Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2021

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, chống phá Việt Nam

 

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, chống phá Việt Nam

Trong xã hội hiện đại, báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, ý chí của Nhà nước và tiếng nói của nhân dân, là công cụ của tự do biểu đạt. Ngày nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng, được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ, có tác động thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cứ thành thói quen, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3/5) hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước cũng như một số phương tiện truyền thông quốc tế đã có những đánh giá sai lệch, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều 13 chỉ rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Đến hết năm 2020, Việt Nam có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội đã và đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. 

Theo báo cáo "Thị trường ứng dụng di động 2021" do Appota phát hành, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, trong đó có 64% các thuê bao đã kết nối 3G và 4G. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet cũng chiếm 70%, lượng người dùng sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95% và trung bình họ có 3 giờ 18 phút để sử dụng Internet qua di động. Đây là con số khá ấn tượng, chứng minh smartphone đang được ưu tiên làm thiết bị kết nối chính nhờ sự tiện lợi và phổ biến.

Số người dùng Facebook tại Việt Nam (năm 2020) có 69.280.000 người, chiếm 70,1% dân số. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Sóng của những hãng thông tấn, báo chí lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam.

Những minh chứng trên cho thấy, không thể phủ nhận những thành thành tựu to lớn, vững chắc đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam và sự chủ động thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết quốc tế nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà Việt Nam tham gia. Hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm về thực tế việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình, vì không ai khác, chính mỗi công dân Việt là người trong cuộc, rõ hơn hết việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ đó đến đâu.

Những luận điệu xuyên tạc, vu khống không xuất phát từ tiếng nói của dân, không đại diện cho dân, không do dân và vì dân thì làm sao có thể gọi là khách quan, làm sao thể hiện tiếng nói dân chủ như những gì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao.

Hiển nhiên, tự do ngôn luận, tự do báo chí đều có những giới hạn nhất định, không phải là tự do quá trớn. Chúng ta rất hoan ngênh những ý kiến xây dựng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời lên án, phê phán những ý kiến với mưu đồ phá hoại công cuộc đổi mới, phát triển ở nước ta.

 

Tụ tập hát Karaoke bất chấp lệnh cấm 12 thanh niên bị đưa đi cách ly

     Ngày 29/5, Công an thành phố Móng Cái (Quảng Ninh) cho biết đơn vị đã xử phạt một quán Karaoke trên địa bàn và đưa 12 người tụ tập hát hò trong quán đi cách ly.

    Đêm 28/5, cơ quan chức năng thành phố Móng Cái đã kiểm tra quán Karaoke Góc Khuất 1 tại khu 8 phường Hải Hòa (TP Móng Cái), phát hiện quán vẫn có người hát, bất chấp lệnh cấm hoạt động để phòng chống dịch Covid 19.

    Thời điểm kiểm tra, trong quán có 12 thanh niên đang tụ tập hát hò. Sau đó lực lượng chức năng đã lập biên bản đề xuất UBND thành phố xử lý phạt hành chính 32,5 triệu đồng đối với chủ quán.

    Những thanh niên trên bị lập biên bản xử phạt, đưa đi cách ly y tế tập trung tại cơ sở có trả phí.
    Người dân cần nâng cao tinh thần phòng chống dịch Covid-19, chấp hành nghiêm mọi quy định về phòng chống dịch bệnh. Đồng thời, tố giác các thành phần chấp hành không nghiêm, làm trái với các quy định của Trung ương và địa phương sở tại. Tố giác người nhập cảnh trái phép, góp phần tránh để xảy ra hậu quả khôn lường.

Tụ tập uống rượu trong tâm dịch, 5 người bị phạt 200 triệu đồng

     Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành các quyết định xử phạt đối với 06 trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch bệnh.

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang xử phạt mỗi trường hợp 40 triệu đồng do không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người (tụ tập ăn cơm, uống rượu tại nhà ở của ông Lương Văn Tiến, thôn An Thịnh, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) và hành vi không thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra, vào vùng có dịch thuộc nhóm A (tự ý đi qua chốt kiểm soát dịch phòng, chống COVID-19 tại đường Bờ mới, thuộc địa phận thôn Nội, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng), đối với ông Đào Văn Pháp (SN 1999, thường trú tại thôn Đông Lý, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang), ông Lương Ngọc Toàn (SN 1988, thường trú tại số nhà 31, Ngõ 89, đường Xương Giang, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang), ông Nguyễn Hải Vũ (SN 1984, thường trú tại lô 9, 10, đường Cả Trọng, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang), ông Nguyễn Đức Duy (SN 1979, thường trú tại số nhà 277, đường Đàm Thuận Huy, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang), ông Thân Văn Tuân (SN 1989, thường trú tại thôn An Thịnh, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang).

    Các trường hợp vi phạm phải nghiêm chỉnh chấp hành Quyết định xử phạt. Nếu quá thời hạn mà không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật; phải nộp tiền phạt tại Kho bạc nhà nước ghi trong Quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt. Người vi phạm có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính đối với Quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

    Mọi người dân cần chấp hành nghiêm quy định phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt đang trong giai đoạn dịch diễn biến phức tạp.

Bắt khẩn cấp tài xế tông chốt kiểm dịch COVID-19, nhốt CSGT trên xe khách

     Công an huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) cho biết vừa thực hiện lệnh bắt khẩn cấp tài xế Nguyễn Văn Tuấn (32 tuổi, trú TP Quảng Ngãi) để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng.

    Cơ quan điều tra cũng đang làm rõ hành vi của các đối tượng có liên quan để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

    Trước đó, khoảng 17h15 ngày 28/5, Tổ công tác của Trạm CSGT cửa ô Hòa Phước (Phòng CSGT Công an Đà Nẵng) làm nhiệm vụ tại chốt kiểm soát dịch Covid-19 trên QL1A (qua xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang) yêu cầu dừng xe khách BKS 76B - 010.22 của nhà xe Chín Nghĩa chở theo 37 hành khách chạy hướng Nam - Bắc để kiểm tra y tế theo quy định.

    Thời điểm này, cảnh sát yêu cầu nhà xe mở thùng hàng bên dưới nhưng tài xế không chấp hành vì cho rằng lực lượng chốt kiểm soát y tế chỉ được kiểm tra, đo thân nhiệt hành khách trên xe, không được kiểm tra thùng hàng.

    Cùng lúc, Đại úy Thái Duy Kiên, cán bộ Trạm CSGT cửa ô Hòa Phước lên xe đề nghị hành khách xuống khai báo y tế thì bất ngờ, tài xế đóng cửa xe, nhốt cảnh sát giao thông rồi nổ máy cho xe lùi nhằm di chuyển khỏi chốt kiểm dịch. Nhưng xe lùi được một đoạn thì tông vào lán của chốt kiểm dịch khiến nhiều người hoảng sợ.

    Ngay sau đó, lực lượng chức năng và người dân áp sát yêu cầu dừng xe thì tài xế và phụ xe bất ngờ lao vào tấn công Đại úy Kiên. Khi xuống xe, tài xế tiếp tục lớn tiếng, có những hành động hung hãn, chống đối và nhổ nước bọt vào lực lượng đang làm nhiệm vụ.

    Ngay lập tức cảnh sát và người dân khống chế đưa tài xế Tuấn cùng các phụ xe liên quan về trụ sở công an lấy lời khai.


SINH HOẠT VĂN HÓA CẦN ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ ĐÚNG ĐẮN

 

 Bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.


CÔNG TÁC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA HIỆN NAY

 


Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và  nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT

 


UNESCO đã cảnh báo cho cả thế giới, hễ ở đâu phát triển kinh tế mà không quan tâm tới yếu tố văn hóa thì ở đó phát triển không bền vững và những hệ lụy đặt ra cho xã hội lớn hơn nhiều so với kinh tế. Điều này được cảnh báo từ lâu nhưng hình như để vượt qua điều này không dễ dàng, nhất là những nước đang phát triển, bản sắc văn hóa dân tộc rất dễ bị tổn thương.

Nếu trước đây dân tộc ta từng có cả nghìn năm bị cưỡng bức văn hóa thì ngày nay chuyện đó sẽ khó có thể xảy ra. Nhưng trong quá trình giao lưu văn hóa hiện nay, sự xâm nhập, thẩm thấu các giá trị văn hóa ngoại lai vào nước ta diễn ra thông qua nhiều hình thức, con đường rất tinh vi, nên chúng ta rất cần có những giải pháp phù hợp để phòng ngừa những tác hại, hệ lụy của những luồng văn hóa lai căng, xấu độc. Muốn giữ được gốc gác cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam, ngoài trách nhiệm của ngành văn hóa và những người làm công tác văn hóa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và cả cộng đồng, xã hội. Vì văn hóa gắn liền với mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi địa phương và gắn liền với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, do đó, cả hệ thống chính trị phải cùng nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia giữ gìn, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc.

Có nhiều cách để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Một trong những cách đó là thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta phải tận dụng tối đa những ưu thế của công nghệ thông tin để tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá những nét đẹp văn hóa của cha ông cho thanh thiếu niên thông qua những hình thức sinh động, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với tâm lý, thị hiếu của giới trẻ. Cùng với đó là mở rộng giao lưu văn hóa, nói chuyện lịch sử truyền thống, tăng cường tính tương tác, tính trực quan sinh động khi giáo dục truyền thống văn hóa cho tuổi trẻ.


Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Báo CAND trân trọng giới thiệu nội dung Kết luận:

Tại phiên họp ngày 7/5/2021, sau khi nghe Ban Tuyên giáo Trung ương báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khoá XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" (Chỉ thị 05) và ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Chính trị kết luận: 

Năm năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị 05, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có sức lan toả trong Đảng và toàn xã hội. 

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã từng bước đi vào nền nếp, trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thúc đẩy việc tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, nhất là vai trò tiên phong, gương mẫu của các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; góp phần kiềm chế, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả nêu trên là nhân tố quan trọng, góp phần vào sự thành công Đại hội XIII của Đảng, của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 05 còn bộc lộ một số hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có nơi, có lúc chưa quyết liệt, chưa kịp thời, chưa sát thực tế; một số người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, đơn vị chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm, còn thụ động, trông chờ, ỷ lại, thiếu sáng tạo trong triển khai thực hiện Chỉ thị. 

Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Bác, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật. 

Việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các khâu đột phá, các vấn đề cấp bách, bức xúc còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc còn bị động, kết quả chưa cao. Việc phát hiện, biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo Bác chưa kịp thời, thiếu sức thuyết phục. 

Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi. Công tác kiểm tra, giám sát của nhiều cấp uỷ đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt, phạm vi, đối tượng còn hẹp, hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm chưa đạt yêu cầu. 

Để việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thời gian tới đạt hiệu quả thiết thực, cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 

1. Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. 

Học tập và làm theo Bác để Đảng ta và mỗi đảng viên xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của nhân dân. Xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn nữa giữa Đảng với dân, thực hiện có hiệu quả phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", "trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân", "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".

2. Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn. Thực hiện đồng bộ giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. 

"Xây" là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. 

"Chống" là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; phê phán, xử lý nghiêm những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không ngừng nghỉ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân có hành vi không lành mạnh nào. Nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. 

3. Trong quá trình tổ chức thực hiện, phải đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Việc tự giác nêu gương để khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu "trên trước, dưới sau", "đảng viên đi trước, làng nước theo sau". 

Lãnh đạo chủ chốt các cấp phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể; luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, toàn diện, công tâm, công khai, minh bạch, chính xác, chống cục bộ địa phương, bè phái trong công tác cán bộ. 

Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh.

4. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác. Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. 

Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hoá công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh. Khuyến khích sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

5. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và chỉ đạo thực tiễn để giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt ra; tăng cường xây dựng Ðảng về chính trị, tư tưởng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội. Thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. 

6. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, phát hiện từ sớm, kịp thời ngăn chặn vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất. 

Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương. Xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm. Khen thưởng, biểu dương, động viên kịp thời những mô hình hay, các điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu. 

7. Tổ chức thực hiện 

- Cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội các cấp tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Chỉ thị 05 và Kết luận này. 

- Các ban đảng Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp tục hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả Chỉ thị 05 theo tinh thần, nội dung Kết luận này. 

- Giao cho Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng và hướng dẫn triển khai thực hiện chuyên đề toàn khoá; hằng năm, căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ cụ thể, xây dựng hướng dẫn nội dung sinh hoạt chuyên đề bảo đảm vừa bám sát nội dung mang tính chiến lược, lâu dài, cốt lõi, vừa mang tính thời sự; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị 05 và Kết luận này.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

 

So với vài thập niên trước đây, văn hóa Việt Nam hiện nay, ở tất cả các dạng hoạt động và với tất cả các loại hình của nó, đều có những thay đổi, theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực.

Kể từ khi tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển (1986-1997), đặc biệt kể từ khi thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII năm 1998 về văn hóa, văn hóa, Việt Nam đã có những bước phát triển đạt tới chất lượng và diện mạo khác nhiều so với trước đó.

Vượt ra khỏi khuôn khổ thế giới quan và phương pháp luận về văn hóa giai đoạn trước kia, ngày nay văn hóa không còn bị xem là sản phẩm thụ động của đời sống kinh tế, của cơ sở hạ tầng, mà đã trở thành nhân tố bên trong, là cái quy định hành vi và hoạt động của con người, thậm chí quy định cả diện mạo sự phát triển ở phạm vi quản lý, điều hành chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam, và ở cả phạm vi hoạt động thường ngày của mỗi con người. Quan điểm mới này về văn hóa đem lại cho con người và các tổ chức xã hội khả năng can thiệp, giải quyết các vấn đề xã hội bằng nguyên nhân văn hóa, điều mà trước kia chưa được quan tâm. Chức năng điều tiết của văn hóa cũng được thực hiện một cách thầm lặng và đôi khi nằm ngoài sự tính toán.

Quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam và toàn thể xã hội về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển, mặc dù trên bề mặt xã hội có vẻ sáo mòn, không mấy thực chất, nhưng thực tế thì khác. Bằng lối đi riêng của văn hóa, quan điểm đó đã xoay chuyển nhận thức, tạo nền cho văn hóa khởi sắc, kích thích sự hồi sinh của phần lớn những giá trị truyền thống trước đó còn bị bỏ quên, thậm chí bị kỳ thị, làm cho văn hóa Việt Nam trở lại với diện mạo bình thường của nó, nối được với quá khứ và rồi nhờ hội nhập mà bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, đóng góp được cho kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới.

Hiện nay, văn hóa truyền thống được tôn trọng và phục hồi rất căn bản, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được xác định và đánh giá theo Chuẩn quốc tế, nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên và di sản ký ức thế giới được cộng đồng quốc tế ghi nhận3. Các hoạt động văn hóa được hiện đại hóa; giao lưu và tiếp biến văn hóa đặc biệt mở rộng; văn hóa công quyền, văn hóa ứng xử, văn hóa hội nhập… gần gũi hơn với khu vực và thế giới. Đời sống văn hóa của nhiều tầng lớp dân cư có dấu hiệu được nâng cao cả về trình độ và chất lượng.

Nghĩa là, có đủ sơ sở để nói rằng, hệ giá trị văn hóa Việt Nam sau mấy chục năm phát triển theo xu thế đổi mới đã xác lập được các khuôn mẫu văn hóa mới4, thực sự hội nhập tương đối sâu vào văn hóa nhân loại theo các chuẩn mực phổ biến của cộng đồng thế giới. Tình trạng dị biệt - không giống ai đã bớt dần.

 Ở khá nhiều loại hình thuộc hoạt động văn hóa, hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã không còn lạc lõng, khoảng cách lạc hậu đã được thu hẹp. Thậm chí, ở nhiều hoạt động văn hóa, như văn hóa biểu diễn - tổ chức các sự kiện, văn hóa Showbiz, văn hóa thời trang, văn hóa hội thảo, văn hóa du lịch, Việt Nam đã không còn thua kém bao nhiêu so với các nền văn hóa có kinh nghiệm.

Với những lĩnh vực thuộc đời sống văn hóa (như văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh,văn hóa xuất bản, văn hóa khách sạn, v.v.), Việt Nam mặc dù vẫn chịu khá nhiều phê phán hay phàn nàn, nhưng mặt bằng chung đã có những tiến bộ khá xa so với trước; thậm chí ở một số hoạt động cụ thể, còn tỏ ra nhanh nhạy không thua kém các nước có nền kinh tế phát triển.

Về văn hóa ẩm thực, văn hóa khách sạn, văn hóa sử dụng IT…, ngày nay Việt Nam đã tạo được ấn tượng tích cực trên trường quốc tế.

Về văn hóa chính trường, văn hóa công quyền, văn hóa đối ngoại (ngoại giao), văn hóa công an, văn hóa quân sự, văn hóa học đường, v.v., hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng đã có không ít điểm sáng, với những chuẩn mực gần với thế giới, dù những lĩnh vực này hiện vẫn bị chê trách nhiều cả từ phía bên trong và bên ngoài.

Không chỉ ở những hiện tượng bề ngoài thuộc hoạt động văn hóa, mà cả ở tầng sâu hơn, trong các nội dung thuộc phẩm chất nhân văn của phát triển, với các chiều cạnh thuộc về con người, về cộng đồng và về dân tộc, văn hóa Việt Nam cũng có những bước phát triển mà trước kia khó có thể đạt được.

Bằng cách thức độc đáo của “sức mạnh mềm”, văn hóa đã ngày càng làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc - quốc gia; ngày càng làm rõ thêm lịch sử dân tộc, giá trị thiêng liêng của độc lập và chủ quyền quốc gia. Trên cơ sở “Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh” (lời Joseph S. Nye đánh giá về Việt Nam [9]), văn hóa đã thực sự uốn nắn quan điểm cực đoan của một số chủ thể, làm xích lại gần nhau những quan niệm trước vốn xa nhau. Các giá trị và bản sắc văn hóa, gồm cả bản sắc văn hóa các địa phương, các tộc người, được nghiên cứu ngày càng sâu và khơi dậy được ý nghĩa nhân văn khách quan của sự tồn tại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong Quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất. Các thành tựu văn minh của nhân loại từng có mặt tại Việt Nam đã được đánh giá ngày càng hợp lý, và là nhân tố được kế thừa của văn hóa người Việt. Nhận thức của xã hội, đặc biệt của các cơ quan có trách nhiệm, về tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, được nhận thức và được triển khai ngày càng thực tế và có hiệu quả. Không phải ngẫu nhiên rằng, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu Thiên niên kỷ, đã thực hiện một cách ấn tượng chỉ tiêu giảm nghèo, đã thực hiện thành công nhiều chính sách an sinh xã hội. Thu nhập của người dân ở khắp mọi miền tuy còn nhiều vấn đề nhưng không ngừng được cải thiện. Khoa học, giáo dục mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng đã có những bước phát triển tương đối rõ theo hướng hội nhập. Người Việt Nam vẫn được đánh giá là năng động, thông minh. Học sinh Việt Nam, theo kết quả khảo sát quốc tế (PISA), vẫn được xếp ở thứ hạng cao về nhận thức toán, ngôn ngữ và khoa học.

Trong dịp tuần lễ cấp cao APEC, nhiều chính khách đã không tiếc lời khen ngợi Việt Nam, coi Việt Nam đã thực sự trở thành một trong những “Điều kỳ diệu lớn” (The Great Miracles) của thế giới; “Ngày nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trái đất” (One of the Fastest-growing Economies on Earth)

Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ không thể phủ nhận ấy, văn hóa Việt Nam với bộ mặt thường ngày của nó trong đời sống xã hội, lại tỏ ra là chưa đủ bản lĩnh để đề kháng trước những tác động tiêu cực từ bên trong và bên ngoài. Sự tử tế và tính nhân văn của văn hóa đôi lúc lại không đủ mạnh để tự vệ và tấn công lại cái thiếu văn hóa và vô văn hóa. Ngược lại, chính nó trong không ít trường hợp lại bị tha hóa vì những tác động của cái xấu và cái ác.

 Tác động tiêu cực đến văn hóa hiện nay là một loạt những vấn nạn lớn và không kém phần nghiêm trọng về kinh tế - chính trị - xã hội, dù ai đó muốn lãng quên cũng không thể. Như nhiều tài liệu chính thức và không chính thức đã phản ánh, chẳng hạn, nền kinh tế ngày càng lệ thuộc nặng nề vào nguồn vốn FDI và vào kinh tế Trung Quốc; tỷ lệ nợ công sắp chạm trần; sự chuyển đổi mô hình phát triển vẫn rất lúng túng và chậm trễ; tình trạng tham nhũng và làm ngơ trước tham nhũng mới chỉ có dấu hiệu dừng lại; hiểm họa của tình trạng môi trường “gần chết” khó lường; khai thác tài nguyên vẫn khó kiểm soát; khủng hoảng giáo dục chưa có lối thoát; hoạt động y tế đã xuống cấp ở chính quan hệ giữa thày thuốc với con bệnh; tình trạng cán bộ công quyền lãnh cảm với dân và với các bên đối tác chưa bớt; Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ bị trực tiếp đe dọa, v.v..


Cách nhìn chủ nghĩa xã hội khoa học, đa chiều và toàn diện hơn

 Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021), Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam". Bài viết đã nhận được sự đánh giá cao của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Làm rõ 5 luận điểm mới

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đây là một bài viết rất hoàn chỉnh, toàn diện, sâu sắc về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những nội dung căn bản và quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam kể từ khi đất nước được hòa bình, độc lập và thống nhất đến nay. Đó là vấn đề xây dựng CNXH và con đường đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam. 

Trong bài viết, Tổng Bí thư đặt ra những câu hỏi có tính chất cốt tử, quyết định nhất của dân tộc Việt Nam hiện nay như: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam?

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh, ý nghĩa của bài viết phải được nhìn nhận, đánh giá, xem xét trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, gắn liền với ba yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, bài viết được công bố trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tức là trước một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, khi ngày 23/5/2021 cử tri cả nước đi bầu những người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. 

Tổng Bí thư muốn nhắc nhở mọi người rằng, không phải ai khác mà chính là cử tri, những người phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn những người đủ tài, đủ đức bầu vào Quốc hội. Vì đây chính là cơ quan đưa ra những quyết định quan trọng về con đường mà chúng ta đã đi, những thành tựu mà chúng ta đã đạt được và sẽ là nơi giải quyết những khó khăn, thách thức trong tương lai.

Thứ hai, bài viết ra đời trong bối cảnh nước ta đang chuẩn bị kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam, người lãnh đạo, người thầy của cách mạng Việt Nam, là dịp để chúng ta ôn lại, nhìn lại những gì chúng ta đã làm được và con đường sắp tới.

Thứ ba, đây cũng là dịp để Tổng Bí thư nêu rõ quan điểm, xác định rõ lập trường của Việt Nam về vấn đề CNXH ở Việt Nam, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, bôi nhọ, xuyên tạc chế độ của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, gieo rắc hoài nghi và lung lạc niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên CNXH của dân tộc.

Chia sẻ về nội dung bài viết, Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh nhấn mạnh, bài viết đã phân tích, làm rõ 5 luận điểm mới có ý nghĩa rất quan trọng.

Trước hết, Tổng Bí thư khẳng định thành tựu của chủ nghĩa tư bản (CNTB) là không thể phủ nhận và đây là những thành tựu, tiến bộ chung của nhân loại và vì vậy chúng ta cần phải tiếp thu một cách có chọn lọc. Điều này rất quan trọng, bởi vì từ trước đến nay, cũng có một số người cho rằng tất cả cái gì của phong kiến, tư bản, của chế độ cũ là xấu xa, sai trái và đi đến phủ nhận sạch trơn. Đấy là cách nhìn bảo thủ, mang nặng màu sắc đối đầu ý thức hệ, rạch ròi giữa ta và địch, bạn và thù, cái gì của ta cũng tốt, cái gì của thù cũng xấu. 

Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Chúng ta thừa nhận rằng, CNTB chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ”.

Thứ hai, khi nói về CNXH, Tổng Bí thư đã nói tới ba khía cạnh, ba nội hàm, ba tư cách của chủ nghĩa xã hội. Đó là CNXH như một học thuyết, một phong trào và một chế độ. Cách nhìn CNXH như vậy rất khoa học, đa chiều và toàn diện hơn. Bởi vì, nếu ai đó chỉ nhìn CNXH như một phong trào thì dễ bị dao động vì sự “đi lên hay đi xuống” của phong trào đó. Nếu chỉ nhìn CNXH như một học thuyết thì dễ thấy nó bị “xơ cứng, giáo điều, lạc hậu”. Còn nếu nhìn nó như một chế độ thì e rằng thực tiễn ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cho người ta dễ hoài nghi.

Thứ ba, chúng ta vẫn thường nói Việt Nam đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng trong bài viết này, Tổng Bí thư đã chỉ rõ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chỉ bỏ qua những mặt hạn chế của CNTB như áp bức, bất công, bóc lột, thói hư tật xấu nhưng không bỏ qua những thành tựu giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa và có sự kế thừa chọn lọc. Chúng ta cần phải sáng suốt, tỉnh táo và kế thừa có chọn lọc những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được như công nghệ, kinh tế, y học….

Thứ tư, Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh cũng cho rằng, trong bài viết, xây dựng CNXH theo Tổng Bí thư đó là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đó là không giống với bất kỳ một mô hình nào trên thế giới. Hay kinh tế thị trường định hướng XHCN là một sự đột phá về mặt lý luận. Những điều đó mang tính chất đặc trưng riêng của Việt Nam, chỉ của Việt Nam. 

Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh nêu suy nghĩ: “Đây là thách thức lớn nhất của Việt Nam bởi vì nếu phải xây dựng một kiểu xã hội hoàn toàn mới chưa có trên thế giới sẽ vô cùng khó khăn, thách thức, bởi vì chúng ta không thể học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, chúng ta phải là người tự mở đường “khai sơn, phá thạch”. Nhưng chúng ta sẽ làm được.” bởi vì cũng giống như trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhiều nước sợ Mỹ, không dám và không biết đánh Mỹ như thế nào? Nhưng chúng ta đã tìm tòi, suy ngẫm, nghiên cứu và hạ quyết tâm là có thể đánh Mỹ và đã đánh thắng Mỹ”.

Cuối cùng, đánh giá cao kết luận của Tổng Bí thư trong bài viết: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”, Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh cho rằng, Tổng Bí thư đã thể hiện quan điểm rõ ràng về tầm quan trọng của việc học đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn chặt chẽ với thực tiễn, học có phê phán, có sáng tạo, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ và lạc hậu. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải luôn luôn nâng cao tinh thần học tập, tiếp thu một cách sáng tạo trên tinh thần phê phán, chỉ có như vậy chúng ta mới được “truyền thêm sinh lực mới”.

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Minh, điều này cũng cho thấy, Tổng Bí thư thông qua bài viết muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng nền khoa học của Việt Nam dường như chưa cập nhật và tiếp thu được những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học của thế giới, chưa áp dụng những thành tựu đó một cách sáng tạo vào thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Đi lên CNXH gắn với con đường phát triển bền vững

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam cho biết, với tư cách là một đảng viên 40 năm tuổi Đảng, cảm thấy tự hào về Đảng, vững tin vào người chèo lái, cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường xây dựng CNXH, thực hiện thành công “Khát vọng Việt Nam” mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ ra.

Đồng tình với nhận định của Tổng Bí thư về những thách thức toàn cầu liên quan tới việc giải quyết chưa thỏa đáng quan hệ giữa phát triển và môi trường: “Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh, hậu quả của cách tiếp cận phi môi trường, phát triển bằng mọi giá, không xem môi trường và tài nguyên là một yếu tố bắt buộc phải xem xét khi lựa chọn phương thức phát triển và tiêu dùng đã để lại “hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”, như Tổng Bí thư đã viết.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi cho rằng, trong bài viết, dưới lăng kính phân tích lý luận, thực tiễn và những bài học kinh nghiệm về giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và các giá trị văn hóa trên quy mô toàn cầu rõ ràng cho thấy, con đường đi lên CNXH cũng gắn với con đường phát triển bền vững đất nước về cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, mang tầm vóc chiến lược, đảm bảo hiệu quả kinh tế trong dài hạn, đất nước có “của ăn, của để”.

Từ góc độ kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý biển của mình, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam chia sẻ, để hiện thực hóa các tư tưởng lớn của Tổng Bí thư, cần thiết phải rà soát lại Luật Đất đai; xây dựng mới luật sử dụng biển để phát triển kinh tế biển xanh và bền vững, góp phần bảo vệ vững chắc các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông. Bên cạnh đó, tăng cường hoạt động bảo tồn biển, vùng ven biển và đảo nước ta, bao gồm cả cảnh quan trên cạn và ngầm dưới đáy biển là điều rất cấp thiết…

Bao trùm lên tất cả và mang tính đột phá là vấn đề nguồn nhân lực, trong đó con người được khẳng định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy và duy trì phát triển bền vững đất nước, có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quá trình thực hiện “Khát vọng Việt Nam”. 

Chính vì thế, trong bài viết lần này Tổng Bí thư đã xác định và định hướng: “Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”. 

Đặc biệt, đây không chỉ là những nhiệm vụ ưu tiên trong đổi mới, sáng tạo của đất nước trên con đường xây dựng CNXH, mà còn thể hiện tính ưu việt của CNXH mà Đảng ta kiên định lựa chọn và kiên trì thực hiện.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG KHUYNH HƯỚNG

"THƯƠNG MẠI HOÁ" TRONG GIÁO DỤC HIỆN NAY


Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá nước ta, trong đó có luận điệu đòi "thương mại hoá" trong giáo dục - bản chất của tư tưởng này là sự tách rời giáo dục với chính trị, xem vị trí của giáo dục là "đứng ngoài chính trị, đứng ngoài giai cấp". Đây là một khuynh hướng tư tưởng hết sức phản động, phản khoa học. Nhưng trên thực tế, khuynh hướng này lại rất dễ xâm nhập và lan toả trong các hoạt động giáo dục - đào tạo. Vì vậy, cần nhận diện rõ và chủ động phòng chống khuynh hướng này trong mọi hoạt động giáo dục. Cụ thể, để phòng chống, ngăn chặn khuynh hướng “thương mại hoá” phi chính trị hoá giáo dục trong quá trình giáo dục - đào tạo ở các nhà trường, cần chú ý giải quyết tốt các vấn đề sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, xác định chính xác mục tiêu, mô hình giáo dục - đào tạo trong các nhà trường. Mục tiêu giáo dục - đào tạo của mỗi nhà trường phải hướng tới và nhằm góp phần thực hiện mục đích giáo dục của Đảng: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá, con người Việt Nam”.

Xây dựng mô hình giáo dục - đào tạo của các nhà trường phải mang tính chất mở với nhiều hình thức học tập, thực hành linh hoạt, có những “dịch vụ giáo dục - đào tạo” thích hợp ở một số cấp, bậc học, ngành học (như giáo dục chuyên nghiệp và đại học), song cũng cần phải kiên quyết chống lại mọi biểu hiện “thương mại hoá giáo dục” vô nguyên tắc, phấn đấu bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.

Hai là, nội dung, chương trình giáo dục - đào tạo được đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,  tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, đồng thời thích ứng với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của đất nước, thể hiện được bản sắc văn hoá, giáo dục của dân tộc. Nội dung, chương trình ở tất cả các cấp học phải phản ánh rõ nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội; phản ánh sự thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học, chú trọng mục tiêu giáo dục thế giới quan, phương pháp luận mácxít và bồi dưỡng nhân cách người học.

Ba là, đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, đề cao sự hợp tác “thày - trò”, chuyển đổi cách thức dạy học mang nặng tính chất “hành chính, khoa bảng” sang cách thức “dạy học chất lượng”. Phải làm cho phương pháp giáo dục - đào tạo thoát khỏi sắc thái “giáo điều, kinh viện”, bày sẵn, thông báo; áp dụng phương pháp giáo dục - đào tạo tiến tới trình độ “dạy cách học”, “dạy phương pháp” cho người học.

Bốn là, coi trọng bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ tư tưởng và trình độ sư phạm vững vàng. Trong hoạt động sư phạm hàng ngày, giáo viên không đơn thuần chỉ là những người truyền đạt các kiến thức khoa học, nghiệp vụ hay chỉ là “trợ giảng”, mà họ còn phải là người “kỹ sư tâm hồn”, nhà hoạt động chính trị - xã hội, đảm nhiệm chức năng giáo dục nhân cách người học. V.I.Lênin đã dạy: ... điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị, tư tưởng của các giáo trình. Cái gì quyết định phương hướng đó? Hoàn toàn và chỉ là thành phần các giảng viên mà thôi.... Vì vậy, phải chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ văn hoá sư phạm cao, đồng thời là những người tiêu biểu cho sự nhất trí, kiên định với lý tưởng xã hội chủ nghĩa của Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có thế giới quan và phương pháp luận khoa học, hoàn thành vai trò người chiến sỹ tiên phong trên trận tuyến đấu tranh chống mọi biểu hiện của khuynh hướng “phi chính trị hoá giáo dục”.

 

PHẢI KIÊN QUYẾT PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 


Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..

Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.

Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.


 

SỨC MẠNH CỦA SỰ THẬT VÀ NIỀM TIN

Trước, trong và kể cả sau khi cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp thành công, các đối tượng xấu, thù địch vẫn tìm mọi cách, tung lên các trang mạng xã hội đủ loại thông tin sai lệch, xuyên tạc cuộc bầu cử, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của chế độ ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng không ngần ngại bịa đặt, tung tin sai sự thật về công tác bầu cử hòng gây nhiễu loạn thông tin, gây hoài nghi trong nhân dân… Các chiêu trò, thủ đoạn được tận dụng để hướng tới mục tiêu phá hoại cuộc bầu cử, xuyên tạc kết quả bầu cử, cố tình xuyên tạc tinh thần trách nhiệm và đoàn kết dân tộc của đại đa số người dân. Nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại trước tinh thần công dân, trách nhiệm cử tri của người dân Việt Nam.

Trên 69 triệu cử tri đã thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, bỏ phiếu bầu những người đại diện cho mình tại Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp vào ngày 23/5 vừa qua. Kết quả chung, cả nước có 99,57% cử tri đi bầu cử. Tỷ lệ này cao hơn cả cuộc bầu cử 5 năm trước. Địa phương có tỷ lệ cử tri đi bầu thấp nhất cũng trên 98%, đặc biệt là đã bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội, hiện nay cơ quan chức năng đang phân tích xem chất lượng đại biểu thế nào. Điều đáng phấn khởi nữa, đó là cuộc bầu cử đã diễn ra rất an toàn, an ninh trật tự được bảo đảm tuyệt đối.

Dư luận trong ngoài nước đều ghi nhận cuộc bầu cử rất thành công, khi nó được tiến hành trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Được xác định là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, sự kiện trọng đại, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp diễn ra sau khi Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp. Đây là kỳ Đại hội được đánh giá là đánh dấu mốc lịch sử khi chuyển giai đoạn phát triển của Việt Nam từ thời kỳ phát triển tạo thế và lực sang giai đoạn phát huy mức cao nhất thế và lực đã tích lũy được, để có thể tạo nên các đột phá phát triển. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV vì vậy có ý nghĩa quan trọng góp phần hiện thực hóa khát vọng và mục tiêu phát triển.

Vững tin hành động

 


Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ vừa ban hành đầu năm 2021 thể hiện quyết tâm cao, hành động quyết liệt, nhất quán thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, vừa PCD bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển KT-XH. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu năm 2021 là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người khoảng 3.700USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45-47%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%...

Từ kinh nghiệm và kết quả ứng phó, khống chế dịch Covid-19 trong năm 2020, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn có niềm tin vững chắc vào sự thành công trong nhiệm vụ PCD Covid-19 từ đợt tái bùng phát này. Hiện chỉ còn tỉnh Hải Dương tình hình dịch đang diễn biến phức tạp, còn ở những địa phương khác, hầu hết các ổ dịch đã được khống chế hiệu quả. Thực hiện mục tiêu kép, các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn được duy trì, phát triển trong trạng thái bình thường mới. Ở những địa phương và những lĩnh vực kinh tế (nhất là khu vực nông nghiệp-nông thôn) ít chịu tác động của dịch bệnh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh không những được giữ vững mà còn tăng tốc phát triển mạnh mẽ. Hiệu quả vượt bậc của chiến lược tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm, gồm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương là một điển hình. Chiến lược tái cơ cấu này đã và đang tạo nên những bước đột phá vượt bậc, đưa hàng loạt sản phẩm và vùng sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng suất, hiệu quả và đặc biệt là giá trị sản phẩm cao gấp hàng chục lần so với sản xuất truyền thống trước đây.

Có thể thấy, bên cạnh những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19 như: Kinh doanh du lịch, dịch vụ giải trí... nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế đã biến khó khăn thành cơ hội để bứt phá vượt lên. Hoàn toàn không có chuyện đời sống xã hội sẽ “toang”, nền kinh tế sẽ “sập” như những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cực đoan, thế lực thù địch đã và đang rêu rao. Chúng ta tin tưởng dịch Covid-19 ở Hải Dương và một số địa phương sẽ sớm được khống chế. Những mục tiêu về KT-XH Chính phủ đề ra trong năm 2021 sẽ trở thành hiện thực bằng sự kiên định, quyết liệt, đoàn kết, thống nhất thực hiện mục tiêu kép trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước trên toàn cầu.