Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

IRAQ ĐÃ TỪNG LÀ NGƯỜI BẠN TỐT CỦA VIỆT NAM!

 IRAQ ĐÃ TỪNG XOÁ NỢ QUỐC GIA CHO VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?


Trong cuốn hồi ký Gia đình, Bạn bè, Đất nước của bà Nguyễn Thị Bình xuất bản năm 2012, bà đã viết:

“Nếu cố Tổng thống Saddam Hussein có sai lầm gì trong đối nội, đối ngoại…, có tội lỗi gì với nhân dân của ông, lịch sử của Iraq sẽ phán xét. Nhưng đối với Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta phải biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông trong những năm Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh”.

Iraq là một trong những nước ủng hộ và giúp đỡ nhân dân ta chí tình nhất, cả về tinh thần lẫn vật chất trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu này hoàn toàn vô tư, xuất phát từ cảm tình và yêu mến Việt Nam mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào.

Năm 1971, bà Bình (khi ấy với cương vị Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris) đã sang thăm Iraq và được đón tiếp hết sức trọng thị như một người anh hùng. Tại Baghdad hôm đón tiếp bà, quần chúng nhân dân Iraq đã đứng dọc hai bên đường vẫy cờ hoa chào đón.

Năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mở Đại sứ quán tại Iraq. Lúc đó, miền Nam đang dốc sức tập trung chiến đấu, khả năng tài chính rất hạn hẹp. Chính phủ Iraq đã trang trải cho toàn bộ hoạt động của đại sứ quán, từ trụ sở, xe cộ… cho đến tiền mặt để thanh toán cho các khoản chi tiêu hàng ngày. Đại sứ Nguyễn Quang Khai kể lại:

“Tôi còn nhớ, khi khai trương Đại sứ quán tại thủ đô Baghdad, Tổng thống Iraq lúc đó là Ahmed Hassan Al-Bakr đã gửi tặng một chiếc xe Citroen mới tinh vào loại sang trọng nhất. Còn các tổ chức quần chúng như Ủy ban Hòa bình và đoàn kết Iraq do ông Aziz Sharif làm chủ tịch, Hội Phụ nữ, Thanh niên… tổ chức quyên góp tiền, quần áo, chăn màn… gửi sang Việt Nam”.

Tháng 10-1975, bà Bình trở lại Iraq với nhiệm vụ vận động chính phủ Iraq cho Việt Nam vay dầu. Đây là nhiệm vụ không dễ dàng bởi dù bạn rất nhiệt tình, nhưng khi đi vào những vấn đề kinh tế mang tính sống còn thì họ phải tính toán kỹ.

Khi ấy, Phó chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng là Saddam Hussein đã tiếp bà. Sau khi nghe bà Bình trình bày những khó khăn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau giải phóng, ông đã trả lời ngay:

- Chúng tôi quyết định tặng miền Nam 400 ngàn tấn dầu, coi như đây là món quà gửi nhân dân miền Nam nhân ngày chiến thắng và cho vay thêm 1,5 triệu tấn nữa.

Bà Bình như không tin vào tai mình, đến mức phải hỏi lại người phiên dịch một lần nữa thì mới biết chắc đó là sự thật.

Vào thời điểm này, ông Nguyễn Cơ Thạch (khi ấy là Thứ trưởng Ngoại giao của miền Bắc) cũng đang có chuyến viếng thăm Iraq. Và Tổng thống Saddam Hussein cũng đã quyết định cho miền Bắc vay 2 triệu tấn dầu không tính lãi.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1976, ta chuẩn bị hợp tác với nước ngoài để thăm dò và khai thác dầu khí, còn rất thiếu kinh nghiệm đàm phán và ký kết hợp đồng, chính phủ Iraq đã cử các chuyên gia luật pháp và dầu khí giỏi nhất sang giúp ta, chỉ rõ những vấn đề cần lưu ý, tránh bị hớ trong làm ăn với các công ty dầu khí nước ngoài.

Đến năm 1979, theo hiệp định vay nợ, ta bắt đầu phải trả đợt đầu tiên cho Iraq. Nhưng ở thời điểm này, đất nước vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, các vết thương chiến tranh chưa lành, kinh tế bị tàn phá nặng nề trong khi phải dồn sức vào một cuộc chiến tranh mới chống Pol Pot gây rối ở biên giới Tây Nam và chống quân Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc. Việt Nam không trả được nợ cho Iraq theo hạn định.

Năm ấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang thăm Iraq. Chính phủ của Tổng thống Saddam Hussein một lần nữa quyết định cho Việt Nam vay 100 triệu đôla để trả số nợ đến hạn cho chính Iraq. Một quyết định có một không hai trong quan hệ giữa các quốc gia.

Những năm tiếp theo sau đó, nước ta vẫn bộn bề khó khăn, không trả được nợ cho Iraq. Trong tình hình đó, chính phủ ta đề nghị Iraq cho hoãn nợ và nhận trả nợ bằng hàng hóa và lao động, một phần nợ khác được dùng để đầu tư trở lại Việt Nam. Mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn do cuộc chiến vùng Vịnh, chính phủ Iraq vẫn đồng ý với đề nghị của ta.

Cuộc gặp cuối cùng

Hơn 20 năm sau, đến năm 2002, mặc dù hết sức cố gắng nhưng ta vẫn chưa trả hết nợ cho bạn. Tháng 2-2002, bà Nguyễn Thị Bình đề nghị chính phủ ta cho phép thăm Iraq với lý do bà sắp nghỉ hưu và trước khi nghỉ, bà muốn gặp lại người bạn cũ Saddam Hussein để nói đôi lời với ông về món nợ chưa trả được này.

Lúc đó, đã có nhiều ý kiến đã phản đối cho rằng ta vừa ký Hiệp định thương mại BTA với Mỹ, trong khi quan hệ giữa Mỹ và Iraq đang hết sức căng thẳng, liệu chuyến đi có gây khó khăn cho quan hệ Việt - Mỹ đang trên đường cải thiện hay không? Nhưng cuối cùng, bà Bình vẫn lên đường.

Sau 22 năm trở lại, bà Bình vẫn là thượng khách của chính phủ Iraq. Bà được Tổng thống Saddam Hussein tiếp đón thân mật tại tòa lâu đài Al-Faw(3) gần sân bay quốc tế Baghdad. Trong buổi trò chuyện thân mật, bà Bình bộc bạch:

- Năm 1975, tôi thăm Iraq, Tổng thống đã quyết định cho Việt Nam vay dầu, lúc đó chúng ta còn rất trẻ. Đến bây giờ chỉ còn vài tháng nữa là tôi nghỉ hưu mà chúng tôi vẫn chưa trả được hết nợ cho Iraq. Tôi cảm thấy trong lòng không vui.

Nghe đến đây, Saddam Hussein nói ngay:

- Mong bà về nghỉ bình yên, giữ gìn sức khỏe và không phải suy nghĩ gì cả. Từ giờ phút này trở đi, giữa chúng ta không có nợ nần gì với nhau nữa.

Bà Bình một lần nữa lại không tin vào tai mình, quay sang hỏi lại đại sứ Nguyễn Quang Khai (khi ấy đang kiêm vai trò thông dịch viên):

- Khai, em hỏi lại xem có đúng Tổng thống Saddam Hussein nói như vậy không?

Rất nhanh ý, biết bà Bình có thể chưa hiểu hết ý của mình, ông Saddam nói tiếp:

- Tôi không biết con số cụ thể Việt Nam còn nợ Iraq bao nhiêu. 5 giờ chiều nay, tôi sẽ cử Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan đến dinh thự bà đang ở để ký Biên bản thỏa thuận xóa toàn bộ số nợ này.

Đúng 5 giờ chiều, Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan cùng một số quan chức cao cấp trong chính phủ Iraq đem một Biên bản thỏa thuận đã được đánh máy sẵn. Bản thỏa thuận chỉ có vài dòng với nội dung ngắn gọn đại ý thế này: Theo chỉ thị của Tổng thống Saddam Hussein, từ hôm nay, ngày… tháng 10 năm 2002, chính phủ Iraq quyết định xóa toàn bộ số nợ cho Việt Nam. Số tiền nợ trước ngày này chưa trả được sẽ dùng để đầu tư vào các dự án liên doanh giữa hai nước tại Việt Nam.

Việc ký kết diễn ra hết sức đơn giản trên một chiếc bàn nhỏ trong phòng khách của dinh thự mà Tổng thống Saddam dành cho bà Bình ở trong thời gian thăm Iraq. Ký xong, Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan đã đích thân lái xe đưa bà Bình đi thăm thành phố Baghdad.

Một năm sau, Mỹ và đồng minh phát động cuộc chiến chống Iraq. Tháng 12-2003, Tổng thống Saddam Hussein bị bắt. Ba năm sau, ngày 30-12-2006, ông bị xử t.ử sau một phiên tòa chớp nhoáng được tổ chức bởi chính phủ mới tại Iraq do Mỹ thành lập.

***

Một câu chuyện kỳ lạ. Một thứ tình cảm thân tình không thể chối bỏ, bởi việc xóa một số nợ lớn như vậy chỉ có thể xảy ra giữa những người anh em hết sức thân thiết trong gia đình. Trong khi đó, chính Iraq đang gặp rất nhiều khó khăn do bị cấm vận và đang trong tình trạng chiến tranh với các nước phương Tây.

Không những vậy, trải qua những biến động lớn trong nước lẫn quốc tế, các chế độ đến rồi đi… nhưng chính quyền mới của Iraq sau chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein vẫn tôn trọng, thừa nhận và gìn giữ Thỏa thuận này.

Như thường lệ, chúng tôi luôn thể hiện niềm tự hào dân tộc, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời đấu tranh với những quan điểm sai trái và cung cấp thông tin chính xác cho công lý và sự thật.

Yêu nước ST.

Đừng tự đánh mất bản thân

 

Thời gian qua, Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, kiên quyết xử lý những cá nhân, dù là ở cương vị hay vị trí nào, nếu mắc sai lầm khuyết điểm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, gây thiệt hại cho đời sống kinh tế, xã hội. Và qua hoạt động đấu tranh này, nhằm “sàng lọc”, loại bỏ các cá nhân không còn giữ vững được phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên để làm trong sạch nội bộ Đảng, củng cố niềm tin vào Đảng. Lợi dụng vào mục tiêu mà nội dung cốt lõi là nhằm xây dựng Đảng không ngừng trong sạch vững mạnh, xứng đáng với sứ mệnh được dân tộc giao phó. Các phần tử thù địch, đối tượng chống đối lợi dụng thổi phồng sự việc, “đưa đẩy” vấn đề theo hướng khác, “lối nhìn trái chiều”, đánh lạc hướng của dư luận.

Cũng thời gian gần đây, ở một số địa phương, người dân do nhận thức chưa đầy đủ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bên cạnh đó, thực trạng ở một số nơi có tình trạng cán bộ trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là vấn đề về quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng kinh tế đã có những sai sót nhất định. Những thiếu sót, sai lầm trong quản lý các dự án, nhất là vấn đề đất đai, chưa kịp khắc phục, sửa chữa, để tình trạng khiếu kiện kéo dài, gây nhức nhối trong đời sống xã hội. Các thế lực thù địch, đối tượng phản động đã lợi dụng, kích động, thậm chí cung cấp tiền, kinh phí xúi bẩy người dân gây điểm nóng, tạo ra một số hoạt động mang tính chất chống đối chính quyền. Từ những hoạt động tạo điểm nóng như thế này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động rêu rao, làm ầm lên là sự đối đầu giữa chính quyền và nhân dân, là sự bất tín của chính quyền và sự mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.

Để xảy ra tình trạng trên, có nhiều nguyên nhân, song ở một góc độ nào đó, phải thừa nhận là, những yếu kém, tồn tại trên có một phần từ chính đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp tạo ra. Nhưng bản chất sự việc, mức độ sai phạm, nội dung, hình thức xử lý như thế nào và ra sao lại là vấn đề rất cần có sự tỉnh táo và nhìn nhận khách quan và toàn diện. Nếu chỉ đọc, nghe, xem sẽ dẫn đến có cái nhìn thiếu khách quan, làm sai lệch tính chất của vấn đề xảy ra. Khi đã có cái nhìn thiếu khách quan, không đầy đủ rồi vội vàng phát ngôn, viết bài hay nhận xét, đánh giá về sự vật hiện tượng sẽ dẫn đến những sai lầm mà không thể nào bào chữa. Và khi đó, chính là đã tự đánh mất bản thân mình.

Bất cứ một sự vật hiện tượng nào xảy ra cũng đều có nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử. Muốn có được nhận xét đánh giá không chỉ đòi hỏi phải nắm rõ quá trình diễn biến xảy ra sự vật hiện tượng, bản chất của vấn đề và tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng đối với đời sống, kinh tế, xã hội. Hiểu đúng, chính xác sự vật hiện tượng xảy ra nhưng vẫn chưa phải đã có thể đưa ra những nhận xét đánh giá. Bởi, những ý kiến của bản thân cá nhân luôn là ý kiến chủ quan, trong khi những đánh giá, nhận xét lại chịu tác động, ảnh hưởng và tiếp nhận từ những thông tin sai lệch, có chủ đích.

Trước những diễn biến của đời sống xã hội; trước những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, việc tiếp nhận các thông tin không chỉ phải chính xác mà đòi hỏi phải có bản lĩnh, bình tĩnh để xem xét sự vật, hiện tượng. Nhất là khi đưa ra những ý kiến, nhận xét, đánh giá cũng cần phải xác định bản thân ở vị trí như thế nào, những phát ngôn ảnh hưởng đến lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân ra làm sao. Lợi ích của dân tộc, của đất nước và nhân dân luôn là mục tiêu tối thượng. Đừng để tự đánh mất bản thân, rơi vào vòng xoáy ma trận từ các thông tin xuyên tạc, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, đối tượng phản động. Tất cả mọi thất bại của cá nhân đều bắt đầu từ sự đánh mất mình trước những tác động, biến cố và không làm chủ được bản thân. Và thất bại đau đớn nhất chính là để rơi vào sự lừa dối, vòng xoáy từ những âm mưu thủ đoạn của các thế lực, đối tượng để trở thành người đi ngược lại lợi ích của dân tộc và nhân dân./.

TMT.05.6

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tự chính mỗi cá nhân

 

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là quá trình thay đổi lập trường tư tưởng, mục tiêu, ý chí, bản chất cách mạng của người cộng sản. Là quá trình từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ lợi ích giai cấp và lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích cá nhân làm trọng. Hay nói một cách khác, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi về chất cộng sản trong mỗi cá nhân. Khi cá nhân ấy giữ vị trí nhất định trong bộ máy, nó sẽ làm thay đổi hệ tư tưởng của cả một tổ chức. Trong thực tế cách mạng Việt Nam hiện nay, đó chính là sự thay đổi trong quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Sự thay đổi này đưa tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân theo chiều hướng đi ngược lại lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Chủ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là cán bộ, đảng viên mà ở tất cả mọi cá nhân. “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, từng hoạt động của các chủ thể. “Tự chuyển hóa” là đích đến, là hệ quả của “tự diễn biến” của mỗi cá nhân, tổ chức. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Do đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân đều có tác động, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến sự phát triển của mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết đã chỉ rõ, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; về đạo đức lối sống; về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ở 3 nội dung chính, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mỗi nội dung trong Nghị quyết chỉ rõ có 9 biểu hiện nhận biết. Một vấn đề đặt ra là: Nguyên nhân chính từ đâu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân.

Trong thế giới vật chất, bất cứ một sự vật, hiện tượng nào xảy ra đều có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Song, nguyên nhân khách quan chỉ đóng vai trò quan trọng; nguyên nhân chủ quan mới giữ vai trò quyết định. Những tác động khách quan chỉ tác động, ảnh hưởng, nhưng chủ quan, chính bản thân chịu sự tác động ấy mới là yếu tố quyết định sự tác động đó ảnh hưởng đến tư tưởng, nhận thức, hành vi của chính cá nhân đó như thế nào.

Đấy chính là quá trình chỉ diễn ra ở tự chính bản thân mỗi cá nhân. Từ những yếu tố khách quan do sai lầm trong thực hiện các chính sách xây dựng chế độ xã hội từ các nước có chung nền tảng tư tưởng. Những khó khăn trong đời sống; những tiêu cực của một bộ phận cán bộ về phẩm chất, đạo đức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao. Từ nhận thức không đầy đủ, sai lệch; không phân biệt được đúng, sai, để các đối tượng thù địch, chống đối lôi kéo, chệch hướng về tư tưởng, ý chí, bản lĩnh, phẩm chất. Bắt đầu từ nhận thức sai, từng bước dẫn đến phai nhạt lý tưởng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu của giai cấp, dân tộc; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào hệ tư tưởng nền tảng của Đảng. Từ đó, xa rời tôn chỉ, mục đích; không kiên định con đường giai cấp và dân tộc đã lựa chọn; “nói theo” phụ họa cho những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Từ nhận thức sai trái đó, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc của tổ chức; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; “dĩ hòa vi quý”, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích giai cấp, dân tộc, tất cả bắt đầu từ nhận thức rồi từ đó, cá nhân tự đánh mất bản lĩnh, ý chí, mục tiêu, những phẩm chất nội tại trong mỗi cá nhân. Nếu bản lĩnh vững vàng, giữ vững ý chí, lập trường, kiên định mục tiêu thì dẫu tác động khách quan bên ngoài có như thế nào vẫn không thể dẫn đến sự diễn biến, chuyển hóa của bản thân. Sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cá nhân đó giấu sau vỏ bọc người của tổ chức, của chính quyền hay “trong vai người hiểu biết” rồi như “vết dầu loang”, tác động đến các cá nhân khác xung quanh.

Tất cả những thay đổi về xa rời tư tưởng, bản lĩnh, ý chí, mục tiêu đều tự bản thân của mỗi cá nhân. Trước những diễn biến phức tạp, tư tưởng phải vững vàng; trước những tác động xấu, bản lĩnh càng phải cao; trước thách thức, ý chí càng phải lớn và trước khó khăn, mục tiêu càng phải kiên định. Đây không chỉ là yêu cầu tính chiến đấu, chất cách mạng, mà đó còn là sự tự “miễn dịch” với những gì tác động xấu, khách quan từ bên ngoài. Đó là quá trình tự rèn luyện, tự ý thức, tự xây dựng bản lĩnh, nhân cách với quyết tâm cao, là sự khẳng định sự đúng đắn từ nhận thức đến hành động của người cách mạng chân chính.

TMT.05.6

Cảnh giác với những “mỹ từ” giả dối

 

Thời gian qua, khi Đảng, Nhà nước xử lý các trường hợp sai phạm của một số cán bộ, trên các trang mạng xã hội, chúng ta thấy xuất hiện nhiều “lời nói đẹp”, đồng tình với những việc làm trên. Rồi có nhiều trường hợp, khi một số người dân vi phạm pháp luật, chống người thi hành công vụ, họ lại đưa ra những từ ngữ “có cánh”, thể hiện cái nhìn nhân văn, chia sẻ và bênh vực cho những sai phạm đó. Họ dùng rất nhiều “mỹ từ” và có đến hàng trăm lý do bao biện cho những cá nhân mắc sai phạm.

Trước vấn đề trên, buộc lòng người xem, người nghe, người đọc phải đặt ra câu hỏi. Tại sao với cán bộ có sai phạm, bị pháp luật xử lý nghiêm thì họ lớn tiếng ủng hộ và đồng tình, thậm chí còn kêu gọi mọi người lên án những cán bộ có sai phạm? Còn đối với những người bình thường, không phải là cán bộ, khi có hành vi vi phạm pháp luật, thì lại tỏ thái độ cảm thông, bênh vực một cách rất “nhân văn”. Có phải chăng, ẩn đằng sau những điều đó là cả một “âm mưu” và cái tâm không trong sáng?

Trước hết, phải nói cho rõ. Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền, quản lý, điều hành đất nước bằng pháp luật. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không chỉ cán bộ mà kể cả người dân cũng đều phải chấp hành và thực hiện theo đúng hiến pháp và pháp luật đã quy định. Với cán bộ, thậm chí có những điều không quy định trong pháp luật, nhưng vẫn phải chấp hành nghiêm. Đó là những quy định của tổ chức “về những việc không được làm”. Không những thế, còn phải nêu cao ý thức trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu, tính chiến đấu của người công chức, hưởng lương trong bộ máy Nhà nước. Với người dân lại khác, ngoài chấp hành những quy định trong luật ra thì đều được tự do thực hiện những điều pháp luật không quy định mà không chịu bất cứ yếu tố tác động nào khác.

“Pháp luật bất vị thân”, dân cũng như cán bộ, ai sai đều phải xử lý. Sai đến đâu, xử lý đến đó. Tự do và dân chủ không gì khác là sự bình đẳng trước pháp luật và ai làm đúng pháp luật thì được pháp luật bảo vệ. Dẫu có thể được che đậy bằng những ngôn ngữ, “mỹ từ” đẹp đẽ đến đâu thì cũng không thể giấu được “cái tâm không trong sáng”. Và nó vẫn là sự giả dối, ẩn giấu đằng sau sự “nhân văn”, vẻ “nhân đạo” mà những đối tượng thù địch, chống đối Nhà nước vẽ ra, nhưng thực chất là đang đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân.

TMT .05.6

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị trường tồn của dân tộc Việt Nam

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị trường tồn của dân tộc Việt Nam

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta với khởi nguồn là hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ.

Rời Bến cảng Nhà Rồng, 110 năm về trước, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành ra đi với một hoài bão lớn, nung nấu một quyết tâm cháy bỏng là giành “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.”

Cuộc ra đi này kéo dài 30 năm để rồi khi tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc, Người đã trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, để có được cơ đồ như ngày hôm nay.

Nhìn lại sự kiện lịch sử quan trọng ngày 5/6/1911 - Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đánh giá, hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác đem đến những bài học lớn, trong đó có một bài học vô cùng quan trọng về mục đích và động cơ. Xuất phát từ mục đích vĩ đại, một động cơ cao thượng, Bác đã nung nấu quyết tâm ra đi. Bác tìm đường cứu nước chỉ vì dân, cứu nước để cứu dân, yêu nước để thương dân. Đây cũng là bài học về đạo đức Người để lại cho nhân dân.

“Nhờ có đạo đức như thế Bác mới có sức mạnh tinh thần để vượt qua mọi thử thách, khó khăn, kể cả hiểm nguy, những thử thách sống còn, trải nghiệm được những thành bại trong thời điểm khắc nghiệt của lịch sử. Bài học đạo đức hiện nay rất quan trọng, gợi ý cho chúng ta trong vấn đề đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Cũng theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Bác không chỉ để lại bài học về đạo đức, đó còn là bài học về học thuyết và lý luận. Bác đã khảo sát các học thuyết chủ nghĩa trong suốt 30 năm bôn ba xứ người để cuối cùng nhận ra, chủ nghĩa chân chính nhất để theo đuổi là chủ nghĩa Marx-Lenin. Người hiểu rõ, nếu không có lý luận tiên phong dẫn đường thì không thể làm tròn sứ mệnh tiên phong của Đảng lãnh đạo cầm quyền.

Bài học thứ ba mà theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo là rất quan trọng, đó là Bác ra đi tìm đường cứu nước để sớm tiếp cận tư tưởng đổi mới, tư tưởng hội nhập để phát triển. Đến nay, bài học này đã được thực tiễn chứng minh tính đúng đắn.

“Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì không có cách nào khác là phải tiếp cận đến xu thế toàn cầu hóa. Điều này đã trở thành phổ biến. Việt Nam đã và đang ngày càng chủ động hội nhập sâu vào đời sống thế giới, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn nhiều lĩnh vực khác. Chính con đường hội nhập ấy giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận tinh hoa nhân loại, biến sức mạnh ngoại sinh thành sức mạnh nội sinh để phát triển bền vững. Tư tưởng đổi mới hội nhập của Bác bắt đầu từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước đến nay vẫn còn nguyên giá trị,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhận xét.

Liên hệ về mặt lý luận giữa hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác với bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề: “Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng Hồ Chí Minh trở thành một nhà tư tưởng cách tân, sáng tạo và đổi mới từ rất sớm. Người tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin một cách sáng tạo, không giáo điều, không biệt phái. Muốn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững được con đường phát triển của Việt Nam, không có cách nào khác là phải học tập bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết của mình.

Đánh giá về giá trị, ý nghĩa của cuộc hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác trong bối cảnh hiện nay, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định thành quả của đất nước ta ngày nay bắt đầu từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác.

Sau 10 năm kể từ khi bắt đầu hành trình ra đi của mình, năm 1921, đến với Chủ nghĩa Marx-Lenin, Bác đã giải quyết được sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối của dân tộc ta khi đó; đặc biệt là khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định được vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có một Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tập hợp để tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối.

Nhấn mạnh khát vọng giải phóng, khát vọng phát triển trong tư tưởng, hành động của Bác, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cho rằng những khát vọng này xuyên suốt từ lúc Bác ra đi đến khi Bác trở về dẫn dắt nhân dân Việt Nam đến với con đường giải phóng dân tộc. Theo đó, trong toàn bộ hành trình ra đi tìm đường cứu nước, khát vọng giải phóng luôn cháy bỏng trong tim Người.

Khi trở về, Người lồng ghép khát vọng đó với khát vọng phát triển đất nước. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang ở thời kỳ đỉnh cao nhất, ngày 17/7/1966, Bác đã viết Lời kêu gọi: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song người Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!."

Tư tưởng đó, khát vọng đó đã được thể hiện trong suốt 4 năm Người viết di chúc, từ năm 1965 đến 1969. Bác từng viết: “Còn non, còn nước còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay
."

Bác cũng khẳng định những khát vọng đó trong mong muốn cuối cùng của mình: “Ðiều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Ðảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới."

Lý giải câu chuyện vì sao Bác thành công trên hành trình tìm đường cứu nước, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cho rằng hành trình tìm đường cứu nước của Bác thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo. Ngay từ thời đó, Bác đã phát hiện ra một điều rất căn cốt trong sự thất bại các phong trào cứu nước. Những sỹ phu yêu nước khi đó đều mang tư tưởng ỷ lại vào một lực lượng từ bên ngoài. Với bản lĩnh, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, một tầm nhìn, sự mẫn cảm chính trị, Bác thấy rằng không thể dựa vào ai được mà phải tự dựa vào mình.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cũng nhắc đến một chi tiết đặc biệt, tháng 9 năm 1905, cậu bé Nguyễn Tất Thành, khi lần đầu tiên đặt chân đến trường tiểu học Pháp-bản xứ, được biết đến khẩu hiệu: Tự do-Bình đẳng-Bác ái, đã mang trong mình một mối hoài nghi. Sự hoài nghi này là có căn cứ bởi, nhìn đâu trong xã hội lúc bấy giờ cũng chỉ có sự áp bức, bóc lột, chế độ phong kiến nô lệ hiện hữu. Mối hoài nghi đó ngày càng lớn dần, để rồi, ở tuổi 21, người thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành quyết định ly hương, tìm kiếm câu trả lời.

Trả lời câu hỏi vì sao Bác chọn nước Pháp, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng Bác đi về phương Tây, trực tiếp đến nước Pháp - quốc gia của những tên thực dân đã đến xâm lược Việt Nam - để tìm hiểu, vì Bác hiểu rõ, phải đánh đổ thực dân mới giải phóng được dân tộc mình. Việc chọn đường đi của Bác là một bản lĩnh sáng tạo. Bác khám phá một hướng đi hoàn toàn mới, không lệ thuộc, không nhắc lại những tư tưởng cũ, cũng không lặp lại đường mòn lối cũ.

Bên cạnh đó, không chỉ chọn đúng hướng đi mà Bác còn chọn đúng cách đi bằng lao động, bằng vô sản hóa. Thông qua lao động bằng nhiều nghề khác nhau, từ phụ bếp trên tàu viễn dương, thợ ảnh, phục vụ khách sạn, phóng viên... Bác học tập, đấu tranh để cuối cùng trở thành một lãnh tụ của dân tộc, một vĩ nhân của thế giới.

“Bác Hồ của chúng ta là một người cộng sản đích thực và chân chính nhưng cũng là một người dân tộc, một người yêu nước vô hạn. Giữa dân tộc với cộng sản, ở Bác là một hình mẫu của sự hài hòa. Chính điều ấy cho thấy hiệu ứng rất lớn của Hồ Chí Minh là giá trị trường tồn của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp ngày nay của chúng ta,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong khẳng định, khi Bác Hồ đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, Bác đã có sự so sánh, nghiên cứu giữa các học thuyết, chủ nghĩa, tư tưởng khác nhau. Bác đi đến tận ngọn nguồn của nền văn minh lúc đó và cuối cùng nhận thấy rằng, chỉ có Chủ nghĩa Marx-Lenin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Bởi vì chủ nghĩa đó đã và sẽ giúp thực hiện sự giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Thực tế lịch sử đã cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt lựa chọn đúng con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam. Trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, kiên định với mục tiêu giành độc lập, tự do cho nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 30 năm bôn ba hải ngoại, ngày 28/1/1941, đã trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trải qua biết bao gian khó, hy sinh, dân tộc Việt Nam, dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã thoát khỏi ách áp bức nô lệ, đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập tự do, xây dựng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.

Tại nhiều hội nghị, diễn đàn quan trọng, hay trong các cuộc gặp gỡ đông đảo cử tri, nhân dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay." Nhận định đó đã chính thức được đưa vào văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tự hào về thành quả đã đạt được, nhưng giữ vững và phát huy những thành quả đó, đưa đất nước tiếp tục bứt phá, vươn lên, đó là mong muốn, là khát vọng của từng người dân đất Việt.

Lớn lên ở Thành phố mang tên Bác, tự hào có ngày sinh trùng với ngày sinh của Bác (19/5), Nguyễn Minh Hiếu, sinh viên năm cuối ngành Chính trị học, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Lý luận trẻ của Học viện, đã cùng Ban Chủ nhiệm tổ chức cho các thành viên Câu lạc bộ tham gia cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác; các buổi sinh hoạt, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đăng ký thực hiện các nội dung học tập Bác trong cuộc sống hàng ngày... Sinh viên Nguyễn Minh Hiếu cho rằng trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam là nỗ lực học tập, cống hiến cho công cuộc xây dựng, phát triển Tổ quốc, sao cho xứng với tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ở góc độ là giảng viên trẻ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II, đồng thời cũng là Phó Bí thư Đoàn Thanh niên của Học viện, Thạc sỹ Nguyễn Hữu Hoàng chia sẻ: Ngay từ nhỏ, bản thân anh đã thích nghiên cứu, tìm hiểu các câu chuyện liên quan đến Bác Hồ. Sau này, khi tham gia làm công tác giảng dạy, anh có cơ hội nghiên cứu sâu hơn về nội dung này. Anh luôn mong muốn lan tỏa những điều mình đã tìm hiểu, nghiên cứu được đến đoàn viên thanh niên hay các học viên của mình.

Anh Hoàng cho biết: “Để lan tỏa những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua Đoàn Thanh niên Học viện đã tham mưu cho Ban Giám đốc Học Viện thực hiện nhiều cuộc thi cũng như các chương trình giao lưu để lại tiếng vang trong Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương.

Tiêu biểu như Cuộc thi Hành trình theo chân Bác thu hút hơn 600 cán bộ, công chức, viên chức tham gia; hay Hội thi 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh… thông qua hình thức sân khấu hóa. Để các thí sinh có kiến thức, có chất liệu khi triển khai bài thi của mình, Đoàn trường đã tổ chức những hành trình về nguồn tại nhà số 5 ở Châu Văn Liêm (quận 5), Bến Nhà Rồng…

Sống và làm việc, gắn bó với Thành phố Hồ Chí Minh, anh Hoàng cảm nhận được sự thay đổi từng ngày của một thành phố năng động, luôn đi đầu cả nước trong nhiều phong trào. Tự hào khi bản thân cũng có những đóng góp nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của Thành phố, anh Hoàng luôn tâm niệm, học Bác chính là tự rèn luyện bản thân mỗi ngày; tự trau dồi, hoàn thiện mình, đó là làm tốt vai trò, trách nhiệm của một người thầy, một cán bộ Đoàn, một nghiên cứu sinh…

Từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh, hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Người là hành trình để dân tộc Việt Nam bước ra ánh sáng, trở thành một quốc gia độc lập, vững mạnh, từng bước sánh vai với các cường quốc năm châu, một hành trình vì dân vì nước.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta với khởi nguồn là hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng to lớn; thể hiện một giá trị trường tồn của một nhân cách vĩ đại - Hồ Chí Minh./.

 

Mỹ trừng phạt 59 công ty Trung Quốc

 

Mỹ trừng phạt 59 công ty Trung Quốc

 Mỹ đưa 59 công ty Trung Quốc vào “danh sách đen” trừng phạt, cấm các thực thể này nhận các nguồn đầu tư từ Mỹ. Tờ The Straits Times đưa tin Trung Quốc ngày 4-6 đã lên án mạnh mẽ việc Tổng thống Mỹ Joe Biden ký sắc lệnh hành pháp đưa 59 công ty Trung Quốc vào “danh sách đen” trừng phạt, theo đó cấm các thực thể này nhận các nguồn đầu tư từ Mỹ.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích động thái của Mỹ là "vi phạm luật thị trường" và là một nỗ lực "chèn ép" các công ty Trung Quốc. Trao đổi với báo giới hôm 4-6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân cho biết: “Hãy xóa bỏ cái gọi là danh sách mang tính chèn ép các công ty Trung Quốc đó đi”. Đồng thời, ông Uông kêu gọi Mỹ “công bằng và không phân biệt đối xử với các công ty Trung Quốc” “Trung Quốc sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các công ty Trung Quốc” – ông Uông tuyên bố. Phát ngôn của ông Uông nhằm phản ứng trước lệnh trừng phạt mới của Mỹ đối với các công ty Trung Quốc hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng và công nghệ.

Lệnh hành pháp mà ông Biden ký hôm 3-6 sẽ ngăn cản nguồn đầu tư của Mỹ vào khu phức hợp công nghiệp-quân sự của Bắc Kinh cũng như các chương trình nghiên cứu và phát triển quân sự của nước này. Theo tuyên bố của Nhà Trắng, các lệnh trừng phạt nhắm vào các công ty liên quan công nghệ giám sát của Trung Quốc, vốn được sử dụng để "tạo điều kiện cho việc áp bức hoặc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng", "làm suy yếu các giá trị an ninh hoặc dân chủ của Mỹvà các đồng minh". 

Theo The Straits Times, chính quyền của ông Biden đã gọi động thái trên là nhằm mở rộng phạm vi của danh sách trước đó do Bộ Quốc phòng dưới thời chính quyền người tiền nhiệm Donald Trump đưa ra, vốn “vẫn còn thiếu sót về mặt pháp lý”. Các công ty lớn của Trung Quốc có tên trong “danh sách đen” trước đó của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng được đưa vào danh sách cập nhật, bao gồm Tập đoàn Công nghệ Hàng không Trung Quốc (AVIC), Tập đoàn viễn thông China Mobile, Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC), công ty công nghệ Hangzhou Hikvision Digital Technology, công ty Huawei Technologies và nhà sản xuất chip SMIC.

Theo Nhà Trắng, sắc lệnh hành pháp trên sẽ có hiệu lực từ ngày 2-8. Các nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư vào các công ty Trung Quốc sẽ có thời gian một năm để tiến hành thoái vốn.

Trước đó, chính quyền Tổng thống Trump hồi tháng 11-2020 đã đưa ra danh sách 31 công ty Trung Quốc được cho là đang cung cấp hoặc hỗ trợ bộ máy quân sự và an ninh của Trung Quốc.

Hồi tháng 5, ông Kurt Campbell - điều phối viên chính sách Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của ông Biden – cho biết thời kỳ gắn bó với Trung Quốc đã kết thúc và mô hình thống trị trong quan hệ song phương trong tương lai sẽ là một cuộc cạnh tranh.

 

Phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

 

Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện. 


Báo cáo chính trị của Đại hội XIII không chỉ dừng lại ở đó, mà còn nhấn mạnh yêu cầu về phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 


Đây chính là một bước nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh hơn đến vai trò của con người với tính chất là chủ thể và cũng là mục đích của phát triển nền văn hóa. Phát triển nền văn hóa chính là phát triển con người và ngược lại. 

Cùng với chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, sự tăng cường và gắn kết xây dựng con người và nền văn hóa trong một thể thống nhất sẽ là cơ sở vững chắc để “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, không chỉ làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, mà còn trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII

 

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng thứ nhất là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường..., tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1). Đây là lần đầu tiên, vấn đề “thể chế phát triển bền vững” được đặt ra trong một văn kiện đại hội Đảng. Trước đó, tại Đại hội XII, vấn đề thể chế chỉ được nhắc đến trong nhiệm vụ tổng quát thứ hai là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(2); nói cách khác, tức là mới chỉ đề cập đến hoàn thiện thể chế phát triển của lĩnh vực kinh tế. Báo cáo chính trị của Đại hội XIII đề cập “thể chế phát triển bền vững”, tức là thể chế bảo đảm cho sự vận hành đồng bộ, thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các lĩnh vực trong đời sống, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế, hướng tới thực hiện yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong thể chế phát triển, thể chế chính trị là yếu tố trung tâm, quyết định, chi phối đối với thể chế của các lĩnh vực còn lại.


 Cần  tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc nhấn mạnh và đặt “thể chế phát triển bền vững” là định hướng phát triển đầu tiên nói lên điều gì?

 Thứ nhất, đó là nhận thức mới của Đảng ta về ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của thể chế phát triển bền vững đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó chính là điều kiện quyết định để “tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Đó cũng chính là bài học được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Quá trình thực hiện đường lối đổi mới trong 35 năm qua đã không chỉ cho thấy vai trò, ý nghĩa to lớn của thể chế đối với sự phát triển nói chung, mà còn chỉ ra trách nhiệm to lớn, nặng nề và có ý nghĩa quyết định của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện thể chế phát triển nói chung, nhất là thể chế chính trị - một điều kiện sống còn cho công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Thứ hai, phải chăng thể chế của chúng ta hiện nay nói chung còn có nhiều vấn đề, hạn chế, tạo ra những vướng mắc, gây ra những khó khăn cho việc huy động nguồn lực, sức mạnh để phát triển đất nước một cách đồng bộ, bền vững. Việc nhận ra những hạn chế, vướng mắc về thể chế phát triển chính là thể hiện thái độ nghiêm khắc, tinh thần trách nhiệm và phương pháp khoa học, thực tế, khách quan của Đảng trong lãnh đạo đất nước với tư cách một đảng cầm quyền.

 Thứ ba, cùng với những hạn chế của hệ thống thể chế phát triển bền vững hiện nay thì sự vận động của tình hình chung trên thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực dẫn đến những thay đổi to lớn, mạnh mẽ, toàn diện của thực tiễn và những yêu cầu mới đặt ra đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới cũng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện thể chế phát triển bền vững. Đó là vấn đề có tính quy luật, là một yêu cầu khách quan, là điều kiện căn bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Hơn thế nữa, đây cũng là bài học có tính phương pháp luận cho chúng ta, đó là phải luôn nhìn thẳng vào sự thật và xác định phương hướng phát triển đất nước phải xuất phát từ các điều kiện thực tế./.

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 114

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 77

Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030

         Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là sự cụ thể hóa định hướng phát triển đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Định hướng đó nhất quán với đường lối xây dựng, phát triển đất nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 xuất phát từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, từ bối cảnh thế giới hiện đại và điều kiện đặc thù cũng như yêu cầu mới đặt ra của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, nhằm tìm ra những giải pháp tích cực nhất để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 Căn cứ vào bối cảnh, tình hình chung thế giới và trong nước, đặc biệt là những thành tựu to lớn, toàn diện trong phát triển kinh tế  - xã hội của đất nước, Báo cáo chính trị cũng như các văn kiện của Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tổng quát phát triển đất nước là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Từ mục tiêu tổng quát đó, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu cụ thể:

 - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

 - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

 - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.     

 Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới kế tục nhất quán những quan điểm, chủ trương cốt lõi trong 12 định hướng tổng quát về các lĩnh vực của đời sống xã hội đã xác định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng, nhưng có nhiều nhận thức mới về cách tiếp cận, mục đích và nội dung./.

 

Bài viết có giá trị cao về lý luận và thực tiễn, diễn đạt sắc bén, cụ thể và thuyết phục

 

Đọc và suy ngẫm về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta thấy nội dung bài viết có nội hàm rộng lớn, phong phú cả về lý luận và thực tiễn nhưng lại được diễn đạt rất cụ thể, dễ hiểu và hàm chứa cả sự khiêm tốn của tác giả: “Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam”.

Mệnh lệnh từ trái tim đối với mỗi cán bộ, đảng viên

 

Nghiên cứu nội dung bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi đồng tình với quan điểm: