Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

Lời kêu gọi đoàn kết

 

“Toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”.

Nghệ An đóng cửa nhà hàng, quán cà phê ở 5 địa phương

Hàng quán ăn uống, cà phê, cắt tóc, gội đầu, cơ sở thẩm mỹ ở TP Vinh, huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò bị dừng hoạt động từ 0h ngày 8/6. Ông Bùi Đình Long, Phó chủ tịch tỉnh Nghệ An, cho biết tại 5 địa phương trên dịch vụ kinh doanh ăn uống chỉ được phép bán cho khách mang về. Hoạt động vận tải hành khách tuyến Nghệ An - Hà Tĩnh và ngược lại gồm xe buýt, xe khách cố định, taxi, xe hợp đồng cùng dừng hoạt động cho tới khi có thông báo mới. Phương tiện vận tải hàng hóa được hoạt động song bắt buộc phải đảm bảo yêu cầu phòng, chống dịch Covid-19. Công dân từ địa bàn có dịch của Hà Tĩnh trở về Nghệ An phải thực hiện khai báo y tế đúng quy định. "Việc đưa ra các biện pháp trên nhằm nâng cao cảnh giác, kiểm soát trước nguy cơ dịch Covid-19 không chỉ ở Hà Tĩnh mà trên toàn quốc đang diễn biến phức tạp có thể xâm nhập địa bàn Nghệ An", ông Long nói và giải thích việc tạm dừng các cơ sở kinh doanh dịch vụ nêu trên không phải áp dụng Chỉ thị 15. Từ ngày 5/5, Hà Tĩnh ghi nhận 9 ca nhiễm nCoV cộng đồng, đều liên quan đến vợ chồng về từ Bình Dương. Nghệ An có 77 F1 đi cùng chuyến bay với hai vợ chồng từ Bình Dưỡng này, hiện đã có kết quả xét nghiệm Covid-19 âm tính một lần. Nghệ An ghi nhận một ca nhiễm Covid-19 trong cộng đồng đêm 6/5 là người đàn ông 47 tuổi, trú xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai. Đây là bệnh nhân Covid-19 cộng đồng đầu tiên trên địa bàn Nghệ An kể từ đầu năm 2020 đến nay. Trước đó, từ 12h ngày 6/5, Nghệ An đã dừng hoạt động các dịch vụ không thiết yếu như karaoke, quán bar, vũ trường...

Tiến sĩ Toán: 'Covid-19 đã đi qua đỉnh'

Tiến sĩ Toán - Lý Nguyễn Lê Anh nhận định một số điểm nóng dịch bệnh tại Bắc Giang, Bắc Ninh, TP HCM cơ bản kiểm soát, là dấu hiệu Covid-19 đã đi qua đỉnh. Tiến sĩ Toán - Lý Nguyễn Lê Anh, nguyên giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự, nhận định tình hình dịch trên cả nước đang được kiểm soát khống chế hiệu quả đúng theo mô hình dự đoán ông đưa ra vào đầu tháng 5. Theo ông, dịch đã đi qua đỉnh vào cuối tháng 5 (cụ thể trong các ngày 30, 31/5, 1/6) và đang có chiều hướng giảm mạnh. Đồ thị dự báo số ca nhiễm đầu tháng 7 còn khoảng 20 ca, sau đó giảm dần đến cuối tháng 7 không còn ca nhiễm. Đến ngày 29/8, phần lớn ca nhiễm nCoV trung bình và nhẹ đang điều trị tại các cơ sở y tế khỏi bệnh, Việt Nam sẽ không còn bệnh nhân Covid-19. Nếu kể đến việc điều trị các bệnh nhân nặng kéo dài, chuyên gia dự báo đến tháng 12 dịch mới có thể chấm dứt hoàn toàn. Như vậy, Covid-19 có thể sẽ suy giảm và kết thúc vào cuối tháng 7.

Điều rất tích cực


Chia sẻ về sáng kiến thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam, Đại sứ Giorgio Aliberti, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho rằng, việc lập quỹ là một phần quan trọng trong chiến lược tổng thể ứng phó với dịch COVID- 19 của Việt Nam.

Đồng thời, Đại sứ tin tưởng, trong chiến lược này, Chính phủ Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc huy động và kết nối các nguồn lực.

"Điều này cho thấy, Chính phủ đã nắm bắt được đầy đủ về nhu cầu, cần phải có những bước đi nhanh hơn nữa. Đây là điều rất tích cực", Đại sứ Giorgio Aliberti chia sẻ.

Phát huy tinh thần quyết tâm diệt dịch, hãy ủng hộ quỹ vắc xin phòng chống Covid - 19

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm và quyết liệt chỉ đạo công tác phòng chống dịch COVID-19. Các cấp, các ngành, các địa phương cần hành động khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao nhất, tạo điều kiện thuận lợi nhất, đơn giản nhất cho các tổ chức, cá nhân, người dân đóng góp cho Quỹ dưới mọi hình thức.

IMG_0057


Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao chứng nhận, hoa cảm ơn Tổng Giám mục Vũ Văn Thiên, Phó Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ảnh VGP

Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đồng lòng, đồng hành và chia sẻ để chúng ta cùng nhau chiến thắng đại dịch, để nhân dân được sống trong ngôi nhà lớn - Việt Nam an toàn, mạnh khỏe và thịnh vượng. Không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của tinh thần đoàn kết, của tình yêu thương, như Bác Hồ kính yêu đã dạy “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Bước đi đúng đắn

QŨY VACCINE COVID-19 SẼ MANG LẠI GIÁ TRỊ MỚI CHO CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ ĐẠI DỊCH

Chúc mừng Chính phủ Việt Nam ra mắt Quỹ vaccine phòng COVID-19, bà Carollyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, việc tiêm vaccine phòng COVID-19 nhanh và hiệu quả là biện pháp cần thiết và quan trọng để đảm bảo an toàn cho người dân, thúc đẩy phục hồi kinh tế.

Bà Carollyn Turk tin tưởng, Chính phủ Việt Nam đang có bước đi đúng đắn trong việc đẩy nhanh việc tiếp cận vaccine phòng COVID-19 cho mỗi người dân.

Bí thư TP HCM: 'Mục tiêu tiêm vaccine cho toàn bộ người dân'

Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên nói, thành phố đang cố gắng để tiếp cận vaccine nhanh nhất, nhiều nhất với mục tiêu tiêm phòng cho toàn bộ người dân. Thông tin được Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên nói tại cuộc họp của Ban chỉ đạo chống Covid-19 TP HCM, sáng 7/6. Buổi làm việc trực tuyến diễn ra trong bối cảnh thành phố ghi nhận 372 ca nhiễm trong đợt bùng phát dịch lần thứ tư và trải qua 7 ngày giãn cách xã hội. Theo ông Nên đến nay có 140.000 người thuộc lực lượng tuyến đầu của thành phố đã được tiêm vacine phòng Covid-19, đạt so với kế hoạch đề ra. Thành phố đang cố gắng tiếp cận vaccine nhanh nhất, số lượng nhiều nhất để tiêm cho toàn bộ người dân. Thành phố đã sẵn sàng nguồn kinh phí. Người đứng đầu Thành uỷ TP HCM cũng thông báo tin là vaccine của Việt Nam sản xuất tại thành phố đang được thử nghiệm giai đoạn 3. "Theo đánh giá, chất lượng vaccine này không thua gì các nước. Nếu suôn sẻ, trong quý 3 chúng ta sẽ có nguồn vaccine nội", ông Nên nói và cho hay hôm nay Thủ tướng sẽ nghe báo cáo liên quan vaccine sản xuất trong nước. Trước đó, theo Sở Y tế thành phố sắp tới TP HCM nhận 71.800 liều vaccine AstraZeneca trong đợt ba, tiêm cho 6 nhóm ưu tiên, hoàn thành trước ngày 15/8. Trong đó, gần 54.600 liều dự kiến tiêm mũi thứ hai cho người đã tiêm mũi một, gồm: nhân viên bệnh viện, trung tâm y tế quận huyện, đơn vị y tế công lập, khu cách ly tập trung có thu phí, đơn vị vận chuyển người cách ly, cảng biển, sân bay. Gần 17.200 liều còn lại dự kiến tiêm mũi một cho 6 nhóm người, gồm: nhóm làm việc tại cơ sở y tế; trực tiếp tổ chức cách ly; sinh viên trường y tình nguyện hỗ trợ ngành y tế; ban chỉ đạo phòng chống dịch các cấp; nhóm cung cấp dịch vụ thiết yếu làm việc tại sân bay, cảng biển; nhóm bệnh nhân có bệnh lý nền (thận mạn tính, đái tháo đường...) đang điều trị nội trú dưới 65 tuổi. Đánh giá về các biện pháp phòng chống dịch của thành phố, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên nói rằng quyết định giãn cách toàn thành phố là biện pháp kịp thời, góp phần ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh. Đến nay số ca nhiễm đã giảm dần. "Nếu không thực hiện giãn cách khả năng thành phố sẽ mất kiểm soát. Giờ này không biết chuyện gì đang xảy ra", ông Nên nói và cho rằng việc thực hiện giãn cách có nơi, có lúc còn lúng túng do địa phương chưa lường hết khó khăn khi cách ly một quận, một phường, ảnh hưởng sinh hoạt người dân. Tuy nhiên nhìn tổng thể việc giãn cách được làm nghiêm túc, hiệu quả. Người dân, tổ chức tôn giáo và cộng đồng doanh nghiệp đều ủng hộ, chia sẻ với chính quyền. Đối với vấn đề cách ly y tế người đến từ vùng dịch, Bí thư Thành uỷ lưu ý ngành y tế "phải thận trọng" vì vừa qua một số tỉnh có quyết định không phù hợp, ảnh hưởng người dân, doanh nghiệp. "May mắn là tỉnh Đồng Nai đã có sự điều chỉnh kịp thời. Vì vậy, khi đưa ra quyết định cách ly y tế, ngành y tế phải hết sức lưu ý khía cạnh ảnh hưởng khi không cần thiết", ông Nên nói. Theo ông Nên, hiện số lượng người cách ly cao, dù các địa phương đã chuẩn bị nhưng số chỗ cách ly sắp hết, có nơi đã sử dụng 70-80% công suất. Do vậy, TP HCM cần chuẩn bị số lượng giường cách ly lên thêm 30-40% để không bị động. Việc cách lý phải tính toán phù hợp, đảm bảo an toàn, tránh lây nhiễm chéo. Đến trưa 7/6, TP HCM ghi nhận 386 ca Covid-19, hiện 7.770 người cách ly tập trung, 13.714 trường hợp cách ly tại nhà hoặc nơi lưu trú.

Một sáng kiến hay


QŨY VACCINE COVID-19 SẼ MANG LẠI GIÁ TRỊ MỚI CHO CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ ĐẠI DỊCH

Ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cho rằng: "Đây là một sáng kiến hay, là điều Liên Hợp Quốc đã ủng hộ trong nhiều tháng nay".

Dưới góc độ của Liên Hợp Quốc, ông Kamal Malhotra cho rằng chỉ nên có một quỹ ở tầm quốc gia, đặt dưới dự giám sát tổng thể và sự chỉ đạo của Chính phủ, thay vì có nhiều quỹ cạnh tranh nhau.

Dịch COVID-19 được coi là điều chưa có tiền lệ trong 1 thế kỷ qua, là tình huống khẩn cấp quốc gia cho bất cứ thể chế nào. Chỉ có Chính phủ mới đủ tầm và năng lực điều phối quỹ này.

Ủng hộ quỹ vắc xin Covid - 19

Quỹ vắc xin COVID-19 là quỹ của sự nhân ái, 
tinh thần đoàn kết và trái tim kết nối trái tim

       Trong bài phát biểu quan trọng như “lời hiệu triệu” huy động mọi nguồn lực cho chiến lược vắc xin phòng COVID-19, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, Đảng, Nhà nước, Chính phủ hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp không kể ít hay nhiều, góp vào Quỹ vắc xin phòng, chống COVID-19 - Quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim.

Tối 5/6, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và phát biểu tại lễ ra mắt Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19, được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Mở đầu bài phát biểu, Thủ tướng bày tỏ rất xúc động có mặt ở đây, tại Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, thành phố anh hùng, thành phố vì hòa bình, để thực hiện nghi lễ quan trọng - Đó là ra mắt “Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19”.

Quỹ được thành lập với sứ mệnh huy động tổng hợp nguồn lực đóng góp xã hội để chia sẻ với ngân sách nhà nước nhằm phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu vắc xin, nghiên cứu, sản xuất vắc xin trong nước và sử dụng vắc xin phòng COVID-19 cho người dân trên nguyên tắc đảm bảo sự tự nguyện đóng góp, hoạt động công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật, thuận lợi nhất cho việc đóng góp.

Vắc xin phòng COVID-19: Giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược và quyết định

Trong thời gian qua, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng, đồng tình, trách nhiệm của toàn thể nhân dân với phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, Việt Nam đã được ghi nhận là một trong những điểm sáng trên thế giới về thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội.

Về chống dịch, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia xử lý đại dịch hiệu quả nhất với tỷ lệ người nhiễm và tử vong thấp nhất. Về kinh tế, Việt Nam là một trong những nước hiếm hoi tăng trưởng dương trên thế giới trong thời gian xảy ra đại dịch. Điều đó thể hiện hiệu quả lời hiệu triệu “Chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân với những giải pháp quyết liệt, đồng bộ, sáng tạo, phản ứng kịp thời , sát thực tiễn và sự đồng lòng, đoàn kết của cả dân tộc.

Tuy nhiên, dịch bệnh COVID-19 ngày càng diễn biến phức tạp, với chủng mới từ Ấn Độ và Vương quốc Anh, có tốc độ lây lan nhanh, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp chống dịch theo phương châm mới “5K + vắc xin” và ứng dụng công nghệ chặt chẽ, rộng rãi, nghiêm ngặt để thực hiện được “mục tiêu kép” vừa chống dịch và phát triển kinh tế.

Thủ tướng nêu rõ, trong phương pháp chống dịch, chúng ta không lựa chọn giải pháp dễ làm mà có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta chỉ thực hiện phong tỏa ở vùng có dịch, giãn cách ở những vùng có nguy cơ cao và vẫn đảm bảo duy trì cuộc sống bình thường bằng phương pháp khoanh vùng, cách ly, truy vết, dập dịch.

Để sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường, Đảng và Nhà nước thực hiện mục tiêu sớm tiêm vác xin miễn phí cho toàn dân nhằm đạt được sự miễn nhiễm cộng đồng và việc này cần duy trì hằng năm. Tiêm vắc xin là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược và quyết định để thoát khỏi đại dịch.

Tinh thần đoàn kết, sức dân là vũ khí tối tân, sắc bén nhất

Thủ tướng nhấn mạnh, lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh, khi đất nước ta gặp khó khăn, tinh thần đoàn kết, sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù và viết nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong cuộc chiến chống COVID-19, sự đồng lòng của nhân dân là chìa khóa mở cánh cửa lớn để chúng ta thoát ra khỏi đại dịch và trở về cuộc sống bình thường, bình yên, an dân, an toàn.

Ôn lại lịch sử, Thủ tướng nhắc lại, năm 1945, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào ta trên mọi miền đất nước đã nhiệt tình ủng hộ “Tuần lễ Vàng”, với tinh thần “Người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều”, tạo nên “Quỹ Độc Lập”, góp phần thiết thực đưa công cuộc kháng chiến, kiến quốc đến thành công.

“Truyền thống “Thương người như thể thương thân”, hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một nước phải thương nhau cùng” đã hun đúc trong mỗi người con đất Việt và gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, ở bất cứ nơi đâu trên Trái Đất này. Truyền thống ấy càng tỏa sáng mỗi khi đất nước chúng ta gặp khó khăn như chiến tranh, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh…

"Chính vì vậy, sự chia sẻ, trách nhiệm, cảm thông của Nhân dân với Nhà nước là nhân tố quan trọng, quyết định để chúng tôi tin rằng Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19 sẽ nhận được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài”-Thủ tướng nhấn mạnh.

Nhà nước ta đã nỗ lực gỡ bỏ mọi khó khăn vướng mắc về cơ chế, sử dụng tổng hợp mọi nguồn lực để chúng ta có vắc xin sớm nhất tiêm miễn phí cho toàn dân. Nhân dân cũng chia sẻ, dù chúng ta rất nỗ lực nhưng nguồn vắc xin trên thế giới cũng hạn chế và họ sẽ ưu tiên cho những quốc gia có tình hình dịch bệnh phức tạp, lây lan nhanh hơn Việt Nam.

Tiếp nối các sự kiện phát động quyên góp của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, việc thành lập Quỹ vắc xin phòng chống COVID-19 là một chủ trương của Đảng, Nhà nước thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị để huy động nguồn lực xã hội thực hiện công tác phòng chống dịch. Cuộc chiến với COVID-19 bằng vũ khí vắc xin, chúng ta sẽ phải đi đường dài, phải tiêm cho nhân dân hằng năm.

Thủ tướng khẳng định: Đảng, Nhà nước, Chính phủ hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp không kể ít hay nhiều đều xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim, từ trách nhiệm với cộng đồng, từ sự chia sẻ với Nhà nước, nên đảm bảo quản lý, giám sát hoạt động của Quỹ minh bạch và đúng tôn chỉ, mục đích, đúng pháp luật để phục vụ cho sức khỏe, hạnh phúc của nhân dân là trên hết, trước hết.

Mỗi đóng góp đều có ý nghĩa cho sự an toàn hơn cho bản thân, gia đình chúng ta, cho cộng đồng và cả xã hội

Chúng ta rất cảm động khi được biết những em bé dành tiền ăn sáng, các cụ già dành tiền lương hưu, tiền tiết kiệm, những phụ nữ tiết kiệm chi tiêu, những công chức, viên chức, công nhân tiết kiệm ngày lương để ủng hộ Quỹ, kiều bào ta ở nước ngoài trực tiếp hoặc nhờ người thân đóng góp Quỹ với tinh thần “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Hàng trăm doanh nghiệp mặc dù phải đối mặt với khó khăn do tác động dịch bệnh nhưng rất tích cực đóng góp cho Quỹ.

"Nhiều doanh nghiệp cũng nói rằng muốn được thể hiện tấm lòng với Nhân dân, với Nhà nước, đóng góp cho Quỹ để lo cho nhân dân, còn việc tiêm cho nhân viên của mình, doanh nghiệp sẵn sàng trả phí để đơn giản là có nhiều tiền hơn để Nhà nước lo cho dân”, Người đứng đầu Chính phủ chia sẻ và nhấn mạnh:

Chúng ta tin rằng nhân dân đã hiểu được sự cố gắng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, bằng trí tuệ, bằng ý chí, sự kiên cường, sự quyết liệt và sự đồng cam cộng khổ, đồng lòng của nhân dân, chúng ta đã đi qua đại dịch hơn 1 năm qua một cách kiên cường, bền bỉ, có hiệu quả, vẽ nên mảng màu xanh an toàn trên bản đồ thế giới đa số nhuốm màu đỏ, màu vàng của sự sợ hãi lây nhiễm và tang tóc mà đại dịch đã gây ra trên thế giới và trong cuộc sống.

“Đất nước chúng ta còn khó khăn, Đảng và Nhà nước đã và đang cố gắng nhưng cần sự chung tay góp sức bằng tấm lòng và trái tim của cả cộng đồng, xã hội. Hôm nay, thay mặt Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi kêu gọi toàn thể nhân dân đồng lòng cùng chống dịch. Mỗi đóng góp đều có ý nghĩa cho sự an toàn hơn cho bản thân, gia đình chúng ta, cho cộng đồng và cả xã hội. 

Đây là quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc - chiến thắng đại dịch COVID-19”, Thủ tướng xúc động phát biểu.


Sự thật không thể phủ nhận

Bảo đảm cho mọi công dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, xây dựng kinh tế để cuộc sống toàn dân ngày càng nâng cao, chú trọng bảo đảm an sinh xã hội… đó là những thành tựu có ý nghĩa to lớn mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu đạt được. Những thành tựu đó là không thể phủ nhận, và là bằng chứng cụ thể bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, vu khống, xuyên tạc, bịa đặt về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Từ ngày 21-1-2019 đến 1-2-2019, tại Phiên họp thứ 32 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), Nhóm làm việc về Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) tiến hành rà soát tình hình về nhân quyền ở 14 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và trong phiên họp ngày 22-1-2019, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu đã trình bày Báo cáo quốc gia về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III. Tiếp đó, tại khóa họp lần thứ 125 của Ủy ban nhân quyền LHQ về Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc dẫn đầu đã trình bày báo cáo Phúc trình lần thứ ba về các nội dung liên quan trong hai ngày 11 và 12-3-2019. Các báo cáo của Việt Nam tại hai kỳ họp đã nêu bật những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại, bảo đảm Nhà nước Việt Nam sẽ khắc phục hạn chế trong thời gian sớm nhất và tiếp tục nỗ lực bảo vệ, phát triển quyền con người. Chính vì thế, báo cáo của Việt Nam đã được thành viên tham dự các kỳ họp đánh giá cao, và bày tỏ hy vọng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa về nhân quyền. Tuy nhiên, trước, trong và sau hai kỳ họp nêu trên, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã phát động chiến dịch vu cáo, vu khống, bịa đặt, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, nhằm tác động tiêu cực tới dư luận quốc tế, làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam, đồng thời bảo vệ một số cá nhân vốn lâu nay vẫn được họ gán nhãn hiệu là “người bảo vệ nhân quyền, tù nhân lương tâm, nhà báo tự do”… Nổi lên trong số các tổ chức tham gia những hoạt động này có Theo dõi nhân quyền (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF), Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), tổ chức khủng bố “Việt tân” và một số tổ chức kỳ quái như “ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức”, với sự phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI… Điểm chung dễ nhận thấy nhất của các tổ chức, cơ quan truyền thông này là hoàn toàn không khảo sát thực tế nhân quyền ở Việt Nam, chỉ khai thác, dựa trên các loại tin giả, tin bịa đặt, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen được các thế lực thù địch với Việt Nam tạo dựng, truyền bá trên internet (in-tơ-nét); đồng thời tảng lờ mọi thành tựu nhân quyền mà Việt Nam đạt được; đánh tráo khái niệm để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử… Nhưng “bàn tay không che nổi mặt trời”, dù những đối tượng trên điên cuồng chống phá như thế nào cũng không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu hằng ngày trên đất nước Việt Nam. Liên tục suốt những năm qua đất nước luôn phát triển nhanh chóng, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế, đời sống, thu nhập người dân thay đổi rõ rệt. Mọi người dân đều được bảo đảm và hưởng các quyền chính đáng của mình, cùng có cơ hội phát triển, cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng một nâng cao… Vì mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền phát triển, quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương, quyền của người lao động, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, nỗ lực triển khai nhiều chương trình quốc gia trọng điểm để giảm nghèo bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, chăm sóc sức khỏe cho người dân, xây dựng nông thôn mới, mang lại hiệu quả xã hội tích cực. Tới cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước còn 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); góp phần tăng thu nhập của hộ nghèo từ 15 đến 20%; thu nhập của dân cư nông thôn được cải thiện, bình quân theo đầu người/năm tăng từ 18,6 triệu đồng (năm 2012) lên 32 triệu đồng (năm 2017). Đến tháng 3-2018, hơn 570 nghìn hộ nghèo ở nông thôn được hỗ trợ về nhà ở; hơn 14 nghìn hộ nghèo tại miền trung được hỗ trợ xây dựng nhà ở để phòng chống bão, lụt; 982 dự án với quy mô 190.841 hộ thuộc chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành… Đáng chú ý là hằng năm, Nhà nước đã chi ngân sách hàng chục tỷ đồng để mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế; đến năm 2017, cả nước có hơn 34,2 triệu người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới sáu tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế; riêng năm 2017 có hơn 66 triệu lượt người nghèo, hơn 15 triệu lượt người cận nghèo khám, chữa bệnh với tổng chi phí được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán khoảng 45 nghìn tỷ đồng. Và cần đề cập các thành tựu khác liên quan khu vực nông thôn, như đến ngày 31-12-2017: 99,4% số xã trên cả nước đã có đường ô-tô tới trung tâm xã, 100% số xã và 97,8% số thôn được điện lưới quốc gia bao phủ; 99,7% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hóa… Trên phạm vi rộng hơn, ở Việt Nam, mọi quyền khác của con người cũng được bảo đảm, hỗ trợ, tạo điều kiện tồn tại, phát triển. Xin dẫn thí dụ từ chính các lĩnh vực mà các thế lực thù địch thường tập trung vu cáo, bịa đặt: - Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Hiện có: 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hòa Hảo. Đến năm 2017, tổng diện tích đất các cơ sở tôn giáo sử dụng là 14.850 ha, thuộc 7.102 tổ chức, cơ sở tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tích cực tham gia hoạt động xã hội, thành lập hơn 450 cơ sở y tế, 270 trường mầm non và 1.000 nhóm, lớp mầm non; hỗ trợ chăm sóc 11.800 đối tượng bảo trợ xã hội. Có 12 báo và tạp chí liên quan tôn giáo được xuất bản, phần lớn tổ chức tôn giáo đều có website riêng. Chỉ tính trong bốn năm (2015 - 2019) đã có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều loại ngôn ngữ. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn đã được tổ chức thành công ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản VESAK 2014, 500 năm Cải chánh đạo Tin lành 2017, sắp tới là Đại lễ Phật đản VESAK 2019. Với sự hỗ trợ của Nhà nước, năm 2017 Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer ở Cần Thơ. Tại các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước, hiện có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm. Tại Tây Bắc, đến ngày 30-6-2018, đã có 693 điểm nhóm Tin lành và tám Hội thánh cơ sở được thành lập. Ngoài ra, còn nhiều điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tập trung của người các dân tộc thiểu số như Hội Liên hữu Baptist Việt Nam, Hội thánh Lutheran, Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm Việt Nam, Hội thánh Truyền giảng Phúc âm Việt Nam… Rất nhiều cơ sở tôn giáo trên cả nước nói chung, của người Chăm nói riêng đã được Nhà nước hỗ trợ để trùng tu, tôn tạo đẹp đẽ, khang trang. - Về quyền tự do ngôn luận, báo chí: Luật Báo chí năm 2016 xác định rõ quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; nhấn mạnh quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin và tiếp cận thông tin báo chí, góp ý kiến phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí, bổ sung quy định về liên kết hoạt động báo chí. Cũng như Luật Xuất bản năm 2012, Luật Báo chí 2016 khẳng định nguyên tắc Nhà nước không kiểm duyệt trước khi in, đăng, phát sóng; đồng thời Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các hình phạt đối với các tội “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”. Có thể khẳng định chưa bao giờ ở Việt Nam báo chí phát triển như hiện nay và thực tế đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội và nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân và lợi ích của xã hội, hỗ trợ kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. Đến tháng 6-2018, cả nước đã có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; 195 cơ quan báo và tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phương với 184 kênh; đến tháng 6-2018, 1.510 trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép; khoảng 650 triệu bản báo được xuất bản hằng năm; 18 nghìn nhà báo được cấp thẻ; 60 nhà xuất bản; 91 kênh truyền hình trên cáp truyền hình trả tiền, internet và vệ tinh, trong đó có 58 kênh nước ngoài; 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú ở Việt Nam. Đáng chú ý, sự phát triển rất nhanh chóng của internet đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa. Theo WeAreSocial (công ty thống kê, đánh giá thông tin kỹ thuật số, di động và các lĩnh vực liên quan), năm 2018 tại Việt Nam đã có 64 triệu người sử dụng internet, 58 triệu tài khoản Facebook, trung bình mỗi người dành 6 giờ 52 phút để truy cập internet…

Giá trị mới cho chiến lược ứng phó COVID-19


Theo Tiến sĩ Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, việc huy động các nguồn lực để nâng cao khả năng tiếp cận vaccine COVID-19 của Chính phủ Việt Nam rất kịp thời, phù hợp với sáng kiến vaccine toàn cầu.

Chính phủ Việt Nam rất nỗ lực để huy động nguồn lực từ ngân sách nhưng thực tế vẫn cần nhiều nguồn lực hơn nữa.

Việc Chính phủ quản lý và sử dụng công bằng, hiệu quả nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp tư nhân sẽ mang lại giá trị mới cho chiến lược ứng phó với COVID-19.

"Chính sự đoàn kết này sẽ giúp Việt Nam chấm dứt đại dịch. Hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục là một ví dụ cho cách tiếp cận toàn dân trong việc kết thúc đại dịch", Tiến sĩ Kidong Park nhấn mạnh. 

Hướng tới mục tiêu sống an toàn hơn


Với sáng kiến Quỹ vaccine phòng COVID-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân trong cuộc chiến chống "giặc COVID-19".
Quỹ vaccine phòng COVID-19 được phát động vào ngày 31/5 và chính thức ra mắt vào tối 5/6, nhằm huy động tổng hợp nguồn lực đóng góp xã hội để chia sẻ với ngân sách nhà nước, phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine và nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước.
Vaccine phòng COVID-19 được sử dụng cho người dân trên nguyên tắc đảm bảo sự tự nguyện đóng góp, hoạt động công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.
Với sáng kiến Quỹ vaccine phòng COVID-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân trong cuộc chiến chống "giặc COVID-19".
Theo các tính toán, để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần có 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người dân. Tổng kinh phí ước tính hơn 25.000 tỷ đồng.
Cùng với đó, dịch bệnh được dự báo chưa thể kết thúc sớm, "sống chung với dịch bệnh" trở thành yêu cầu thường trực, hiệu lực của vaccine lại không kéo dài, việc tiêm vaccine phải tiến hành định kỳ.
Tất cả những điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách hạn hẹp. Mỗi đóng góp của người dân vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 đều hướng tới mục tiêu cuộc sống an toàn hơn của bản thân, gia đình, cộng đồng và cả xã hội.
Trong bối cảnh như vậy, việc thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 kêu gọi mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện tham gia đóng góp, tài trợ, hỗ trợ cho Quỹ vaccine phòng COVID-19 là hết sức quan trọng, cần thiết. Theo TTXVN, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đã đánh giá cao sáng kiến này.

"Đuối nước" và "Chết đuối"

Thiết nghĩ, chúng ta cần phải điều chỉnh để trả hai từ "đuối nước" và "chết đuối" về đúng ngữ nghĩa mà nó vốn có. Mùa hè nóng nực thực sự đến rồi. Việc ra hồ, ra sông, ra biển để nghỉ ngơi, tắm mát là nhu cầu bình thường với mọi người. Nhưng xuống nước, nếu bất cẩn sẽ dẫn tới những rủi ro đáng tiếc. Có nhiều trường hợp bị thiệt mạng liên quan tới sông nước, nhất là trẻ em đã cảnh báo mọi người phải hết sức cẩn thận. Trên báo chí, thỉnh thoảng vẫn xuất hiện nhiều tin, bài như: "Hai cháu bé đuối nước trong ao gần nhà ông" (Kenh14.vn); "Tắm ao, 3 học sinh bị đuối nước..." (Kenh14.vn); "Thương tâm, hai học sinh tắm sông bị đuối nước" (plo.vn); "Cứu hai cháu bé, nam thanh niên ở Phú Quốc bị đuối nước" (nld.com.vn), v.v. Ngay trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam, các phát thanh viên nói về những tai nạn "đuối nước" cũng đồng nghĩa với "chết do ngạt nước". Khi dùng từ "đuối nước", nhà báo đã mặc nhiên cho từ này có nghĩa "đã chết vì tai nạn liên quan đến nước". Trước đây, trong giao tiếp tiếng Việt, cộng đồng chỉ dùng từ "chết đuối" để mô tả những trường hợp tai nạn sông nước như thế. Ví dụ: Đắm đò làm 6 người chết đuối; Cháu bé không may ngã xuống ao và chết đuối. Nhưng không hiểu sao, từ "chết đuối" dần dần bị loại bỏ. Vào Google tra thử thì từ khóa "đuối nước" có tới 10.600.000 kết quả, trong khi đó, kết quả tra tìm "chết đuối" là 6.100.000. Hiện tại "cán cân" đang nghiêng về từ "đuối nước" và xu hướng chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên. Các chuyên gia y tế định nghĩa "đuối nước" là tình trạng khó thở sau khi bị nước vào đường thở. Đôi khi điều đó xảy ra trong khi bơi hoặc tắm (ao, sông, hồ, biển, bể bơi...) hoặc đơn giản hơn là bị chất lỏng tràn vào miệng, họng, đường hô hấp. Nếu không được trợ giúp khẩn trương trong tình huống khó thở như vậy (cấp cứu), thì có thể dẫn đến tử vong và khả năng tử vong rất cao. Bởi người ta có thể nhịn ăn, nhịn uống một thời gian khá dài, nhưng nhịn thở thì khó có thể lâu được. Khi ngừng thở, ngộp thở, siết cổ, hay bị sặc nước, cơ thể sẽ thiếu oxy và cơ quan đầu tiên bị ảnh hưởng là hệ thần kinh trung ương, não bộ. Nói chung, tổn thương thường bắt đầu sau 1 phút bị hết ôxy và càng lúc càng nặng dần: Từ 30-180 giây thiếu oxy sẽ mất ý thức; sau 1 phút, tế bào não bắt đầu chết; sau 3 ba phút, nơron (neurone) thần kinh bị tổn thương nhiều hơn, và sẽ có di chứng; sau 5 phút, cái chết sắp xảy ra; sau 10 phút, hôn mê và chắc chắn có di chứng tổn thương não lâu dài; sau 15 phút, không thể nào cứu sống. Từ điển tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2020) định nghĩa “Đuối nước” là ở tình trạng kiệt sức vì bị ngạt thở do nước, dễ dẫn đến tử vong. Rõ ràng, đây là một trạng thái bị sặc nước, kéo theo việc hô hấp bị đe dọa và nguy cơ tử vong rất cao. Như vậy, "đuối nước" là từ chỉ ai đó gặp tai nạn liên quan tới nước (bị rơi xuống nước, hay tắm ao, tắm sông, tắm biển... bị chìm do không biết bơi hoặc đuối sức) thì nguy cơ tử vong cao chứ không phải là "tử vong" (như hầu hết các báo chí đưa tin gần đây). Thỉnh thoảng, cũng có báo đưa tin theo nghĩa này, chẳng hạn: "Hai học sinh đuối nước ở Nam Định: Cháu bé thứ hai đã không qua khỏi"(Kenh14.vn). Theo bài báo, trong hai cháu nhỏ bị đuối nước, một cháu khi đưa lên bờ đã chết, cháu thứ hai được đi đi cấp cứu (với hi vọng sống) nhưng cuối cùng cũng đã tử vong. Thiết nghĩ, chúng ta cần phải điều chỉnh để trả hai từ "đuối nước" và "chết đuối" về đúng ngữ nghĩa mà nó vốn có.

Cảnh giác trước những thông tin mập mờ, giả mạo, nguy hại

Mỗi công dân, nhất là giới trẻ cần phải luôn nêu cao cảnh giác, hết sức tỉnh táo, sáng suốt, không bị “cài bẫy” hay bị “mê hoặc” vào những “ma trận thông tin” đầy tính toán xảo trá của các phần tử xấu. Thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện facebook giả mạo của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3/4, trên trang này xuất hiện tiêu đề “Chỉ đạo chính thức của Ban Tuyên giáo Trung ương về vụ “Hôn bé gái trong thang máy”. Sau 18 giờ đăng tải, bài viết đã thu hút 1.600 lượt bình luận và gần 1.000 lượt chia sẻ. Trước đó ngày 11/3, sau khi cơ quan chức năng công bố “Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12607: 2019 về Quy phạm thực hành sản xuất nước mắm”. Lợi dụng những thông tin trái chiều về nội dung dự thảo này, ngay lập tức, trên fecebook đã xuất hiện fanpage giả mạo có tên “Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Fanpage này đã đưa nhiều bài có nội dung thông tin thất thiệt nhằm hướng dư luận một cách có chủ đích không lành mạnh. Sau khi xuất hiện fanpage giả mạo này, đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương đã khẳng định, đây là việc làm hết sức nguy hại, vì có đối tượng đã cố tình lợi dụng mạng xã hội để mạo danh các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, trong đó có Ban Tuyên giáo Trung ương. Việc làm này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của các tổ chức, cá nhân có liên quan, mà còn là hành vi vi phạm quy định pháp luật về sử dụng và đăng tải nội dung thông tin. Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc giả mạo facebook của Ban Tuyên giáo Trung ương là một dụng ý xấu. Bởi Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị và Ban Bí thư về chủ trương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo và một số lĩnh vực xã hội. Từ nhiều năm nay, Ban Tuyên giáo Trung ương luôn tạo điều kiện thuận lợi để cho các cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, hoạt động tuân theo pháp luật về báo chí, nhưng không kiểm duyệt, kiểm soát, can thiệp vào công việc chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan báo chí. Vì vậy, không có chuyện Ban Tuyên giáo Trung ương thông qua mạng xã hội để “chỉ đạo, định hướng” thông tin những vụ việc như “nước mắm, nước chấm”, hay chuyện quấy rối trẻ em ở trong thang máy... Bởi Ban Tuyên giáo Trung ương không làm thay và không “lấn sân” vào công việc thuộc chức năng, phận sự của các cơ quan quản lý nhà nước.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU “LỘNG GIẢ THÀNH CHÂN” CỦA CÁC PHẦN TỬ XẤU

Không phải bây giờ, mà những năm qua, một số phần tử, thế lực từ bên ngoài đã luôn lợi dụng tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí để lập ra những website, blog, facebook “tự xưng” là trang thông tin của một số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Quân đội, Công an và một số ban, ngành, thành phố trực thuộc Trung ương. Các website, blog trên đều có đặc điểm chung là được thiết kế theo dạng trang thông tin trực tuyến, có giao diện trình bày theo một mô-típ khá giống nhau. Ngôn ngữ hiển thị phần lớn là tiếng Việt và có trang có một phần tiếng Anh. Được tạo lập theo dạng trang thông tin chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng kèm theo ảnh minh họa… nên các trang mạng mạo danh này khá bắt mắt và thu hút sự tìm kiếm của người đọc. Nghĩa là, về mặt bên ngoài, nó y như một website, blog có chủ sở hữu, quản lý. Nhưng sự thật, việc lập ra các website, blog, facebook này nhằm mục đích cung cấp thông tin thật- giả lẫn lộn, từ đó hạ thấp, xuyên tạc, đơm đặt chuyện “lãnh đạo, chỉ đạo” không đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, ban, ngành nói chung, của một số cán bộ lãnh đạo cao cấp nói riêng. Hành vi trên đã vi phạm pháp luật của Việt Nam. Khoản 3, Điều 12 Luật Công nghệ thông tin năm 2017 đã quy định “Nghiêm cấm hành vi giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác”. Một trong những hành vi bị nghiêm cấm cũng được quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 4 Thông tư 14/2010/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, đó là: “Tạo trang thông tin điện tử giả mạo cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác”. Việc hoạt động công khai, trái phép của các trang website, blog, facebook mạo danh một số tổ chức, cơ quan, cá nhân đều chứa đựng động cơ chính trị tinh vi, thâm độc. Nó tinh vi ở chỗ: Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên đã chủ động cung cấp những thông tin nhanh, nhạy, chính xác như các cơ quan báo chí chính thống, có uy tín của Việt Nam. Nhưng càng về sau và đến một lúc nào đó “mua chuộc” được người đọc, chủ nhân của các trang mạng mạo danh này có thể cài đặt một vài thông tin thật - giả, đúng - sai mập mờ theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm nhũng nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội và gây ra những hậu quả khôn lường. Sự thâm độc chính là ở chỗ đó. Có câu châm ngôn “Lộng giả thành chân” với hàm ý phê phán, cảnh báo những kẻ đã cố ý ngụy tạo hết sức tinh vi, âm thầm biến cái giả thành cái thật, thậm chí có những hành vi giả dối được lặp đi lặp lại, tái diễn thường xuyên, liên tục để lôi kéo sự nhẹ dạ, cả tin của người khác. Do đó, mọi sự chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của người dân, nhất là giới trẻ trong việc tiếp cận, tìm kiếm những thông tin trên các trang mạng giả mạo các tổ chức, cơ quan và cán bộ lãnh đạo cao cấp, đều có thể bị “sập bẫy” vào dụng ý thiếu lành mạnh từ chủ nhân của các trang mạng này. Trước sự xuất hiện những website, blog, facebook mạo danh một số tổ chức, cơ quan, chúng ta càng thấy rõ tâm địa của những phần tử cơ hội chính trị, đối tượng xấu cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài sẽ không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng bất cứ hình thức, phương thức, thủ đoạn nào. Do đó, chúng ta phải nêu cao cảnh giác, hết sức tỉnh táo, sáng suốt, không bị “cài bẫy” hay bị “mê hoặc” vào những “ma trận thông tin” đầy tính toán xảo trá của các phần tử xấu. Qua vụ việc này, các cơ quan chức năng càng phải tăng cường công tác quản lý an ninh mạng, chủ động nghiên cứu, xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp để tiếp tục phát triển internet đúng hướng, lành mạnh; đồng thời sớm đưa ra những quy định, chế tài rõ ràng để quản lý internet hiệu quả, kịp thời bóc gỡ những website, blog, facebook giả mạo và xử lý nghiêm khắc những kẻ cố tình tung tin thất thiệt, đưa tin thật- giả lẫn lộn, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.

Đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng!

Xây dựng và củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ gìn truyền thống cực kỳ quý báu đó “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, phát huy vai trò là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc theo lời Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc là một trong những thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Từ nhận thức sâu sắc rằng, “đoàn kết làm ra sức mạnh”, “đoàn kết là thắng lợi”, Hồ Chí Minh đã không chỉ vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để thành lập một Đảng Mácxít ở Việt Nam mà còn luôn chăm lo xây dựng, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng ta thực sự là đội tiền phong, bộ tham mưu vững mạnh, người lãnh đạo - người đầy tớ trung thành của nhân dân. Ngay từ thập niên 1930, trước nguy cơ phân liệt về tư tưởng và tổ chức của những người cộng sản Việt Nam đang đe dọa bước tiến của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, vấn đề sống còn đối với đất nước, đối với dân tộc lúc này là “phải hành động, hành động mau lẹ và kiên quyết, không được phép chậm trễ hơn nữa, thiếu một Đảng cách mạng thống nhất lãnh đạo phong trào công nhân, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta sẽ như con tàu không có người cầm lái”(1). Trên tinh thần “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”, Người đã sáng suốt, kịp thời, hành động kiên quyết triệu tập và tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930. Suốt tiến trình xây dựng và phát triển, để đảm bảo vai trò lãnh đạo và xứng đáng là đội tiền phong, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đoàn kết, thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Đảng, là sự vận động và phát triển theo đúng quy luật của Đảng cách mạng; là sinh mệnh của Đảng, là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng, là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng Cộng sản là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, cho nên “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”(2). Trên tinh thần tuyệt đối không thỏa hiệp với những xu hướng bè phái, coi sự chia rẽ là tội ác lớn nhất đối với Đảng, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Đoàn kết là là một truyền thống quý báu và “đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”(3). Cơ sở để xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”, để không có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ của Đảng; là thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc về xây dựng Đảng; là phát huy vai trò gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác cũng như cuộc sống đời thường của đội ngũ cán bộ, đảng viên… Để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, yêu cầu trước hết là phải tôn trọng và giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế, Đảng có sức mạnh khi mọi tổ chức Đảng và đảng viên tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi sự rạn nứt, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng đều bắt nguồn từ sự buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ và không chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, không thường xuyên tự phê bình và phê bình. Vì vậy, muốn đoàn kết và thống nhất thật sự trong tư tưởng và hành động, nhất định phải phát huy dân chủ và mở rộng dân chủ. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời tập trung nghiêm túc mà phải gắn chế độ lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách; đồng thời, chống tập trung quan liêu, dân chủ quá trớn, chống những tư tưởng và hành động cơ hội chủ nghĩa vô nguyên tắc. Bên cạnh đó, phải chống tình trạng dân chủ hình thức, thống nhất một chiều, thiếu sự tranh luận, thảo luận thấu đáo hoặc hiểu không đúng nguyên tắc này, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ và chống dân chủ giả hiệu “miệng nói dân chủ nhưng thực chất là quan chủ”... Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn Nói về đoàn kết, trong Lời kêu gọi ở Lễ mừng Quốc khánh 2/9/1955, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch. Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”. Sau đó, Người nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”; “Đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là then chốt của thành công”... Vì thế, đoàn kết là cội nguồn tạo nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng, là nhân tố để phát huy trí tuệ và khả năng sáng tạo của những chiến sĩ tiên phong nhằm đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Coi trọng đoàn kết, thống nhất trong Đảng - hạt nhân cốt lõi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước khi đi xa về cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã trăn trở, chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần bản Di chúc viết tay của mình cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và sự chuyển biến của tình hình thế giới; trong đó, Người nêu rõ tầm quan trọng, trách nhiệm, phương thức để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Cụ thể, Người căn dặn trong Di chúc (4): “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta”. Đoàn kết trong Đảng ở đây theo Người: 1) Xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng và hành động, đoàn kết đã trở thành một “truyền thống quý báu của Đảng và của dân ta”. 2) Đó là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế - là một cội nguồn làm nên sức mạnh của Đảng. Vì thế, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 3) Đoàn kết phải được bảo vệ, gìn giữ và không ngừng củng cố, phát triển trong Đảng. Trong gần 90 năm qua, thấm nhuần những chỉ dẫn của Người về đoàn kết thống nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”(5) và “không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(6), Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành trọng trách mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Trong mỗi bước chuyển của cách mạng, căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế, với chủ trương, đường lối đúng đắn và lãnh đạo thống nhất, với sức mạnh của khối đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và trong hành động từ Trung ương xuống cơ sở, Đảng đã lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ thực tiễn lịch sử xây dựng và trưởng thành của Đảng, có thể thấy, đoàn kết trong Đảng - cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân không phải chỉ là nhiệm vụ chiến lược của Đảng mà còn là đòi hỏi khách quan của toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, nhất quán và xuyên suốt, mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”(7). THẤM NHUẦN LỜI DẶN CỦA NGƯỜI VỀ ĐOÀN KẾT Đoàn kết trong Đảng là sức mạnh, làm nên sức mạnh của Đảng, song như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng cách mạng phải trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất, “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, phải “tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”. Tiên phong về trí tuệ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, mẫu mực về đạo đức cách mạng; đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng là yêu cầu khách quan, là nguyên tắc sống còn và đó là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được củng cố thì sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường. Đảng đoàn kết, dân tộc đại đoàn kết sẽ nhân nguồn sức mạnh nội lực để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn và nội dung này đã được khẳng định trong Văn kiện các kỳ đại hội của Đảng. Thực hiện lời dặn của Người, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng đã luôn coi việc giữ gìn đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều nhấn mạnh vai trò của đoàn kết, coi đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là ở cơ quan lãnh đạo có ý nghĩa quyết định sự thành công của cách mạng; cụ thể, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”(8). Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải có phẩm chất đạo đức, có vai trò tiên phong, gương mẫu và năng lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị sẽ góp phần vào việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, phải chú trọng và kịp thời phát hiện, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết từ khi những biểu hiện này mới manh nha; chủ động, cảnh giác và đấu tranh không khoan nhượng với việc lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ để kích động, chống phá, phá hoại khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo quy định; mỗi tổ chức Đảng phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tập thể lãnh đạo, trong nội bộ trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau… Đối với những cấp ủy, tổ chức Đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát; cán bộ lãnh đạo thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào cá nhân chủ nghĩa: độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ thì phải kịp thời tiến hành kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết điểm, để củng cố sự đoàn kết thống nhất; phải kịp thời báo cáo lãnh đạo cấp trên... Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định, Điều lệ Đảng,v.v.. cho thấy, vẫn còn một số tổ chức Đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, không thống nhất giữa nói và làm. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ xuất hiện ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty... Không chỉ dừng ở đó, Nghị quyết còn đồng thời nhấn mạnh và chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay trong tổng số 27 biểu hiện suy thoái. Cụ thể, một trong những biểu hiện đó là việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành… Thực trạng này có biểu hiện kéo dài, chậm được khắc phục, thậm chí còn có xu hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn cơ sở. Không ít tổ chức Đảng chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát. Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật, Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về việc nêu gương ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn chưa nghiêm. Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao; những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, “lợi ích nhóm”, cục bộ địa phương, tha hóa quyền lực… chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, dẫn đến sự đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của một số cấp ủy còn yếu. Trong khi đó, tác động của bối cảnh toàn cầu hóa với những thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen; với nhiều diễn biến nhanh chóng, khó lường và phức tạp càng đòi hỏi Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, sự đoàn kết thống nhất chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng phải được thể hiện rõ, phải được khẳng định trong thực tiễn để làm cơ sở cho khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tinh thần Đại hội XII của Đảng và làm theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần chú trọng những nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, tạo sự thống nhất về chính trị tư tưởng và các chương trình hành động; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bởi đây là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đảm bảo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Cụ thể, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”, đảm bảo công khai, cởi mở, bình đẳng, dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới; dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; kết hợp hài hòa giữa dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, nhất là trong xây dựng, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chính sách. Để thực hiện dân chủ thực chất, phải khắc phục bệnh dân chủ hình thức; khắc phục tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, độc đoán, coi thường ý kiến người khác, coi thường quần chúng,v.v.. song cũng phải ngăn ngừa việc lợi dụng dân chủ để gây rối theo kiểu tự do vô chính phủ. Hai là, “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc để phát triển Đảng, là thang thuốc nhằm mục đích “trị bệnh cứu người”, qua đó củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng, phát huy dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Trong tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; đồng thời, thông qua tự phê bình và phê bình trên tinh thần nêu gương, tự giác, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, không mệnh lệnh, áp đặt,v.v.. mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu“tự soi, tự sửa”, giúp đồng chí và quần chúng “tự soi, tự sửa”, để mỗi người có tinh thần trách nhiệm hơn trong hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Ba là, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, tận tâm, tận lực vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; luôn thống nhất giữa nói và làm; có vai trò tiên phong, nêu gương, đi đầu trong mọi lĩnh vực, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của mỗi tổ chức Đảng, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bốn là, tăng cường và đẩy mạnh thực hiện công tác kiểm tra và giám sát, mở rộng trong kiểm tra và giám sát. Trong kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm với tinh thần quyết tâm cao, bản lĩnh vững vàng, giữ vững nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong nhiệm kỳ và hằng năm để sớm phát hiện những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, những biểu hiện đoàn kết hình thức, giả hiệu, “bằng mặt không bằng lòng”... Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết nội bộ, những việc lợi dụng bất đồng ý kiến, mâu thuẫn trong nội bộ dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tan rã khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Năm là, đẩy mạnh, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với các quy định về nêu gương trên các phương tiện truyền thông, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương". Thông qua việc nêu gương, nhân rộng các tấm gương điển hình của tập thể và cá nhân để “giáo dục lẫn nhau”, thiết thực giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng sự đồng thuận, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị. 50 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, những điều Người trăn trở, dặn lại trong Di chúc về đoàn kết trong Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự, đặc biệt là ở những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh./.

Cảnh giác với chiêu trò lợi dụng quyền tự do hội họp để chống phá Việt Nam

Quyền tự do hội họp là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và được bảo đảm thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, những năm qua, lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm, các nhà đấu tranh khoác áo “dân chủ, nhân quyền” triệt để lợi dụng quyền này để xuyên tạc, kích động người dân biểu tình, bạo loạn nhằm tập dượt “cách mạng màu” chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Theo "Từ điển tiếng Việt", “hội họp” là “tề tựu đông đảo”, là “tập họp ở một nơi để bàn bạc”. Quyền tự do hội họp là một quyền cơ bản của con người được gặp gỡ, họp mặt để trao đổi, giao lưu, bàn công việc… Việc hội họp có thể mang tính chất gia đình, bạn bè; có thể là sinh hoạt của các tôn giáo, hoạt động của các hội đoàn để thảo luận, giải quyết công việc nội bộ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Đó cũng là quyền của công dân được gặp gỡ để thảo luận, góp ý kiến về các vấn đề chung của Nhà nước và xã hội. Theo luật pháp quốc tế, quyền tự do hội họp luôn gắn chặt với quyền tự do ngôn luận và được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế. Điều 20, Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Quy định này tiếp tục được khẳng định tại Điều 11, Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 và Điều 21, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR). Tuy nhiên, ICCPR cũng khẳng định, quyền tự do hội họp được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác (Điều 21); không ai được phép lợi dụng quyền tự do hội họp để tuyên truyền cho chiến tranh, hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực (Điều 20). Trong khuôn khổ pháp luật quốc gia, quyền tự do hội họp cũng được ghi nhận trong hiến pháp, pháp luật nhiều nước như: Luật Biểu tình (Đức), Luật về tuần hành, hội họp, biểu tình, diễu hành và tập trung (Nga), Hiến pháp Hoa Kỳ... Tuy nhiên, luật pháp quốc tế, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân. Qua nghiên cứu pháp luật quốc tế và luật pháp các quốc gia cho thấy, nội dung của quyền biểu tình được ghi nhận với tư cách là nội hàm của hai quyền: Quyền tự do hội họp và quyền tự do ngôn luận. Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do hội họp, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định tự do hội họp là quyền cơ bản của công dân và bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 31 nhấn mạnh, tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa; tuy nhiên, những cuộc biểu tình phải khai trình trước 24 giờ với các ủy ban nhân dân sở tại. Xuyên suốt các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay, quyền tự do hội họp được khẳng định là một quyền tự do cơ bản của người dân và được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… theo quy định của pháp luật”. Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền hội họp của công dân (Điều 163, Bộ luật Hình sự năm 2015). Thực tiễn thời gian qua cho thấy, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng quyền tự do hội họp để tập hợp người dân, nhất là số người có trình độ nhận thức thấp, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bất mãn với chế độ... tham gia đình công, biểu tình nhằm xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH), chống phá Nhà nước, phá hoại sự ổn định của xã hội. Đối tượng cầm đầu lôi kéo, kích động quần chúng biểu tình là những cá nhân, tổ chức phản động, thù địch, số bất mãn, cơ hội chính trị... Lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của người dân, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, pháp luật của Nhà nước; bóp méo, thổi phồng tính chất vụ việc; khống chế, lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết và lợi dụng hiệu ứng “tâm lý đám đông” để tập hợp, lôi kéo, kích động người dân tụ tập biểu tình, gây rối. Các cuộc hội họp, biểu tình không chỉ dừng lại ở việc phản đối hoặc gây áp lực với chính quyền mà khi có thời cơ sẽ tìm cách thực hiện “cách mạng màu”. Điển hình là vụ kích động, lôi kéo công nhân và người dân tham gia biểu tình ở Bình Dương năm 2014; và mới đây (năm 2018) lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng và thảo luận Dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, các đối tượng thù địch đã lôi kéo hàng nghìn người mang theo băng rôn, khẩu hiệu tụ tập, gây rối trật tự công cộng, đốt phá tài sản, tấn công lực lượng cảnh sát, cản trở hoạt động của các cơ quan chức năng… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ANCT-TTATXH ở nhiều địa phương: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận... Sau khi các cơ quan chức năng triển khai các biện pháp ngăn chặn tình trạng gây rối, giải tán người dân tham gia; bắt giữ, xử lý các đối tượng cầm đầu, chủ mưu, chúng đã “tát nước theo mưa” xuyên tạc rằng, việc xử lý những đối tượng này là đàn áp dã man những người “biểu tình yêu nước”, kêu gọi Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế can thiệp. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền của mọi người dân được bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai và mạnh mẽ nhất đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là đối với Nhà nước. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp, biểu tình gây mất ổn định ANCT-TTATXH, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và công dân. Nhằm phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình xâm phạm ANCT-TTATXH, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp; trong đó, chủ động nắm tình hình các địa bàn trọng điểm, các tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất… thường xảy ra biểu tình, tụ tập đông người; nắm hoạt động số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị ở địa phương để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động móc nối, lôi kéo, kích động người dân tham gia biểu tình. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền tự do hội họp để chống phá Nhà nước; vận động bà con tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước tại địa phương, không nghe theo kẻ xấu lôi kéo tham gia biểu tình. Kịp thời giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp nảy sinh trong nhân dân trên cơ sở pháp luật, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp; không để kẻ địch lợi dụng, tạo cớ kích động đình công, biểu tình. Chủ động bố trí lực lượng, phương tiện thường trực đấu tranh, phòng, chống gây rối, bạo loạn tại các địa bàn trọng điểm thường xảy ra đình công, biểu tình theo hướng chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Cùng với đó, chủ động vô hiệu hóa ý đồ liên kết trong, ngoài của các tổ chức phản động lưu vong với số chống đối, cực đoan trong nước để tập hợp lực lượng biểu tình, gây bạo loạn. Trong những năm tới, quyền tự do hội họp vẫn là vấn đề mà các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, đánh giá và dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình, bạo loạn; nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc trong nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc… để khắc phục, giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn, “điểm nóng”ngay từ cơ sở, không để kéo dài, lây lan, vượt cấp. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi. Tiếp tục tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng, đủ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền tự do hội họp ở Việt Nam, góp phần đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng vấn đề này can thiệp nội bộ nước ta, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình gây rối, bạo loạn, coi đó là trách nhiệm của mọi cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Việc giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công phải thực hiện đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động, thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài; xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu kích động, lôi kéo người dân tụ tập biểu tình gây rối.../.

Tiếp nhận tiền kiều bào ủng hộ công tác phòng, chống dịch COVID-19

Sáng 7/6, tại Hà Nội, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao tổ chức Lễ tiếp nhận tiền ủng hộ của Tiến sĩ Phan Bích Thiện, kiều bào Hungary, Phó Chủ tịch Hiệp hội người Việt Nam tại Hungary trao tặng công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong nước. Thứ trưởng Phạm Quang Hiệu tiếp nhận số tiền 100 triệu đồng của kiều bào Phan Bích Thiện ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Ảnh: PHƯƠNG ANH Thay mặt kiều bào Phan Bích Thiện, mẹ và chị gái bà đã trao số tiền 100 triệu đồng cho Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Phát biểu tại buổi Lễ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Hiệu, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đánh giá cao tình cảm, sự hỗ trợ, đồng hành, sẻ chia của Tiến sĩ Phan Bích Thiện với đồng bào trong nước trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết, kể từ khi dịch bệnh bùng phát trở lại tại Việt Nam, bà con kiều bào ở nhiều nơi trên thế giới đã tích cực quyên góp tiền và nhiều hàng hóa, vật phẩm cho công tác phòng, chống dịch bệnh ở một số địa phương trong nước. Đây là sự ủng hộ thiết thực, quý báu và kịp thời, thể hiện nghĩa cử cao đẹp và tinh thần "tương thân tương ái" của đồng bào ta ở nước ngoài đối với quê hương đất nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, kiều bào ta tại nhiều địa bàn bày tỏ sự ủng hộ chủ trương; đồng thời, tích cực hưởng ứng tham gia hỗ trợ, đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19. Cùng với công tác tiếp nhận ủng hộ của kiều bào, trong thời gian qua, Bộ Ngoại giao cũng đã tích cực tham mưu, kiến nghị nhiều chính sách, trực tiếp chỉ đạo tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ, kêu gọi sự ủng hộ, quyên góp dành cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài vượt qua khó khăn do đại dịch COVID-19. Các cơ quan hữu quan đã phối hợp tổ chức 468 chuyến bay, đưa trên 113.000 người Việt từ hơn 59 quốc gia và vùng lãnh thổ về nước an toàn; kịp thời chuyển hơn 830.000 khẩu trang cùng nhiều trang phục bảo hộ, trang thiết bị y tế, lương thực, nhu yếu phẩm… cho cộng đồng tại hơn 20 địa bàn chịu tác động nặng nề bởi dịch bệnh. Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao đã kêu gọi và được nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp hưởng ứng, hỗ trợ kịp thời, hiệu quả về lương thực, thực phẩm, vật tư y tế cho đồng bào ta sinh sống, học tập và làm việc tại Lào và Campuchia… Sự hỗ trợ thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với đồng bào ta ở nước ngoài với tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau", thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ của dân tộc Việt Nam. Theo thông tin từ Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, trước đó, ngày 31/5, kiều bào Steve Bùi, Chủ tịch của Tập đoàn Tư vấn và Đầu tư tài chính (có trụ sở tại Nhật Bản), Chủ tịch của Quỹ Steve Bùi & Friends Foundation (quỹ chuyên về các hoạt động từ thiện) đã trao tặng gần 1.000 chai xịt khoáng, 9.000 khẩu trang N95, tổng trị giá gần 300 triệu đồng đến các y bác sĩ ở Bắc Giang và Bắc Ninh. Ngày 1/6, đại diện Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc (VKBIA) và đại diện Nhóm thiện nguyện "Saigon Share" đã đến thăm hỏi và trao tặng các sản phẩm, vật dụng y tế cần thiết cho các lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiệp hội Đồng bào hải ngoại Việt Nam tại Macao (Trung Quốc) đã trao tặng số tiền hơn 131 triệu đồng cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủng hộ công tác phòng, chống dịch…

NGỘ NHẬN VÀ BẤT MÃN DỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG

Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ... Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội. Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ. Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria... Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn... Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác. Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”. Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Tạo mọi điều kiện để nhanh chóng sản xuất bằng được vaccine phòng CVOID-19 ở trong nước

Sáng 7/6, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có buổi làm việc với các nhà khoa học, đại diện các đơn vị nghiên cứu, sản xuất vaccine về công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVID-19. Sáng kiến lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam được đánh giá cao Cùng dự buổi làm việc có Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 Vũ Đức Đam; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Bộ Khoa khọc và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt. Tại buổi làm việc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, trong thời gian qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng, đồng tình, trách nhiệm của toàn thể nhân dân, Việt Nam đã được ghi nhận là điểm sáng trên thế giới về thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dịch COVID-19 ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp chống dịch theo phương châm mới “5K+vaccine” và ứng dụng công nghệ. Trong đó, “chiến lược vaccine” là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính quyết định để thoát khỏi đại dịch COVID-19. Theo Thủ tướng, với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe người dân là trước hết, trên hết, trong năm nay Việt Nam phải có đủ vaccine phòng COVID-19 để tiêm cho 75 triệu người dân; những năm tiếp theo vẫn cần lượng lớn vaccine để tiếp tục tiêm phòng cho nhân dân. Thời gian qua, Chính phủ, các bộ, ngành, đơn vị liên quan đã nỗ lực bằng nhiều hình thức để mua được nhanh nhất, nhiều nhất vaccine phòng COVID-19 để tiêm cho nhân dân. Tuy nhiên, việc tiếp cận vaccine phòng COVID-19 trên thế giới không phải là dễ dàng, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh lây lan nhiều trên thế giới, năng lực sản xuất vaccine có hạn. Do đó, việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVID-19 ở trong nước có tính chất chiến lược, phải thực hiện bằng được để chủ động nguồn vaccine phòng COVID-19 tiêm phòng cho nhân dân và tiết kiệm kinh phí. Thủ tướng đề nghị các nhà khoa học, nghiên cứu, sản xuất vaccine phát huy tinh thần tự lực, tự cường, trí tuệ, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, chung sức tìm giải pháp, khẩn trương nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng COVID-19 để tiêm đại trà cho nhân dân. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các đại biểu trao đổi thẳng thắn, nghiêm túc, khoa học về cơ chế, chính sách, nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, năng lực nghiên cứu, công nghệ, quy trình sản xuất, nhằm đề xuất các giải pháp nghiên cứu nhanh nhất, sản xuất nhanh nhất, hiệu quả nhất, để có vaccine ngừa COVID-19 tiêm cho người dân, trên tinh thần 3 không, 5 thật: “không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”; “nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật, người dân, doanh nghiệp được hưởng thành quả thật”. Theo chỉ đạo của Thủ tướng, tại cuộc làm việc, các nhà khoa học, nghiên cứu, sản xuất vaccine cũng trao đổi về khả năng, tiềm lực, tình hình nghiên cứu, sản xuất vaccine phòng COVID-19, khó khăn, vướng mắc, yêu cầu, nhiệm vụ và đề xuất giải pháp trong sản xuất, bảo quản, tổ chức tiêm vaccine phòng COVID-19 cho người dân trong thời gian tiếp theo. Theo Bộ Y tế, đến nay, cả nước có 02 nhà sản xuất đang nghiên cứu vaccine phòng COVID-19, trong đó, 01 ứng viên vaccine đang thử nghiệm lâm sàng (TNLS) giai đoạn 2, đang chuẩn bị triển khai TNLS giai đoạn 3 (vaccine Nanocovax của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Dược Nanogen); 01 ứng viên vaccine đang TNLS giai đoạn 1 (vaccine COVIVAC của Viện Vắc xin và sinh phẩm Nha Trang). Về quy mô sản xuất của 02 cơ sở trên đạt từ 30-40 triệu liều/năm, có thể nâng công suất khi được đầu tư. Hiện, cũng có 02 doanh nghiệp khác ở trong nước đã tiếp cận, đang đàm phán với đối tác nước ngoài để chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine COVID-19, với quy mô sản xuất từ 200 đến 300 triệu liều/năm. Kết luận tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, vaccine có tính chất chiến lược, quyết định, lâu dài trong phòng, chống dịch nói chung và trong phòng, chống dịch COVID-19 nói riêng. Do đó chúng ta phải thực hiện thành công “chiến lược vaccine”. Các ngành, đơn vị phải coi vaccine phòng COVID-19 là sản phẩm xã hội chứ không chỉ là sản phẩm thương mại. Việc sản xuất được vaccine trong nước vừa góp phần vào phát triển công nghiệp dược của Việt Nam vừa bảo vệ sức khỏe cho người dân. Thủ tướng cho rằng, việc nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine phòng COVID-19 là việc khó khăn, song phải thực hiện, vì chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, yêu cầu các ngành, đơn vị, các nhà khoa học cần có quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, dứt điểm và hiệu quả từng công việc, giải pháp. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, đơn vị liên quan thực hiện ngay các giải pháp, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng được chương trình nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine trong nước. Trong đó: kịp thời phát hiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế pháp lý để việc nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine không bị chậm trễ; huy động tối đa các nguồn lực tài chính vào nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine, trong đó cơ chế công-tư là chủ đạo, trên nguyên tắc hài hòa, hợp lý, hiệu quả lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân; có ngay cơ chế, chính sách đãi ngộ tương xứng và truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần say mê nghiên cứu khoa học để huy động trí tuệ của các nhà khoa học, chuyên gia cả ở trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, sản xuất vaccine; các bộ, ngành giải quyết nhanh các quy trình, thủ tục liên quan, với tinh tần “chống dịch như chống giặc”, song đảm báo tính khoa học, công khai, hiệu quả, chống tiêu cực; phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, nhà sản xuất, quản lý và người dân để nghiên cứu, chuyển giao, sản xuất vaccine kịp thời, hiệu quả; tuyên truyền, truyền cảm hứng để người dân hiểu, ủng hộ chương trình, trên tin thần “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”... Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chỉ đạo chung về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine phòng COVD-19 và xây dựng chương trình quốc gia về sản xuất vaccine nói chung; giao Bộ Y tế thực hiện quản lý Nhà nước về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vaccine, dự báo tình hình cung cầu để điều tiết về mặt vĩ mô trong công tác sản xuất, cung ứng, tiêm vaccine theo thứ tự ưu tiên, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự thảo báo cáo, đề xuất của Chính phủ với Bộ Chính trị, Quốc hội về cơ chế tài chính, nguồn lực con người, quy trình chuyển giao, sản xuất vaccine; giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu, soạn thảo đề xuất chính sách ưu đãi đối với các nhà khoa học, chuyên gia, lập trung tâm nghiên cứu vaccine, đảm bảo bản quyền vaccine; giao Bộ Tài chính chủ trì rà soát, xây dựng cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, điều kiện chi tiêu và giá cả vaccine phòng COVID-19... Thủ tướng Chính phủ thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước gửi lời cảm ơn tới các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học, các cấp, các ngành đã nỗ lực trong suốt thời gian qua, góp phần vào thành quả chung của cả nước là vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa duy trì, phát triển kinh tế. Đặc biệt là sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tích cực tham gia và tiếp tục đóng góp cho Quỹ vaccine phòng COVID-19./.