Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2021

Thủ đoạn lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” - Tạo sức ép từ bên ngoài, dựng “ngọn cờ” từ bên trong

 

Thủ đoạn lợi dụng “dân chủ, nhân quyền”
- Tạo sức ép từ bên ngoài, dựng “ngọn cờ” từ bên trong

Trong quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam thì dân chủ, nhân quyền luôn là hai vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội (ANCT-TTXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Sử dụng hai chiêu bài này, các thế lực thù địch tiến hành rất nhiều thủ đoạn nguy hiểm. Trước hết, họ vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho dân chủ tư sản phương Tây. Họ cho rằng, chế độ xã hội ở Việt Nam là độc tài, toàn trị. Họ lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc trong xã hội để lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ANCT-TTXH. Họ ra sức tuyên truyền, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”, tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, đàn áp “những người bất đồng chính kiến” v.v..  Từ chỗ cho rằng, quyền con người là tuyệt đối, bất biến, các thế lực thù địch đã giải thích nhân quyền là tự do thực hiện quyền mà không bị cấm đoán, không bị giới hạn nhằm cổ suý hoạt động lợi dụng nhân quyền vi phạm pháp luật nước ta. Họ đặc biệt đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng khi nước ta diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng hay khi Việt Nam tham gia các hội nghị quan trọng của Liên hợp quốc hòng hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Họ dùng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ nước ta. Họ tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đòi nước ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo kiểu phương Tây. Thông qua các buổi điều trần, họp báo, hội thảo của Quốc hội Mỹ, các nước châu Âu để gây sức ép buộc Việt Nam phải có những “tiến bộ cụ thể về nhân quyền, tôn giáo”. Thông qua các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, những buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam, họ yêu cầu ta phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, thành lập Tòa án Hiến pháp ở nước ta. Họ còn gửi thư, bản kiến nghị tới Liên hợp quốc, Quốc hội, Chính phủ các nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để phản đối việc chính quyền bắt giữ, xét xử một số đối tượng chống đối trong nước, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Lợi dụng việc chính quyền đấu tranh, xử lý số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị vi phạm pháp luật, họ đã tạo cớ, vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người “bất đồng chính kiến” và những người “yêu nước”, kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế.
Họ dùng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập với Nhà nước. Họ xuyên tạc rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam nên xóa bỏ chế độ độc đảng. Thông qua đó, họ tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”... Họ thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”, hình thành các tổ chức chính trị, hội nhóm bất hợp pháp; tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong. Họ còn tuyên truyền, vận động số người có biểu hiện cơ hội, bất mãn ký tên vào kiến nghị, tuyên bố… nhằm đưa ra yêu sách “dân chủ, nhân quyền”, “bảo vệ chủ quyền”… Họ còn vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng bất đồng chính kiến, hay những đối tượng vi phạm pháp luật bị ta bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ súy, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.
Các thế lực thù địch triệt để tác động Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo nhằm làm cho cộng đồng quốc tế hiểu không đúng tình hình trong nước, điển hình như: Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ; Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện châu Âu... Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hằng năm đã liên tục thông qua nhiều dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI); Nhà Tự do (FH), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... mặc dù phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” về dân chủ, nhân quyền nhưng vẫn xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Họ còn tìm cách thông qua các chính khách cực đoan tác động đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) để áp dụng các biện pháp “trừng phạt” đối với nước ta.                                Đó là những thủ đoạn rất tinh vi mà chúng lợi dụng "dân chủ, nhân quyền" để tạo sức ép từ bên ngoài và dựng ngọn cờ từ bên trong để chống phá cách mạng nước ta./.

Gác bút

Ông bạn thân của tôi là một nhà báo lão thành. Sở dĩ gọi là lão thành bởi ông có tới nửa thế kỷ cầm bút và tên tuổi ông được rất nhiều người biết đến. Một hôm đến thăm tôi, bên ấm trà ngon, ông giãi bày tâm sự: “Mình đã quyết định gác bút”. “Sao thế?” “Vì ngượng!” Nói vậy rồi ông kể tỉ mỉ về những lý do khiến ông ngượng: “Hồi cả nước chuẩn bị đón chào Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, tòa soạn báo P. gọi điện mời mình viết một bài về hai người phụ nữ nổi tiếng cuối triều Lý, đầu triều Trần là Lý Chiêu Hoàng và Trần Thị Dung. Mình nhận lời ngay vì đó là lĩnh vực mình rất am hiểu. Viết xong, gửi ngay đến tòa soạn. Sau hai ngày, cô nhà báo L.A. gọi điện nói rằng: “Bài của anh bọn em rất thích, song hơi dài một chút. Nếu là bài của người khác thì bọn em sẽ trực tiếp biên tập, nhưng đây là bài của anh, bọn em không dám. Vì thế, nhờ anh trực tiếp cắt bớt hộ em còn khoảng 2.000 chữ rồi gửi lại ngay cho em nhé để kịp đăng số tới”. Lúc ấy mình ngượng quá. Mặc dù ngượng nhưng không “sĩ” nên mình thú thật với cô ấy là mình không có máy vi tính, và cũng chẳng biết sử dụng vi tính. Ở đầu dây bên kia, cô ấy cười nắc nẻ, rồi ho, và vừa ho, vừa nói: “Sao ông anh lại lạc hậu thế. Thời buổi này chẳng có ai viết bài bằng tay. Cứ dùng máy vi tính mà gõ tít mù lên rồi “meo” (mail) tới tòa soạn. “Xoạch” một cái là xong, vừa thuận tiện, vừa văn minh, hiện đại. Bọn em nhận bài, trực tiếp biên tập trên máy rồi “meo” lại cho tác giả xem. Cũng “xoạch” một cái là xong. Tác giả xem lại, nếu thấy được thì “OK” rồi “meo” lại cho bọn em. Các công đoạn như thế là hoàn tất, chỉ việc chờ bài báo ra lò”. “Lý sự” một hồi rồi cô ấy khuyên: “Anh phải mua ngay một cái laptop rồi học qua “cua” đào tạo về cách sử dụng. Dùng rồi sẽ quen thôi. Anh đừng để mình rơi vào tình trạng mù vi tính. Nếu có gì khó khăn, em sẽ phụ đạo cho anh miễn phí”. Đó là chuyện thứ nhất, còn chuyện thứ hai cũng khiến mình ngượng không kém. Một hôm đi ăn sáng, ngồi cùng bàn với mình là một cô gái trẻ, đẹp và rất lịch lãm. Có tiếng rao ong ỏng phát ra từ chiếc loa phóng thanh chạy bằng pin của anh bán báo quen thuộc. Mình gọi anh ta lại và mua một tờ “Tuổi trẻ và đời sống”. Thấy vậy, cô gái liền nói: “Bác mua báo làm gì, cứ lên mạng mà xem, có đầy đủ hết. Các thông tin trên mạng có thể đáp ứng nhu cầu của mọi lứa tuổi, mọi đối tượng. Chúng cháu làm kinh doanh nên thường vào mạng tìm hiểu những thông tin có liên quan đến công việc của mình. Các bác cứ tìm những website “đỏ” mà đọc. Báo Nhân Dân điện tử, Tạp chí Cộng sản điện tử, Báo Hà Nội mới điện tử... đều có, tha hồ đọc, đọc cả ngày, cả tháng cũng không hết”. Cô gái còn nói tiếp: “Các thông tin trên mạng có cái hay là khá phong phú và hệ thống. Chẳng hạn bác muốn tìm hiểu về vấn đề tham nhũng thì bác cứ lên mạng. Sau vài, ba thao tác đơn giản, mọi thông tin, mọi tài liệu về tham nhũng sẽ hiện ra. Từ định nghĩa thế nào là tham nhũng, những vụ tham nhũng nổi tiếng trên thế giới từ xưa tới nay, kinh nghiệm chống tham nhũng của các quốc gia trên thế giới, kể cả kinh nghiệm của các vương triều phong kiến ở nước ta, đều có hết. Những thông tin nào cần lưu thì bác in ra, thế là xong”. Nghe cô gái nói và giải thích một hồi như thế mình lại ngượng. Trước hết ngượng vì không có máy vi tính (điều này khắc phục dễ thôi). Song, dù có máy vi tính, mình cũng chưa biết sử dụng, không biết cách lên mạng, không biết cách “meo”... Tóm lại, mọi kiến thức về vi tính đều mù tịt. Nhưng ngượng hơn cả vì mình là nhà báo mà lại “mù tin học”. Mình giãi bày tâm sự này với cậu con trai là tiến sĩ. Nghe xong, nó bảo: “Con có thể mua cho bố một bộ máy vi tính thật xịn, nhưng để xóa mù được, tiến tới sử dụng một cách thành thạo thì rất mất thời gian và rất mệt. Với tuổi bố mới bắt đầu làm việc đó là thiếu tính khả thi. Tốt nhất là bố cứ nghỉ ngơi cho khỏe. Về hưu rồi, việc gì phải ngượng”. Nghe những lời nói của nhà báo L.A., của cô doanh nhân trẻ, đẹp, lịch lãm và của cậu quý tử thì mình đành phải gác bút thôi. Còn tôi, nghe những lời tâm sự của ông bạn thân, rồi nhìn lại mình, tôi cũng thấy ngượng. Ngượng vì tôi cũng là nhà báo kỳ cựu nhưng mù tịt về vi tính. Ôi! Gác bút hay là đánh vật với cái máy vi tính đây?

“Có gì gửi thủ trưởng không”?

- Gặp anh bạn công tác ở văn phòng Công ty X., tôi buột miệng khen: - Các ông dạo này làm ăn khấm khá gớm, hay được cấp trên đến thăm thế! - Sao ông biết? - Thì ti-vi đưa suốt đấy thôi. Nào là kỷ niệm ngày truyền thống, đón huân chương, lại ra quân khởi công xây dựng công trình,... Cuộc nào cũng thấy có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên về dự, có vị còn khen ngợi, chỉ đạo này nọ nữa chứ! Anh bạn tôi hờ hững: - Cũng chết dở chuyện ấy đấy ông ơi! - phấn khởi chứ, có gì mà chết dở? - Tốn kém lắm!... Anh thở dài, - Chẳng biết Ban Giám đốc có phấn khởi không, chứ cánh văn phòng, tài vụ chúng mình vất vả lắm! Vì sau mỗi kỳ cuộc ấy, mình thường được đồng chí thư ký của cấp trên gọi điện “hỏi thăm”, “có lời động viên” là công ty tổ chức các cuộc ấy nói chung tốt, rất long trọng, rất hoành tráng, chu đáo,... - Khen thế tốt quá còn gì! - Chỉ khen thế thì nói làm gì... Khen rồi, đồng chí thư ký mới hỏi: Thế các ông có gì gửi thủ trưởng không? - Có gì là có gì? - Tôi ngạc nhiên hỏi. - Là cái khoản bồi dưỡng này nọ đấy. Mà bồi dưỡng không ít đâu nhé! phong bì gửi thủ trưởng phải năm triệu, mười triệu đồng. Lại đồng chí thư ký nữa, không dưới một triệu đồng đâu. Phải báo cáo ngay Ban Giám đốc, rồi cùng tài vụ lo chuyện này. Không cẩn thận còn bị Giám đốc phê bình là thiếu nhạy bén, chuyện ấy sao để cấp trên phải hỏi. Tôi ngạc nhiên. Té ra lâu nay vẫn có chuyện này mà không ai nói ra cả. Nhưng rồi vẫn băn khoăn, tôi hỏi: - Ngộ nhỡ đấy không phải ý thủ trưởng, mà là đồng chí thư ký vẽ chuyện ra như thế để đút túi riêng thì sao? - Của ai thì cũng phải lo thu xếp cho “chu đáo”, kẻo những kỳ, những cuộc sau nhân ngày gì đó mà thiếu cấp trên này, cấp trên nọ đến dự thì còn “mệt” hơn với Ban Giám đốc! Nghe anh bạn kể, thực lòng tôi chưa tin lắm. Tôi cũng làm công tác văn phòng, nhưng không phải của công ty, mà là ở một tổ chức xã hội nhân đạo, từ thiện. Những kỳ cuộc mà Hội của chúng tôi tổ chức, có nhiều đồng chí lãnh đạo cấp trên về dự, cũng trao huân chương, bằng khen, cũng phát biểu..., mà trước hoặc sau đó có thấy đồng chí thư ký của cấp trên nào đòi hỏi gì đâu! Nhưng biết sao được. “Người thực, việc thực” trong cuộc nói ra đấy! Hay vì công ty làm ăn kinh tế nên cứ phải cái lệ ấy. Còn chúng tôi, chỉ trông mong vào xã hội giúp đỡ cho những hoàn cảnh thiệt thòi, khó khăn, thì ai nỡ có lời “hỏi thăm” như vậy?

Lại ngẫm chuyện chọn người đứng đầu

Trong trời đất không gì quý bằng con người. Trong nhân quần không gì quý bằng hiền tài. Bởi, hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Theo thế, việc dùng người, nhất là người làm tướng, người đứng đầu tổ chức, quốc gia... được xếp vào một trong mấy việc hệ trọng và khó vào bậc nhất xưa nay ở đời. Ngẫm việc này, chợt lại nhớ tới dòng chữ khắc trên bia mộ một vị tổng thống ở phương Tây: “Nơi đây yên nghỉ một người tài biết dùng những người tài hơn mình”! Thế mới hay, trải suốt cổ kim, ngang dọc Đông Tây, việc dùng người đúng đắn là nỗi bận tâm và nan giải vào hàng thứ nhất trong muôn sự ở đời của mọi thời và mọi quốc gia. Nhân chúng ta đang bàn và thực thi về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, tôi lại nhớ về ngày xưa về việc chọn người! Có câu chuyện đối đáp đã lưu truyền trong dân gian suốt hơn 2.400 năm nay, ở một nước nọ. Rằng, một bữa, Văn Quân người đất Lỗi Dương, hỏi Mặc Tử: Có kẻ nói trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có coi là trung thần và dùng họ được không? Mặc Tử cười đáp: Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, như thế khác gì cái bóng. Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang. Nếu dùng những kẻ như cái bóng như tiếng vang ấy, phỏng được ích gì. Theo tôi đây, đã gọi là bậc trung thần thì khi vua có nhầm lẫn, phải liệu cách can ngăn mà đưa vào điều thiện. Khi mình có điều hay, phải tìm đường bày tỏ, mà không lộ ra ngoài; trên thì thành thực, một lòng một dạ với vua; dưới thì không a dua, vào bè kết đảng với ai. Những sự tốt lành, yên vui thì để phần vua hưởng; những điều oán trách, lo lắng thì một mình gánh chịu trước. Ai có được như thế, tôi mới cho là bậc trung thần và họ xứng đáng được tin cậy và ủy thác cho việc lớn trong thiên hạ. Văn Quân cả phục và làm theo! Chuyện ấy, lời ấy của Mặc Tử thật chí lý chí tình lắm thay! Nhưng chạnh buồn rằng, lại từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, nhìn và ngẫm, thấy lắm chuyện việc dùng người đáng phải trừ bỏ. Tỉ như điều sách Hoài Nam Tử ghi lại: Trong thiên hạ, có ba cái nguy: Đức ít mà được ân sủng nhiều, tài kém mà địa vị cao, thân không lập được công to mà bổng lộc lắm. Nhiều thời, người đứng đầu quốc gia đã phạm vào những điều cấm kỵ ấy, khiến cho bậc trung thần phải thất thế, kẻ hiền sĩ phải bó tay và đám loạn thần lên ngôi vênh vác, chà đạp những bậc trung thần. Quả báo không thể nào tránh nổi. Ấy là lúc lòng người ly tán, xã hội trầm luân, quốc gia điên đảo. Bao vương triều sụp đổ! Nghĩ mà đau lòng thay! Bởi thế, ở nước ta, thời nào ông cha mình cũng dành những nỗi bận tâm bậc nhất trù tính chuyện dùng người, những mưu xã tắc muôn đời bền vững. Nhớ thế kỷ thứ XI, dù chuyện đã kể mấy lần. Rằng, vào thời Lý, có vị Thái úy là Tô Hiến Thành. Ông tài đức vẹn toàn. Lúc ông nhuốm bạo bệnh, người ta thấy, có quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm chầu chực hầu hạ, rất là “mẫn cán”, “tận tụy” (!). Ai cũng nghĩ, người ấy sẽ thay Tô Hiến Thành, khi ông khuất núi. Khi ông sắp lâm chung, bà Đỗ Thái hậu - mẹ vua Lý Cao Tôn - đến thăm và hỏi ông: Ai có thể thay ông được? Chẳng cần nghĩ, ông đáp ngay: Thưa Thái hậu! Là Trần Trung Tá. Bà chưa hết ngạc nhiên, ông tiếp: Nếu Thái hậu hỏi người cúc cung hầu hạ thì tôi xin cử Vũ Tán Đường, còn hỏi người làm tướng thì tôi phải tiến cử quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Ngược thêm chút nữa, về thế kỷ thứ X. Đinh Tiên Hoàng lừng lẫy và lẫm liệt là thế, nhưng cuối đời, vì dùng bọn người Đỗ Thích, Đỗ Sơn một cách mù quáng nên nỗi thân nát nghiệp tan. Nhưng còn kịp may mắn để lại cho hậu thế một bài học dùng người thấm đẫm máu đào và nước mắt! Trở xuôi tới thời Trần. Đây là thời kỳ được xếp vào hàng những thời thịnh trị nhất lịch sử nước nhà, với hào khí Đông A lừng lẫy. Và Trần Hưng Đạo được lưu truyền và ca tụng nhiều nhất trong việc dùng người. Lúc thường ngày, ông bỏ thù riêng, gạt hiềm cũ để cầu người mưu việc đại sự quốc gia. Ông giội nước cho Thượng tướng Trần Quang Khải tắm cốt bỏ hiềm xưa, những tỏ lòng mình trong sạch. Chuyện ấy còn truyền mãi với nhân gian. Khi lâm đại sự, ông thường khuyên các tướng: Thận trọng từ cái nhỏ, mưu trí ở việc lớn, quê mùa vì bỏ người hiền, mắc vạ vì ham lợi lộc, không tường tận vì ghét nghe kể lỗi mình, không sáng suốt bởi nghe lời gièm pha, không chắc chắn vì hay nhẹ dạ. Theo phương châm ấy, ông đối đãi hết lòng với người và hết sức khắc kỷ với mình. Và nhân gian còn nhớ mãi, dưới quyền Hưng Đạo Vương, kẻ nịnh hót gièm pha đâu thấy; người thích phỉnh nịnh phải tỉnh ngộ; kẻ tham lam, vị kỷ buộc nghiến răng lấy đó làm điều phải tự răn mình; bao bậc hiền tài, trang tướng tha hồ mở lòng giúp nước. Thật là lẫm liệt lắm thay! Tới thời hậu Lê. Dẫu bản thân mình bao bận thăng trầm, thậm chí về cuối đời, bị thất sủng và gánh họa tru di tam tộc, nhưng Nguyễn Trãi vẫn treo vằng vặc giữa nhân thế một vì sao Khuê. Ông từng nói với các vị quan đồng triều rằng: Yêu người gần vị tình riêng. Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà người nịnh cũng tin dùng. Nhân mừng mà thưởng khen, nhân giận mà phạt giết. Người trung thực phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậm oan. Thế mà còn cứ kiêu ngạo, không sợ mệnh trời gieo họa lắm ư. Và, chẳng phải đợi lâu, lời tiên báo ấy đã thành ứng nghiệm với nhà Lê, như là quả báo. Một quốc gia may mắn là một quốc gia có nhiều bậc hiền tài. Nhưng, để trở nên mạnh mẽ và trường tồn chỉ khi người ta biết trọng dụng con người, nhất là những bậc hiền tài ấy. Không nhìn thấy người hiền tài là mắc tội; tội to hơn là thấy người hiền tài mà không dùng họ; tội nặng hơn thế nữa là dùng mà không tin họ; thật là trọng tội nếu thấy họ mắc oan mà không bảo vệ được; nhưng cộng cả bốn tội ấy cũng không nặng và nguy ngập bằng tội đem cái mũ của bậc hiền tài đội lên đầu kẻ bất tài vô hạnh! Ông cha ta từng luôn lấy đó làm răn! Càng nhớ, càng nhìn, càng ngẫm lại càng hổ thẹn, thật không dám bàn thêm, khi thấy nhiều nơi ở ta, việc chọn người đứng đầu, người làm tướng không được kỹ càng như ông cha mình thuở trước./.

Công chức khỏe

Nhìn trên bình diện phổ biến xã hội, mãi đến những năm gần đây chúng ta mới nghiêm túc để ý đến công chức như là một lớp người riêng, một phạm trù hành chính - nhà nước. Trước khi có những đợt cải cách hành chính trải suốt từ cuối thập niên 80 đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, cụm từ “cán bộ-công nhân-viên chức nhà nước” thường được dùng để gọi chung tất cả những người làm việc ăn lương từ nguồn ngân sách, gồm cả các lực lượng vũ trang, trị an cùng bộ máy chuyên môn, hậu cần - kỹ thuật của các lực lượng ấy, dẫu rằng vẫn có những phân tách sâu sắc theo những tiêu chí chuyên môn tương ứng khác nhau. Bởi vậy, có thời kỳ việc học tập những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo về các căn bệnh của bộ máy nhà nước như “tham ô, lãng phí, quan liêu” vẫn được triển khai chung cho cả những đơn vị như: nông trường, xí nghiệp, học viện… và người ta, nhìn chung chưa thấy có nhu cầu nhấn mạnh việc phòng ngừa những “căn bệnh” đó ở chủ thể đặc thù là các cơ quan công quyền, đặc biệt là nhấn mạnh các tiêu chí mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra cho công chức: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” - những tiêu chí mà giờ đây - khi xã hội thay đổi, đất nước không ngừng phát triển nhanh chóng theo hướng hiện đại và văn minh, dân chủ hơn, cần một cách cấp thiết hơn một lớp công chức có tính chuyên nghiệp mạnh, thì rất nhiều người mới thấm thía, kể cả một số chuyên gia đi “bắt bệnh” cho khối cán bộ công chức mà thường vẫn thấy chủ yếu những nguyên nhân khách quan (tất nhiên, rất căn bản, rất quan trọng!) như: cơ chế, hệ thống ngạch bậc công chức, việc tuyển chọn, tuyển dụng và sử dụng nhân tài… Nói chung, người ta luôn thừa nhận một quan niệm rằng, hầu như bộ máy xã hội nào, cơ chế quản lý nào cũng có khiếm khuyết, thậm chí là khuyết tật và đôi khi là những thiếu sót được gọi là các “lỗi hệ thống” có khả năng vô hiệu hóa nhiều chức năng căn bản của cái hệ thống bị lỗi. Chúng thiếu sót bởi chúng là sản phẩm của con người tạo ra và vận hành theo những quá trình bị quy luật biện chứng của sự tiến bộ kiểm sát, giám sát, thử thách. Và những tiến trình đó đem lại một thí dụ sinh động cho châm ngôn minh triết: “Thất bại là mẹ thành công”. Song, đó mới chỉ là hình ảnh rất lạc quan, rất tích cực khi nói về các hệ thống vận hành của xã hội, mà chưa thực lưu ý đủ tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề về khiếm khuyết trong thực tiễn vận hành đó. Khi gọi những khiếm khuyết thuộc loại ấy như là “căn bệnh” của thiết chế Nhà nước, ngay từ những buổi đầu xây dựng Nhà nước Việt Nam mới, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng lối nói hình ảnh vừa dân gian dễ nắm bắt nhưng cũng vừa là sát thực hơn với nội dung được nói đến: công chức, và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong phạm vi công quyền, vốn là một diện mạo biểu thị “sức khỏe” của thể chế và tổ chức xã hội - công chức phải “khỏe”, thì Nhà nước mạnh và người dân thấy “khỏe” theo. Vậy nên, Người coi “tham ô, lãng phí, quan liêu” là thứ “bệnh tật” tàn phá từ bên trong “sức khỏe” của bộ máy công quyền và Nhà nước. Theo cách nói đó mà ngày nay ta quen đề cập những điểm yếu của công chức, từ quy mô bộ máy các cấp cho đến mức độ từng cá thể của lớp người thực thi vai trò công chức, gọi những điểm yếu đó như là “những căn bệnh của công chức”; thậm chí, nhiều khi người ta uyển chuyển gọi thói quan liêu hách dịch là “bệnh công chức” - thật ra không hoàn toàn đúng, và phần nào làm lệch ý nghĩa của “bệnh”. Bởi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra “thang thuốc” cho “căn bệnh” này bằng hệ tiêu chí “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, và nội hàm của các “vị thuốc” này phản ánh tính cốt lõi của những điểm yếu gây “bệnh” ở công chức. Tính cốt lõi này chi phối và thuộc về các phẩm chất sâu sắc hơn từ năng lực đạo đức, năng lực nhận thức, năng lực hành động theo các chuẩn mực luân lý xã hội khi thi hành công vụ. Có thể thấy rằng, những tiêu chí nói trên hầu như ai cũng đã biết, đồng thời, tính giản dị trong hình thức diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại hướng đến chỗ muốn người ta suy ngẫm thường xuyên hơn bởi dễ ghi nhớ hơn. Sự giải thích bao hàm trong các tiêu chí đó của Người cũng rất thiết thực và có thể hợp với mọi thời: Cần là cần cù làm việc, siêng năng học tập, và còn có nghĩa làm việc có phương pháp, theo tri thức khoa học, và phải năng động suy nghĩ. “Cần” phải đi với ý nghĩa “cần cù” trong hoạt động trí óc. Bởi, chính từ trí óc mà ta “cần” hay không. Kiệm là tiết kiệm thời gian, tiền bạc, phương tiện vật chất nói chung trong thi hành công vụ nhằm đạt hiệu quả mà không gây lãng phí, không sa vào những hoạt động bất hợp lý. Liêm hiển nhiên là giữ mình liêm khiết, không tham không nịnh, cũng không ham được xu nịnh tâng bốc. Chính là trước hết tu dưỡng cho mình tinh thần thượng tôn đạo lý, lẽ phải, để không sa vào hay nhân nhượng thỏa hiệp bắt tay với những sự sai trái. Chí công là một đòi hỏi có tính lý tưởng trước hết trong nhận thức và ý thức, sau là trong hành vi công vụ, phải hết mức công tâm, để nhận ra được lẽ công bằng trong đa dạng sự việc và quyết thực thi sự công bằng; đi với vô tư là hạn chế hết mức “lòng riêng” như người xưa thường nói, để có thể xem hiệu quả của công vụ, quyền lợi của Nhà nước và của người dân là trên hết trong công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dẫn châm ngôn xưa để nói về điều này, là “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, mà một thời chúng ta đã quen nghe một châm ngôn tương tự về người đảng viên. Những năm đổi mới kinh tế và cải cách hành chính đã dần làm rõ vị trí, vai trò quyền lực của công chức trong một bối cảnh sự phân công lao động xã hội đã rõ rệt hơn về chức năng, trong đó, chức năng quản lý nhà nước dường như “phình ra”, mà một trong những lý do chính là sự tăng trưởng hoạt động kinh tế tư nhân, tăng dân số đi cùng với đô thị hóa dữ dội, khiến cho hoạt động quản lý hành chính và quản lý chức năng trở nên tất bật trong một sự bận rộn đáng mừng đối với khá nhiều người, và cũng từ đó, những lời phê bình hay ta thán về công chức lại tăng dần lên (- bởi những phê phán đó đã vẫn tồn tại dưới thời bao cấp, về “bệnh” quan liêu - cửa quyền chẳng hạn, rồi đã tạm lắng một thời gian khi mà các thành quả ban đầu của đổi mới kinh tế tạo ra nhiều sự thỏa hiệp xã hội, cần cho việc làm ăn, thu hút hết nỗi chú tâm trong đời sống xã hội - ) mà giờ đây, người ta nói nhiều hơn về sự bất cập của “tư duy” công chức, tình trạng không theo kịp đà phát triển xã hội trong các lĩnh vực quản lý hành chính và chức năng; người ta kêu lên với “bệnh vô cảm”, “bệnh ì” ở công chức,… Những “căn bệnh” phổ biến bị kêu ca, phê phán nhiều nhất, như thế, vẫn là những căn bệnh vốn đã được người sáng lập Nhà nước của chúng ta cảnh giác ngay từ buổi đầu. Tương ứng với sự tăng trưởng chung của đời sống xã hội, trình độ chuyên môn của công chức hiển nhiên đã tăng, ví như là đã “khỏe” hơn, giỏi giắn hơn. Song, từ phía “bệnh” mà nói, “sức khỏe” đề kháng lại dường như sút giảm. Theo ý kiến của nhiều người đã nhận xét, sự tu dưỡng về mặt “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” dường như đã lỏng lẻo đi dưới nhiều sức ép từ những đòi hỏi chuyên môn, lo lắng mưu sinh gia đình, hay những cám dỗ của đời sống tiêu thụ không ngừng tăng lên và thiên biến vạn hóa. Gần đây, có nổi lên luồng ý kiến cho rằng nên sử dụng một biện pháp cổ xưa gọi là “dưỡng liêm” - dùng một khoản bồi đắp thêm về quyền lợi vật chất, công khai, để nuôi dưỡng lòng liêm chính của công chức. Chưa nói đến các phương diện khả thi hay không của đề xuất này, ta thấy, việc đưa ra một đề nghị giải pháp như thế rõ ràng nhằm muốn củng cố đạo đức của người thực thi công quyền. Và ở đây, bài học Hồ Chí Minh về cái lôgíc đạo lý truyền thống hiện lên rõ rệt: muốn “liêm” được trước hết đã phải “chính”; muốn là “chính” trước đã phải “cần” và “kiệm” - sự học hỏi, chuyên cần trong công việc, có tư duy văn minh, hợp lý; và muốn có con người như thế cho sự nghiệp thì trước đã phải tạo được quan niệm nhân sinh “chí công vô tư” đối với các nhiệm vụ thực thi và đảm nhiệm công quyền. Trong lĩnh vực này, người ta không chỉ trông chờ vào tu dưỡng cá nhân mỗi người, mà căn bản còn dựa vào pháp chế; và một số ý kiến chuyên gia đề nghị hoàn thiện các thay đổi về quản lý công chức từ việc tuyển dụng đến sự thưởng phạt công minh, tiêu chuẩn hóa, và rộng ra là cải thiện môi trường xã hội... Song, quan điểm nhân sự cốt lõi vẫn căn cứ vào đạo đức và nhân cách phù hợp cho việc hành xử quyền lực Nhà nước, phù hợp với đặc trưng của Nhà nước và quyền lực cụ thể. Bài học Hồ Chí Minh cũng là bài học từ truyền thống về các yêu cầu nhân sự đối với những người làm việc Nhà nước. Bởi, công chức khỏe thì Nhà nước cũng khỏe./.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay

 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần phải có phương pháp làm việc khoa học; việc lớn hay việc nhỏ đều phải được xem xét, nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác, xây dựng chương trình, nội dung, kế hoạch, biện pháp sát thực và tổ chức hoạt động thực tiễn một cách khoa học. Phương pháp làm việc khoa học gắn với cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Người có giá trị định hướng quan trọng trong bồi dưỡng và xây dựng phương pháp làm việc đối với đội ngũ cán bộ hiện nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới. Để bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:


 Một là, nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ.

 Cần nhận thức sâu sắc về tính khách quan, tất yếu phải thường xuyên cập nhật tri thức mới, phương pháp, kinh nghiệm làm việc cho đội ngũ cán bộ. Trong đó, phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt, là cẩm nang vô giá, làm cơ sở trực tiếp để định hướng phương pháp làm việc cụ thể cho cán bộ các cấp.

 Người làm công tác cán bộ ở mỗi cơ quan, đơn vị cần nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và sự cần thiết phải bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học; hiểu rõ những nội dung cơ bản về phong cách làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm chắc điểm mạnh, yếu trong phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó có sự vận dụng phù hợp; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong công tác bồi dưỡng, xây dựng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

 Hai là, bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý và những nguyên tắc cho phương thức, biện pháp hoạt động của đội ngũ cán bộ.

 Quá trình bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ trước hết cần chú trọng bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, đặc biệt chú ý bồi dưỡng hệ thống phương pháp, phong cách, tư duy làm việc của Người; phương pháp tư duy mới, hiện đại làm cơ sở, nền tảng để nâng cao năng lực tư duy, phương pháp làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ hiện nay. Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên có vai trò rất quan trọng trong bồi dưỡng hệ thống lý luận, phương pháp luận khoa học cho cán bộ. Cùng với nguồn nhân lực giảng viên, báo cáo viên tại cơ sở, cần có cơ chế mở rộng hợp tác thường xuyên với lực lượng giảng viên có chất lượng cao ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các học viện, nhà trường và giảng viên là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị…

 Trong quá trình bồi dưỡng, cần giáo dục cho đội ngũ cán bộ có tinh thần, thái độ kiên quyết đấu tranh phê phán những căn bệnh chủ quan, gia trưởng, hách dịch, kiêu ngạo, quan liêu, mệnh lệnh, thiếu kỷ luật, ghen ghét, đố kỵ, cá nhân chủ nghĩa, tư lợi, giáo điều, máy móc, làm không đến nơi đến chốn, biếng nhác…

 Văn hóa là sức mạnh nội sinh, là nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững, vì vậy, đội ngũ cán bộ phải được bồi dưỡng về đạo đức, văn hóa, lối sống, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đặc biệt, phải chú trọng bồi dưỡng văn hóa lãnh đạo, quản lý; văn hóa chỉ huy, tổ chức, điều hành; văn hóa công sở, văn hóa ứng xử; văn hóa từ chức...

 Ba là, bồi dưỡng, cập nhật những nội dung, phương pháp làm việc mới cho đội ngũ cán bộ.

 Trước sự phát triển nhanh chóng của thời cuộc, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, cần thường xuyên, kịp thời bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ những nội dung về phương pháp lãnh đạo, quản lý mới, gắn với những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và định hướng cách thức tổ chức, triển khai hiệu quả. Đội ngũ cán bộ phải được quán triệt một cách toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt là những phương hướng, chủ trương, biện pháp mới, những phát triển đột phá... phù hợp với cương vị, chức trách được giao. Đội ngũ cán bộ cần nắm chắc những nội dung cốt lõi, nội dung mới, cấp thiết trên các lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm, từ đó xác định kế hoạch, giải pháp khoa học, cụ thể, sát hợp với công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý của mình.

 Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, đội ngũ cán bộ cần cập nhật những tri thức khoa học hiện đại, có năng lực, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ vào hoạt động thực tiễn; bắt nhịp với xu thế phát triển của thế giới; đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử theo kịp sự phát triển, tiến bộ khoa học - công nghệ. Đội ngũ cán bộ cần được bồi dưỡng cách thức khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị hiện đại trong công việc, làm việc qua mạng, trực tuyến; gương mẫu và tích cực vận động nhân dân tham gia dịch vụ công trực tuyến, văn hóa trên không gian mạng, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.

 Đội ngũ cán bộ phải có năng lực và kỹ năng giải quyết những vấn đề cấp bách, cấp thiết theo phạm vi, chức năng của cơ quan, đơn vị, nhất là trước tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 như hiện nay, cần có bản lĩnh, tri thức, phương pháp làm việc để góp phần thực hiện mục tiêu kép, vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa thích nghi, ngăn ngừa, phòng, chống hiệu quả đại dịch COVID-19.

 Bốn là, đổi mới và nâng cao tính thực tiễn trong công tác bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.

 Cần linh hoạt, kịp thời lựa chọn các hình thức, biện pháp bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, đào tạo, như tập trung, bán tập trung; vừa làm, vừa học; bồi dưỡng từ xa, bồi dưỡng qua hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; lấy người học làm trung tâm để thiết kế nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp, tránh tình trạng “độc thoại” của giảng viên, tăng cường các hình thức tương tác trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Khuyến khích tinh thần tự học của cán bộ, “lấy tự học làm cốt”, “đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức”(7). Nâng cao chất lượng bồi dưỡng qua các loại hình sinh hoạt chuyên môn và theo phương châm “cấp trên bồi dưỡng cấp dưới”. Kết hợp và phát huy hiệu quả hệ thống các thiết bị, phương tiện truyền thống và hiện đại cho công tác bồi dưỡng.

 Nâng cao tính hiệu quả của công tác bồi dưỡng bằng phương pháp nêu gương. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải là những tấm gương sáng về phong cách, đạo đức, lối sống, chuyên môn để cho cấp dưới học tập, noi theo.

 Cần chú ý bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, bảo đảm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tìm ra được những phương pháp tư duy mới, ý tưởng sáng tạo, cách làm hay; chú trọng công tác tổng kết thực tiễn. Nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ, qua đó rèn luyện bản lĩnh, tích lũy kinh nghiệm và tạo cơ hội cho cán bộ phát huy năng lực sáng tạo, mài sắc tư duy khoa học, vốn tri thức và phương pháp làm việc khoa học.

 Năm là, hoàn thiện tiêu chuẩn các đối tượng cán bộ, góp phần nâng cao khả năng làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ.

 Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa các tiêu chí về phẩm chất, nhân cách, năng lực… phù hợp với từng đối tượng cán bộ theo chức danh, theo ngạch, vị trí việc làm, theo cấp hành chính hoặc theo ngành, lĩnh vực công tác để làm cơ sở triển khai trong thực tiễn, trong đó, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, gắn với thực hiện tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

 Sáu là, thực hiện tốt chính sách cán bộ, đổi mới công tác thi đua - khen thưởng, tạo động lực cho cán bộ cải tiến phương pháp làm việc khoa học.

 Thực hiện tốt chế độ đãi ngộ - sử dụng cán bộ; đổi mới công tác đánh giá, bình xét, thi đua - khen thưởng, lấy hiệu quả công việc làm thước đo quan trọng nhất. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ việc cải tiến phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả với phong trào thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; đưa phong trào thực sự đi vào cuộc sống, khơi dậy, động viên, lôi cuốn cán bộ, đảng viên tích cực tham gia, hưởng ứng.

 Phương pháp làm việc khoa học là một nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tài sản hết sức giá trị trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Học tập phương pháp làm việc khoa học của Người chính là một cách để mỗi cán bộ, đảng viên thiết thực thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.


Cầu người tài đức

Xác định hiền tài là nguyên khí quốc gia, Đảng, Nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài. Trong thực tiễn, để thu hút và sử dụng được nhân tài, cái “tâm”, “tầm” của người lãnh đạo, quản lý đóng vai trò quan trọng. Câu chuyện Cầu người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 70 năm trước đây thêm một lần nữa chứng minh điều đó. Chiều ngày 2-9-1945, sau buổi Lễ Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp Hội đồng Chính phủ, thông qua nhiều quốc sách quan trọng: diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; ký Sắc lệnh Tổng tuyển cử tự do trong cả nước; lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tuyên bố quyền tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết… Đến phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: "Đất nước lúc này cần kiến thiết: kiến thiết ngoại giao; kiến thiết kinh tế; kiến thiết quân sự; kiến thiết giáo dục. Muốn vậy phải mời người tài đức ra giúp nước nhà. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều"(1). Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban cố vấn gồm 10 vị giúp việc cho Chủ tịch nước. Người giới thiệu danh sách 6 vị đệ trình Hội đồng Chính phủ cho ý kiến, gồm: 1. Cụ Bùi Bằng Đoàn 2. Giáo sĩ Lê Hữu Từ 3. Cụ Ngô Tử Hạ 4. Cụ Bùi Kỷ 5. Cụ Lê Tại 6. Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện Còn thiếu bốn vị nữa, Người xin được Hội đồng Chính phủ tiếp tục bổ khuyết. Trao đổi với ông Vũ Đình Huỳnh - Bí thư tín nghĩa của mình, Hồ Chủ tịch nói: "Thật phúc đức cho tổ tiên ta, đông đảo các vị tài đức từ Bắc chí Nam đều sẵn sàn dấn thân vào công việc giúp nước, cứu dân trong lúc "nước sôi lửa bỏng" này. Các bậc chí sĩ, như cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng); cụ Tố (Nguyễn Văn Tố); cụ Phan (Phan Kế Toại); cụ Vi (Vi Văn Định)… đều ghé vai vào quốc sự. Nhưng riêng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc đại thần, một quan Thượng thư Bộ hình nổi tiếng thanh liêm, chính trực, hết mực yêu thương dân chúng trong triều đình Huế, ngoài lý do sức khỏe chắc còn một lý do nào đó khiến cụ còn do dự"(2). Hồ Chủ tịch bàn với Bí thư của mình và quyết định viết "Lời tâm thư". Người giao ông Vũ Đình Huỳnh trực tiếp đến yết kiến cụ Bùi Bằng Đoàn tại nhà riêng và trao bức thư này. Trước ngày ông Vũ Đình Huỳnh cầm bức thư của Hồ Chủ tịch đến Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Đông gặp cụ Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp công bố trên báo Cứu quốc bài "Tìm người tài đức" của Hồ Chủ tịch. Bài viết ngắn nhưng nói lên tâm huyết, mong mỏi của vị Chủ tịch nước đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Nước nhà cần được kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào ta chắc không thiếu người tài đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh"(3). Tại tư thất ở quê nhà, cụ Bùi Bằng Đoàn xúc động nhận "Lời tâm tri" của Hồ Chủ tịch. Bức "tâm tri" này cũng thật ngắn và xúc tích: "Thưa Cụ, tôi tài đức ít ỏi mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Cụ học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú, vậy nên tôi muốn mời Cụ làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và kính chúc Cụ mạnh khỏe. Kính thư - Hồ Chí Minh"(4). Bức thư hàm xúc bao ý nghĩa lớn lao. Đọc "Lời tâm tri" của Hồ Chủ tịch, cụ Bùi Bằng Đoàn nhấn đi nhấn lại bốn chữ "hưng lợi trừ hại". Cụ tâm sự với ông Vũ Đình Huỳnh: "Ngài Bí thư coi, Hồ Chủ tịch viết cho tôi có hơn năm mươi từ mà trọng nhiệm lớn lao, tôi e mình không làm tròn trọng nhiệm mà Hồ Chủ tịch phó thác. Tôi ra làm quan từ thuở ngoài hai mươi tuổi, cái thời nước mất, ngoại bang đô hộ, hơn ba mươi năm ở ghế quan trường dưới ba đời vua An Nam. Nay nhờ có Hồ Chủ tịch lãnh đạo, nhân dân ta đã rửa được cái nhục vong quốc, nước Nam ta đã có độc lập, nhân dân ta có tự do, ai nấy đều hả lòng hả dạ. Ngài Bí thư về thưa lại với Hồ Chủ tịch, tôi xin ứng mệnh "Lời tâm tri" này"(5). Từ một ông quan Thượng thư làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức rõ đường lối cách mạng và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn đã đi theo cách mạng, đem hết sức lực, tài năng của mình ra phụng sự dân tộc. Tham gia chính quyền mới, cụ đã từng giữ các chức vụ: Cố vấn Chủ tịch nước; Trưởng ban Thanh tra đặc biệt; Trưởng ban Thường trực Quốc hội từ tháng 11-1946 cho đến khi cụ tạ thế (tháng 4-1955). Trong thời gian làm việc ở chiến khu Việt Bắc, tình cảm giữa Hồ Chủ tịch và cụ Bùi Bằng Đoàn không chỉ là tình cảm của những nhà cách mạng mà còn là tình cảm của những người bạn tri ân. Chúng ta còn nhớ bài thơ Hồ Chủ tịch tặng cụ Bùi Bằng Đoàn: Xem sách chim rừng vào cửa đậu Phê văn hoa núi ghé nghiêng soi Tin vui thắng trận dồn chân ngựa Nhớ Cụ thơ xuân tặng một bài. Cụ Bùi Bằng Đoàn cũng có bài thơ họa lại: Sắt đá một lòng vì chủng tộc Non sông muôn dặm giữ cơ đồ Biết Người việc nước không hề rảnh Vung bút thành thơ đuổi giặc thù. Với mong muốn có nhiều người tài đức ra giúp dân, giúp nước, với uy tín và sự chân thành của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, như cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Phan Kế Toại, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Vũ Đình Hòe, Trần Đại Nghĩa,... Họ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Bài học về trọng dụng người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đáng để chúng ta suy nghĩ, học tập trong việc thu hút nhân tài phụng sự công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước hiện nay./.

Văn hóa từ chức

Từ chức được hiểu xin thôi không làm chức vụ hiện đang giữ. Như vậy, từ chức chỉ có thể xảy ra ở những người có chức, có quyền. Từ chức một cách tự nguyện, tự giác là thái độ trung thực với chính mình, biết xấu hổ khi làm điều trái với đạo lý, đi ngược lại nguyện vọng của cơ quan, tổ chức và cộng đồng, là biểu hiện của sự cao thượng, dũng cảm, tự trọng. Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện và mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Ở các nước phát triển, từ chức là văn hóa hành xử của những người có chức, có quyền và đã trở thành trách nhiệm của người có chức, có quyền, được dư luận xã hội chấp nhận. Từ xưa, nước Việt ta có khá nhiều người tài giỏi nhưng đã treo ấn từ quan như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bỉnh Khiêm,... Các ông từ chức không phải không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn mà phần nhiều là do khảng khái, không đồng ý với quan điểm của vua. Tuy nhiên, tôi cho rằng, ở Việt Nam từ xưa đã có văn hóa từ chức rồi thì chưa hẳn đúng. Vừa qua, Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ nghiên cứu xây dựng Đề án tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức, trong đó có việc nghiên cứu xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức và coi từ chức - thuộc khía cạnh văn hóa của chế độ công vụ - là một nội dung nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Tại sao Chính phủ lại phải xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức? Theo tôi là do những nguyên nhân sau đây: Một là, công tác tổ chức cán bộ của chúng ta còn yếu kém, nhất là trong việc giáo dục, lãnh đạo, quản lý đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thực hành liêm chính và thiếu gương mẫu, không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn nhưng hầu như không thấy ai có lời xin lỗi hoặc từ chức cả. Hai là, chúng ta chưa có hệ thống pháp luật quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng vị trí, nhất là đối với lãnh đạo, quản lý nên thiếu cơ sở để người dân hoặc các tổ chức, cơ quan giám sát. Ba là, việc từ chức hiện nay khó quá nên không thấy ai tự nguyện từ chức nên phải có quy định, đồng thời ở nước ta hiện nay chưa hình thành văn hóa từ chức. Điều đó có nghĩa là một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa có lòng tự trọng, thiếu trung thực, ứng xử chưa liêm khiết. Tại sao việc từ chức lại khó và ở ta chưa có văn hóa từ chức? Qua nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khái quát như sau: - Chức tước thường đi đôi với quyền lực, thường gắn với lợi ích, bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Nếu từ chức có nghĩa sẽ không còn gì cả. - Học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức người Việt và vì thế truyền thống coi “làm quan” là một sự thành đạt cao nhất. - Dư luận xã hội chưa được định hướng để đồng tình hay ủng hộ việc tự nguyện từ chức. Nếu ai đó là đảng viên thì viện dẫn đây là nhiệm vụ Đảng giao, nếu từ chức lại coi là không có tinh thần đảng viên, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu…, từ chức là để trốn tránh trách nhiệm, để thoát tội, để hạ cánh cho an toàn… Rõ ràng, quyền lực thể chế nào cũng liên quan tới lợi ích cá nhân. Một khi động cơ lợi ích cá nhân lớn đến mức, nhà tư sản “sẵn sàng treo cổ khi lợi nhuận tới 300% - Các Mác”, thì người có quyền, có chức càng không thể dễ dàng từ bỏ nó, nếu quyền lực chính là phương tiện có thể “vinh thân, phì gia”. Văn hóa từ chức là một dạng văn hóa cá nhân của những người có chức, có quyền. Họ được cơ quan, tổ chức và xã hội tôn trọng khi ở họ có nhân cách đạo đức, biết lãnh đạo bằng tấm gương. Nếu không có nhân cách và gương mẫu thì không thể thuyết phục được mọi người. Để có văn hóa từ chức theo tôi cần: - Phải có hệ thống pháp luật quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng vị trí, nhất là đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý. Xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức phải dựa trên nền tảng cải cách, xây dựng được quy chế công chức thật chuẩn về tiêu chuẩn của từng chức vụ, từng vị trí công tác. - Đẩy mạnh tuyên truyền trong xã hội về văn hóa từ chức; nên khuyến khích sự tự nguyện từ chức và đánh giá cao những người có đủ dũng khí, lòng tự trọng, biết liêm sỉ tự nguyện từ chức, đồng thời định hướng dư luận xã hội cũng không nên nặng nề đối với những người tự nguyện từ chức. - Bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải tự nhận thức rằng chức vụ không chỉ đi liền với quyền lợi, mà cao hơn phải thấy chức vụ đi liền với trách nhiệm, với tinh thần, thái độ cống hiến, hy sinh. Việc từ chức tự nguyện của người có chức, có quyền sẽ tạo cơ hội cơ cấu lại, kiện toàn đội ngũ cán bộ của cơ quan, tổ chức nghĩa là tạo ra sự hợp lý tốt hơn trong xã hội. Điều đó giúp những người thực sự có nhân cách, tài giỏi, có trình độ, năng lực thực tiễn có thể phát huy cao nhất năng lực của mình nếu ở đúng vị trí, đồng thời cũng giúp cho cơ quan, tổ chức và xã hội tránh được những thiệt hại không đáng có. Văn hóa có mặt trong tất cả những hoạt động sống của con người và là tất yếu của cuộc sống, thế nên, văn hóa từ chức cũng biểu hiện sự tất yếu của cuộc sống. Thiết nghĩ, từ chức sớm trở thành cách ứng xử bình thường trong đời sống lãnh đạo, quản lý ở nước ta, đồng thời, văn hóa từ chức cũng từ đó mà hình thành và phát triển./.

Nghỉ cho khỏe!

Một nguồn lực có chất lượng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo, quản lý đang “có sẵn” ở các vùng nông thôn nước ta chưa được huy động một cách hiệu quả. Một lần về thăm quê, gặp người anh họ, một đại tá quân đội về hưu, trong câu chuyện về quê hương, gia đình thân mật, tôi hỏi anh: Ở quê ta có một số cán bộ, đảng viên công tác thoát ly nay về hưu, còn sức khỏe, có trình độ, năng lực nhưng không thấy được sử dụng trong việc xã, việc thôn... vì sao thế hả anh? Câu hỏi của tôi hình như “gãi” trúng “chỗ ngứa” (nói đúng hơn là điều trăn trở), nên anh nhiệt tình giãi bày: Vấn đề chú hỏi là một thực tế, rất đáng quan tâm, nhất là hiện nay, Chương trình xây dựng Nông thôn mới đang được triển khai, đòi hỏi phải có nhiều nguồn lực về vật chất, tinh thần, trí tuệ. Làm sao có thể khơi gợi, tận dụng, phát huy được mọi nguồn lực cho việc này. Bởi vì, phần lớn những người đi công tác thoát ly ở nhiều miền đất nước, nhiều ngành nghề khác nhau, đã từng tích lũy được những kinh nghiệm, tri thức có thể có ích cho quê hương khi về hưu. Đó là vấn đề mà cơ quan lãnh đạo, những người có trách nhiệm ở địa phương nói riêng, các cấp lãnh đạo, cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách ở cấp trên nên suy nghĩ tới và có giải pháp đúng đắn. Cán bộ, đảng viên khi về hưu nói chung, ở nông thôn nói riêng không được sử dụng, hoặc không phát huy, cống hiến, đóng góp cho địa phương, theo anh, có ba nguyên nhân chính: một là do chủ quan người về hưu; hai là do hoàn cảnh, môi trường ở địa phương; ba là do cơ chế, chính sách. Anh tạm phân loại, nêu mấy trường hợp như sau: Trường hợp thứ nhất - người về hưu còn sức khỏe, có trình độ: Nhiều người muốn tiếp tục tham gia công tác, làm cán bộ (chính quyền, hoặc đoàn thể địa phương) với động cơ trong sáng là muốn tiếp tục cống hiến, đóng góp tài đức xây dựng địa phương; cũng có người với động cơ được làm cán bộ, có chút chức quyền “ăn nói” ở địa phương, có thêm thu nhập qua phụ cấp trách nhiệm, cộng với lương hưu để cải thiện đời sống. Những người này có năng lực, có phương pháp và tác phong quần chúng tốt, được tín nhiệm trước cán bộ và nhân dân thôn, xã nên đã được trọng dụng, được phát huy và cũng thực hiện được mong muốn của mình. Điển hình ở xã ta là ông A ở thôn B, một trung tá quân đội về hưu, làm cán bộ thôn rồi xã (Đảng ủy viên ) mấy khóa liền, hiện nay ngoài 70 tuổi rồi vẫn được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội người cao tuổi xã. Thôn ta có ông K cũng thuộc loại này, đại úy quân đội về hưu, làm cán bộ thôn mấy khóa, rồi lên làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã nay mới nghỉ hẳn. Cũng có những người trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám nói, dám làm, nhưng phương pháp chưa phù hợp với hoàn cảnh địa phương nên không được sử dụng. Ở địa phương, nhất là nông thôn, trình độ chính trị của cán bộ, đảng viên nói chung còn nhiều hạn chế, tư tưởng cục bộ, địa phương (làng, xã) và “chi nọ, họ kia” vẫn còn nặng nề. Anh nào tài đức mấy, nhưng khác họ, khác làng là rất dễ bị “tung hê”. Cũng có những người còn trẻ, còn sức khỏe, có trình độ, muốn làm cán bộ địa phương nhưng động cơ cá nhân (ham chức quyền, danh vọng, kiếm chác,…) tìm mọi cách, kể cả tỏ ra rất hăng hái phấn đấu, có làm cán bộ thôn, xã thật, nhưng vì động cơ không đúng, trước sau cũng bị “lộ”, sa ngã và tự đào thải. Xã, làng ta có vài trường hợp, chú biết mà!!!... anh nói. Còn có những người không muốn tham gia, không thích làm “cán bộ” vì phải phấn đấu, cống hiến nhiều mà thu nhập chẳng là bao, bản thân lại có khả năng hoặc thích làm kinh tế (doanh nghiệp, trang trại, buôn bán ...). Những người này cũng rất đáng trân trọng nếu họ làm kinh tế giỏi và thực hiện tốt nghĩa vụ công dân vì đó cũng là những đóng góp tốt cho địa phương. Không nhất thiết cứ phải làm cán bộ mới là cống hiến! Thế còn trường hợp thứ hai thế nào hả anh? - Tôi hỏi tiếp. Trường hợp thứ hai - người về hưu có trình độ, đạo đức tư cách tốt, nhưng tuổi cao thì một số “an phận thủ thường”, cho rằng mình đã phấn đấu gần hết đời rồi, Nhà nước cho nghỉ, mình phải được nghỉ theo đúng nghĩa của “chữ nghỉ”, tức giữ gìn sức khỏe, chăm lo con cháu, gia đình, hoàn thành nghĩa vụ của ngươì công dân là được. Họ cũng rất đáng trân trọng! Nhiều người không “an phận thủ thường”, vẫn quan tâm, suy nghĩ, lo lắng đến “quốc gia đại sự”, có ý thức trách nhiệm xây dựng quê hương bằng khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mình, chia sẻ ý tưởng, hiến kế cho sự phát triển địa phương, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, không nhận làm bất cứ “cán bộ” gì ở địa phương, có ý “nhường’ việc này cho lớp trẻ. Đây là trường hợp khá phổ biến, cũng rất đáng kính trọng, thường họ là những người có tâm, có tầm, biết mình, biết người. Họ cho rằng không phải cứ “ông nọ bà kia”, cán bộ, quan chức mới là đóng góp, mới được coi trọng. Thế còn anh thì sao, anh thì “rơi” vào trường hợp nào? tôi hỏi anh, anh còn sức khỏe, có trình độ, kinh nghiệm và mong muốn cống hiến nhưng sao vẫn đứng “ngoài cuộc”? Sau một thoáng trầm ngâm, anh giãi bày: Cũng còn nhiều cái “khó” chú ạ. Lúc đầu anh cũng hăng hái phát biểu ý kiến, bày tỏ nguyện vọng trong cuộc họp chi bộ và nhận được những phản hồi rất nhã nhặn, đại loại như: Thôi, bác đã cống hiến cả đời, giờ được Đảng và Nhà nước cho nghỉ ngơi, bác cứ “nghỉ cho khỏe”, chúng em không dám “phiền”. Anh tưởng thật, tiếp tục đề đạt thì nhận được những lời hứa đại loại như để chúng em nghiên cứu, sắp xếp,… Từ bấy đến giờ cũng đã mấy năm! Hóa ra, mọi chuyện không hề đơn giản! Tôi hỏi thêm anh: Vậy, làm thế nào để “gỡ rối? Anh đáp: Giải pháp gì cũng phải từ nhiều phía chú ạ, từ chính những người về hưu cũng như tổ chức, chính quyền. Qua lời tâm sự của người anh, tôi cũng hiểu thêm được một phần của thực trạng ở nông thôn hiện nay, cũng như hiểu anh hơn - một người về hưu, mặc dù chưa tham gia đảm nhiệm công việc, chức vụ cụ thể nhưng cái “tâm” vẫn không bao giờ chịu ngưng nghỉ, ngày đêm suy nghĩ, trăn trở đối với công việc quê hương./.

Phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi thực hiện nhiệm vụ, bất kể việc gì, từ lớn đến nhỏ, người cán bộ đều phải xác định rõ mục đích, nội dung, chương trình, kế hoạch. Người yêu cầu tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở phải xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, thiết thực, vừa sức; “nội dung một, kế hoạch mười, biện pháp phải hai mươi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Xưởng may 10, Người góp ý kiến về cách cắt may sao cho nhanh, tiết kiệm, bảo đảm chất lượng (năm 1959)_Ảnh: Tư liệu


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, người cách mạng phải có mục đích và tư tưởng đúng trong công việc thì hành động mới không sai lệch. Người yêu cầu mục đích, kế hoạch trong công việc phải rõ, như “người bắn cung phải hướng đích”. Kế hoạch làm việc phải cụ thể, sát thực, có trọng tâm, trọng điểm, không chung chung, dàn trải và phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể. Người nhấn mạnh: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng”(2). Những quan điểm trên đã tạo nên những giá trị đặc sắc về phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, đó là tính mục đích, tính sát thực, khoa học của chương trình, kế hoạch và thực hành sáng tạo, làm đến nơi đến chốn trong thực hiện các nhiệm vụ.

Theo Người, làm việc khoa học là phải giờ nào, việc ấy, chấp hành đúng giờ giấc, biết tôn trọng thời giờ của người khác, tránh lối làm việc tùy tiện, “được chăng hay chớ”, “bạ đâu hay đó”. Phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở chỗ: Khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, đều phải tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, thực hiện các nhiệm vụ được tốt hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi sâu thực tế, bám sát cơ sở, nắm chắc toàn diện tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, lắng nghe ý kiến và học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Người yêu cầu cán bộ phải sâu sát, nắm tới “cái ăn, cái mặc”; nắm tâm tư, nguyện vọng, niềm vui, nỗi buồn của nhân dân; muốn vậy, cán bộ ở cơ quan hay ở cơ sở phải luôn cụ thể, tỉ mỉ, phải kết hợp giữa “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”(3). Người đã nghiêm khắc phê phán các cán bộ tự coi mình là “quan cách mạng”, “quan nhân dân”, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân. Cán bộ cần thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”; phương pháp cơ bản trong tuyên truyền, vận động cách mạng là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(4); phải biết đặt lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp lên trên lợi ích cá nhân. Người viết: “Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”(5). Hệ thống triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt về phương pháp luận, đặc biệt là tính thống nhất biện chứng trong nhận thức và hành động, giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, gần dân, sát dân, nêu gương trong công việc hằng ngày.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động, là tấm gương sáng ngời về phương pháp làm việc khoa học, khách quan, dân chủ, trung thực, sáng tạo. Đặc biệt, Người cũng rất quan tâm đến công việc bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

Hiện nay, cùng với việc đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc cũng đặt ra đòi hỏi cao về phẩm chất và năng lực ở đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm, thì đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn còn những hạn chế về phẩm chất, năng lực, trong đó có phương pháp làm việc. Ở một số cán bộ cấp chiến lược vẫn còn có những biểu hiện giáo điều, lý luận không gắn với thực tiễn, nói không đi đôi với làm,... Cán bộ cơ sở không đồng đều về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chưa nắm vững khoa học - công nghệ hiện đại để áp dụng vào thực tiễn công tác. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn một số hạn chế, nặng về lý thuyết, thiếu cập nhật kiến thức và kỹ năng lãnh đạo thực tiễn... Trước thực trạng trên, Đảng ta đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là: “Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(6). Đội ngũ cán bộ cần được thường xuyên bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học theo tư tưởng Hồ Chí Minh; qua đó, làm cơ sở trực tiếp để xây dựng phương pháp công tác cụ thể cho hoạt động của cán bộ các cấp. Bởi lẽ, dù người cán bộ có tri thức, trình độ lý luận và năng lực, tâm huyết, nhưng nếu không được trang bị phương pháp làm việc khoa học thì khó có thể đạt được thành công trong công việc./.

 

Lập trình quyền lực

Anh tên là Q. Thủ trưởng cơ quan anh (ông B.) đã đến tuổi về hưu cần người thay thế. Cấp trên có ý kiến chỉ đạo rất cụ thể: cho phép cơ quan được đề cử cán bộ tại chỗ. Nếu cơ quan không chọn được cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn thì cấp trên sẽ bổ nhiệm người ở nơi khác về. Trước ý kiến chỉ đạo đó, anh Q. băn khoăn lắm. Trước đây anh rất tự tin và luôn nghĩ rằng mình sẽ “nhắm giải cạn”. Bởi vì, ở cơ quan chỉ có anh là thủ phó duy nhất, tuổi đời còn trẻ, sức khỏe tốt, lại có học hàm, học vị tương đối cao. Thay thế thủ trưởng ngoài anh ra chắc chẳng còn ai. Song không thể chủ quan và không thể “há miệng chờ sung”. Anh tự nhủ với lòng mình như vậy. Thế là, anh lập tức phác thảo trên máy vi tính một phương án với các bước đi rất cụ thể, rất chi tiết (kể cả đối nội và đối ngoại) để bảo đảm chắc chắn rằng mình sẽ là người chiến thắng. Anh gọi đó là lập trình quyền lực. Nội dung cơ bản của cái gọi là lập trình quyền lực ấy là xác định rất cụ thể một số loại đối tượng phải đặc biệt quan tâm. Hay nói một cách khác, đó là những đối tượng phải “mua” cho bằng được với bất cứ giá nào. Đối tượng thứ nhất mà Q. nhắm tới là ông B. Q. hiểu rất rõ rằng nếu được thủ trưởng ưu ái, giới thiệu thì phần thắng sẽ rất lớn. Và, có lẽ anh được Trời phù hộ. Đang lúc “tình hình rất nhạy cảm” thì vợ thủ trưởng B. bỗng phải cấp cứu, nằm viện. Q. lập tức đến thăm và biếu mười triệu đồng kèm theo những lời nói rất khéo những mong thủ trưởng đừng hiểu lầm. Thủ trưởng B. rất cảm động nhưng kiên quyết từ chối. Vì bệnh tình của vợ thủ trưởng quá nặng nên bà đã qua đời sau một tuần lễ cấp cứu ở bệnh viện. Q. đã chỉ đạo cơ quan tổ chức tang lễ vợ thủ trưởng rất chu đáo từ A đến Z. Và, trong số những phong bì nhỏ nằm trong một phong bì rất lớn (tiền phúng viếng của cán bộ, công nhân viên trong cơ quan) có một phong bì của Q. Trong cái phong bì của Q. có tới hai mươi tờ giấy bạc loại mệnh giá 100 USD. Lần này không thấy thủ trưởng trả lại. Q. mừng lắm vì biết rằng như thế là “gió đã thuận chiều”. Đối tượng thứ hai là các thành viên trong đảng ủy cơ quan. Trong quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, ý kiến của đảng ủy có giá trị quyết định chứ không phải chỉ có giá trị tham khảo. Vì thế, Q. cũng đầu tư thích đáng cho loại đối tượng này. Là thủ phó kiêm bí thư đảng ủy, nên cả bên chính quyền và bên Đảng, cấp bậc của anh đều cao hơn các thành viên khác trong đảng ủy. Song, anh luôn tỏ ra “rất khiêm tốn” và “rất tôn trọng” họ. Còn về vật chất thì khỏi phải nói, anh rất chịu chơi và chơi rất đẹp. Vì thế, kết quả cuối cùng không nằm ngoài dự kiến. Anh giành được ba phần tư số phiếu tán thành. Đối tượng thứ ba là đội ngũ cốt cán trong cơ quan (những người trong diện được bỏ phiếu lựa chọn thủ trưởng). Phiếu tín nhiệm của loại đối tượng này cũng có giá trị quyết định. Nếu giành được đa số phiếu tín nhiệm là thắng, thiểu số là bại. Vì thế, Q. cũng đã có kế hoạch đầu tư hữu hiệu cho loại đối tượng này. Và, kết quả cuối cùng cũng thật mỹ mãn. Điều đó chứng tỏ anh đã “giao dịch” và “mua bán” thành công. Đối tượng thứ tư là các nhân vật quan trọng thuộc cấp có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Khi cơ quan đã có văn bản chính thức đề nghị nhân sự, nếu các nhân vật quan trọng ở cấp này ủng hộ thì thuận lợi, còn nếu họ phản đối hay có điều gì còn phải xem xét thì hẳn sẽ gặp khó khăn. Q. xác định, vượt qua “cửa ải” này là khó nhất. Song anh thề là sẽ vượt qua. Và, đúng là anh vượt qua được thật. Không chỉ vượt qua mà anh còn vượt qua một cách “ngoạn mục”. Với biệt tài trong vận động hành lang của Q., nên cơ quan chỉ đề cử duy nhất một người thay thế thủ trưởng, đó là anh. Và, sau gần một năm tiến hành các thủ tục lựa chọn nhân sự, cuối cùng anh đã chiến thắng. Vì thế, cuối năm 2011, cùng với quyết định về hưu của Thủ trưởng B., anh Q. cũng nhận được quyết định bổ nhiệm làm thủ trưởng cơ quan. Chuyện “Lập trình quyền lực” của anh Q. là như vậy. Nhận xét về anh như thế nào là quyền của độc giả. Riêng tôi xin “bái phục” anh!

Những cái bắt tay!

Hằng ngày gặp nhau, bắt tay để chào hỏi đã trở thành một thói quen, đó là chuyện thường. Đến mức, người ta không để ý đến những thông điệp, tình cảm gì gửi gắm sau mỗi cái bắt tay. Ở nhà hàng, quán ăn gặp nhau bắt tay bây giờ cũng trở thành chuyện thường ngày, thậm chí trong bữa nhậu, chúc nhau uống bia, uống rượu, cứ uống xong một ly, một vại họ lại bắt tay. Cái bắt tay đó để làm gì? Phải chăng thói quen bắt tay cứ lặp đi lặp lại có cái gì sang trọng, đẳng cấp, thể hiện và tôn cao vị trí của mình hay sao? Hành vi bắt tay đang diễn ra tràn lan trong cuộc sống. Ở cơ quan công sở sáng gặp nhau bắt tay chào, vào hội nghị lần lượt giơ tay bắt tay đồng nghiệp, lúc ra về lại tiếp tục bắt tay tạm biệt. Bắt tay là hành vi văn hóa, thế mà, trong thời buổi hội nhập này con người đã lạm dụng đến mức thái quá biến từ cái văn hóa đến cái không văn hóa. Vì vậy, xin đôi điều về cái “bắt tay”. Về xuất xứ của bắt tay, chuyện kể lại rằng: ở giữa trời Âu thời tư bản phát triển, một đại gia nọ có hai quý tử. Khi người bố qua đời, không kịp để lại di chúc, ai cũng muốn giành phần hơn số của cải mà người cha để lại với những lý lẽ riêng. Không ai chịu ai, sinh ra cãi vã, lăng mạ nhau ngay trên bàn ăn. Anh cả lấy quyền huynh nóng gắt, đe dọa, cầm ngay con dao ăn, đánh phập, xuyên thủng mặt bàn. Người em nổi nóng, la hét, chửi bới. Bà hàng xóm thấy vậy vội vào can ngăn. Lời lẽ tình, lý của bà đã thức tỉnh lương tri hai anh em nọ, người anh rút vội con dao vứt xuống nền nhà, hướng về phía người em và chìa tay ra. Người em hiểu ý, vội đứng dậy đưa hai tay nắm bắt bàn tay anh. Thế rồi, họ bình tâm ngồi xuống, cùng nhau bàn bạc chia tài sản thấu lý đạt tình. Cái bắt tay xuất phát từ phương Tây ở thời kỳ tư bản phát triển đã xâm nhập vào Việt Nam. Sử dụng nó, nên chăng phải hiểu ngọn ngành ý nghĩa của cái bắt tay. Bắt tay là nắm bàn tay người khác để thể hiện thiện chí và biểu lộ tình cảm ân cần của mình. Cử chỉ đẹp đó dần trở thành thói quen, hành vi văn hóa mỗi khi gặp nhau. Đây là hành vi văn hóa giao tiếp giữa người với người. Bắt tay là để thống nhất với nhau hành động; là một sự giao kèo (giao ước) thực hiện việc gì đó giữa hai người đã đồng tâm nhất trí. Bắt tay còn thể hiện sự thân thiện, đồng cảm với nhau, chia ngọt sẻ bùi, san sẻ nỗi buồn, vợi đi lòng thù hận và đớn đau… Có người còn nói, bắt tay còn nhằm nhận được những dụng ý của nhau, dụng ý ấy có thể là tâm đầu ý hợp hoặc dụng ý ấy chỉ là từ đơn phương một phía mà thôi. Ngẫm về cái bắt tay có thể thấy được nhiều nét đẹp trong quan hệ giữa người với người mà chúng ta cần phát huy gìn giữ và sử dụng nó một cách phù hợp, thể hiện tính văn hóa, tính nhân văn của một quốc gia, dân tộc và của cả thời đại. Bắt tay còn là một hình thức chào nhau. Nói đến chào nhau thì mỗi dân tộc đều có các nguyên tắc, hình thức khác nhau. Ví như ở Nhật Bản, Hàn Quốc… để thể hiện sự kính trọng, thân thiện giữa người với người khi gặp nhau họ thường đứng đối diện cúi đầu để chào, còn ở Việt Nam ngày xưa khi gặp các bậc cao niên chức sắc trong làng thì hai tay đặt lên bụng cũng cúi khom lưng để chào. Thế mà bây giờ họ đã phá cách, nhiều trường hợp gặp nhau bất kể tuổi tác, ngôi vị cứ chìa tay ra bắt. Chẳng biết bắt tay để làm gì!./.

Điều đáng lo nhất

Thời còn đương chức, ông là một cán bộ cương trực, liêm chính. Về hưu, ông sống cuộc đời thanh bạch, giản dị. Cùng tổ dân phố, thỉnh thoảng rỗi rãi, tôi vẫn sang nhà ông trò chuyện. Hôm rồi, trong lúc chuyện trò thân tình, vui vẻ, tôi hỏi ông: - Lúc đang giữ cương vị đứng đầu của một ngành quan trọng ở địa phương, điều ông lo nhất là gì ạ? - Lo nhất là bị người ta nịnh mà mình không biết! - Nhưng nhiều người lại cho rằng, làm lãnh đạo, lo nhất là bị người ta ghét, người ta thù, người ta chống đối, người ta không ủng hộ mình chứ? - Điều đó cũng đáng lo, nhưng không đáng lo bằng những lời ca tụng, tán dương, vuốt ve mình bằng đủ thứ ngôn từ mỹ miều, bóng bẩy và được thể hiện dưới nhiều hình thức tinh vi. - Ông có thể lý giải rõ hơn điều này không ạ? Ông không trả lời tôi ngay, mà cầm chiếc chén uống trà, vân vê trong lòng bàn tay, ví von: - Đây nhé, một cái chén làm bằng sứ bình thường thôi. Nếu tôi là người nghiện trà, tôi phải “phụ thuộc” vào nó, nên tôi có thể gọi nó là “chén bạc, chén vàng, chén ngọc”. Giả sử, cái chén biết suy nghĩ và thích ưa nịnh, nó sẽ đắc chí lắm với những lời “tô hồng ngon ngọt” của tôi. Và, khi tôi đề cao, “lăng-xê” nó thường xuyên, dần dần, nó cứ tưởng mình được làm từ chất quý hiếm thật, chứ không phải có nguồn gốc từ đất sét, quên đi “bản chất đích thực” của mình. Ngừng giây lát, ông nói tiếp: - Làm người lãnh đạo, ít thì có dăm bảy hay vài ba chục nhân viên dưới quyền. Nhiều thì có hàng trăm, thậm chí cả ngàn người dưới quyền của họ. Thế nên, đã là lãnh đạo thì ít nhiều có quyền lực nhất định. Thông thường cấp dưới, ai cũng muốn làm hài lòng lãnh đạo. Nhưng, bên cạnh phần đông nhân viên làm hài lòng cấp trên bằng sự tận tâm, tận lực với công việc, hết lòng vì nhiệm vụ chung, vì lợi ích của tập thể, thì cũng không ít kẻ “lấy lòng” cấp trên bằng cách nịnh nọt, vuốt ve, tâng bốc bằng những từ “có cánh”, những câu “ngọt như mía lùi”. Những người như thế, tất nhiên, phong cách đâu được gọi là chững chạc, đứng đắn! Điều đáng nói ở đây là những người ưa nịnh mang tên “thủ trưởng”. Được phỉnh nịnh nhiều, không ít vị rất dễ tự coi mình là “đệ nhất thiên hạ”, nên thường suy nghĩ và hành xử theo lối độc đoán, chuyên quyền, thậm chí lạm quyền, lộng quyền. Thực tế cho thấy, không hiếm người lúc làm nhân viên hay chưa có chức quyền, thì sống rất tư cách, làm việc đàng hoàng, được bạn bè, đồng nghiệp quý mến. Nhưng, khi có chức quyền thì dễ bị “chìm đắm” giữa đám người chỉ thích xum xoe, bợ đỡ, “gọi dạ, bảo vâng”… mà không thích, không muốn, không cần nghe những lời nói phải, những ý kiến đóng góp trung thực, thẳng thắn. Những thủ trưởng như vậy, nhẹ thì không phân biệt đâu là đúng - sai, phải - trái, tốt - xấu, hay - dở, còn nặng hơn thì có thể đưa ra những quyết định thiếu sáng suốt, thậm chí sai lầm. Điều nguy hại nhất là, khi người lãnh đạo được “vuốt ve, cưng nựng” quá nhiều, sẽ sinh ra bệnh chủ quan, tự đại, tự mãn, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, không nghiêm túc tự giác rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Nghe ông giải thích thấu đáo, tôi mới vỡ lẽ: Hóa ra, cái sự ưa nịnh của một số người có chức quyền cũng đáng lo thật. Tôi hỏi ông: - Vậy, để không còn “điều đáng lo nhất” như ông nói, cần phải làm gì ạ? - Thật ra trong cuộc đời này, dù là ai đi chăng nữa, đều có chung tâm lý là thích được người khác khen. Nhưng giữa từ “khen” và “nịnh” có một khoảng cách nhất định. Khen đúng, khen thật là động lực để người ta không ngừng phấn đấu. Còn khen quá, khen giả, khen dối, khen không đúng lúc, đúng chỗ lại trở thành nịnh đầm. Đối với người lãnh đạo, để tránh “điều đáng lo nhất” cần phải có lòng tự trọng, biết giữ danh dự, liêm sỉ đối với bản thân; đồng thời, phải luôn giữ cho mắt tinh, tâm sáng, lòng thẳng, dạ ngay để không bao giờ bị những kẻ bợ đỡ, nịnh nọt có thể huyễn hoặc, “mua chuộc” được mình. Có như vậy, mới có thể tạo điều kiện cho các mối quan hệ lành mạnh, chuẩn mực được nảy nở, phát huy trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương,...

“Đường dây nóng”, “đường dây nguội”

Thời đại bùng nổ thông tin, nhà nhà có báo in, người người dùng điện thoại di động, thậm chí nhiều người có đến 2 - 3 chiếc điện thoại di động. Cái dành cho công việc, làm ăn, cái giao dịch với cấp trên, cái dành cho bồ,… Người ta gọi điện thoại khắp nơi, khi đi đường, lúc ngồi họp, khi nhậu nhẹt,… Hình như cán bộ nhà nước bây giờ, ở cơ quan, không còn nhiều người dùng điện thoại bàn. Gần như tờ báo nào cũng công bố “đường dây nóng” để qua đó, người dân phản ảnh những bức xúc, tiêu cực,... về cho tòa soạn. Qua “đường dây nóng”, cán bộ giao lưu, đối thoại trực tiếp với dân, nối liền Đảng với dân, giúp sát dân, kịp thời nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng bức xúc của nhân dân. Phương tiện thông tin làm tăng tính dân chủ đoàn kết trong xã hội. Trong một cuộc họp của tỉnh, tôi có dịp ngồi gần đồng chí bí thư tỉnh ủy. Nhân có một đại biểu đề nghị đồng chí bí thư cho biết “đường dây nóng” của đồng chí, để khi cần tiện liên hệ. Tôi cũng được chính tay đồng chí bí thư tỉnh ủy viết số điện thoại di động của mình vào sổ tay của tôi. Một tháng sau, nhân gặp chuyện bức xúc của tỉnh muốn phản ánh, tôi gọi điện cho đồng chí bí thư. Dù trên 10 lần gọi, và gọi vào các thời điểm khác nhau, nhưng đầu dây bên kia không trả lời. Đem chuyện lạ này kể với các bạn hưu, họ bảo: Số điện thoại của ông lạ, họ không nghe máy là đúng rồi. - Lạ thì phải nghe để biết nội dung gì chứ? - Số điện thoại lạ, thì chỉ có hoặc kiện cáo, khiếu nại, hoặc là nhờ vả,… Giải quyết sao đây. Mất thì giờ, không có lợi lộc gì, tốt nhất là lờ đi. Không tin, dù trong lòng hơi buồn, tôi đành viết thư riêng gửi đường bưu điện. Nhưng, tới hơn 2 tháng sau, vẫn chẳng thấy hồi âm. Nhớ khi thành phố tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, hôm đó tôi cũng được tham dự. Khi hội nghị thảo luận, một đồng chí cán bộ hưu trí chống gậy đứng dậy phát biểu: - Tôi là một cán bộ lão thành, đã từng có nhiều thời gian tham gia công tác đảng, chính quyền. Nay về hưu, thấy có nhiều chuyện bức xúc, tiêu cực, tôi viết thư gửi tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thế nhưng, chẳng thấy ai trả lời, dù đó là một lá thư của văn phòng báo đã nhận được hay chưa. Nói xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, thì ai phải là người có văn hóa trước? Nhận được thư không trả lời, vậy liệu có văn hóa không? Ở một thành phố nọ, trên tường nhà một biệt thự xuất hiện tấm bảng ghi dòng chữ: “Đây là nhà ông tham nhũng”. Dân xúm đến xem, chẳng thấy ai nói gì. Đêm hôm đó, tấm bảng lập tức được gỡ xuống. Nhưng ngay tối hôm sau, tấm bảng khác lại được treo lên với nội dung như vậy. Chuyện lặp đi, lặp lại, chẳng thấy ai nói gì, đúng, sai, xử lý ra sao? Vậy như thế liệu có văn hóa hay không?... Chúng tôi biết đồng chí đó từng là cán bộ cấp cao của Đảng, hỏi mà không ai trả lời. Thế thì kêu gọi “nghe dân nói, nói dân nghe” có phải là văn hóa, có phải là thật lòng không? Đảng, Nhà nước và Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải sát dân, cùng ăn, cùng ở với dân để nắm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Được nhân dân chủ động gặp phản ánh, được dân tin tưởng là điều hạnh phúc, sao lại lảng tránh, liệu có phải là văn hóa không, hay vô cảm với dân? Có người giải thích chuyện cán bộ không nghe máy điện thoại lạ, là vì có bọn xấu gọi đến khủng bố, nói xấu, chửi bới cán bộ. Có thể có, nhưng chúng ta có đủ biện pháp để xử lý những hành động quấy phá đó. Đường dây nối từ người dân đến cán bộ là “đường dây nóng”. Người nghe phải tiếp nhận với một “tâm hồn nóng”, lắng nghe, sẻ chia với những bức xúc, vui, buồn để tìm cách giải quyết. Nếu người nghe nghe với tinh thần nguội lạnh, vô cảm, sợ phiền phức, mất thời gian, vô trách nhiệm thì “đường dây nóng” trở thành “đường dây nguội”. Việc từ chối không nghe ý kiến bức xúc của nhân dân khi chưa biết nội dung là tự mình làm hại mình, quan liêu, sống xa dân, là vô văn hóa. Quan hệ cán bộ, Đảng với nhân dân là quan hệ cá - nước. Cắt đứt quan hệ đó, làm nguội lạnh đường dây quan hệ đó, là tách nước ra khỏi cá, liệu cá có thể sống được chăng?!

"An phận thủ thường"

"Tôi biết sức mình chỉ có vậy, cố hơn cũng chẳng được thêm gì"; "Cái vận số nhà em chỉ đến thế thôi"; "Nhà cửa, vợ con đàng hoàng cả rồi"; "Tôi thân cô thế cô, được thế này là may lắm rồi". "Em phận đàn bà nữ nhi, kể gì"; "Chỉ số I.Q của cháu có cao đâu mà dám đòi hỏi"; "Cho tôi xin hai chữ bình yên"… Có biết bao người quanh ta làm đủ loại công việc thổ lộ sự "biết mình" và phương châm sống của mình như thế. Nam, nữ, trung niên hay trẻ tuổi có cả. Người đời xem họ là an phận thủ thường, thiếu chí tiến thủ. Tiếc là trong bộ máy công quyền, nơi đòi hỏi trách nhiệm, năng lực thực sự ở từng vị trí, số công chức như thế khá nhiều. Không ít người từng nói thẳng rằng số người thực sự làm việc ở cơ quan, đơn vị của họ chỉ chiếm tỷ lệ một phần ba. Đó là một trong những lý do nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả, chậm đổi mới, tiến bộ. Từ những năm 70 của thế kỷ trước, có nhà văn đã sắc sảo nhận diện bộ phận công chức khôn khéo chọn cách "sống ở khoảng giữa". Thuở ấy, không khí hừng hực của công cuộc kháng chiến, những tấm gương xả thân, hy sinh vì Tổ quốc đã lôi cuốn tất cả làm xã hội ít đi những người thụ động, an phận thủ thường. Thời chúng ta bây giờ, số người tự bằng lòng, tự chọn lối sống vừa phải, chỉ lo tròn bổn phận rõ ràng càng nhiều hơn. Bây giờ, chẳng cần tiếng nói sắc sảo nào, xã hội ai cũng thấy rõ họ, nói thẳng về họ bằng từ ngữ dân gian là những người dựa dẫm, "ăn theo". Thực tế tâm lý an nhàn, cầu an, ít cầu thị, cầu tiến vẫn tồn tại khá sâu nặng trong xã hội, đồng thời với lối ứng xử nể vì, thương người, nhân đạo và tình nghĩa, ngại đấu tranh. Trong khi đó, cơ chế quản lý kiểu bình quân, "cào bằng" của chúng ta đã trở nên quá hiền lành với những người chậm tiến, trì trệ, hiệu quả công tác thấp. Cơ chế ấy không dễ sa thải, cắt giảm lương thưởng, hạ tầng công tác hay xử phạt họ. Ăn theo, sống dựa có "cái lý" và "cái thú" của nó nên nhiều người vẫn tìm mọi cách lo cho con cháu vào bằng được biên chế nhà nước. Theo họ, có chân ấy là yên ổn một đời, giỏi giang, phát đạt tính sau hoặc bằng con đường quan hệ chạy chọt, hoặc chờ đợi cơ may "sống lâu lên lão làng". Chân biên chế như một nơi trú ẩn an toàn tránh đỡ mọi sóng gió cạnh tranh, đua chen như ngoài đời sống thị trường. Mấy năm qua, tình hình kinh tế đất nước khó khăn, nhiều doanh nghiệp tư nhân ngừng hoặc thu gọn hoạt động, thậm chí giải thể, lương thưởng cắt hoặc giảm, thất nghiệp nhiều trong khi công chức cứ bình chân như vại, lương lĩnh đều đều lại càng củng cố cho sự lựa chọn khôn khéo này. Lối ứng xử xã hội cùng cơ chế "cào bằng" dung dưỡng cho lối làm việc, lối sống dựa dẫm, "ăn theo" là sự không công bằng đối với những người tích cực, có khả năng chuyên môn và tinh thần trách nhiệm. Đó là lối ứng xử và cơ chế hạn chế động lực phấn đấu của công chức. Đó cũng là lý do chính cùng với thu nhập hạn chế đã ngăn cản việc những người trẻ có tài năng bước vào cửa công đường. Tình trạng người làm tham mưu chính sách, người quản lý xã hội xa dân, xa thực tế, thiếu sáng kiến đề xuất có nguyên nhân từ sự yếu kém của công chức cũng đã quá rõ ràng. Người Việt Nam vốn trọng "tiếng" hơn trọng "miếng", đề cao danh dự, lời khen hơn tiền bạc. Nhưng cũng đã từ lâu, cuộc sống đã tạo nên những đổi thay theo hướng thực tế hơn. Chẳng hạn người ta đã đánh giá, phê phán rằng "được tiếng khen ho hen cả đời". Người ta vốn mong muốn "Gái có công chồng chẳng phụ" và nay là "làm nhiều hưởng nhiều", "khen - chê, thưởng - phạt công minh, công bằng". Đất nước càng đổi mới, phát triển, cuộc sống mọi mặt càng đa dạng, càng đòi hỏi bộ máy nhà nước phải được tổ chức khoa học để tạo động lực cho mỗi công chức dù ở vị trí nào cũng phát huy được năng lực và trách nhiệm, giảm dần số công chức dựa dẫm, "ăn theo". Đã chín muồi cho sự đổi mới căn bản trong cơ chế, chính sách đối với công chức./.

“Loạn”…họp

Tôi cần sang sở B gấp để hợp đồng giải quyết một số công việc thời gian tới, vào phòng làm việc đã thấy anh bạn đồng nghiệp ngồi kỳ cạch gõ máy tính. Tôi nói oang oang, có ý trách: - Ô! Hôm qua, ông bảo được cử đi họp thay lãnh đạo cơ quan cơ mà, sao bây giờ còn ngồi đây? - Trời ơi! Ông bé bé cái miệng cho tôi nhờ, tôi xin ông đấy! - À, thì ra ông trốn họp, biết thế này tôi gọi điện trao đổi và hợp đồng với ông có tiện hơn không, chạy sang bên này mất công quá! - Trốn là trốn thế nào, ông buồn cười thật! - Anh bạn tôi chống chế. Thấy phòng chỉ có mỗi anh bạn, tôi lại gần và vặn vẹo: “Được cử đi dự họp mà lại không đi chẳng gọi là trốn họp là gì, vậy theo ông phải dùng từ nào cho thích hợp hơn đây?”. - Đâu có, tôi đến dự và ngồi vào vị trí ban tổ chức quy định hẳn hoi. Vào họp được một lúc tôi mới về chứ bộ! Mà ông thông cảm cho, việc đang nhiều quá! Anh bạn gãi đầu, cười cười ra vẻ thân thiện, chờ nhận được sự cảm thông, chia sẻ… Lại một buổi sáng ngày nghỉ gần đây, trong khi đang nhâm nhi ly cà-phê, nhân tiện bàn luận về hiện tượng họp thay và trốn họp, một anh bạn khác hiện là trưởng ban một cơ quan trong bộ chỉ huy quân sự tỉnh khẳng định, đó chỉ là chuyện vặt. Anh lấy ví dụ: Theo quy định, hằng tháng cơ quan của anh phải làm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức họp giao ban về công tác quốc phòng địa phương, lịch đã lên từ tuần trước và thông báo tới các sở, ban, ngành cẩn thận, song khi đến dự họp thấy có nhiều nhân viên, hoặc trợ lý đi thay. Sau hơn 30 phút triển khai, nhìn xung quanh vẫn thấy một số chỗ bị bỏ trống. “Nghĩ cũng bực vì công việc của mình chẳng được coi trọng”, anh bạn tôi nói chua chát, mặt buồn thiu, đôi mắt nhìn xa xăm… Chiều đó, khi tôi vừa về đến nhà, cậu con trai út 8 tuổi đã chạy ra, ôm chân bố và thắc mắc: - Con tìm mãi trên Google mà không thấy giải thích về nghề họp bố ạ! Bố vào tìm hộ con với? Tôi phì cười: Làm gì có nghề họp. Con hồn nhiên kể: Hôm đó, cô giáo bộ môn hỏi một bạn cùng lớp về nghề nghiệp của bố, cậu kia vô tư trả lời rằng: “Bố cháu làm nghề họp”. Cô giáo nghe xong cũng không giải thích được. Thấy lạ tai nên cậu con trai tôi quyết tâm về nhà vào Google để tìm hiểu cho rõ hơn. Nhưng trên Google không có khái niệm này. Sau đó ít hôm tôi mới phát hiện ra bố cậu bé học cùng lớp với con trai tôi đang là phó phòng của một sở liên quan đến quản lý đất đai. Trong điều kiện tỉnh, thành phố và các địa phương đang phát triển nhiều dự án như hiện nay, việc họp nhiều là không thể tránh khỏi, vì thế nên bố cậu ta nói đùa là làm nghề họp. Cậu con trai không hiểu nên cứ vô tư khai với cô giáo đúng như vậy. Thực tế, nhiều năm nay, hầu hết các cơ quan, đơn vị đều tổ chức rất nhiều cuộc họp, nhất là vào các dịp đầu năm và cuối năm. Nào là giao ban tuần, tháng; họp phối hợp công tác, hội thảo khoa học, khởi công, khánh thành, kỷ niệm truyền thống; họp tổ chức đảng, đoàn, hội phụ nữ, công đoàn; họp phối hợp công tác tổ chức một hoạt động nào đó giữa nhiều cơ quan, đơn vị; họp đội tuyển thể thao, văn nghệ quần chúng; họp ban tổ chức… tất tần tật, việc gì cũng phải họp và hình như nếu không tổ chức họp sẽ không giải quyết được vấn đề gì thì phải? Vẫn biết, việc tổ chức họp là chính đáng và cần thiết, có những cuộc họp thực sự có ý nghĩa, giúp giải quyết được các vấn đề nóng hổi đang diễn ra tại cơ quan, địa phương một cách nhanh chóng. Song bên cạnh đó cũng có nhiều cuộc họp chưa thiết thực, làm tốn thời gian, lãng phí tiền của, ảnh hưởng đến các công việc khác. Đã có nhiều phương tiện truyền thông phê bình việc họp nhiều, song xem ra chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm chú ý cải cách, vì vậy mà hiện tượng họp nhiều vẫn cứ tồn tại dai dẳng. Thiết nghĩ, loại thuốc đặc trị tối ưu nhất hiện nay là giảm các cuộc hội họp không cần thiết. Để làm được điều này, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường bồi dưỡng, giáo dục nâng cao trình độ chuyên môn; thái độ và ý thức công tác cho cán bộ, nhân viên; nâng cao năng lực phối hợp, hiệp đồng hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị trong cùng một tổ chức; khai thác có hiệu quả hơn nữa các phương tiện công nghệ thông tin hiện có. Các cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị nên chủ động và khéo lồng ghép các nội dung công việc, chỉ đạo giải quyết công việc nhanh, gọn, dứt điểm; làm đâu được đó, không để kéo dài. Nếu làm được như vậy chắc chắn sẽ không còn hệ lụy xảy ra từ… chuyện họp./.

“Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”

 

Trong tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chủ tịch “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã khẳng định một chân lý bất di bất dịch: "Nước Việt Nam là một khối thống nhất, có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói”, và Người đã lên án đanh thép cái chính sách “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân.


Suốt cả quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam cũng như trước những bước ngoặt lớn của lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định lại chân lý đó, và Người nói rằng: Sự thống nhất của nước Việt Nam ta là một thực tế lịch sử, không ai chối cãi được, không một kẻ thù nào chia cắt được. Người đã từng nói: “Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một”, “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”, “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Khẳng định sự thật lịch sử khách quan đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta vạch ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa. Người đã lãnh đạo nhân dân cả nước ta kiên quyết tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, giành thắng lợi cuối cùng cho sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Ngày đêm Người chăm lo đến sự nghiệp đó, và Người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp đó. Người đã nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Là người hiểu sâu sắc quy luật phát triển tất yếu của lịch sử, hiểu sâu sắc ý chí và hoài bão lớn lao của toàn dân tộc từ ngàn xưa tới nay là thống nhất giang sơn, Người tin tưởng sắt đá rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm cách mạng của toàn dân ta, "miền Nam yêu quý nhất định trở lại trong lòng Tổ quốc”, “Đất nước ta nhất định phải thống nhất”, “Đồng bào ta ở hai miền Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và chủ nghĩa xã hội là ba mục tiêu gắn chặt với nhau của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay. Người đã không ngừng đấu tranh và lãnh đạo, cổ vũ toàn dân ta đấu tranh thực hiện bằng được ba mục tiêu đó. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người đã nêu cao ý chí sắt thép của toàn dân tộc. Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người lại khẳng định và nêu cao tinh thần và ý chí đó của nhân dân ta. Người đã nói: “Dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”. “Chúng ta quyết đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, để bảo vệ tự do, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta”. Trong khi nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Người đồng thời nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội. Người luôn luôn chủ trương gắn chặt sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Người đã cùng Đảng ta vạch ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ việc hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng, Người vạch rõ: “Nhiệm vụ hiện nay của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”. Người chỉ rõ mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy lẫn nhau của hai cuộc cách mạng ấy, và khẳng định rằng, bằng sức mạnh tổng hợp của hai cuộc cách mạng ấy nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Trước khi vĩnh biệt nhân dân ta, tư tưởng chỉ đạo sáng suốt ấy lại được thể hiện sâu sắc trong lời căn dặn cuối cùng của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Là người Việt Nam yêu nước tiêu biểu nhất cho truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu sâu xa nhất nỗi đau của cả dân tộc khi Tổ quốc bị chia cắt. Vì vậy Người đã sớm khẳng định: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”. Chỉ có thống nhất nước nhà nhân dân ta mới có đầy đủ mọi điều kiện xây dựng đất nước giàu mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Và ngược lại, Người cũng đã khẳng định rằng: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu nước mạnh mới thực sự bảo đảm vững bền và vĩnh viễn nền độc lập và thống nhất Tổ quốc./.

Chống dịch cần nêu cao ý thức vì cộng đồng

 

Trong tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng với việc thực hiện nghiêm quyết liệt các giải pháp ứng phó, ngăn chặn dịch thì ý thức cộng đồng và tinh thần trách nhiệm, sự tự giác… của mỗi công dân là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh lan rộng. Ðó còn là sự chung tay, góp sức cùng với cả hệ thống chính trị nhằm đẩy lùi dịch bệnh.


Mỗi người dân cần phải nâng cao ý thức cộng đồng, thể hiện ở sự tin tưởng và ủng hộ các quyết sách của Chính phủ và chính quyền các cấp về phòng chống dịch bệnh; thực hiện nghiêm quy định về khai báo sức khỏe; cung cấp thông tin có liên quan một cách trung thực, chính xác; tự giác thực hiện những biện pháp bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

Kịp thời phản ánh những thông tin liên quan đến dịch bệnh qua số điện thoại đường dây nóng hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng ở địa phương. Ý thức, trách nhiệm công dân còn là sự tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin từ mạng xã hội; không chia sẻ, đăng lại hoặc cổ xúy cho những quan điểm sai lệch, bài viết không được kiểm chứng, hình ảnh giả mạo trên các trang mạng xã hội.

Mỗi người hãy là một công dân trách nhiệm với chính bản thân mình và với cộng đồng, Tổ quốc. Đó là thể hiện tinh thần yêu nước, là sự chung tay góp sức với những người ở nơi tuyến đầu đang hy sinh thầm lặng ngày đêm cho cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, từ đó nhân lên sức mạnh niềm tin, quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh./.