Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Hiến máu

Nhờ tặng máu cho người không quen, tôi mới biết mình thuộc nhóm máu AB và thay đổi cách sống. Năm 2014, một phụ nữ lớn tuổi bị gãy chân và cần nhóm máu AB để phẫu thuật gấp. Cô đang nằm ở Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP HCM. Tôi tình cờ đọc được lời kêu gọi giúp đỡ trên mạng xã hội: "Mẹ của bạn mình đang cần mổ gấp nhưng bệnh viện thiếu máu AB. Anh chị em hay bạn nào có nhóm máu này làm ơn đến bệnh viện xét nghiệm để hiến giúp cô". Bệnh viện này là nơi tôi từng nằm điều trị và có ca mổ tương tự sau tai nạn năm 2012. Tôi nghĩ về cơn đau của mình những ngày đầy lo lắng và khó khăn ấy. Tôi nghĩ đến bệnh nhân, cô chạc tuổi mẹ mình ở quê, không thể chịu đau nhiều như thanh niên chúng tôi. Tôi liên hệ liền, vào bệnh viện. Vì có nhóm máu tương thích, tôi và một bạn khác được chọn để tặng máu. Hàng loạt xét nghiệm được tiến hành ngay trong một buổi chiều. Ca mổ của bệnh nhân ngoài 60 tuổi thành công. Bà bị té rất nặng trên cầu thang trong nhà khi lau dọn. Chúng tôi ra về và lại vào guồng quay công việc. Cho tới hai tuần sau, cuộc điện thoại của con trai cô cho tôi biết, nghĩa cử này khiến anh và gia đình rất cảm động. Anh tự hứa, từ bây giờ sẽ thay mẹ mình hiến máu giúp những bệnh nhân khác. Lượng máu tại ngân hàng máu TP HCM đang cạn, không đủ cấp phát cho các bệnh viện trong 5 ngày tới. Do thành phố phải giãn cách xã hội, nhiều kế hoạch hiến máu đã bị hủy. Lượng máu tiếp nhận những ngày qua chỉ đáp ứng 20% yêu cầu. Đây là thông tin rất đáng lo. Tôi biết trong tình huống khẩn cấp, người cần máu không thể chờ đợi dù chỉ một ngày. Do tôi vừa hiến máu mới nửa tháng, nếu không tôi sẽ đến Trung tâm Hiến máu TP HCM như mọi lần. "Mỗi người, một lần hiến máu và các chế phẩm từ máu có thể cứu sống ba người", bác sĩ có lần giải thích cho tôi. Mỗi người hiến được khuyến khích lấy từ 350 ml máu. Điều kiện, họ phải đủ từ 18 đến 60 tuổi, cân nặng tối thiểu 42 tới 45 tương ứng với nữ và nam, khỏe mạnh, không bị các bệnh truyền nhiễm. Chế phẩm máu là sản phẩm được điều chế tại cơ sở truyền máu, gồm một hoặc nhiều loại tế bào máu, huyết tương có nguồn gốc từ máu toàn phần hoặc thành phần máu. Năm 2020, Bệnh viện Truyền máu - Huyết học đã tiếp nhận được 215.622 túi máu với tỷ lệ máu sạch đạt trên 98%. Tại TPHCM, 40,63% lượng máu đã hiến của người tặng lần đầu. Tỷ lệ hiến máu nhắc lại trên 43%. Năm 2021, chúng ta cần 220.000 túi máu. Tức là, phải có ít nhất 2% dân số trên địa bàn TP HCM tham gia hiến máu tình nguyện. Thành phố đang thiếu máu nghiêm trọng. Hiến máu cứu người, còn để cứu chính ta trong tương lai. Bởi một lần hiến máu, là một lần bạn được truyền máu miễn phí khi phải nằm viện sau này. Thực sự khi hiến máu, người hiến xem như được kiểm tra sức khỏe. Lượng máu hiến sẽ được thay mới trong vài ba ngày, theo các bác sĩ huyết học. Máu mới sẽ tốt hơn cho sức khỏe của bạn. Có lần, cô bác sĩ chỉ bình nước 20 lít gần đó, bảo tôi: "Con hiến trên 16 lít, gần bằng bình nước đó rồi đó". Dù đã trải qua 51 lần hiến máu nhưng tôi vẫn khỏe. Tôi ăn chay trường, tập gym, chạy bộ, đạp xe đều đặn. Tôi cảm thấy mỗi lần tặng những giọt máu cho người cần, tôi lại tốt hơn cả thể chất và tinh thần. Bài toán máu của TP HCM hôm nay có thể giải quyết bằng cách vận động người dân ở những nơi chưa có ca lây nhiễm cộng đồng đi hiến máu. Nhưng tôi cho rằng, trong bệnh dịch, chúng ta có thể triển khai đội ngũ nhân viên chữ thập đỏ kết hợp với Trung tâm Hiến máu đến lấy máu tại chỗ. Lấy máu tại nhà, hay tại khu phố là một giải pháp thích hợp cho người dân và cơ quan y tế lúc này. Một chiến dịch huy động người dân hiến máu trong thành phố hơn 9 triệu dân không quá khó. Chúng ta đang có mạng xã hội để vận động từng khu phố, xã, phường, có đội ngũ xe hiến máu lưu động, chỉ cần đảm bảo giãn cách xã hội và 5K. Thành phố quá rộng, hiện không có nhiều điểm tiếp nhận máu khiến người muốn cho máu đôi khi phải đi hàng chục km. Lấy máu tại chỗ giúp dân chúng không ra đường quá đông. Với người dân, đây cũng là việc làm ý nghĩa giữa thời điểm bó gối vì dịch bệnh, không được ra ngoài nhiều, có thời gian rảnh. Đồng thời, hiến máu cũng là cơ hội để kiểm tra sức khỏe của mình, đóng góp cho cuộc chiến chống dịch còn lâu dài phía trước. Đó là việc thiện nguyện, vừa lợi mình và lợi cho người. Hiến máu tại chỗ thực sự sẽ khuyến khích tinh thần vì cộng đồng, như người dân Sài Gòn đang giúp nhau: "rau tặng cho người cần", "đồ dùng tặng người trong khu phong tỏa", "nhận chở người đi viện miễn phí"... Những tấm biển viết tay đã trở thành bản sắc Sài Gòn. Ngay cả khi không có tiền làm từ thiện, mình còn có cơ thể này, có cuộc sống được cha mẹ trao tặng, mình vẫn có thể trao đi. Giọt máu sẽ đi từ trái tim tới trái tim con người.

Thêm 102 ca Covid-19

Bộ Y tế trưa 6/6 ghi nhận 102 ca dương tính, gồm tại Bắc Giang 69, Bắc Ninh 14, TP HCM 10, Hà Tĩnh 5, Hà Nội và Bình Dương đều 2. 102 ca mới được ghi nhận từ số 8581-8682, trong đó 100 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa. Như vậy từ sáng đến trưa nay thêm 141 ca Covid-19 trong nước được Bộ Y tế công bố. Số ca nhiễm trưa nay đưa tổng số ca nhiễm tại Bắc Giang 3.058, Bắc Ninh 1075, Hà Nội 436 ca (trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 94 ca, 51 ca ở Bệnh viện K), TP HCM 365, Bình Dương 7. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay là 5.562, ghi nhận ở 39 tỉnh thành. 15 tỉnh gồm Yên Bái, Quảng Ngãi, Đồng Nai, Nghệ An, Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đăk Lăk, Nam Định, Hòa Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Ninh Bình, đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. Số lượng xét nghiệm từ 29/4 đến nay đã thực hiện 1.590.699 mẫu cho 3.228.747 lượt người. Hà Tĩnh Ca 8581-8582, 8674, 8676, 8679 là các F1 của 8425, 8427, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 05-6/6 dương tính với nCoV. Bắc Giang Ca 8583-8613, 8615, 8618, 8620-8629, 8640-8645, 8647-8648, 8651-8652, 8655-8656, 8660-8661, 8663, 8665, 8668-8669, 8671-8673, 8675, 8678, 8680-8682 ghi nhận tại tỉnh Bắc Giang trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp. Hà Nội Ca 8614, 8616 là các trường hợp F1, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 5/6 dương tính với nCoV. Bình Dương Ca 8617, 8619 là F1 của 8113, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 5/6 dương tính với nCoV. TP HCM Ca 8630-8639 gồm 8 ca liên quan đến nhóm truyền giáo Phục Hưng, 2 ca đang điều tra dịch tễ. Bắc Ninh Ca 8646, 8649-8650, 8653-8654, 8657-8659, 8662, 8664, 8666-8667, 8670, 8677 gồm 8 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Quế Võ, 4 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, 2 ca liên quan đến ổ dịch Thuận Thành.

Đề nghị dừng mọi sinh hoạt tôn giáo tập trung đông người

Lãnh đạo Giáo hội và các tổ chức tôn giáo tạm dừng mọi sinh hoạt tập trung đông người tại nơi thờ tự và treo biển cảnh báo này để phòng chống Covid-19. Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) nêu đề nghị trên trong văn bản gửi các tổ chức tôn giáo ngày 4/6. "Đợt bùng phát dịch lần thứ 4, biến chủng virus mới có tốc độ lây lan nhanh, nguy hiểm và khó lường nên công tác truy vết, khoanh vùng, dập dịch gặp rất nhiều khó khăn", văn bản nêu. Vì vậy, Ban Tôn giáo Chính phủ đề nghị các địa phương hướng dẫn chức sắc, tín đồ thực hiện nghiêm quy định phòng chống dịch. Với các cơ sở tôn giáo có người nghi nhiễm, người đứng đầu phối hợp với chính quyền để truy vết, khai báo lịch trình di chuyển, cách ly theo quy định. Kênh truyền thông của các tôn giáo phổ biến việc phòng chống dịch bệnh đến cơ sở thờ tự, nhất là vùng xa, vùng trọng điểm dịch bệnh; vận động chức sắc, tín độ khai báo y tế điện tử (tokhaiyte.vn).  "Người đứng đầu, đại diện tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, điểm nhóm sinh hoạt chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không chấp hành quy định, làm phát sinh dịch bệnh", văn bản nêu. Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết lý do ban hành văn bản bởi những ngày qua, tình hình dịch bệnh diễn biến rất phức tạp, đặc biệt liên quan đến ổ dịch tại Hội thánh Truyền giáo Phục hưng (phường 3, quận Gò Vấp, TP HCM) phát hiện ngày 26/5. Ổ dịch này đã lây lan ra 20 quận, huyện của TP HCM và 8 tỉnh, thành phố khác. Nhiều địa phương có F1, F2 liên quan. Từ điểm nhóm này, một số tín đồ của 3 Hội thánh Tin lành khác cũng trở thành F1 và F2 (chưa phát hiện F0). Dự báo những ngày tới, số người nhiễm và liên quan đến ổ dịch tại Hội thánh Truyền giáo Phục hưng tiếp tục tăng lên; có khả năng còn ca bệnh nhưng chưa khai báo. Từ sự việc trên, Ban Tôn giáo Chính phủ nhận định, các biện pháp phòng, chống dịch trong một số cơ sở tôn giáo còn bất cập. Cụ thể, một số tổ chức, cơ sở tôn giáo chưa thực hiện đúng quy định của địa phương, nhất là các điểm sinh hoạt nhỏ lẻ, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm và bùng phát dịch bệnh. Trước đó, sau khi phát hiện ổ dịch liên quan đến Hội thánh Truyền giáo Phục hưng ngày 26/5, TP HCM đã dừng triệt để nghi lễ tôn giáo, hoạt động tập trung 10 người trở lên tại cơ sở thờ tự, tín ngưỡng. Đến nay, TP HCM đã ghi nhận 365 ca nhiễm Covid-19, chủ yếu liên quan đến ổ dịch nêu trên. Từ 29/5 đến nay, TP Hà Nội cũng từng hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tập trung đông người.  

Âm mưu chống phá Đảng

     Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức phản động lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước..., các đối tượng này đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng những “ưu trội” của mạng xã hội để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, tiến hành rêu rao những thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, sự diệt vong của chủ nghĩa cộng sản... hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên, từng bước “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Kiên quyết đấu tranh chống thủ đoạn dùng mạng xã hội chống phá Đảng

     "Thực tiễn cho thấy, chống phá Đảng, đòi đa nguyên đa đảng là một trong những mục tiêu trọng tâm mà các thế lực thù địch luôn hướng tới. Thông qua nhiều hình thức và phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng những ưu việt đặc biệt của mạng xã hội, hoạt động này đang có xu hướng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn.

Lợi dụng công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng (21 người), Ủy viên Bộ Chính trị (2 người), các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang (22 người) đã bị kỷ luật, xử lý hình sự; trong đó có cả cán bộ đường chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang,...

Các thế lực chống phá thường cho rằng tình trạng tham nhũng, suy thoái của đội ngũ cán bộ đảng viên và việc đấu tranh phòng chống tham nhũng, xử lý kỷ luật và khởi tố hình sự nhiều cán bộ cấp cao vừa qua là “dấu hiệu cho sự suy thoái, sụp đổ của Đảng”.

Từ những thực trạng kể trên, chúng ta cần khẳng định việc nhận diện, phân tích và làm rõ hoạt động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch trên mạng xã hội góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của mọi ngành, mọi cấp, mọi lực lượng. Đó cũng chính là những yêu cầu bức bách đang đặt ra, có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của Đảng, đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đến đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn, khoa học mà Đảng đang dẫn dắt, lãnh đạo./.

Hoạt động tuyên truyền chống phá trên không gian mạng internet

     Âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam là không hề thay đổi, do đó dịp kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền chống phá trên không gian mạng internet. Đó là các chiến dịch phá hoại nguy hiểm trên mặt trận chính trị tư tưởng. Do đó, việc nhận diện những thủ đoạn trên và đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, bôi nhọ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh chính là nhiệm vụ chính trị xã hội góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và tiến trình đi lên CNXH tại Việt Nam. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay trong đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc là mỗi người dân Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, phát hiện và thẳng thắn lên án luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, các đối tượng chống phá trong và ngoài nước bôi nhọ đến thanh danh, đạo đức, nhân phẩm Chủ tịch  Hồ Chí Minh.

Thủ đoạn chống phá cách mạng không mơí

     Để chống phá cách mạng Việt Nam, ngăn chặn tiến trình đi lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để bôi nhọ danh dự, hình tượng Hồ Chí Minh, phá hoại phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng cách ngụy tạo chứng cứ và xuyên tạc bóp méo tài liệu lịch sử về Bác Hồ để lừa mị nhân dân, đổi trắng thay đen hòng làm mất đi tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của nhân dân ta.

Âm mưu bôi nhọ, xuyên tạc hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ thiên tài, Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam được UNESCO công nhận năm 1987 tại kỳ họp lần thứ 24. Ở Người có sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, kết hợp phương Ðông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường.

Bôi nhọ uy tín, hình ảnh lãnh tụ và phủ nhận vai trò của Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là mục tiêu chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Giải pháp thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”

 

Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân. Chế độ xã hội chủ nghĩa hướng đến quảng đại quần chúng nhân dân cùng giàu có, ngày càng giảm bớt phân hóa giàu nghèo. Phát triển tương lai của xã hội xã hội chủ nghĩa là đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một xã hội có lực lượng sản xuất phát triển, của cải vật chất và đời sống tinh thần phong phú, quản lý xã hội dân chủ cao độ, con người được phát triển toàn diện.

 Để thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, chúng ta cần:


 Thứ nhất, kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, nỗ lực phát triển lực lượng sản xuất. Của cải vật chất xã hội phong phú là cơ sở quan trọng thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Chỉ có nỗ lực phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều thì chúng ta mới có khả năng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của toàn thể thành viên xã hội; không ngừng tăng đầu tư tài chính nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng, kiện toàn hệ thống an sinh xã hội; phát triển các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo nền tảng vật chất cho củng cố và hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.

 Thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân. Theo đó, cần đẩy mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện đại, nếu không có dân chủ và pháp chế thì không thể thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Quyền chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nhân dân phải được bảo đảm thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật; quyền lực của Nhà nước phải phục vụ,  đáp ứng nhu cầu của nhân dân, nếu không thì lợi ích nhân dân, dân chủ chỉ mang tính hình thức. Một chế độ như vậy chỉ có thể là chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần không ngừng hoàn thiện chế độ dân chủ, làm phong phú các hình thức thực hành dân chủ; bảo đảm nhân dân được hưởng quyền dân chủ rộng rãi, thực chất. Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

 Thứ ba, hoàn thiện chế độ phân phối thu nhập, bảo đảm và cải thiện an sinh xã hội. Trong các quan hệ xã hội, phân phối lợi ích là một quan hệ quan trọng. Trong mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, phân phối thu nhập là khâu then chốt. Phải tiến hành phân phối lợi ích công bằng, xác đáng giữa các thành viên xã hội. Bên cạnh việc phân phối theo lao động, cần các hình thức phân phối khác; tăng cường điều tiết phân phối, thu nhập, trên cơ sở phát triển kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người thu nhập thấp, từng bước mở rộng tỷ lệ người thu nhập trung bình, hướng tới quần chúng nhân dân đều giàu có.

 Như chúng ta đều biết, phân hóa giàu nghèo không chỉ là khoảng cách thu nhập kinh tế, mà còn là vấn đề hưởng thụ các dịch vụ công cơ bản. Vì vậy, phải kiện toàn thể chế tài chính công, tăng cường đầu tư tài chính vào lĩnh vực phục vụ công cộng, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, việc làm, an sinh xã hội, môi trường sinh thái, kết cấu hạ tầng, an ninh, an toàn xã hội.

 Cùng với việc hoàn thiện chế độ phân phối thu nhập, tài chính công, cần chú ý bảo đảm và cải thiện dân sinh, tích cực hoàn thiện an sinh xã hội. Phải  xác định lợi ích của nhân dân làm mục tiêu quan trọng nhất để hoạch đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh chính xác và chú ý lợi ích của từng khu vực, vùng, miền, ngành nghề, các tầng lớp nhân dân khác nhau. Đồng thời với thúc đẩy phát triển, cần đặt công bằng, bình đẳng xã hội vào vị trí then chốt; vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp, từng bước xác lập hệ thống bảo đảm công bằng xã hội, lấy công bằng quyền lợi, công bằng cơ hội, công bằng phân phối là nội dung chủ yếu; làm cho toàn thể nhân dân cùng hưởng thành quả của sự phát triển, cùng hưởng giàu có, hạnh phúc.

 Thứ tư, cải cách thể chế văn hóa, đẩy mạnh ngoại giao văn hóa. Cần thiết lập môi trường nuôi dưỡng, khuyến khích sáng tạo và hình thành các giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Muốn hiện thực hóa mục tiêu này, chúng ta cần phải tháo gỡ những rào cản ngăn trở sự kết nối, điều hòa, phối hợp giữa các chủ thể văn hóa (cá thể, tư nhân, doanh nghiệp, Nhà nước) tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa; đồng thời, phải tạo cơ chế giám sát, định hướng, điều chỉnh các hoạt động sáng tạo văn hóa theo những giá trị tốt đẹp và giảm thiểu các tác nhân gây ra sự phát triển lệch lạc, tiêu cực trong đời sống văn hóa. Cụ thể: 1- Kiện toàn hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy về bản quyền; 2- Giảm thiểu các thủ tục hành chính; 3- Tăng cường các chính sách thúc đẩy nghiên cứu và triển khai kết hợp với hiện đại hóa ngành văn hóa; 4- Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa; 5- Kiện toàn hệ thống thanh tra ngành văn hoá và hệ thống thanh tra nhân dân trong lĩnh vực văn hóa.

 Để thế giới hiểu biết hơn về hình ảnh đất nước, con người và văn hóa của Việt Nam; đưa quan hệ của Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững; phát huy vai trò của văn hóa trong việc thúc đẩy hợp tác về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần tăng cường sự phát triển của đất nước; đồng thời tiếp thu tinh hoa, kinh nghiệm phát triển văn hoá thế giới, chúng ta cần đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, theo đó: 1- Hoàn thiện chính sách ngoại giao văn hóa; 2- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương để triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa; 3- Gắn kết ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế; 4- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin đối ngoại về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam; 5- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác ngoại giao văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

 Thứ năm, tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao, cải tiến công cụ lao động, giải phóng sức lao động của con người, nâng cao trình độ kiến thức, tay nghề, kỹ năng của người lao động. Khi đất nước tiến tới nền kinh tế tri thức, cần trí thức hóa công nhân để tránh tụt hậu trong quá trình hội nhập quốc tế. Phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin, nhằm tạo tiền đề để tham gia vào nền sản xuất hiện đại toàn cầu. Với mục tiêu phát triển bền vững, đối phó hiệu quả với thiên tai, lũ lụt, biến đổi khí hậu, dịch bệnh…, cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát triển văn hóa sinh thái, kinh tế tuần hoàn, tái cấu trúc kinh tế, cần tránh quan điểm khai thác thiên nhiên bất chấp hậu quả. Trong thời gian tới, quá trình sản xuất có sự phân công và hợp tác sâu rộng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta cần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân có trình độ cao, làm chủ khoa học - công nghệ; xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; hoàn thiện thể chế, thiết lập môi trường thể chế minh bạch; xây dựng cơ chế quản lý tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng; phát triển các doanh nghiệp khoa học - công nghệ để tạo đột phá phát triển đất nước nhanh và bền vững.

 Thứ sáu, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, huy động sức mạnh toàn xã hội, dựa vào lực lượng của toàn xã hội cùng phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

“Dân giàu, nước mạnh” - Nguyện vọng tha thiết, cháy bỏng của mọi tầng lớp nhân dân


“Dân giàu, nước mạnh”, một mặt, là thể hiện sự tăng lên, đầy đủ, sung túc về vật chất, tiến bộ kinh tế, giảm đói nghèo trên phạm vi cả nước và mỗi cá nhân; mặt khác, biểu thị trạng thái hạnh phúc. 


Đây không đơn thuần là sự giàu có về vật chất, mà còn đi liền với khả năng phát triển thể chất, tâm lý và xã hội; không chỉ thể hiện việc sinh sống đơn thuần, mà còn thể hiện khả năng tham dự vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân. Khía cạnh xã hội và tâm lý của khái niệm “dân giàu, nước mạnh” quan trọng không kém so với khía cạnh vật chất. Bởi, bên cạnh những nhu cầu vật chất, con người cần có nhu cầu tinh thần, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, cộng đồng và mục đích sống, góp ích cho xã hội và qua đó, góp phần xây dựng một xã hội đáng sống. Việc bảo đảm những điều kiện vật chất tối thiểu là hết sức cần thiết đối với cuộc sống của con người; song, con người cũng có quyền được có việc làm và được sống khỏe mạnh. Do đó, “dân giàu, nước mạnh” có nghĩa là đem lại đời sống vật chất dồi dào, đời sống tinh thần phong phú thực sự cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Dân có giàu thì nước mới mạnh và ngược lại.

 Nhân dân Việt Nam, từ thuở xa xưa, đã mơ ước một cuộc sống sung túc về  vật chất, phong phú về tinh thần, các quan hệ xã hội hài hòa, nhưng do là một nước thuần nông nghiệp và phương thức sản xuất còn lạc hậu, cuộc sống vật chất của đại đa số người dân chưa đầy đủ, nên đời sống tinh thần còn nghèo nàn. Bước vào thời cận đại, cùng với tư tưởng duy tân của các chí sĩ yêu nước, các trí thức Việt Nam đã tham khảo các biện pháp làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, từ mục tiêu “khai dân trí” cho đến việc phát triển công nghiệp, lập các hội khoa học truyền bá tư tưởng duy tân,… Song, tất cả đều không thành công, do chưa có một hệ tư tưởng tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh nước ta lúc đó bị thực dân Pháp xâm lược, là nước thuộc địa nửa phong kiến.

 Bối cảnh đó đã đặt nhân dân Việt Nam đứng trước yêu cầu giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước, giải phóng con người, thực hiện công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. Lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc. Từ ngày thành lập Đảng 3-2-1930, trải qua 15 năm gian khổ đấu tranh chống thực dân Pháp và sự can thiệp của các nước đế quốc, năm 1945, Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, do nhân dân làm chủ, có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sau khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, phục hồi và phát triển kinh tế, thực hiện chuyển biến toàn diện xã hội, phát triển đất nước.

 Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc và sự giàu có của nhân dân. Theo Người,  “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập”. Người còn nói, độc lập mà dân không đủ ăn, đủ mặc thì độc lập ấy không có nghĩa gì. Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946, Người nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Suốt cuộc đời Người phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc, ấm no của nhân dân: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

 Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế là đúng đắn, sáng tạo. Theo đó, sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới”, từng bước đạt tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”.

“Dân giàu, nước mạnh” là giá trị và mục tiêu của phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này phù hợp với nguyện vọng và mong muốn của mọi tầng lớp nhân dân. Đây là mục tiêu tốt đẹp, tập hợp trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, động viên nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy tính tích cực và tự giác của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2021

Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

 

Đảng ta luôn dành sự quan tâm, chú trọng đặc biệt đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối với đội ngũ cán bộ rường cột này của nước nhà. Để có được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần đổi mới đồng bộ nhiều nội dung trong công tác cán bộ. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược theo yêu cầu mới cần thực hiện một số giải pháp sau:


Một là, chú trọng xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ cấp chiến lược hợp lý, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ.

Đảng ta đã thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý được 17 năm kể từ Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30-11-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trong các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị các khóa đều nêu chủ trương trẻ hóa đội ngũ cán bộ các cấp, xây dựng cơ cấu cán bộ hợp lý, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm chuẩn bị đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cán bộ kế cận trực tiếp để bảo đảm đội ngũ cán bộ này khi được bầu cử bổ nhiệm lần đầu, đủ tuổi công tác hai nhiệm kỳ trở lên, ít nhất là trọn một nhiệm kỳ; đến đại hội đảng các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp có đủ cán bộ bố trí vào các vị trí công tác, mỗi vị trí có ít nhất hai ứng viên; tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước theo hướng có cơ cấu hợp lý, nâng cao chất lượng, lựa chọn những cán bộ thật sự tiêu biểu về mọi mặt, có uy tín cao trong toàn Đảng và xã hội.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng tất cả các khâu của công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ đương chức và trong quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.

Nhận thức đúng đắn, sâu sắc vai trò, trách nhiệm, yêu cầu, tiêu chuẩn đối với cán bộ cấp chiến lược và có chủ trương thích hợp, có tính riêng biệt nhất định, trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ này. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ đương chức và trong quy hoạch cán bộ cấp chiến lược theo yêu cầu của tình hình mới. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ để đánh giá chính xác nhân sự được quy hoạch, giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm vào các chức danh cấp chiến lược. Đánh giá toàn diện, đa chiều, liên tục đối với cán bộ; coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả thể hiện ở kết quả công tác thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đối chiếu với trách nhiệm người đứng đầu.

Xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn từ sớm, từ xa các cán bộ tiêu biểu, xuất sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, có thành tích nổi trội, thật sự có triển vọng phát triển để đưa vào nguồn quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Người đứng đầu phải giới thiệu được và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu người có đức, có tài và uy tín vào vị trí cấp chiến lược. Định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn từ sớm, từ xa các cán bộ tiêu biểu, xuất sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách qua thực tiễn để đưa vào nguồn quy hoạch cán bộ cấp chiến lược_Ảnh: TTXVN

Tổ chức thành nền nếp, bài bản, chú trọng chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ đương chức, cán bộ mới và cán bộ quy hoạch chức danh cấp chiến lược theo chỉ dẫn của V.I. Lê-nin: “Cần tổ chức việc bồi dưỡng cho các ủy viên Ban chấp hành trung ương mới nắm được toàn bộ công tác của Ban chấp hành trung ương và công tác tìm hiểu các cơ quan cao cấp của nhà nước. Nếu như chúng ta làm chậm công việc này, thì chúng ta sẽ không thực hiện được một trong những trách nhiệm cơ bản của chúng ta, đó là trách nhiệm sử dụng việc nắm chính quyền…”. Duy trì chế độ học tập lý luận chính trị, các nghị quyết mới của Đảng và các chính sách, pháp luật mới của Nhà nước bằng cả phương thức trực tiếp và trực tuyến. Quan tâm trang bị cho cán bộ cấp chiến lược những kiến thức mới về tầm nhìn chiến lược, chuyển đổi số, nền kinh tế số, chính phủ điện tử, quản trị quốc gia…; bồi dưỡng toàn diện cho cán bộ về kỹ năng công tác, nhất là kỹ năng công tác đảng, kỹ năng quản lý nhà nước; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng. Có kế hoạch, biện pháp cụ thể, thiết thực đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách đối với các Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quy hoạch, nhất là cán bộ dự kiến thay thế mình.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác luân chuyển cán bộ quy hoạch chức danh cấp chiến lược. Phân biệt giữa luân chuyển cán bộ để đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách, giúp cán bộ (trong quy hoạch, tuổi còn trẻ, có triển vọng phát triển xa) có đủ phẩm chất, năng lực và trải nghiệm trong thực tiễn đảm nhiệm được chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quy hoạch và đem đến nhân tố mới cho địa phương, cơ quan nơi cán bộ đến luân chuyển, với việc điều động cán bộ do nhu cầu cán bộ của nơi thiếu hoặc do các yêu cầu khác. Quan tâm cả luân chuyển cán bộ từ các cơ quan trung ương về các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ngược lại; chú trọng luân chuyển cán bộ đến những địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ.

Làm tốt công tác bầu cử, bổ nhiệm, bố trí cán bộ cấp chiến lược; thực hiện nghiêm quy định cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải trải qua vị trí chủ chốt cấp dưới, trừ trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; nhân sự không trúng cử cấp ủy cấp dưới thì không giới thiệu để bầu vào cấp ủy cấp trên. Xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ những cán bộ cấp chiến lược dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ; thực hiện nghiêm việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền và các biểu hiện tiêu cực khác.

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan trung ương, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy đi học lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn… Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, suy thoái về đạo đức vào đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ quy hoạch cấp chiến lược. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật đảng với kỷ luật của Nhà nước và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ vi phạm, những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết nội bộ, kể cả khi đã chuyển công tác./.

Những yêu cầu mới cao hơn đối với cán bộ cấp chiến lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII

 

Xây dựng dội ngũ cán bộ cấp chiến lược có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình trong nước, thế giới, trên cơ sở bám sát và xuất phát từ thực tiễn. Ngoài các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn chức danh cụ thể đã nêu trong Quy định số 214-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề cập tới một số tiêu chuẩn có yêu cầu cao hơn.


Về chính trị, tư tưởng: Các cán bộ cấp chiến lược phải không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tính chiến đấu; luôn tiên phong, gương mẫu; có khát vọng góp phần cùng từng ngành, từng địa phương và cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa nước ta vươn lên trở thành nước phát triển vào năm 2045; có ý chí, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; kiên quyết đấu tranh phòng, chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.  

Về đạo đức, lối sống: Cán bộ cấp chiến lược phải thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình; luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; tự mình phòng, tránh và đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời; tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, cán bộ cấp chiến lược phải nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ; thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; nghiêm túc tiếp thu ý kiến giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của bản thân.

Về năng lực và uy tín: Cán bộ cấp chiến lược cần có năng lực nổi bật trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình trong nước, thế giới, trên cơ sở bám sát và xuất phát từ thực tiễn; có năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng; kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, không né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện. Các cán bộ cấp chiến lược là người đứng đầu có năng lực phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài; lựa chọn, giới thiệu với cấp có thẩm quyền để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình. Cán bộ cấp chiến lược xác lập uy tín bằng hiệu quả công tác thực tiễn, bằng việc thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở, công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, nắm bắt và giải quyết thỏa đáng, kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân./.

Sự quan tâm, coi trọng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược của Đảng

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tất cả các cấp. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở mỗi cấp, theo sự phân cấp, phân công, là lực lượng nòng cốt trong việc tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cùng với việc chăm lo đội ngũ cán bộ cơ sở, đề cao vai trò và trách nhiệm của cán bộ cơ sở, Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược (với nhiều tên gọi khác nhau: đội ngũ cán bộ cấp cao, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, đội ngũ cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý).

Đảng ta luôn dành sự quan tâm, chú trọng đặc biệt đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối với đội ngũ cán bộ rường cột này của nước nhà. Để có được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần đổi mới đồng bộ nhiều nội dung trong công tác cán bộ.

Xây dựng dội ngũ cán bộ cấp chiến lược có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình trong nước, thế giới, trên cơ sở bám sát và xuất phát từ thực tiễn 

(Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế đi kiểm tra công tác ứng phó với thiên tai tại địa phương)_Ảnh: TTXVN

Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhận định, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau, “kể cả một số cán bộ cao cấp”. Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ ra một trong những hạn chế, yếu kém của công tác cán bộ là: “Đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ”. Trong nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Trung ương nhấn mạnh “nhất là cấp trung ương” và trong thực hiện tự phê bình và phê bình, yêu cầu các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ủy viên ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến các vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng; chủ trương triển khai thực hiện quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Trung ương cũng yêu cầu ban hành quy chế để hằng năm Ban Chấp hành Trung ương góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ban chấp hành đảng bộ các cấp góp ý kiến, thể hiện sự tín nhiệm đối với tập thể và từng thành viên ban thường vụ cấp ủy cấp mình;…

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định quan điểm chỉ đạo trước hết cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải là nòng cốt trong kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, chủ động, sáng tạo chủ trương này. Trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình, Trung ương nêu nhiệm vụ hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp. Đặc biệt, trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được đề cập trực tiếp, với nhiều nội dung quan trọng và giải pháp “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ” là một trong tám nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, chủ yếu của toàn bộ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngày 2-1-2020, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 214-QĐ/TW, quy định “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” thay thế Quy định số 90-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị, quy định “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”, với nhiều điểm bổ sung, sửa đổi quan trọng. Tiếp tục tinh thần này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định sự chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; gắn với xây dựng người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị.

Sự quan tâm, chú trọng đặc biệt của Đảng đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược do đội ngũ cán bộ này là những người tham gia trực tiếp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước; trực tiếp tổ chức ở tầm vĩ mô việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; sự gương mẫu của các cán bộ này về cả thực hiện chức trách, nhiệm vụ và đạo đức, lối sống là tấm gương sáng tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn, có sức lan tỏa, truyền cảm hứng, động viên tinh thần sâu rộng trong toàn Đảng, bộ máy nhà nước và toàn xã hội. Ở chiều ngược lại, nếu chỉ một vài người trong đội ngũ này có vi phạm, dù vi phạm ở mức độ nào, cũng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần có chủ trương và các biện pháp mang tính đặc thù phù hợp, ngoài những chủ trương, biện pháp chung đối với toàn bộ đội ngũ cán bộ nói chung. Các cán bộ cấp chiến lược phải không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, luôn tiên phong, gương mẫu để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng./.

ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH "ĐÃ NÓI LÀ LÀM NGAY"

 

            Năm 1962, Trung ương Đảng và Chính phủ phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong toàn miền Bắc ta. Một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa, do phô trương thành tích, sản lượng thu hoạch thấp lại báo cáo cao. Đến khi giáp hạt thiếu lương thực nghiêm trọng, nạn đói xảy ra, có nơi đã có người chết. Đảng và chính quyền tỉnh không dám báo cáo lên  Chính phủ.

          Biết được tình hình đó, Bác Hồ cử ngay đồng chí Nguyễn Chí Thanh cùng ba cán bộ xuống tận nơi để kiểm tra cứu cấp tại chỗ. Khi về đến tỉnh thì trời mưa to, đường sá nước ngập, gió mùa lạnh buốt, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện ngại không muốn đồng chí Thanh xuống những nơi xảy ra sự cố. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhất quyết đi và động viên anh em vượt khó cùng đi...

          Vẫn với bộ bà ba nâu, quần xắn cao, đông chí băng đồng lội nước, hối hả xuống gặp dân, đồng chí vào từng nhà, xem từng hũ gạo, bồ thóc, niêu cơm, từng người ốm đói... Và khi biết rõ cái người chết đói là sự thật, đồng chí vội vã quay về tỉnh kiểm tra kho dự trữ lương thực quốc gia thấy còn lúa gạo, đồng chí hỏi và được các đồng chí lãnh đạo tỉnh trả lời “Chưa có lệnh trung ương, tỉnh không dám mở kho xuất gạo”. Đồng chí Thanh chỉ thị “mở kho gạo ngay”.... Thấy các đồng chí còn ái ngại, đồng chí Nguyễn Chí Thanh nói: “ tôi xin chịu trách nhiệm trước Trung ương, Chính phủ, luật pháp...”. Rồi đồng chí viết ngay lệnh xuất kho. Số gạo được chuyên trở đến các vùng bị đói, kịp thời cứu dân, ngăn chặn nguy cơ nạn đói lan tràn.

          Nhân dân Thanh Hóa biết ơn sâu sắc Bác Hồ, Đảng và Chính phủ, nhiều người kéo đến xin gặp đồng chí Nguyễn Chí Thanh xem ông là “người hay thánh” xuống cứu mạng sống của họ. Nhưng khi kéo đến phà Hàm Rồng, nơi đồng chí Thanh đi bộ qua phà cùng nhiều người khác. Vì chưa biết mặt đồng chí Thanh, thấy đồng chí Chắt, sĩ quan bảo vệ đi ngang qua, ngó bộ oai phong họ tưởng nhầm đó là đồng chí Nguyễn Chí Thanh, cả đoàn người xúm lại nói to: “ông Nguyễn Chí Thanh đây rồi” và tiếp theo những tiếng hô “Hoan hô Đại tướng nguyễn Chí Thanh đã về cứu dân”, “Bác Hồ muôn năm”, đồng chí Chắt đáp lại, vẫy tay, gượng cười, bụng nghĩ thầm: “may mà có ông Nguyễn Chí Thanh dỏm này. Anh Nguyễn Chí Thanh thật mới vượt được đám đông, kịp lên xe”.

          Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nói là làm ngay – làm có hiệu quả. Thật đáng trân trọng và quý giá biết bao tấm lòng đầy nhiệt huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng của đồng chí.

                                                                                                         HB:04

UY LỰC CỦA AK47 VÀ NỖI ÁM ẢNH CỦA LÍNH MỸ, NGỤY TRONG CUỘC CHIẾN Ở VIỆT NAM

 

Trong lịch sử quân sự thế giới, AK-47 và các phiên bản của nó, cùng với AR-15 và bản cải tiến M16 luôn luôn tranh nhau ngôi vị số một trong các loại vũ khí cá nhân.


Tuy AR-15 (M16) có tốc độ bắn nhanh, tầm bắn xa, độ chính xác cao nhưng uy lực và độ tin cậy kém hoàn toàn so với AK.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, AK-47 đã thắng một cách thuyết phục nhờ tính đơn giản và hiệu quả, đặc biệt là sự phù hợp tuyệt đối của AK-47 với chiến thuật đánh gần, đánh đêm của Việt Nam. Kỹ năng điểm xạ hai viên một lần được Quân đội nhân dân Việt Nam rèn luyện tới mức điêu luyện trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Quân Mỹ vừa ngưỡng mộ khả năng tác chiến của AK-47, lại vừa sợ hãi uy lực của nó. Theo một số tài liệu, trong chiến tranh Việt Nam, lính Mỹ khi nhặt được AK-47 thì sẵn sàng vứt bỏ súng trường M16 của Mỹ để chuyển sang dùng AK.

Cũng có nhiều giai thoại kể lại rằng, khi bước vào trận chiến nếu quân Mỹ, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) nghe hai tiếng điểm xạ “bằng, bằng” một cách đều đặn thì chỉ biết cầu nguyện và tìm cách thoát thân bởi chúng biết rằng đang phải đối mặt với những người lính dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Ngược lại, nếu tiếng điểm xạ không đều thì khả năng cao là các lớp tân binh.

Nhiều lính Mỹ sau chiến tranh Việt Nam vẫn còn bị ám ảnh bởi uy lực khủng khiếp của những loạt đạn AK./.

Không thể xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

 Từ nhiều năm nay, lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhất là quan hệ của Việt Nam với một số nước lớn và vấn đề chủ quyền biển, đảo của nước ta ở Biển Đông, trên các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực thù địch và các phần tử chống đối, cơ hội đã tung nhiều thông tin sai lệch, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta.

Không ít cá nhân, nhóm cá nhân tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc” đã viết bài phát tán trên mạng xã hội với những giọng điệu xuyên tạc. Họ lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế theo họ, nếu vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới bên ngoài, chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, và đã trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước. Họ cho rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “tự trói tay mình”, là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước.

Nội dung và chiêu thức xuyên tạc của các thế lực thù địch đều nhằm xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, chống phá cách mạng Việt Nam. Sự chống phá đó đặc biệt nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ với các nước trên thế giới, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng vào đời sống chính trị quốc tế. Vì vậy, mọi người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tác của chúng.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

 Các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ còn cao giọng rằng, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Luận điểm khác phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “ghép nước với lửa”, “hai củ khoai bỏ trong một rọ”... Từ đó, họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Những luận điểm sai trái trên đã bộc lộ mưu đồ đen tối, rắp tâm xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin đến một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Họ đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn vô căn cứ, đòi Đảng ta muốn phát triển kinh tế, phát triển đất nước phải từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; gây ra sự thiếu niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những lý lẽ đó cho thấy, đó là những luận điểm hết sức sai lầm, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, những nhận xét chủ quan, duy ý chí.

Tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội

 Trong khi cả nước đang tập trung mọi nguồn lực để kiểm soát nguồn lây lan dịch bệnh COVID-19 thì trên mạng xã hội, các đối tượng cơ hội chính trị lại không ngừng xuyên tạc, phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang dư luận về công tác phòng, chống dịch bệnh.

Nhiều tổ chức phản động lưu vong như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ… cùng một số phần tử phản động trong nước cấu kết, lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 ở trong nước, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận và khó khăn cho lực lượng chức năng trong công tác chống dịch. Tán phát bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, sai sự thật, chúng chi rất nhiều tiền để thực hiện các quảng cáo chính trị trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, đưa những số liệu sai lệch về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam, xen lẫn là nội dung chống phá Đảng và Nhà nước.

Với sự phát triển mạnh mẽ của internet, với một “rừng” các thông tin trên mạng xã hội, youtube… mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng trong tiếp nhận thông tin, chia sẻ thông tin. Mỗi quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đều được phổ biến nhanh chóng, kịp thời trên báo chí chính thống trong nước cũng như trên Cổng Thông tin điện tử các cơ quan chức năng.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục chủ nghiã Mác - Lê nin để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Muốn bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng), nhận thức được ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng những yêu cầu đó, mới tạo được sự hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia tích cực, tiếp nhận, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn. Qua đó, họ ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn có ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, tạo được sự thống nhất và thấy rõ hơn trách nhiệm của bản thân, càng tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.


XỬ PHẠT TUNG TIN GIẢ LÀ VIỆC LÀM CỦA MỌI QUỐC GIA

 Hiện nay, giữa “bão” tin giả về tình hình dịch bệnh COVID-19, một loạt các quốc gia trên thế giới đã tiến hành nhiều biện pháp xử phạt từ cảnh cáo, phạt tiền đến bỏ tù những kẻ tung tin đồn thất thiệt. Ở Trung Quốc, hành vi tung tin sai sự thật về dịch bệnh bị phạt tiền, giám sát công cộng hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm nếu gây hậu quả nghiêm trọng. Ở Hàn Quốc, Tổng thống Moon Jae-in tuyên bố việc lan truyền thông tin bịa đặt về dịch bệnh là “hành vi phạm tội nghiêm trọng”. Trong khi đó, ở Malaysia, Chính phủ đã bắt giữ 6 người vì đăng tải thông tin sai lệch về virus Corona. Cảnh sát Iran cũng bắt giữ một người vì đăng tải video giả mạo, loan tin một bệnh nhân COVID-19 nhập viện lên mạng xã hội. Tại Anh, một “đơn vị kiểm soát thông tin sai lệch” đã được thành lập nhằm tiến hành xác định tin giả về COVID-19 và liên lạc với các doanh nghiệp truyền thông để loại bỏ nó.

Rõ ràng, trong bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý và luật pháp.