Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021
Đau đáu lời dặn "Trước hết nói về Đảng" trong Di chúc
Tác động của lợi ích nhóm tiêu cực đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viêná
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và công tác chính trị, tư tưởng
“TỰ DIỄN BIẾN” “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀ SỰ SUY THOÁI
BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ LÀ SỰ THỂ HIỆN “TÍNH ĐẢNG”
PHẢI RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ
Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải bắt nguồn từ sức mạnh quần chúng nhân dân
Hiện
nay trên không gian mạng một số thế lực thù địch ra sức tuyên truyền nói xấu
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nào là công cuộc đó chỉ phục vụ một nhóm cán bộ lãnh đạo.. vậy chúng ta phải nhận thức rằng
cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một
kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự
nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục,
hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ
trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ
vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận,
ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó
đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu
xa của thắng lợi, của phát triển. Vì thế mối quan hệ máu thịt với nhân dân được
Đảng ta xác định rõ và không ngừng củng cố./.
Tự do ngôn luận - một trong những quyền cơ bản của con người
Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rõ: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, và không có giới hạn về biên giới”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Có thể nói, tự do ngôn luận là cơ sở quan trọng để thực hiện đầy đủ các quyền con người khác và gắn liền với quyền tự do biểu đạt, tự do hội họp, lập hội, tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như quyền tham gia quản lý các công việc của nhà nước và xã hội.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận đã có sự biến đổi lớn. Internet và mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó đôi khi còn mạnh mẽ và nhanh chóng hơn cả báo chí truyền thống và các hình thức biểu đạt khác. Thực tế này đã đặt ra nhiều vấn đề về xã hội và pháp lý, trong đó có việc quản lý thông tin trên không gian mạng.
* Bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người*
Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, đã nêu đậm các quyền cơ bản của con người và gắn quyền con người với quyền của dân tộc: "các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Người nhắc đến Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp để khẳng định rằng những giá trị quyền con người đó cũng phải được áp dụng cho mọi người dân, mọi dân tộc, kể cả ở các nước thuộc địa. Người dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng có quyền bình đẳng như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới.
Chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch
Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, việc nắm vững và giải quyết vấn
đề chính trị hiện nay với công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của
các thế lực thù địch có mối quan hệ sâu sắc, chặt chẽ, thường xuyên; đóng vai
trò quan trọng vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, góp
phần vào công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch.
Vấn
đề chính trị hiện nay là những biểu hiện, tình huống về đường lối chính trị, tư
tưởng, tổ chức, hoạt động của Đảng; phẩm chất chính trị của cán bộ, đảng viên
đang diễn ra, sẽ diễn ra làm suy giảm đoàn kết nội bộ, uy tín chính trị, sức
mạnh của Đảng; đe dọa vị trí, vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng
sản Việt Nam, đe dọa sự tồn vong của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Đảng ta đã chỉ rõ: Trong thời gian tới, trước diễn biến phức tạp, khó
lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch,
phản động, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được triển khai thực hiện sâu
sắc, toàn diện, hiệu quả; trong đó, việc nắm vững và giải quyết vấn đề chính
trị hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện tốt. Nắm vững
và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay là nắm vững những dấu hiệu, biểu hiện
đang diễn ra, xem xét, xác định tình huống đang có những “vấn đề chính trị” của
cán bộ, đảng viên, đánh giá đúng để thực hiện các giải pháp phòng ngừa, giải quyết
phù hợp. Những tình hình, tình huống của vấn đề chính trị hiện nay nếu không có
những biện pháp giải quyết hữu hiệu sẽ diễn biến phức tạp, dẫn đến nguy cơ đe
dọa sự sống còn của Đảng. Nắm vững và giải quyết các vấn đề chính trị hiện nay
là một nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng xác định công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong thời
kỳ mới là chú trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Các văn bản
khác của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cũng chỉ rõ nhiệm vụ trọng
tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nắm vững và giải quyết vấn đề chính
trị hiện nay. Đây là một nhiệm vụ rất khó, vì vấn đề chính trị hiện nay là
những vấn đề đang xảy ra, sẽ xảy ra và khó lường trước; những vấn đề thuộc về
nội bộ của bản thân tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang,
của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, là hoạt động chống đối, phá hoại
công khai, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch bên ngoài nhằm gây chia
rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Điều quan trọng nhất trong nắm vững và giải quyết các
vấn đề chính trị hiện nay là chủ động nắm tình hình chính trị ở từng cơ quan,
tổ chức, đơn vị, khu dân cư. Mỗi tổ chức cơ sở đảng phải thực hiện đúng quy
định về quản lý cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện những sai phạm để phòng
ngừa, giáo dục, ngăn chặn,... đến bước cuối cùng mới là xem xét, giải quyết.
Những năm qua, các cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ đã phối hợp với các cơ quan
chức năng nắm và giải quyết một số vụ, việc liên quan đến cán bộ, đảng viên có
vấn đề về chính trị; bổ sung kịp thời những thông tin, tình hình mới; những vấn
đề có liên quan về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, đảng viên, tham mưu
cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận, xử lý một số vụ, việc bảo đảm đúng nguyên
tắc, thẩm quyền, quy định và giữ gìn bí mật...
Biểu
hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: Một là, âm mưu và
hoạt động “tác động chuyển hóa” chính trị của các thế lực thù địch; hai là, sự
“tự chuyển hóa” chính trị trong nội bộ. Trong đó, tác động chuyển hóa” đang trở
thành một mũi tiến công mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để làm thoái
hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy yếu, mất niềm tin của
nhân dân đối với Đảng bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Đấu tranh
chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh, làm
thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cài cắm, móc nối, gây dựng cơ sở, chống “tác động
chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thái độ chính trị của nội bộ theo
chiều hướng hoài nghi, tiêu cực, phản động, ly khai, hình thành các quan điểm
đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng. Nguyên tắc, yêu cầu bảo đảm an
ninh chính trị nội bộ, phòng, chống “tác động chuyển hóa” chính trị phải chủ
động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chủ yếu.
Mỗi
tổ chức đảng cần ngăn ngừa, khắc phục, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm
nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh
đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó,
hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dần
bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người, tổ chức; đấu tranh làm thất bại âm
mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực
thù địch.
Cần
bồi dưỡng, xây dưng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn
mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc
khoa học. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức
năng, nhiệm vụ để tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ,
đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”; đồng thời, tạo động lực, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi
trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không để cho các thế lực
thù địch lợi dụng những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế -
xã hội ở nơi này hay nơi khác nhằm kích động bất đồng, mâu thuẫn giữa các giai
cấp, các tầng lớp xã hội, giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở
nước ngoài, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý
của Nhà nước hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội.
Không thể xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân
Với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo
nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới, ngày nay, giai cấp công nhân và tổ
chức công đoàn càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Tuy
nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang xuyên tạc bản chất, phủ nhận
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn. Phê
phán, bác bỏ các luận điệu sai trái đó cùng việc bảo vệ sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn trên cơ sở khoa học là
nhiệm vụ hết sức cấp thiết hiện nay.
C.
Mác, Ph. Ăng-ghen đã làm rõ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp
công nhân là xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bởi đây là giai cấp đại biểu cho
lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại và hội đủ các yếu tố của một giai cấp
lãnh đạo xã hội. Điều này không phải là mong muốn chủ quan của giai cấp công
nhân hay nguyện vọng của C. Mác như một số luận điệu xuyên tạc. Sở dĩ giai cấp
công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy là do có sự khác biệt với tất cả các
giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật
và hệ tư tưởng. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển từ nền đại công nghiệp
gắn với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín, mang
tính xã hội hóa cao. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính tổ chức,
kỷ luật chặt chẽ, tinh thần hợp tác cao, là giai cấp duy nhất thống nhất được
lợi ích cũng như nhận thức, tư tưởng và hành động trong xã hội, hội đủ những
phẩm chất cần có của một giai cấp cách mạng, có năng lực lãnh đạo cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản
thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp
khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai
cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp.
Từ
ngày thành lập đến nay, dù đổi tên nhiều lần, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam
không hề thay đổi bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng
vững trên lập trường của giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của
mình là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người... Khẳng
định bản chất giai cấp công nhân của Đảng có nghĩa là khẳng định lập trường của
Đảng ta là lập trường của giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho phương
thức sản xuất tiên tiến và xu thế phát triển của thời đại. Việc giữ vững bản
chất giai cấp công nhân của Đảng luôn được Đảng ta khẳng định qua các kỳ đại
hội, gần đây nhất là Đại hội XIII, với yêu cầu: Giữ vững bản chất giai cấp công
nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Trong Báo cáo chính trị
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định sự thống nhất quyền lợi giai cấp, nhân dân lao động và của
cả dân tộc: Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc
Việt Nam. Khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng nhất,
giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất.
Như
vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của
Đảng Cộng sản Việt Nam đều luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân, điều đó đã được minh chứng trong thực tiễn hơn 91 năm
lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày nay, giai cấp công nhân
Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo cách mạng, là một lực lượng xã hội to lớn,
ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng
nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại. Giai cấp công nhân Việt Nam
đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Họ có khả năng phát minh, cải tiến và áp dụng khoa học - kỹ
thuật hiện đại vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.
Các
thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn
nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước)
gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân
loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh
tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…,
nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất hiện đại,
việc đưa rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự
động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên
học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa;
trong điều kiện hiện đại, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai
cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao
động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính
tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại
(?!)… Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo rằng, giai cấp công nhân
chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ
không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học
phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh
lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì
tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất
lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình? Đảng Cộng sản
Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít
tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội
phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không
thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (?!).
Họ
ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ
cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc
tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc
về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa
học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. Rằng, hiện nay chủ
nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi
chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội
chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở
các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản,
cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…
Đó
là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ
nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân. Sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách
quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là
sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và
chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát
triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự
điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai
cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ
tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.
Mưu
đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền
tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp
tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động,
phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động
của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả
về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời
sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt
Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác
phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc
làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện. Sự điều chỉnh,
thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công
nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng
cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích
cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong
điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư
bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Những
mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề giảm đi, mà ngày càng trầm trọng,
gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người giàu chỉ là 1% dân số, nhưng lại
chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính,
tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn
xã hội. Điển hình là phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống
phân biệt chủng tộc cuối tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ
quả của sự phân cực giàu nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế
lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy
vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức
công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ
mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông
chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao
động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)... Sự
thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn
Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã
hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên
cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức,
viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người
lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…; tham gia
quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám
sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên
truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp,
chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Hoạt
động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu
quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi
chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động
đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất
lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi
đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền
trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện
vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị
với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến
chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên
chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế,
nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…
Do
đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản
chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp
công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có
cơ sở khoa học và thực tiễn.
Nơi hội tụ ý Đảng lòng dân
“Quỹ Độc lập” và “Quỹ Vaccine” đều là những Quỹ được Chính phủ thành lập trong hoàn cảnh đất nước rơi vào tình thế khó khăn để huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Hai Quỹ ấy tuy ra đời trong bối cảnh khác nhau nhưng cùng là điểm hội tụ của ý Đảng - lòng dân.
Sau
thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt là
những khó khăn về kinh tế, tài chính: Quốc khố gần như trống rỗng, kinh tế kiệt
quệ, Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp, ngân quỹ Chính phủ chỉ
vẻn vẹn có 1,25 triệu đồng Đông Dương, nhưng trong đó có tới 580 nghìn đồng
rách nát đang chờ tiêu huỷ, các khoản nợ của chính phủ bù nhìn, tay sai để lại
lên đến 564 triệu đồng… Những khó khăn tài chính càng thêm chất chồng khi quân
Tưởng ép chúng ta sử dụng tiền Quan kim, Quốc tệ. Tình hình đó đòi hỏi chính
quyền cách mạng cần nhanh chóng có biện pháp bảo đảm tài chính tạo cơ sở vững
chắc để có thể tiến hành các nhiệm vụ cách mạng quan trọng tiếp theo.
Đáp
ứng đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đưa ra chủ trương tổ chức “Tuần lễ Vàng” động viên nhân dân tình nguyện ủng
hộ xây dựng “ Quỹ Độc Lập”. Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng
tạo, có ý nghĩa quan trọng trong vận động mọi người dân yêu nước, tha thiết với
nền độc lập của dân tộc tự nguyện đóng góp cho Tổ quốc, đưa cách mạng vượt qua
khó khăn thử thách và tiếp tục giành thắng lợi to lớn.
Trong
thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp “Tuần lễ Vàng”, Hồ Chủ Tịch nhấn
mạnh: Muốn củng cố nền tự do độc lập, chúng ta cần sức hy sinh, phấn đấu
của toàn quốc đồng bào, cần sức quyên góp của nhân dân, nhất là những nhà giàu
có. Từ đó có thể thấy đối tượng hướng tới của Đảng và Chính phủ cách mạng trong
“Tuần lễ Vàng” là “toàn quốc đồng bào”, những người thực sự có trách nhiệm với
vận mệnh dân tộc, trong đó trước nhất là những người giàu có, các nhà tư sản
dân tộc yêu nước, những điền chủ có tinh thần cách mạng… Đây là sự cụ thể hoá quan
điểm về lực lượng cách mạng của Đảng ta trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó
khăn. Đồng thời, chủ trương này cũng có ý nghĩa quan trọng trong khơi dậy và
phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân lao động, chung sức đoàn kết cùng
chính quyền cách mạng non trẻ khắc phục khó khăn. Với chủ trương nói trên, Đảng
ta cũng đã tạo điều kiện để các nhà tư sản dân tộc yêu nước và những người giàu
có trong xã hội có thể ủng hộ, giúp đỡ cách mạng; qua đó, vừa tạo cho họ niềm
tin vào chính quyền mới, đồng thời đập tan những luận điệu chia rẽ, xuyên tạc
của các thế lực phản động, tay sai.
Thực
tế lịch sử cho thấy, “Tuần Lễ Vàng” đã thu được nhiều kết quả to lớn. Chỉ trong
1 tuần, từ ngày 17-24/9/1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
đồng bào cả nước đã ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” khá nhiều vàng, bạc, tiền Đông
Dương: chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20
triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng. Lượng tiền, vàng mà nhân dân
cả nước ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” là tiền đề tài chính quan trọng giúp Đảng và
Chính quyền cách mạng tháo gỡ tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, tạo thế và lực
để giải quyết từng bước các nhiệm vụ cách mạng tiếp theo. Quỹ Độc lập
là một minh chứng cho thấy khi ý Đảng và lòng dân hội tụ, hòa làm một, mọi khó
khăn sẽ được giải quyết, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sẽ từng bước được
tháo gỡ.
Cho
đến nay, Việt Nam đã bước vào đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 với mức độ phức
tạp hơn, quy mô lớn hơn nhiều so với các đợt dịch trước. Giải pháp quan
trọng được Chính phủ đưa ra trong công tác phòng dịch đợt này ngoài việc tiếp
tục áp dụng biện pháp 5K còn có vaccine. Trước tình hình đó, Ngày 26/5/2020,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 779/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ
Vaccine phòng Covid-19. Mục đích của Quỹ là để tiếp nhận, quản lý, sử dụng
các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức,
cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động
mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng
vaccine phòng Covid-19 cho người dân. Quỹ Vaccine là sự tiếp tục huy động sự
đóng góp của nhân dân chung tay cùng Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong cuộc chiến
chống đại dịch.
Khi
đại dịch Covid-19 bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, nhân dân Việt Nam một lần nữa
thể hiện sự đoàn kết, đồng sức, đồng lòng chung tay chống dịch. Ngoài việc thực
hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo khuyến cáo của Bộ Y tế, nhân
dân cả nước cùng đông đảo kiều bào Việt Nam ở nước ngoài đã đóng góp công sức,
tiền bạc, hiện vật cho công tác phòng, chống dịch. Với tấm lòng tương thân
tương ái, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, ở nhiều nơi trên khắp cả
nước đã xuất hiện những ATM gạo, ATM mì, ATM khẩu trang... Không chỉ các cơ
quan, tổ chức tích cực đóng góp mà cảm động hơn có những bà mẹ Việt Nam anh
hùng đóng góp từng đồng trợ cấp chắt chiu, những em nhỏ đóng góp số tiền tiết
kiệm từ tiền ăn sáng... Sự đóng góp ấy đã tỏa sáng tinh thần đoàn kết, đùm bọc,
sẻ chia của nhân dân Việt Nam trong khó khăn, hoạn nạn, giúp cho Việt Nam trở
thành điểm sáng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 trong ba lần trước
đây.
Tuy cuộc chiến phía trước còn nhiều cam go, khốc liệt nhưng
Quỹ Vaccine không chỉ là quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy
động sức dân mà còn là một minh chứng không gì thuyết phục hơn cho sự chung
tay, góp sức của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ trong những thời khắc cam go,
thử thách. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để nhân dân Việt Nam đã từng
chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược và sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến
chống đại dịch Covid-19. Quỹ Độc lập và Quỹ Vaccine là những quyết sách đúng
đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức mạnh của nhân dân, làm tỏa sáng
giá trị Việt Nam. Ý Đảng - lòng dân đã hòa làm một và trở thành động lực quan
trọng giúp dân tộc ta đã và sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách, xây dựng đất
nước ngày càng to đẹp hơn.
Chúng ta sẽ chiến thắng Covid - 19
Trong bối cảnh
thế giới, khu vực còn nhiều khó khăn, nền kinh tế đất nước cũng vất phải nhiều
trở ngại vì sự bùng phát lần thứ 4 này, việc thành lập Quỹ phòng Covid - 19 vừa
được Thủ tướng Phạm Minh Chính phát động là một sáng kiến kịp thời và
quan trọng để người dân, doanh nghiệp cùng chung tay với Chính phủ trong công
cuộc "chống dịch như chống giặc" hiện nay. Trở thành một phong trào rộng lớn, các tổ chức quốc tế đánh giá cao, dòng
tiền không ngừng đổ về tài khoản… Trước hết, cũng cần khẳng định chúng
ta từng chiến thắng ở 3 lần dịch bùng phát trước đây đã cho chúng ta nhiều kinh
nghiệm đồng thời chuẩn bị một tâm lý vững vàng đương đầu với đại dịch của toàn
xã hội. Tuy nhiên, ở lần thứ tư này, chúng ta xác định mục tiêu cao hơn, đó là
cùng với việc quyết liệt phòng chống đại dịch cần tiếp tục giữ vững tốc độ tăng
trưởng kinh tế trong khi đó, lần bùng phát này nguy hiểm hơn bởi sự biến chủng
của virus cũng như tốc độ lây lan nhanh.
Song, mỗi khi
đất nước gặp lâm nguy, truyền thống nhân văn, nhân ái, chung sức, đồng lòng của
dân tộc Việt Nam lại bùng lên. Lịch sử đã hơn một lần minh chứng sức mạnh của
tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Mặc dù cho đến giờ
phút này, dịch vẫn đang diễn biến phức tạp, song việc đẩy mạnh tiêm vắc xin
đang hướng tới sự chuyển biến tích cực, "chủ động phản công" như xác
định của người đứng đầu Chính phủ. Đó chính là quyết tâm của Đảng và Nhà nước
Việt Nam trong công cuộc bảo vệ sức khỏe người dân và phát triển kinh tế đất
nước.
Đó còn là niềm
tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp vào sự công khai, minh bạch trong
việc tiếp nhận và sử dụng quỹ. Thủ tướng Chính phủ cũng đã cam kết: "Đảng,
Nhà nước, Chính phủ hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp
không kể ít hay nhiều đều xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim, từ trách nhiệm
với cộng đồng, từ sự chia sẻ với Nhà nước nên đảm bảo quản lý, giám sát hoạt
động của Quỹ minh bạch và đúng tôn chỉ, mục đích, đúng pháp luật để phục vụ cho
sức khỏe, hạnh phúc của nhân dân là trên hết, trước hết". Đối với các hoạt
động như thế này, niềm tin là vô cùng quan trọng. Một khi có niềm tin, người
dân sẵn sàng "kể cả dỡ nhà để chống dịch" như một khẩu hiệu hành động
đang được lưu truyền trên mạng xã hội.
Dù cuộc chiến còn
có thể kéo dài và rất khó lường, song với tinh thần nhân văn, nhân ái, đoàn kết
cùng với quyết tâm của Chính phủ và niềm tin vào sự minh bạch trong quản lý và
điều hành, chúng ta tin rằng Quỹ sẽ không ngừng lớn mạnh, góp phần vào ngày vui
chiến thắng như lời của Thủ tướng: "Chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn,
góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi
danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc - chiến thắng đại dịch
Covid-19".
Giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng
Tự do ngôn luận là quyền con người cơ bản, nhưng luôn phải có giới hạn trong khuôn khổ của pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận không phải là tự do tuyệt đối. Trong một số trường hợp nhất định, tự do ngôn luận có thể xung đột với các giá trị hay quyền chính đáng khác.
Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của internet và mạng xã hội, thông tin càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát. Thông qua các trang thông tin điện tử và mạng xã hội, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình mà không chịu bất kỳ giới hạn nào. Việc thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người chưa bao giờ trở nên dễ dàng và có sức lan truyền nhanh chóng đến thế. Nhưng chính điều này cũng mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ…
Nhìn vào thực tiễn thực thi pháp luật của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy không hề tồn tại cái được gọi là quyền tự do ngôn luận tuyệt đối. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến.
Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự). Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.
Ngoài Pháp, nhiều nước châu Âu khác cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động, tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên internet với sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp mạng lớn nhất thế giới bao gồm Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft. Những động thái này nhằm “bảo đảm quyền tự do ngôn luận đúng nghĩa của người dân và tạo cơ sở để xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, văn minh”(1).
Mới đây nhất, giữa “bão” tin giả về tình hình dịch bệnh COVID-19, một loạt các quốc gia trên thế giới đã tiến hành nhiều biện pháp xử phạt từ cảnh cáo, phạt tiền đến bỏ tù những kẻ tung tin đồn thất thiệt. Ở Trung Quốc, hành vi tung tin sai sự thật về dịch bệnh bị phạt tiền, giám sát công cộng hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm nếu gây hậu quả nghiêm trọng. Ở Hàn Quốc, Tổng thống Moon Jae-in tuyên bố việc lan truyền thông tin bịa đặt về dịch bệnh là “hành vi phạm tội nghiêm trọng”. Trong khi đó, ở Malaysia, Chính phủ đã bắt giữ 6 người vì đăng tải thông tin sai lệch về virus Corona. Cảnh sát Iran cũng bắt giữ một người vì đăng tải video giả mạo, loan tin một bệnh nhân COVID-19 nhập viện lên mạng xã hội. Tại Anh, một “đơn vị kiểm soát thông tin sai lệch” đã được thành lập nhằm tiến hành xác định tin giả về COVID-19 và liên lạc với các doanh nghiệp truyền thông để loại bỏ nó.
“Dân giàu, nước mạnh” - đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
“Dân giàu, nước mạnh” - tức là đời sống nhân dân giàu có, xã hội phát triển tốt đẹp, thực lực tổng hợp quốc gia lớn mạnh. Giá trị “dân giàu, nước mạnh” yêu cầu chúng ta lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, đề cao mức sống bình quân của nhân dân trở thành mục tiêu chủ yếu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội hàm của “dân giàu, nước mạnh” bao gồm những đặc trưng cụ thể sau:
Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội cần có lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho nhân dân có mức sống cao về đời sống vật chất và phong phú về đời sống tinh thần. Chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội, cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Qua 35 năm đổi mới, Việt Nam đã bước đầu thực hiện được mục tiêu trên con đường phát triển đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hướng tới sự giàu có của toàn thể nhân dân. Đây chính là điểm đặc sắc và là bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Kiên trì đường lối phát triển liên tục, hài hòa và lành mạnh. Yêu cầu đặt ra là chúng ta cần khai thác các tiềm năng, thế mạnh, lợi thế quốc gia, khắc phục những điểm yếu, hạn chế để sự phát triển diễn ra liên tục, hài hòa, tránh phát triển thiếu bền vững, đứt đoạn. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, song cũng có một số vấn đề đặt ra. Tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực chưa bền vững; còn có khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi; chưa giải quyết được hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội…
Sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn mạnh. “Dân giàu, nước mạnh” là chỉ sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng lớn mạnh. Sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới là lấy thực lực kinh tế làm cơ sở cạnh tranh sức mạnh tổng hợp. Giàu mạnh về kinh tế là cơ sở sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời, giàu mạnh cũng yêu cầu sức mạnh chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục; nghĩa là bao gồm cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, mới có thể khiến cho đất nước hướng tới giàu mạnh toàn diện. Chúng ta cần đề ra chiến lược phát triển ưu tiên cho sức sáng tạo của khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới thể chế văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; tăng cường xây dựng tư tưởng, đạo đức; đề cao các giá trị đạo đức tốt đẹp; làm phong phú và phát triển chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, nâng cao sức ảnh hưởng quốc tế và vị thế đất nước; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đẩy mạnh quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.