúng ta muốn thêm bạn, bớt thù đó sao? Ðảng và Nhà nước ta cũng tìm mọi biện pháp để không ngừng gia tăng tổng sản phẩm xã hội và nâng cao mức thu nhập bình quân tính theo đầu người, như thế chẳng phải là đang làm đúng phép tính nhân đó sao? Và những biện pháp kiên quyết chặn đứng, đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ tệ nạn tham nhũng, làm trong sạch và lành mạnh hóa bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, tiến tới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… như thế chẳng phải là đang thực hiện đúng phép chia đó sao? Ðường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước về cơ bản đều rất đúng đắn. Song, đáng tiếc là khi đưa vào cuộc sống thì đôi khi không đạt hiệu quả mong muốn bởi vì một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Số người này đã vận dụng bốn phép tính cơ bản nêu trên theo những cách riêng của họ: Phép cộng và trừ đối với họ cũng là thêm bạn, bớt thù. Song, thêm bạn là cộng thêm những người có cùng “chí hướng” sai lệch, xấu xa để tạo ra nhóm lợi ích (trước kia ta thường gọi là phe cánh hay “cánh hẩu”). Còn bớt thù là vô hiệu hóa, loại bỏ những người không cùng “chí hướng” với họ. Phép nhân đối với họ là tìm đủ mọi cách để lợi ích của nhóm họ ngày càng tăng lên, tiền của vào túi họ ngày càng nhiều mà không cần biết Nhà nước và tập thể bị thiệt hại bao nhiêu, những người lao động chân chính còn cơ cực như thế nào. Phép chia của họ đương nhiên cũng chỉ thực hiện trong phạm vi nhóm lợi ích theo phương châm mọi thành viên của nhóm đều được hưởng lợi để họ ngày càng trung thành với nhóm và ra sức bảo vệ lẫn nhau hòng đối phó với các hình thức kỷ luật của Ðảng và xử lý theo pháp luật của Nhà nước”. Nói một mạch đến đây thì chị tạm ngừng và thở dài ngao ngán. Còn tôi thành thật khen chị: “Nhà văn thường tư duy trừu tượng, còn bà lại tư duy lô-gíc rất chặt chẽ. Xem chừng bà cũng có vẻ am hiểu cuộc sống và có lập trường tương đối đúng đắn”. Chị đáp lại: “Các ông thường cho rằng giới nhà văn chúng tôi đều là những người theo trường phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, chứ không phải “nghệ thuật vị nhân sinh”. Hiểu như thế là sai và oan cho chúng tôi quá. Nhà văn ngày nay không “vị nhân sinh” thì gọi là nhà văn làm gì. Ðại văn hào Xô-viết Sô-lô-khốp đã từng nói, một khi trái tim nhà văn đã thuộc về Ðảng thì nhà văn cứ tha hồ nói tự do và viết tự do; bởi vì những điều họ nói và viết dù có “nghịch nhĩ” thì cũng vì Ðảng, vì dân, vì chế độ mà thôi”. Tôi thán phục và càng thêm quý trọng nữ nhà văn M.H., bởi vì ai cũng có suy nghĩ đúng đắn như chị thì xã hội ta sẽ càng đẹp và lành mạnh biết bao./.