Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

Đau đáu lời dặn "Trước hết nói về Đảng" trong Di chúc

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Trước khi đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Hồ Chí Minh đã dành để “trước hết nói về Đảng” (1) và “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân" (2). “VIỆC CẦN PHẢI LÀM TRƯỚC TIÊN LÀ CHỈNH ĐỐN LẠI ĐẢNG” Từ rất sớm, từ tiên liệu về sự vận động của Đảng trong quá trình phát triển và sự biến động của tình hình, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là tất yếu khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Qua đó, góp phần phòng và chống bệnh choáng ngợp, tự mãn, quan liêu, ngày càng rời xa nhân dân của người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong Đảng và các cơ quan công quyền - những người mà theo Hồ Chí Minh, “trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, nhưng đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác mà biến thành người có tội với cách mạng”… Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng chỉ có thể chắc chắn, vững mạnh, trở thành đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, chỉ giành và giữ được vai trò lãnh đạo cách mạng khi thường xuyên tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Để xứng đáng là vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng phải tự xây dựng thành “một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải “suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân”. Đó là trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn mà muốn hoàn thành, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải vừa ra sức nâng cao năng lực trí tuệ ngang tầm nhiệm vụ lịch sử vừa phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất; nghiêm túc thực hiện chế độ tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, trau dồi đạo đức cách mạng và gắn bó mật thiết với nhân dân, để nhân nguồn sức mạnh của Đảng. Vì thế, từ khi chuẩn bị đến sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam; không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính đảng Mácxit chân chính; đồng thời, coi đó là một quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển của Đảng trong tiến trình phát triển của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Và không phải ngẫu nhiên, trong Di chúc, Hồ Chí Minh lại căn dặn, để Đảng trong sạch, chân chính, vững mạnh, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là vì: Một là, đoàn kết được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động để chiến thắng kẻ thù xâm lược, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Vì đoàn kết là “một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, nên mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm. Hai là, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi", vì dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội. Dân chủ trong Đảng là phát huy quyền làm chủ của đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ hết ý kiến của mình, vì thế, mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải gương mẫu thực hành dân chủ. Song dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật của Đảng và kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ; thực hành dân chủ có tác dụng giải phóng, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân; do đó, cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, phải phát huy vai trò của nhân dân trong mọi lĩnh vực và đó là "cái chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn". Tuy nhiên, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của đảng viên, của nhân dân phải dưới sự lãnh đạo của Đảng, để bảo đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; để vừa loại bỏ được tình trạng độc đoán, chuyên quyền trong lãnh đạo vừa tránh rơi vào hiện tượng vì "sợ" mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng, hoặc dân chủ quá trớn. Ba là, thường xuyên, nghiêm chỉnh "tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng". Nguyên tắc quan trọng này phải được thực thi thường xuyên, liên tục, nghiêm túc, thực chất để phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, để bảo đảm dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt Đảng, trong tự phê bình và phê bình: một mặt, cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình và cấp dưới; mặt khác, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để trên "tình đồng chí thương yêu lẫn nhau". Bốn là, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (3). Khẳng định vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền "là đạo đức, là văn minh", Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, “ra sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác để cùng tiến bộ... Với Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đó là một sự nghiệp rất vẻ vang song vô cùng khó khăn, gian khổ, do vậy “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải "thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" theo lời Người dặn chính là để rèn mình, chống thói hư tật xấu trong mình như tham ô, lãng phí, quan liêu, tham nhũng, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. để xứng đáng với vai trò tiền phong. Thực hiện được 4 điều Hồ Chí Minh trăn trở, căn dặn trong Di chúc chính là góp phần “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, “xứng đáng là người lãnh đạo”, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mẫu mực về tấm gương đạo đức cách mạng và tầm cao năng lực trí tuệ nhằm quy tụ, lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước bền vững. Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân,v.v.. Hồ Chí Minh còn luôn là một tấm gương mẫu mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn thống nhất giữa nói và làm. Một Hồ Chí Minh hết lòng yêu thương nhân dân, luôn vui niềm vui của đồng bào, đồng chí, buồn nỗi buồn của áp bức, bất công; chỉ vui trọn vẹn khi không còn chiến tuyến, khi không còn chiến tranh đã luôn làm ấm lòng những người xung quanh mình. Hồ Chí Minh - con người và nhân cách vĩ đại đã từng được suy tôn là “một hiền nhân” là người đã thực hiện trọn vẹn những điều vốn là khát vọng lâu đời được nêu trong sách Luận ngữ: “Đem lại sự nghỉ ngơi cho người già, đem lại lòng tin cậy cho bầu bạn, đem lại tình thương yêu cho trẻ nhỏ”(4) - không chỉ thuộc về hiện tại mà Người còn thuộc về tương lai cả trong ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động. DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG Quán triệt những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: "Chúng ta cần những Đảng có liên hệ thực tế thường xuyên với quần chúng và biết lãnh đạo những quần chúng đó”(5) và “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, trong 89 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thành tựu về mọi mặt, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập. Đất nước đã vượt qua khó khăn, thách thức; đã đạt được những thành tựu to lớn, giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng - an ninh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày càng khẳng định được vị thế trong khu vực và trên trường quốc tế. Cùng với đó, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả.Đảng đã khẳng định được vị thế là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội và đó chính là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục. Sự thật là, bên cạnh những cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, chuyên quyền, địa phương chủ nghĩa, tham nhũng, vô kỷ luật, coi thường phép nước, tham nhũng, lãng phí, kèn cựa địa vị, bè phái, chạy chức, chạy quyền, độc đoán, vi phạm kỷ luật, hối lộ và các loại tiêu cực khác không những chưa bị chặn đứng mà biểu hiện ngày càng nghiêm trọng hơn… Bộ phận "mọt dân" đó đã trở thành “phụ mẫu” của nhân dân, làm mất uy tín, danh dự của Đảng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên; làm mục ruỗng bộ máy Đảng, Nhà nước từ bên trong, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và các cơ quan công quyền. Đảng là đội tiên phong, đại biểu cho ý chí, quyền lợi của giai cấp công nhân và của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam, cho nên xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là công việc nội bộ của Đảng mà còn là trách nhiệm của nhân dân. Khi nhân dân đã tin yêu giao phó vị trí lãnh đạo độc tôn cho Đảng, khi mà sự mạnh hay yếu, mất hay còn của Đảng có quan hệ đến vận mệnh của đất nước, của nhân dân, thì ở mọi nơi, mọi lúc, mọi thời điểm, Đảng đều cần phải dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn mình để luôn mạnh khỏe, chắc chắn, cách mạng. Nhân dân là nguồn sức mạnh của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu của Đảng và nhân dân có trọng trách xây dựng Đảng của mình trong sạch, vững mạnh. Vì thế, gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng luôn là nguyên tắc xây dựng Đảng, được khẳng định trong các Cương lĩnh và nghị quyết của Đảng. Để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, để những trăn trở, tâm nguyện của Hồ Chí Minh trong Di chúc được thực hiện sinh động trong thực tiễn, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thường xuyên, liên tục phải chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, nghiêm túc, quyết liệt gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với quy định về những điều đảng viên không được làm, với các quy định nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là Quy định 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, để phòng và chống nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Coi đó là giải pháp đột phá, là điều kiện tiên quyết để làm trong sạch Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Thứ hai, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong mỗi tổ chức cơ sở Đảng, trong sinh hoạt Đảng, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng. Khắc phục tình trạng trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng"; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Thứ ba, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để giám sát cán bộ, đảng viên, để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Thực hiện di huấn của Hồ Chí Minh "phải thực hành dân chủ rộng rãi", bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ xã hội được thực hiện ở các cấp, các ngành, các địa bàn, các lĩnh vực; để mỗi người dân là chủ, làm chủ trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Theo đó, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Trong đó, "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát" phải được thực hiện nghiêm túc, triệt để để nhân dân thực hiện tốt hơn quyền dân chủ của mình. Hướng về cơ sở, khắc phục tình trạng "quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân". Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân; khắc phục biểu hiện suy thoái "không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao". Đặc biệt, đẩy mạnh phòng và chống tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, tham vọng chức quyền, tìm mọi cách để tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân không lành mạnh; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. Đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những con "sâu mọt" tham ô, tham nhũng... gây thất thoát tiền bạc và tài sản của nhân dân. Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, đổi mới và làm phong phú các chuyên trang, chuyên mục, các giải thưởng liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đến việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ Trung ương xuống đến địa bàn cơ sở. Đồng thời, lựa chọn, xây dựng và nhân rộng các gương điển hình trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhân những hạt giống đỏ trong vườn hoa việc tốt, để tạo sức lan tỏa, lôi cuốn từ những tấm gương người thực việc thực giản dị trong cuộc sống đời thường mà ý nghĩa nhân văn lớn lao, để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng như Hồ Chí Minh đã căn dặn./.

Tác động của lợi ích nhóm tiêu cực đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viêná

Lợi ích nhóm tiêu cực hay thường gọi là “lợi ích nhóm” tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tính chất nguy hại nhất của nó là làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nhận diện rõ tính chất, mức độ nguy hại của “lợi ích nhóm” để sớm có chủ trương, giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. “Lợi ích nhóm” là một thuật ngữ đang được nhắc đến nhiều trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI cũng như khóa XII và hiện nay được dùng khá phổ biến. Có nhiều quan niệm khác nhau về “Lợi ích nhóm”, theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho rằng: “Lợi ích nhóm là một tập thể gồm nhiều cá nhân, tổ chức cùng chia sẻ một mối quan tâm (lợi ích, mục đích) chung và cùng nhau thúc đẩy các mục tiêu đó bằng cách tác động vào các chính sách của chính phủ, thông qua vận động hành lang để tạo ra hay thay đổi những luật lệ và cách thực thi có lợi cho phe nhóm mình”(1). NHỮNG TÍNH CHẤT NGUY HẠI CỦA “LỢI ÍCH NHÓM” Lợi ích nhóm tiêu cực tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng tính chất nguy hại nhất của nó là làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, biểu hiện: Thứ nhất, lợi ích nhóm tiêu cực làm đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy vì lợi ích nhóm tiêu cực, một tập thể cán bộ, đảng viên trong một tổ chức đảng có thể đánh mất đi tính chiến đấu, đồng lõa làm trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên. Chưa kể đến sự “tấn công” của lợi ích nhóm tiêu cực vào đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng lợi ích cục bộ, bản vị, tham nhũng, hối lộ… làm thoái hóa, biến chất, làm mất vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên. Thứ hai, lợi ích nhóm tiêu cực thúc đẩy sự suy thoái về tư tưởng chính trị, sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thờ ơ trước đời sống chính trị và vô cảm trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự suy thoái này làm giảm sút sức chiến đấu của đảng viên, dẫn đến chuyển hóa về tư tưởng như: đòi xét lại, xuyên tạc và tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhóm lợi ích tiêu cực hoạt động càng mạnh, sự chia bè, kéo cánh, cục bộ, bản vị… sẽ làm sự suy thoái tư tưởng càng mạnh. Đây cũng chính là “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Tính nguy hại của lợi ích nhóm tiêu cực này luôn đi ngược lại với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân; những sai phạm về quản lý đất đai ở Thủ Thiêm của một số cán bộ, đảng viên vừa qua là bài học đắt giá và là lời cảnh tỉnh cho mọi cán bộ, đảng viên. Thứ ba, lợi ích nhóm tiêu cực làm suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Lợi ích nhóm hoạt động ngầm, tác động nhiều chiều cũng làm cho lối sống ngay thẳng, trung thực bị nhường chỗ cho lối sống thực dụng, giả dối, gian trá trong hoạt động của cán bộ, đảng viên. Lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, sử dụng đồng tiền lấn át tình cảm đồng chí. Các hiện tượng tiêu cực trước đây hoàn toàn xa lạ đối với cán bộ, đảng viên như bồi dưỡng, lại quả, phong bì, tiêu cực phí thì nay đã trở thành quen thuộc trong đời sống xã hội. Có không ít đảng viên đã trở thành trung gian thực hiện các phi vụ làm ăn mờ ám và béo bở, trở thành cầu nối cho các tệ nạn chạy chức, chạy quyền. Tệ hại nhất của sự suy thoái là tham nhũng về quyền lực, tham nhũng chính trị; nó bộc lộ sự thoái hóa, biến chất của người cán bộ, đảng viên, thiếu trong sạch trong bộ máy. Nếu như trước kia, sự suy thoái, tham ô, tham nhũng của từng cá nhân đảng viên là sự hư hỏng của một con người, diễn ra lẻ tẻ thì hiện nay, khi cá nhân đảng viên sa vào lợi ích nhóm tiêu cực sẽ kéo theo sự hư hỏng của một nhóm người, tập thể người, sức tàn phá của nó sẽ rất lớn. Trước đây, trong thời bao cấp, các vụ án tham nhũng chỉ có cá nhân phạm tội hay một số ít người phạm tội thì ngày nay, cả một tập thể người, nhóm người phạm tội, nhóm lợi ích tiêu cực đã chuyển thành nhóm phạm pháp. Ngoài ra, lợi ích nhóm tiêu cực cũng hình thành mâu thuẫn trong xã hội, sự tích cực hoạt động của các nhóm sẽ làm cho đảng viên tham gia nhóm lợi ích tiêu cực này hoặc nhóm khác, dần dần trở thành bè cánh và phe phái trong Đảng, tạo thành mâu thuẫn, mất đoàn kết. Từ đó, lợi ích nhóm càng có cơ sở để hoạt động, nó sẽ phá hoại Đảng ta một cách ghê gớm và sâu sắc nhất. PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN KỊP THỜI Tác động tiêu cực của lợi ích nhóm đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên thời gian qua với những dạng khác nhau ở các cấp độ, mức độ khác nhau trong các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, tuy chưa nhiều, chưa phổ biến nhưng rất nguy hại, cần sớm có chủ trương, giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Theo chúng tôi, để ngăn chặn tác động của nó cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính sau đây: Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu về tác động tiêu cực của lợi ích nhóm đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó nâng cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, quy định, quyết định cũng như tổ chức thực hiện đúng công tác tổ chức, cán bộ; khắc phục triệt để lợi ích nhóm trong công tác tổ chức, cán bộ thời gian qua. Nâng cao nhận thức, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm cho cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế của Nhà nước về tác hại của lợi ích nhóm, để từ đó thực hiện đúng, tốt chức năng tham mưu trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chế độ của Đảng, Nhà nước về công tác tổ chức, cán bộ. Hai là, phải dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Trong công tác cán bộ nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật và bổ nhiệm cán bộ, vì đó là những khâu hết sức quan trọng trong quá trình phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc, quản lý và giám sát cán bộ. Cần quy định tiêu chuẩn chức danh chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đây là việc làm rất cần thiết trong công tác cán bộ, bởi nó là cơ sở để tạo ra cơ chế minh bạch. Đồng thời, phải lượng hóa rất cụ thể tiêu chuẩn, tránh chung chung, nhất là tình trạng hiểu và áp dụng thế nào cũng được, thế nào cũng đúng, bị lợi dụng để phục vụ cho những quan hệ, ý đồ cá nhân không lành mạnh mà mục đích là vì “lợi ích nhóm”, “chạy chức, chạy quyền” để trục lợi. Thực hiện nghiêm túc quy chuẩn cán bộ và quy trình bổ nhiệm chặt chẽ để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, có trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Khi xây dựng được bộ quy chuẩn đánh giá và sử dụng cán bộ một cách khoa học, chặt chẽ, có giá trị như một bộ luật mà các tổ chức, cơ quan, đơn vị đều phải làm theo sẽ hạn chế được nhiều trường hợp bổ nhiệm tùy tiện những người trong gia đình, dòng họ, thân tộc, quen biết vào vị trí lãnh đạo hoặc các vị trí công tác quan trọng. Ba là, gắn cuộc đấu tranh chống lợi ích nhóm tiêu cực với việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Tăng cường sức chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), làm cho công tác tư tưởng luôn chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao, góp phần củng cố sự đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân. Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gắn với thực hiện tốt việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong sinh hoạt đảng, cần tập trung đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, thực dụng cùng những biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực chất của lợi ích nhóm tiêu cực là chủ nghĩa cơ hội, điều mà V.I.Lênin từng nhắc nhở: “Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân”(2) dù cho bản thân đảng có “phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(3). Thường xuyên phê bình và tự phê bình; có thái độ thành khẩn, trung thực, tôn trọng sự thật, lẽ phải, không giấu giếm, bao che, thổi phồng hoặc bóp méo sự thật. Tăng cường công tác bảo vệ Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và đưa những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng. Xây dựng và hoàn chỉnh các chế độ quản lý cán bộ, đảng viên, trước hết là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Sự lỏng lẻo, dễ dãi trong quản lý mối quan hệ xã hội, nhất là mối quan hệ của cán bộ lãnh đạo, quản lý với giới kinh doanh hiện nay là mảnh đất màu mỡ cho sự lôi kéo, làm quen, cấu kết giữa người có chức, có quyền với giới kinh doanh, hình thành những nhóm lợi ích bất chính, ảnh hưởng xấu đến sự lãnh đạo của Đảng theo đúng quyết tâm chính trị của Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XII đó là: “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(4).

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và công tác chính trị, tư tưởng

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khát vọng về một đất nước Việt Nam “độc lập - tự do - hạnh phúc”, Đảng Cộng sản Việt Nam hiệu triệu khơi dậy lòng yêu nước của lớp lớp người Việt Nam vùng lên lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân; chiến đấu, lao động và học tập quên mình; không quản ngại gian khổ, hy sinh, giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong cuộc chiến đấu kiên cường bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể và thực tiễn phát triển của Việt Nam, phù hợp với quy luật và xu thế phát triển chung của nhân loại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới mà trước hết là “đổi mới về tư duy kinh tế”, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Công cuộc đổi mới trở thành sản phẩm sáng tạo, trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhân dân Việt Nam mang tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn trên con đường xây dựng CNXH mang bản sắc Việt Nam, của Việt Nam và do nhân dân Việt Nam thực hiện. Đổi mới đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, có những vấn đề thậm chí trước đây chưa từng có. Đó là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là một quá trình đổi mới sâu sắc cả về phương diện tư duy, nhận thức lý luận, cả về đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và công tác chính trị, tư tưởng của Đảng. Từ một nền kinh tế khép kín, tự cấp tự túc, bị bao vây, cô lập, cấm vận, Việt Nam đã tiến hành mở cửa, trở thành thành viên của ASEAN, APEC, WTO và nhiều tổ chức quốc tế khác, tham gia nhiều định chế thương mại tự do, trong đó có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đồng thời, mở rộng hội nhập ra tất cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội,v.v.. Từ chỗ chỉ là thành viên tham gia các định chế quốc tế, Việt Nam đã chủ trương “chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương”, trở thành “đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Từ chỗ phủ nhận cơ chế thị trường (KTT) trong thời kỳ trước Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất nhận thức rằng, KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại, muốn xây dựng CNXH thành công không thể không phát triển KTTT định hướng XHCN. Đây cũng chính là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng trong tiến trình lãnh đạo công cuộc đổi mới. KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT; là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế(1). Định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện nhất quán trên các phương diện của nền kinh tế - xã hội. Trong mục tiêu phát triển, đó là: lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong phương thức phát triển, đó là phát triển bền vững, bao trùm và hội nhập. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Trong quản lý nền kinh tế, đó là phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, mọi người dân được tham gia và mọi người dân được hưởng lợi; đảm bảo vai trò quản lý nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân cũng là một quá trình đổi mới tư duy táo bạo. Vượt qua những tư duy cố hữu, thậm chí có ý kiến cực đoan muốn xóa bỏ kinh tế tư nhân, Đảng đã xác định kinh tế tư nhân có vị trí “quan trọng lâu dài”, “bộ phận cấu thành quan trọng” trong nền KTTT định hướng XHCN. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát rằng, kinh tế tư nhân - “một động lực quan trọng của nền kinh tế”, là bước đột phá về nhận thức so với giai đoạn trước, khi Việt Nam chỉ coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế”. Những thay đổi nhận thức như vậy đã lan toả mạnh mẽ trong đời sống xã hội, tạo ra một sức sống mới cho nền kinh tế. Từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỷ USD và GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 250 USD trong những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng đói nghèo, chuyển sang thực hiện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đến năm 2018, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 245 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 2.580 USD, khoảng cách thu nhập giữa Việt Nam với các nước đã được thu hẹp đáng kể. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 14,8%; tỷ trọng các khu vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên 85,2%. Đặc biệt, tỷ lệ người nghèo đã giảm mạnh, từ mức trên 60% vào những năm đầu đổi mới xuống dưới mức 7% hiện nay. Nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá có triển vọng tốt, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Nếu duy trì được đà tăng trưởng như 3 thập niên qua thì đến năm 2045 - kỷ niệm mốc lịch sử 100 năm Việt Nam độc lập (1945 - 2045), quy mô GDP của Việt Nam ước sẽ đạt khoảng 2.500 tỷ USD, còn thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 18.000 USD. Có được những kết quả ấn tượng trên là nhờ Đảng đã định hướng ngày càng rõ mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Từ chỗ tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và lực lượng lao động có tiền công thấp, Đảng đã chủ trương chuyển sang thực hiện phát triển kinh tế bao trùm và bền vững, tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, hoàn thiện mô hình tăng trưởng đồng bộ trên cả phương diện kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và kinh tế - sinh thái, thúc đẩy phát triển trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế. Càng đi sâu vào quá trình đổi mới, đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam càng ý thức được rằng, cần phải chú trọng lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng ngay trong mỗi bước đi và trong từng chủ trương, chính sách, nhằm tạo ra sự thống nhất về hành động với quyết tâm cao trong toàn hệ thống chính trị. Xuất phát từ yêu cầu phát triển trong giai đoạn 2016-2020, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Uy tín của Đảng; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với sự nghiệp cách mạng; sự bền vững, ổn định của chế độ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa muốn thành công đều bắt nguồn từ kết quả của các công tác này. Trước hết, sự lãnh đạo của Đảng vững vàng bằng lý luận và trên nền tảng lý luận đúng đắn - coi đây là linh hồn của công tác lãnh đạo về chính trị, tư tưởng của Đảng. Đảng đi tiên phong trong việc thiết kế, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho dân tộc. Lý luận của Đảng có vững, quyết tâm chính trị mới cao; việc xây dựng và ban hành đường lối, chủ trương mới chắc; công tác tuyên truyền, vận động trong nhân dân mới thông; việc bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối của Đảng mới kiên định và kiên quyết. Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và công tác chính trị, tư tưởng dựa vào lý luận và bám sát thực tiễn. Trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, Đảng coi trọng tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, tháo gỡ những vướng mắc trong nhận thức tư tưởng, phát hiện ra những kinh nghiệm hay, những mô hình tốt, mạnh dạn, chủ động kịp thời có chủ trương xử lý hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn; giải quyết tốt, đảm bảo hài hòa các mối quan hệ lớn về chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường, v.v.. phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn sinh động luôn thay đổi không ngừng trong bối cảnh mới của thế giới, khu vực và đất nước, Đảng lãnh đạo đổi mới tư duy phát triển Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển KTTT, hội nhập quốc tế, phát triển bao trùm và bền vững,v.v..; khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, do con người và giải phóng con người,v.v.. phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và với bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng thông qua Nhà nước phải được thể chế hóa, trước hết, phải đổi mới có hiệu quả tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là một trong những điểm mới, nổi bật trong việc tăng cường sự lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng và nằm trong số 6 nhiệm vụ trọng tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định từ đầu nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XII. Đảng lãnh đạo với quyết tâm cao để thực hiện thắng lợi chủ trương đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị một cách khoa học, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với tình hình mới từ Trung ương tới địa phương, các ngành, các cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây dựng một tổ chức bộ máy tinh gọn, khoa học; tăng cường thể chế hóa việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá dựa trên hiệu quả công việc và sản phẩm đầu ra có định lượng để đưa nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống. Đặc biệt, Đảng tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, thể hiện quyết tâm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, cho cả hệ thống chính trị vận hành đồng bộ, có kỷ cương, kỷ luật nghiêm minh. Đóng vai trò hạt nhân của hệ thống chính trị, Đảng không bao biện, làm thay mọi việc cho Nhà nước, mà thông qua lãnh đạo bộ máy chính quyền nhà nước để thể chế hóa các chủ trương, đường lối và thực hiện sự lãnh đạo của mình. Đảng không đứng trên ra lệnh, không hoàn toàn đứng bên cạnh để giám sát mà Đảng “hóa thân” vào Nhà nước. Đây là đặc trưng nổi bật, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, khoa học và hiệu quả trong phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Xây dựng Đảng vững mạnh gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, theo những chuẩn mực quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Đồng thời, trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền thì việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và sự tham gia rộng rãi của quần chúng nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội là cần thiết và hết sức quan trọng. Thứ ba, sự lãnh đạo của Đảng trí tuệ, tinh thông bởi đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước. Tư duy, trí tuệ và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng nằm trong và thể hiện ở đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người gương mẫu, đi đầu trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, tư tưởng của Đảng trong nhân dân được thực hiện không gì tốt bằng sự gương mẫu của các cán bộ, đảng viên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.(2) Do vậy, Đảng luôn chú trọng công tác xây dựng và phát triển cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng - coi đây là “then chốt” của “nhiệm vụ then chốt”. Trong thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ; lựa chọn đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo vị trí thích hợp, đúng quy trình, quy định, đúng năng lực sở trường. Đảng vừa bổ sung, hoàn thiện các cơ chế đánh giá, giám sát cán bộ, quan tâm hơn tới chính sách đãi ngộ và tiền lương; vừa yêu cầu phát huy vai trò nêu gương của người cán bộ - đảng viên và cán bộ có chức vụ càng cao lại càng phải gương mẫu; đồng thời, chú ý phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ, trọng dụng nhân tài. Thứ tư, sự lãnh đạo của Đảng luôn bền chặt, gắn bó mật thiết với nhân dân. Tư tưởng “dân là gốc” là truyền thống đạo lý muôn đời của dân tộc Việt Nam luôn được các bậc tiền nhân vận dụng trong quá trình dựng nước và giữ nước. Trong công việc của Đảng, của Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.(3) Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được rằng: phải luôn vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng lấy lợi ích của nhân dân để định hướng mục tiêu lãnh đạo; lấy niềm tin của nhân dân làm chỗ dựa cho hành động; và lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo kết quả. Người dân ở vị trí trung tâm ở mọi khâu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo mọi người dân tham gia, mọi người dân hưởng lợi từ quá trình phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là thuộc tính của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc xây dựng đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn liền với sự đồng thuận trong nhân dân. Đảng vừa lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nhất là những ý kiến giám sát, phản biện mang tính xây dựng; vừa tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, đồng thời quyết liệt đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối của Đảng, xử phạt nghiêm minh các hành vi chống phá chế độ, vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo đất nước phát triển bền vững, bao trùm và hội nhập dựa trên đổi mới sáng tạo; đổi mới đồng bộ, hài hòa thể chế kinh tế với thể chế chính trị và thể chế xã hội mà trọng tâm là hoàn thiện thể chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng Đảng vững bằng lý luận, mạnh bằng thể chế, trí tuệ bằng đội ngũ cán bộ có đức, có tài và bền chặt với nhân dân là những yêu cầu tiên quyết, điều kiện thành công cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong tình hình mới./.

“TỰ DIỄN BIẾN” “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀ SỰ SUY THOÁI

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng ngày càng tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Điều đó khiến cho vai trò tiên phong, gương mẫu của họ ngày càng giảm, không đủ “sức miễn dịch”, thiếu “sức đề kháng” trước những tác động tiêu cực trong xã hội, đồng lõa với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với cách mạng Việt Nam. Đó còn là biểu hiện rõ nhất của bản lĩnh chính trị không vững vàng, từ chỗ ban đầu là mơ hồ ảo tưởng, hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng dẫn đến hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội… Cụ thể hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn biểu hiện ở những việc sẵn sàng tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu ly khai, chống đối, lý luận phản động; phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật… Những biểu hiện trên cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra từ những năm đầu của thế kỷ XX, dưới các biểu hiện khác nhau của những người đảng viên trong các Đảng dân chủ - xã hội Tây Âu như: tư tưởng cơ hội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khoác áo chủ nghĩa Mác nhưng chống chủ nghĩa Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận chủ nghĩa Mác… Đó chính là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của giai cấp tư sản. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ những biểu hiện: “Thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng… mang nặng chủ nghĩa cá nhân… không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước… hững hờ như những người không có lý tưởng,… không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm”(1); “ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác… tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người… coi thường những quyết định của tổ chức,… coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài… chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình… phô trương, lãng phí… sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(2), “biến thành người có tội với cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái. Để khắc phục các biểu hiện, hiện tượng đó, Người khẳng định phải: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và mỗi “người đảng viên chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(3).

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ LÀ SỰ THỂ HIỆN “TÍNH ĐẢNG”

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, bản lĩnh chính trị là phẩm chất tuyệt đối cần thiết; là sự thể hiện “tính đảng”; là trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều phải: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(4); “quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân…, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai cấp”(5). Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên thể hiện ở sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ... Bản lĩnh chính trị của Đảng còn được thể hiện trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên; thể hiện ở sự vững vàng, kiên định, không dao động trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng và của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá chế độ của các thế lực thù địch, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà có. Đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn phong trào cách mạng của mỗi người. Khi mỗi người, trong mọi thời điểm thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, luôn thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, có tinh thần vững vàng, niềm tin chắc chắn và sự kiên định thì “phú quý không dụ dỗ được ta, nghèo khổ không lay động được ta, oai lực không dọa nạt được ta. Mà khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được, việc gì chúng ta cũng làm được”(6).

PHẢI RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, v.v.. Trong đó, có “không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(7). V.I.Lênin từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta và “không một ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng nếu họ không tự làm mất uy tín của họ”(8). Vì vậy, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Theo đó, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp căn cốt sau: Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”(9). Vì thế, học tập lý luận chính trị, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị là công việc quan trọng, cần thiết, cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên. Trau dồi, bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng... sẽ giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi với hành”. Đa dạng hóa các phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao khả năng “tự miễn dịch, tự đề kháng” trước những tác động tiêu cực, trái chiều. Hai là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân. Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phát huy vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường “sức đề kháng” chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị phải luôn gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo phương châm mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Trong đó, gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết và đưa vào tiêu chí thi đua, đánh giá xếp loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu đi liền với nghiêm túc phê phán những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Tạo không khí thi đua thiết thực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở từng cơ quan, địa phương, đơn vị. Toàn cảnh Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Toàn cảnh Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Ba là, đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, 6, 7 khóa XII. Bố trí, sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng lúc, đúng năng lực, sở trường, đúng việc, đúng người. Lựa chọn và tìm được người tài đức xứng đáng với sự tin tưởng của tập thể và niềm tin nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, luân chuyển, bố trí cán bộ. Thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đổi mới cơ cấu, chức năng của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại theo hướng thiếu cái gì đào tạo, bồi dưỡng cái ấy nhằm nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ, đảng viên để làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn. Tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết. Khắc phục tình trạng cục bộ, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và sự khép kín trong từng vùng, ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn. Hoàn thiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt những người trong Đảng hay ngoài Đảng, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của tất cả các cấp, ngành trong hệ thống chính trị. Bốn là, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng - nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở - để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cán bộ, đảng viên phải tiên phong gương mẫu, vững vàng trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ, chăm lo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; gắn nâng cao chất lượng ra nghị quyết với tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Chủ động khắc phục những biểu hiện tiêu cực, sai trái, hạn chế, khuyết điểm. Kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, hành động thù địch để bảo vệ nền tảng, đường lối, quan điểm của Đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; thực hiện Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm; tự soi, tự sửa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có cơ chế để nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí truyền thông... trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết, nghiêm minh xử lý đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm và những tổ chức đảng yếu kém. Tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị, vai trò nêu gương của người đứng đầu trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Năm là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động triển khai các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa những hoạt động phá hoại chính trị nội bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp luôn nắm vững và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác này. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với xây dựng cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở an toàn, vững chắc về mọi mặt..

Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải bắt nguồn từ sức mạnh quần chúng nhân dân

 

Hiện nay trên không gian mạng một số thế lực thù địch ra sức tuyên truyền nói xấu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nào là công cuộc đó chỉ phục vụ một nhóm cán bộ lãnh đạo..  vậy chúng ta phải nhận thức rằng cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. Vì thế mối quan hệ máu thịt với nhân dân được Đảng ta xác định rõ và không ngừng củng cố./.

Tự do ngôn luận - một trong những quyền cơ bản của con người

     Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rõ: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, và không có giới hạn về biên giới”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Có thể nói, tự do ngôn luận là cơ sở quan trọng để thực hiện đầy đủ các quyền con người khác và gắn liền với quyền tự do biểu đạt, tự do hội họp, lập hội, tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như quyền tham gia quản lý các công việc của nhà nước và xã hội.

    Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận đã có sự biến đổi lớn. Internet và mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó đôi khi còn mạnh mẽ và nhanh chóng hơn cả báo chí truyền thống và các hình thức biểu đạt khác. Thực tế này đã đặt ra nhiều vấn đề về xã hội và pháp lý, trong đó có việc quản lý thông tin trên không gian mạng.

* Bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người*

     Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, đã nêu đậm các quyền cơ bản của con người và gắn quyền con người với quyền của dân tộc: "các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Người nhắc đến Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp để khẳng định rằng những giá trị quyền con người đó cũng phải được áp dụng cho mọi người dân, mọi dân tộc, kể cả ở các nước thuộc địa. Người dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng có quyền bình đẳng như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới.

    Những nỗ lực đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc trong nhiều thập kỷ của Việt Nam không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người, trong đó có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quyền được quyết định vận mệnh, con đường phát triển của mình. Chính vì vậy, thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam đã truyền cảm hứng, khích lệ cho cuộc đấu tranh của hàng chục quốc gia ở châu Phi, Mỹ La tinh trong những năm 1960, 1970.
    Vươn lên từ các cuộc chiến tranh, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân, mà trước hết là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải thiện, nâng cao hệ thống pháp luật về quyền con người. Việc thông qua Hiến pháp 2013 với một chương riêng về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân" và sau đó chỉ trong vòng 4 năm, thông qua hơn 90 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền con người, là những nỗ lực hết sức có ý nghĩa, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm trên thực tế quyền con người, quyền công dân. Cùng với những bước tiến đó là việc không ngừng phấn đấu hoàn thiện thể chế và tạo dựng cơ sở vật chất để bảo đảm tốt hơn quyền con người. Mọi chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội đều được xây dựng trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm, hướng về người dân và phục vụ người dân.
    Những nỗ lực đó đã mang lại những kết quả tích cực trong việc bảo đảm quyền con người, từ quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, đến quyền dân sự, chính trị, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương./.

Chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch

 


Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, việc nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay với công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch có mối quan hệ sâu sắc, chặt chẽ, thường xuyên; đóng vai trò quan trọng vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần vào công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch.

Vấn đề chính trị hiện nay là những biểu hiện, tình huống về đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức, hoạt động của Đảng; phẩm chất chính trị của cán bộ, đảng viên đang diễn ra, sẽ diễn ra làm suy giảm đoàn kết nội bộ, uy tín chính trị, sức mạnh của Đảng; đe dọa vị trí, vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đe dọa sự tồn vong của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng ta đã chỉ rõ: Trong thời gian tới, trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được triển khai thực hiện sâu sắc, toàn diện, hiệu quả; trong đó, việc nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện tốt. Nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay là nắm vững những dấu hiệu, biểu hiện đang diễn ra, xem xét, xác định tình huống đang có những “vấn đề chính trị” của cán bộ, đảng viên, đánh giá đúng để thực hiện các giải pháp phòng ngừa, giải quyết phù hợp. Những tình hình, tình huống của vấn đề chính trị hiện nay nếu không có những biện pháp giải quyết hữu hiệu sẽ diễn biến phức tạp, dẫn đến nguy cơ đe dọa sự sống còn của Đảng. Nắm vững và giải quyết các vấn đề chính trị hiện nay là một nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong thời kỳ mới là chú trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Các văn bản khác của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cũng chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Đây là một nhiệm vụ rất khó, vì vấn đề chính trị hiện nay là những vấn đề đang xảy ra, sẽ xảy ra và khó lường trước; những vấn đề thuộc về nội bộ của bản thân tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang, của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, là hoạt động chống đối, phá hoại công khai, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch bên ngoài nhằm gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Điều quan trọng nhất trong nắm vững và giải quyết các vấn đề chính trị hiện nay là chủ động nắm tình hình chính trị ở từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, khu dân cư. Mỗi tổ chức cơ sở đảng phải thực hiện đúng quy định về quản lý cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện những sai phạm để phòng ngừa, giáo dục, ngăn chặn,... đến bước cuối cùng mới là xem xét, giải quyết. Những năm qua, các cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ đã phối hợp với các cơ quan chức năng nắm và giải quyết một số vụ, việc liên quan đến cán bộ, đảng viên có vấn đề về chính trị; bổ sung kịp thời những thông tin, tình hình mới; những vấn đề có liên quan về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, đảng viên, tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận, xử lý một số vụ, việc bảo đảm đúng nguyên tắc, thẩm quyền, quy định và giữ gìn bí mật...

Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: Một là, âm mưu và hoạt động “tác động chuyển hóa” chính trị của các thế lực thù địch; hai là, sự “tự chuyển hóa” chính trị trong nội bộ. Trong đó, tác động chuyển hóa” đang trở thành một mũi tiến công mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để làm thoái hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy yếu, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cài cắm, móc nối, gây dựng cơ sở, chống “tác động chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thái độ chính trị của nội bộ theo chiều hướng hoài nghi, tiêu cực, phản động, ly khai, hình thành các quan điểm đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng. Nguyên tắc, yêu cầu bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, phòng, chống “tác động chuyển hóa” chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chủ yếu.

Mỗi tổ chức đảng cần ngăn ngừa, khắc phục, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người, tổ chức; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Cần bồi dưỡng, xây dưng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ để tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, tạo động lực, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế  - xã hội ở nơi này hay nơi khác nhằm kích động bất đồng, mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội.

Không thể xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân

 


Với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới, ngày nay, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn. Phê phán, bác bỏ các luận điệu sai trái đó cùng việc bảo vệ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn trên cơ sở khoa học là nhiệm vụ hết sức cấp thiết hiện nay.

C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã làm rõ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bởi đây là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại và hội đủ các yếu tố của một giai cấp lãnh đạo xã hội. Điều này không phải là mong muốn chủ quan của giai cấp công nhân hay nguyện vọng của C. Mác như một số luận điệu xuyên tạc. Sở dĩ giai cấp công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy là do có sự khác biệt với tất cả các giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật và hệ tư tưởng. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển từ nền đại công nghiệp gắn với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín, mang tính xã hội hóa cao. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, tinh thần hợp tác cao, là giai cấp duy nhất thống nhất được lợi ích cũng như nhận thức, tư tưởng và hành động trong xã hội, hội đủ những phẩm chất cần có của một giai cấp cách mạng, có năng lực lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp.

Từ ngày thành lập đến nay, dù đổi tên nhiều lần, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam không hề thay đổi bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người... Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng có nghĩa là khẳng định lập trường của Đảng ta là lập trường của giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến và xu thế phát triển của thời đại. Việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng luôn được Đảng ta khẳng định qua các kỳ đại hội, gần đây nhất là Đại hội XIII, với yêu cầu: Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự thống nhất quyền lợi giai cấp, nhân dân lao động và của cả dân tộc: Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam. Khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất.

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, điều đó đã được minh chứng trong thực tiễn hơn 91 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày nay, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo cách mạng, là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại. Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ có khả năng phát minh, cải tiến và áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa; trong điều kiện hiện đại, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại (?!)… Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (?!).

Họ ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. Rằng, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…

Đó là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện. Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề giảm đi, mà ngày càng trầm trọng, gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người giàu chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Điển hình là phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống phân biệt chủng tộc cuối tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ quả của sự phân cực giàu nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)... Sự thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn.

 

Nơi hội tụ ý Đảng lòng dân

 

“Quỹ Độc lập” và “Quỹ Vaccine” đều là những Quỹ được Chính phủ thành lập trong hoàn cảnh đất nước rơi vào tình thế khó khăn để huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Hai Quỹ ấy tuy ra đời trong bối cảnh khác nhau nhưng cùng là điểm hội tụ của ý Đảng - lòng dân.

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt là những khó khăn về kinh tế, tài chính: Quốc khố gần như trống rỗng, kinh tế kiệt quệ, Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp, ngân quỹ Chính phủ chỉ vẻn vẹn có 1,25 triệu đồng Đông Dương, nhưng trong đó có tới 580 nghìn đồng rách nát đang chờ tiêu huỷ, các khoản nợ của chính phủ bù nhìn, tay sai để lại lên đến 564 triệu đồng… Những khó khăn tài chính càng thêm chất chồng khi quân Tưởng ép chúng ta sử dụng tiền Quan kim, Quốc tệ. Tình hình đó đòi hỏi chính quyền cách mạng cần nhanh chóng có biện pháp bảo đảm tài chính tạo cơ sở vững chắc để có thể tiến hành các nhiệm vụ cách mạng quan trọng tiếp theo.

Đáp ứng đòi hỏi cấp bách của lịch sử, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương tổ chức “Tuần lễ Vàng” động viên nhân dân tình nguyện ủng hộ xây dựng “ Quỹ Độc Lập”. Đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng trong vận động mọi người dân yêu nước, tha thiết với nền độc lập của dân tộc tự nguyện đóng góp cho Tổ quốc, đưa cách mạng vượt qua khó khăn thử thách và tiếp tục giành thắng lợi to lớn.

Trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp “Tuần lễ Vàng”, Hồ Chủ Tịch nhấn mạnh: Muốn củng cố nền tự do độc lập, chúng ta cần sức hy sinh, phấn đấu của toàn quốc đồng bào, cần sức quyên góp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có. Từ đó có thể thấy đối tượng hướng tới của Đảng và Chính phủ cách mạng trong “Tuần lễ Vàng” là “toàn quốc đồng bào”, những người thực sự có trách nhiệm với vận mệnh dân tộc, trong đó trước nhất là những người giàu có, các nhà tư sản dân tộc yêu nước, những điền chủ có tinh thần cách mạng… Đây là sự cụ thể hoá quan điểm về lực lượng cách mạng của Đảng ta trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó khăn. Đồng thời, chủ trương này cũng có ý nghĩa quan trọng trong khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân lao động, chung sức đoàn kết cùng chính quyền cách mạng non trẻ khắc phục khó khăn. Với chủ trương nói trên, Đảng ta cũng đã tạo điều kiện để các nhà tư sản dân tộc yêu nước và những người giàu có trong xã hội có thể ủng hộ, giúp đỡ cách mạng; qua đó, vừa tạo cho họ niềm tin vào chính quyền mới, đồng thời đập tan những luận điệu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực phản động, tay sai.

Thực tế lịch sử cho thấy, “Tuần Lễ Vàng” đã thu được nhiều kết quả to lớn. Chỉ trong 1 tuần, từ ngày 17-24/9/1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” khá nhiều vàng, bạc, tiền Đông Dương: chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng. Lượng tiền, vàng mà nhân dân cả nước ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” là tiền đề tài chính quan trọng giúp Đảng và Chính quyền cách mạng tháo gỡ tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, tạo thế và lực để giải quyết từng bước các nhiệm vụ cách mạng tiếp theo. Quỹ Độc lập là một minh chứng cho thấy khi ý Đảng và lòng dân hội tụ, hòa làm một, mọi khó khăn sẽ được giải quyết, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sẽ từng bước được tháo gỡ.

Cho đến nay, Việt Nam đã bước vào đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4 với mức độ phức tạp hơn, quy mô lớn hơn nhiều so với các đợt dịch trước. Giải pháp quan trọng được Chính phủ đưa ra trong công tác phòng dịch đợt này ngoài việc tiếp tục áp dụng biện pháp 5K còn có vaccine. Trước tình hình đó, Ngày 26/5/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 779/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ Vaccine phòng Covid-19. Mục đích của Quỹ là để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng Covid-19 cho người dân. Quỹ Vaccine là sự tiếp tục huy động sự đóng góp của nhân dân chung tay cùng Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong cuộc chiến chống đại dịch.

Khi đại dịch Covid-19 bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, nhân dân Việt Nam một lần nữa thể hiện sự đoàn kết, đồng sức, đồng lòng chung tay chống dịch. Ngoài việc thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo khuyến cáo của Bộ Y tế, nhân dân cả nước cùng đông đảo kiều bào Việt Nam ở nước ngoài đã đóng góp công sức, tiền bạc, hiện vật cho công tác phòng, chống dịch. Với tấm lòng tương thân tương ái, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, ở nhiều nơi trên khắp cả nước đã xuất hiện những ATM gạo, ATM mì, ATM khẩu trang... Không chỉ các cơ quan, tổ chức tích cực đóng góp mà cảm động hơn có những bà mẹ Việt Nam anh hùng đóng góp từng đồng trợ cấp chắt chiu, những em nhỏ đóng góp số tiền tiết kiệm từ tiền ăn sáng... Sự đóng góp ấy đã tỏa sáng tinh thần đoàn kết, đùm bọc, sẻ chia của nhân dân Việt Nam trong khó khăn, hoạn nạn, giúp cho Việt Nam trở thành điểm sáng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 trong ba lần trước đây.

Tuy cuộc chiến phía trước còn nhiều cam go, khốc liệt nhưng Quỹ Vaccine không chỉ là quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức dân mà còn là một minh chứng không gì thuyết phục hơn cho sự chung tay, góp sức của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ trong những thời khắc cam go, thử thách. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để nhân dân Việt Nam đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược và sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Quỹ Độc lập và Quỹ Vaccine là những quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức mạnh của nhân dân, làm tỏa sáng giá trị Việt Nam. Ý Đảng - lòng dân đã hòa làm một và trở thành động lực quan trọng giúp dân tộc ta đã và sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách, xây dựng đất nước ngày càng to đẹp hơn.

 

 

Chúng ta sẽ chiến thắng Covid - 19

 


Trong bối cảnh thế giới, khu vực còn nhiều khó khăn, nền kinh tế đất nước cũng vất phải nhiều trở ngại vì sự bùng phát lần thứ 4 này, việc thành lập Quỹ phòng Covid - 19 vừa được Thủ tướng Phạm Minh Chính phát động  là một sáng kiến kịp thời và quan trọng để người dân, doanh nghiệp cùng chung tay với Chính phủ trong công cuộc "chống dịch như chống giặc" hiện nay. Trở thành một phong trào rộng lớn, các tổ chức quốc tế đánh giá cao, dòng tiền không ngừng đổ về tài khoản… Trước hết, cũng cần khẳng định chúng ta từng chiến thắng ở 3 lần dịch bùng phát trước đây đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm đồng thời chuẩn bị một tâm lý vững vàng đương đầu với đại dịch của toàn xã hội. Tuy nhiên, ở lần thứ tư này, chúng ta xác định mục tiêu cao hơn, đó là cùng với việc quyết liệt phòng chống đại dịch cần tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế trong khi đó, lần bùng phát này nguy hiểm hơn bởi sự biến chủng của virus cũng như tốc độ lây lan nhanh.

Song, mỗi khi đất nước gặp lâm nguy, truyền thống nhân văn, nhân ái, chung sức, đồng lòng của dân tộc Việt Nam lại bùng lên. Lịch sử đã hơn một lần minh chứng sức mạnh của tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Mặc dù cho đến giờ phút này, dịch vẫn đang diễn biến phức tạp, song việc đẩy mạnh tiêm vắc xin đang hướng tới sự chuyển biến tích cực, "chủ động phản công" như xác định của người đứng đầu Chính phủ. Đó chính là quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong công cuộc bảo vệ sức khỏe người dân và phát triển kinh tế đất nước.

Đó còn là niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp vào sự công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng quỹ. Thủ tướng Chính phủ cũng đã cam kết: "Đảng, Nhà nước, Chính phủ hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp không kể ít hay nhiều đều xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim, từ trách nhiệm với cộng đồng, từ sự chia sẻ với Nhà nước nên đảm bảo quản lý, giám sát hoạt động của Quỹ minh bạch và đúng tôn chỉ, mục đích, đúng pháp luật để phục vụ cho sức khỏe, hạnh phúc của nhân dân là trên hết, trước hết". Đối với các hoạt động như thế này, niềm tin là vô cùng quan trọng. Một khi có niềm tin, người dân sẵn sàng "kể cả dỡ nhà để chống dịch" như một khẩu hiệu hành động đang được lưu truyền trên mạng xã hội.

Dù cuộc chiến còn có thể kéo dài và rất khó lường, song với tinh thần nhân văn, nhân ái, đoàn kết cùng với quyết tâm của Chính phủ và niềm tin vào sự minh bạch trong quản lý và điều hành, chúng ta tin rằng Quỹ sẽ không ngừng lớn mạnh, góp phần vào ngày vui chiến thắng như lời của Thủ tướng: "Chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc - chiến thắng đại dịch Covid-19". 

Giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng

 Tự do ngôn luận là quyền con người cơ bản, nhưng luôn phải có giới hạn trong khuôn khổ của pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận không phải là tự do tuyệt đối. Trong một số trường hợp nhất định, tự do ngôn luận có thể xung đột với các giá trị hay quyền chính đáng khác.

Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của internet và mạng xã hội, thông tin càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát. Thông qua các trang thông tin điện tử và mạng xã hội, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình mà không chịu bất kỳ giới hạn nào. Việc thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người chưa bao giờ trở nên dễ dàng và có sức lan truyền nhanh chóng đến thế. Nhưng chính điều này cũng mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ…

Nhìn vào thực tiễn thực thi pháp luật của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy không hề tồn tại cái được gọi là quyền tự do ngôn luận tuyệt đối. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến.

Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự). Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.

Ngoài Pháp, nhiều nước châu Âu khác cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động, tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên internet với sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp mạng lớn nhất thế giới bao gồm Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft. Những động thái này nhằm “bảo đảm quyền tự do ngôn luận đúng nghĩa của người dân và tạo cơ sở để xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, văn minh”(1).

Mới đây nhất, giữa “bão” tin giả về tình hình dịch bệnh COVID-19, một loạt các quốc gia trên thế giới đã tiến hành nhiều biện pháp xử phạt từ cảnh cáo, phạt tiền đến bỏ tù những kẻ tung tin đồn thất thiệt. Ở Trung Quốc, hành vi tung tin sai sự thật về dịch bệnh bị phạt tiền, giám sát công cộng hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm nếu gây hậu quả nghiêm trọng. Ở Hàn Quốc, Tổng thống Moon Jae-in tuyên bố việc lan truyền thông tin bịa đặt về dịch bệnh là “hành vi phạm tội nghiêm trọng”. Trong khi đó, ở Malaysia, Chính phủ đã bắt giữ 6 người vì đăng tải thông tin sai lệch về virus Corona. Cảnh sát Iran cũng bắt giữ một người vì đăng tải video giả mạo, loan tin một bệnh nhân COVID-19 nhập viện lên mạng xã hội. Tại Anh, một “đơn vị kiểm soát thông tin sai lệch” đã được thành lập nhằm tiến hành xác định tin giả về COVID-19 và liên lạc với các doanh nghiệp truyền thông để loại bỏ nó.

“Dân giàu, nước mạnh” - đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 “Dân giàu, nước mạnh” - tức là đời sống nhân dân giàu có, xã hội phát triển tốt đẹp, thực lực tổng hợp quốc gia lớn mạnh. Giá trị “dân giàu, nước mạnh” yêu cầu chúng ta lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, đề cao mức sống bình quân của nhân dân trở thành mục tiêu chủ yếu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội hàm của “dân giàu, nước mạnh” bao gồm những đặc trưng cụ thể sau:

Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội cần có lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho nhân dân có mức sống cao về đời sống vật chất và phong phú về đời sống tinh thần. Chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội, cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Qua 35 năm đổi mới, Việt Nam đã bước đầu thực hiện được mục tiêu trên con đường phát triển đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.  

Hướng tới sự giàu có của toàn thể nhân dân. Đây chính là điểm đặc sắc và là bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Kiên trì đường lối phát triển liên tục, hài hòa và lành mạnh. Yêu cầu đặt ra là chúng ta cần khai thác các tiềm  năng, thế mạnh, lợi thế quốc gia, khắc phục những điểm yếu, hạn chế để sự phát triển diễn ra liên tục, hài hòa, tránh phát triển thiếu bền vững, đứt đoạn. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, song cũng có một số vấn đề đặt ra. Tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực chưa bền vững; còn có khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi; chưa giải quyết được hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội…

Sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn mạnh. “Dân giàu, nước mạnh” là chỉ sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng lớn mạnh. Sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới là lấy thực lực kinh tế làm cơ sở cạnh tranh sức mạnh tổng hợp. Giàu mạnh về kinh tế là cơ sở sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời, giàu mạnh cũng yêu cầu sức mạnh chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục; nghĩa là bao gồm cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, mới có thể khiến cho đất nước hướng tới giàu mạnh toàn diện. Chúng ta cần đề ra chiến lược phát triển ưu tiên cho sức sáng tạo của khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới thể chế văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; tăng cường xây dựng tư tưởng, đạo đức; đề cao các giá trị đạo đức tốt đẹp; làm phong phú và phát triển chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, nâng cao sức ảnh hưởng quốc tế và vị thế đất nước; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đẩy mạnh  quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.