Thứ Hai, 9 tháng 8, 2021

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

 

         

Lịch sử nhân loại không bao giờ quên Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Cách mạng Tháng Mười là bước đột phá lịch sử, chặt đứt một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, lật đổ giai cấp bóc lột ở một quốc gia rộng lớn, thiết lập Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng chế độ mới xã hội chủ nghĩa, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tiến trình phát triển của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng. Cách mạng Tháng mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”(1)

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Chiến công chói lọi đập tan chủ nghĩa phát xít, bảo vệ quê hương Cách mạng Tháng Mười càng làm ngời sáng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống tốt đẹp của nhân dân Xô viết. Giáo dục truyền thống yêu nước luôn là bài học quý, có ý nghĩa to lớn không chỉ với hôm nay mà còn mãi mãi về sau.

Đối với thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, những người được sinh ra trong chế độ mới, lớn lên trong khung cảnh hòa bình, được thừa hưởng thành quả và những giá trị chân chính từ Cách mạng Tháng Mười Nga, từ Cách mạng Tháng Tám và đại thắng mùa xuân 1975 mang lại, luôn mang trong mình truyền thống yêu nước được hun đúc từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và được nhân lên trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.

. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định: “giáo dục chính trị,tư tưởn, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh,ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho  thế hệ trẻ”(2).

 Nhớ lại thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Nhân dân Việt Nam nói chung, tuổi trẻ Việt Nam nói riêng, càng nhận rõ hơn vinh dự tự hào, niềm tin và trách nhiệm được sống và cống hiến ở Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hiện nay có ý nghĩa to lớn, là sự giữ gìn, tiếp lối và phát huy giá trị to lớn, mang tầm thời đại của cách mạng Tháng Mười, khơi dậy và phát huy chủ nghĩa yêu nước, hình thành và phát triển nhận thức, tình cảm, thái độ, niềm tin, ý chí quyết tâm và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ biểu hiện ra hành động đúng đắn, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ là hoạt động có mục đích, có tổ chức, mang tính chủ động, tự giác, của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo dưới đây:

Một là, vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Hai là, giáo dục truyền thống yêu nước phải gắn liền với tổ chức những hoạt động sáng tạo, xung kích của tuổi trẻ

Ba là: Giáo dục truyền thống yêu nước phải đi đôi với phát huy tinh thần quốc tế vô sản cho thế hệ trẻ

Bốn là , phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ

Hiện nay trong quá trình hội nhập, mở cửa, giao lưu quốc tế, tham gia vào sân chơi chung của thế giới, chúng ta phải vươn lên khẳng định được sức mạnh của mình đồng thời phải luôn luôn giữ được bản sắc, truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng. Trách nhiệm đó đòi hỏi thế hệ trẻ phải được đào tạo, giáo dục một cách toàn diện đáp ứng tốt mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó cũng chính là làm cho truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được lưu truyền và luôn tỏa sáng trong thời kỳ mới.

 

 

Yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang trong giai đoạn cách mạng hiện nay

 

Quán triệt đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳ và từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta từ sau năm 1975 đến nay, tư duy về bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đã có sự phát triển từng bước và đổi mới mạnh mẽ trong quá trình đổi mới đất nước.

Tư duy về bảo vệ Tổ quốc từ chủ yếu là tư duy về quân sự, về chiến tranh đã phát triển một cách toàn diện hơn về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quân sự; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân để chủ động ứng phó với mọi tình huống, ngăn ngừa chiến tranh, tạo môi trường hoà bình để xây dựng đất nước, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc

Phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng – an ninh với đối ngoại; quốc phòng, an ninh, đối ngoại với xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng. Trong khi đặt nhiệm vụ trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta không một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, coi đó là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ, quan hệ khăng khít với nhau

Yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau đây:

Bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay là bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ.

Xây dựng và phát triển chế  độ kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện, vững mạnh, đồng thời phải trực tiếp bảo vệ từng tế bào của chế độ một cách kiên quyết và thường xuyên. Xây dựng và bảo vệ xâm nhập lẫn nhau, diễn ra một cách phổ biến, thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, trong mỗi tổ chức, mỗi con người.

Tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, một mặt nhấn mạnh tích cực xây dựng đất nước về mọi mặt theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; mặt khác không coi nhẹ các biện pháp vũ trang bảo đảm có đủ sức mạnh cần thiết để răn đe, giữ vững hoà bình và sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược. điều đó đòi hỏi:

Phải chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước: tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị – tinh thần, tiềm lực khoa học – công nghệ và tiềm lực quân sự tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ, giữ gìn hoà bình, không để xảy ra chiến tranh là thượng sách để giữ nước. Xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là tạo ra sức mạnh lớn nhất để bảo vệ đất nước, là quá trình bảo vệ tích cực nhất, chủ động nhất. Mỗi bước phát triển của quá trình xây dựng là tạo nên một sức mạnh mới để bảo vệ Tổ quốc

Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại trong công cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ động đối phó có hiệu quả và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá từ bên trong và tấn công quân sự từ bên ngoài của các thế lực thù địch.

 

 


 

Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay

 

Cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh phong chống “Diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ; là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngăn chặn và làm thất bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô và cường độ khác nhau, làm tròn chức năng đội quân chiến đấu cả vũ trang và phi vũ trang trong giai đoạn mới

Luôn luôn là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trên lĩnh vực chính trị, giữa vững ổn định chính trị của đất nước, tạo môi trường chính trị thuận lợi để phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, làm tròn chức năng đôi quân công tác trong giai đoạn mới.

Tích cực tham gia, xây dựng kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn là lực lượng quan trọng góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm tròn chức năng lực lượng vũ trang lao động sản xuất trong giai đoạn mới.

 

 

TỪ CHIẾN SỸ LIÊN LẠC TRỞ THÀNH VỊ TƯỚNG

Nhắc tới anh hùng LLVT Nguyễn Như Hoạt, người ta vận câu: “Thời thế tạo anh hùng” để giải thích trường hợp “bạo gan” chiến đấu của anh. Song Nguyễn Như Hoạt chỉ nhận “Trận chiến ấy tôi không làm thay Cán bộ Đại đội thì tất cả cùng hi sinh mà trận địa bị mất”. Nguyễn Như Hoạt ngoài đức tính thông minh, dũng cảm còn là người rất khiêm nhường; Rất ít khi anh kể về chiến công của mình. Thường là những người trong cuộc kể lại; vì vậy viết về chiến công của anh, Tôi-NST- dù cùng trong Sư đoàn Đồng Bằng- cũng phải tìm trong tư liệu của phòng Truyền thống đơn vị. ngoài ra có dựa vào bài viết của nhà báo Nguyễn Khắc Nguyệt để đối chiếu tư liệu. Có điều các tư liệu,bài viết về Nguyễn Như Hoạt chưa nói hết tính cách của người anh hùng chân chất giản dị và rất khiêm nhường này. Tôi nhớ lần về dự ngày truyền thống “Đoàn Đồng Bằng” ở Bỉm Sơn, Nguyễn Như Hoạt vẫn gọi tôi là anh xưng em. Lần ấy (khoảng năm 1985) Như Hoạt đã là Sư đoàn trưởng 1 sư đoàn chủ lực (sư đoàn Sao Vàng), nhưng gặp 1 số đ/c cán bộ tiểu đoàn hay Trung đoàn cũ, Như Hoạt vẫn gọi “thủ trưởng” và xưng em ngọt sớt rất tự nhiên như ngày anh còn là chiến sĩ đơn vị E48 cũ. Khoảng năm 1998, tôi đã chuyển ngành về sở Y tế Bắc Thái có gặp Như Hoạt, khi ấy anh đã là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu, anh dự cuộc diễn tập “phòng thủ khu vực” của tỉnh Bắc Thái; Như Hoạt vẫn phong cách giản dị khiêm nhường. Tuy nhiên, anh tỏ ra rất bản lĩnh quyết đoán khi thông qua “Kế hoạch phòng thủ của Bắc Thái” . Trong khi 1 số CB quân khu còn vặn vẹo địa phương thì anh ủng hộ những ý tưởng mạnh dạn của tỉnh. Tôi không nói là người cũ của Đoàn Đồng bằng nhưng Như Hoạt vẫn nhận ra. Vì tôi có tên “cúng cơm” trùng với tên anh, và em trai tôi đúng bằng tuổi anh (sinh năm Dần- 1950). Chi tiết về chiến công của Nguyễn Như Hoạt xin bạn đọc phần tiếp dưới đây: * Theo các tài liệu ghi chép được biết, Nguyễn Như Hoạt sinh đúng ngày Quốc khánh (2/9/1950), quê tại thôn An trụ, xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Khi mới 17 tuổi, anh đã nhập ngũ lên đường đánh Mỹ (2 /1967);Sau thời gian huấn luyện, Hoạt được điều về Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A (Đoàn Đồng Bắng) - Cuối năm 1967, Sư đoàn 320A chiến đấu trên cánh Đông của Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Địa bàn tác chiến chủ yếu ở phía đông Quảng Trị với nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn con đường tiếp vận từ cảng Cửa Việt lên Khe Sanh, phối hợp với chiến trường chính ở Khe Sanh. - Giáp Tết Mậu Thân 1968, đơn vị của Hoạt nhận lệnh cơ động vượt sông Bến Hải vào chuẩn bị tham gia trận tiến công chi khu quân sự Cam Lộ. Vị trí tập kết của đại đội anh tại "Đồi không tên" dưới chân núi Cù Đinh .Dù chỉ là một chiến sĩ mới chưa đầy 1 tuổi quân nhưng với tính cách nhanh nhen tháo vát, Hoạt được BCH đại đội chọn làm liên lạc. - Chiến sĩ liên lạc Nguyễn Như Hoạt đã phát huy khả năng của mình giúp cho các đồng chí trong BCH đại đội hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. *Trận đánh để đời, chiến sĩ liên lạc "bạo gan" chỉ huy đại đội * Sau đợt 1 cuộc Tổng tiến công Mậu Thân của ta, quân Mỹ đã tăng cường lực lượng rất mạnh tới cụm cứ điểm Khe Sanh. Sư đoàn 320A vẫn tiếp tục chiến đấu ở cánh Đông của Quảng Trị với nhiệm vụ tiêu diệt địch và ngăn chặn sự tiếp tế của Mỹ lên căn cứ Khe Sanh. Trong đó Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 có nhiệm vụ phối hợp đánh chặn đường vận tải thủy của quân Mỹ từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà. Tiểu đoàn 3 (E48) là lực lượng cơ động, thực hiện chiến thuật "vận động tiến công kết hợp chốt", sẵn sàng đánh địch để hỗ trợ, bảo vệ các chốt của Trung đoàn 52. - Sở chỉ huy tiểu đoàn 3 ở Vinh Quang Thượng, Đại đội 9 của Nguyễn Như Hoạt bố trí ở xóm Đồng Hoang. Khoảng cách từ đó đến các chốt tiền tiêu dao động từ 2,5 đến 4 km. - Trong các ngày 1 và 2 tháng 5/1968, các đơn vị này đã thực hiện đúng ý định của trên, bắn cháy 4 tàu, bắn bị thương 2 tàu, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn LTĐB, tiêu diệt hàng trăm tên Mỹ trong đó có một Trung tá Tiểu đoàn trưởng. - Trong trận đánh ngày 2/5, Chính trị viên Đại đội 9 Lê Xuân Thu bị thương nặng phải về tuyến sau điều trị. Chỉ huy đại đội bấy giờ là Quyền đại đội trưởng Nguyễn Văn Yêm. - Ngày 5 tháng 5, một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến (LTĐB) Mỹ với sự chi viện của máy bay, xe tăng mở cuộc tiến công vào xóm Đồng Hoang, nơi Đại đội 9 của Nguyễn Như Hoạt đứng chân. Sau một trận pháo kích dữ dội từ Hạm đội 7 và các trận địa pháo xung quanh dội vào trận địa ta, 9 giờ sáng trận tiến công của Mỹ vào Đồng Hoang bắt đầu. Được sự chi viện của hỏa lực xe tăng, hàng trăm tên LTĐB Mỹ hùng hổ tiến vào xóm Đồng Hoang những tưởng như vào chỗ không người. Tuy nhiên, chúng không thể ngờ sau trận pháo kích dữ dội kéo dài hàng tiếng đồng hồ, những người lính của Đại đội 9 vẫn đứng vững và đã chặn đứng cuộc tiến công của chúng. Dưới sự chỉ huy của quyền đại đội trưởng Nguyễn Văn Yêm, cán bộ chiến sĩ Đại đội 9 đã bắn cháy 1 xe tăng, 1 xe bọc thép M113, tiêu diệt hàng chục tên địch buộc chúng phải lui lại củng cố đội hình. Sau một thời gian xốc lại đội hình và dùng hỏa lực của xe tăng bắn trực tiếp vào tiền duyên phòng ngự, quân Mỹ bắt đầu đợt tiến công thứ hai. Đại đội 9 vẫn chiến đấu ngoan cường, bắn cháy thêm 2 xe tăng và xe bọc thép, hàng chục tên LTĐB nữa bị diệt buộc chúng phải dừng lại lần nữa. - Tuy nhiên về phía Đại đội 9 cũng có những tổn thất nặng nề. Quyền đại đội trưởng Yêm hy sinh, các cán bộ trung đội người hy sinh, người thì bị thương nặng. Toàn đại đội chỉ còn khoảng 20 tay súng. Trong khi đó, quân địch lại tiếp tục dùng hỏa lực đánh mạnh vào trận địa của đại đội và khu vực xung quanh. Đồng thời, hàng chục chiếc trực thăng liên tục đáp xuống bổ sung thêm 1 Tiểu đoàn kỵ binh bay vào lực lượng tiến công. Trong khi đó, tại Đại đội 9 của ta, các sĩ quan chỉ huy đã hy sinh và bị thương hết. - Tình thế hết sức cấp bách, chiến sĩ liên lạc Nguyễn Như Hoạt trong quá trình chuẩn bị chiến đấu luôn đi sát các cán bộ đại đội đã nắm được phương án chiến đấu nên một mặt đứng ra chỉ huy đơn vị chiến đấu, một mặt gọi điện báo cáo cấp trên và xin chi viện. Các mật khẩu, mật lệnh qua điện thoại thì Như Hoạt đã nhớ chính xác. - Khi quân địch đột nhập được vào hướng phòng ngự của Trung đội 3, Hoạt chỉ huy các chiến sĩ nuôi quân, thông tin của "xê bộ" ra tăng cường phản kích, đồng thời cho Trung đội 2 xuất kích đánh vào sườn quân địch. Đợt tiến công thứ ba của địch bị chặn đứng, toàn bộ thương binh được bảo vệ an toàn. - Sau khi củng cố lực lượng, quân Mỹ tổ chức tiến công lần thứ tư. Hoạt chỉ huy đại đội bám từng tấc đất giữ vững trận địa. Trong lúc đó, Đại đội 10 và Đại đội 11 đã cơ động đến yểm trợ, đánh vào phía sau và bên sườn mũi tấn công của Mỹ . - Giữa lúc quân Mỹ đang lúng túng đối phó, Hoạt cho đại đội xuất kích đánh vỗ mặt quân địch. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt. Từng nhóm nhỏ chiến sĩ ta đánh quần lộn với quân Mỹ trên cánh đồng lúa chín. Hai chiếc trực thăng bị bắn cháy, lửa từ xác hai chiếc máy bay lan ra cánh đồng lúa đang chín làm khói lửa ngút trời. Khiếp sợ trước tinh thần dũng cảm của bộ đội ta, quân Mỹ buộc phải rút lui để lại trận địa gần chục xác xe tăng, xe thiết giáp, 2 máy bay trực thăng đang rừng rực cháy cùng hàng chục xác lính. - Sau trận đánh, chiến sĩ liên lạc Nguyễn Như Hoạt được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và bổ nhiệm chức vụ trung đội trưởng. Năm 1970, Nguyễn Như Hoạt được tuyên dương Anh hùng LLVTND khi mới tròn 20 tuổi. * Sau hơn 40 năm phục vụ trong quân đội, Nguyễn Như Hoạt nghỉ hưu với quân hàm Trung tướng, trước đó anh là Giám đốc Học viện Quốc phòng. - Xóm Đồng Hoang - nơi diễn ra trận kịch chiến đã được tỉnh Quảng Trị công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến. - Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ trận đánh đặc biệt ấy nhưng câu chuyện người chiến sĩ liên lạc "bạo gan" chỉ huy đại đội chiến đấu đánh bại 2 tiểu đoàn quân Mỹ vẫn được ghi vào lịch sử “Truyền thống Sư đoàn 320” và lưu truyền như một huyền thoại về những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng. ( Theo TL “Truyền thống Sư đoàn 320” và bài viết của Nguyễn Khắc Nguyệt) (ST)vxvn

Sự tác động của cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh ý thức hệ đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị Hiện nay cùng với những tàn dư của tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tư sản là hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa chống cộng và chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại đang tấn công toàn diện và mạnh mẽ vào bản chất cách mạng của quân đội ta. Bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi trọng chống phá ta về chính trị, tư tưởng và văn hoá, chúng tìm mọi cách gieo rắc tư tưởng “về sự phá sản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, rêu rao luận điệu “ Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang làm tha hoá về tư tưởng, đạo đức, lối sóng của cán bộ, chiến sĩ ta, làm cho lực lượng vũ trang biến chất về chính trị. Đây là cuộc chiến tranh không có khói lửa, không có tiếng súng, không dễ dàng nhận rõ mặt kẻ thù như trong chiến tranh vũ trang trước đây, chúng ta không chỉ chống lại chiến lược “Diễn biến hoà bình” mà còn chống lại cả nguy cơ “Tự diễn biến” từ bên trong. Trong những điều kiện đó việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang, là một nội dung rất cơ bản, có tính chất quyết định đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.

 

 

 

 

 


Sự phát triển của đất nước trong tiến trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra những vấn đè mới đối với xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.

 

Cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đời sống xã hội những nhân tố kinh tế, chính trị xã hội, giai cấp, tư tưởng đang biến đổi và tác động đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị trên các mặt chủ yếu sau đây:

Sự tác động của nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường đến xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị

Sự phát triển của kinh tế, sự ổn định chính trị của đất nước đã tác động tích cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang: lòng tin vào Đảng, vào chế độ được củng cố, ý thức, trách nhiệm chính trị đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng cao, làm tăng thêm sức mạnh chính trị – tinh thần của lực lượng vũ trang .

Tuy nhiên, bên cạnh sự tác động tích cực, thì mặt trái của nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã làm xuất hiện những tiêu cực mới, tác động không nhỏ đến lực lượng vũ trang như: ý thức giác ngộ chính trị; nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự thoái hoá biến chất, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Vì vậy, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là vấn đề cốt tử trong xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị.

Sự tác động của những biến đổi về cơ cấu xã hội – giai cấp ở nước ta hiện nay đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị. Trong quá trình vận động, biến đổi, các giai cấp và tầng  lớp xã hội có xu hướng xích lại gần nhau, liên kết, hợp tác với nhau, trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Mặt khác với cơ cấu xã hội – giai cấp không thuần nhất, phát triển đa dạng, đan xen, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau dẫn tới sự không thuần nhất về chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng khác nhau thậm chí đối lập nhau sẽ tác động đến quá trình xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị.

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc tiếp tục xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang với thành phần tham gia lực lượng vũ trang từ các giai cấp, tầng lớp khác nhau của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.

 


Tác động của tình hình thế giới tới xây dựng LLVT về chính trị Cục diện kinh tế, chính trị thế giới thay đổi sâu sắc, nhanh chóng, nhất là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu làm cho tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng thay đổi bất lợi cho chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới, với những nội dung mới, hình thức phức tạp mới, dưới những sắc thái mới, mà tính chất của chúng không kém phần gay go, quyết liệt Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ phi thường đưa tới những tiến bộ to lớn, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong kinh tế và cả trên các mặt của đời sống xã hội … đồng thời, làm nảy sinh những khó khăn thánh thức mới cực kỳ gay gắt. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định thay đổi chiến lược tiến công chủ nghĩa xã hội và các phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới, từ xâm lược bằng vũ trang là chủ yếu sang xâm lược bằng phi vũ trang, bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình” là chủ yếu, kết hợp với răn đe quân sự, sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, kể cả tiến hành chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao.

 

 

 

 

 

 


NGƯỜI LÍNH HÔM NAY

Trời không trăng không sao ……. có lẽ nào lều căng vách núi. Tiếng gió vờn giống con thú đói kêu hoang Thu đã sang sương loang tràn trời đất Một bóng đơn côi rất chân thật với đời Con trăng nuốt …………. bóng hao gầy nghiêm khắc Đang đứng gác giữa trời ai mắc võng căng dây Ai làm lán ai ngồi đây thổi lửa 🔥 Bữa cơm chiều với xấp ngửa… nổi trôi Mới nhìn thôi ………. sao đã thấy thương rồi Biên cương gió thổi đứng ngồi không yên Không phải Lính được đoàn viên một cõi Quê hương chiều mây khói quyện cùng nhau Nhưng là Lính ………. hoàng chiều rơi sương trắng xoá Mà tình thương yêu xa quá chẳng gần Có nhiều lúc chắc thèm ân cần chia sẻ Nhưng mà gió gạc ma đã bắt bẻ cành cong Là Người Lính ……. phải sống trong nhiệm vụ Gác yêu thương phải bám trụ kiên cường Nếu yêu Lính phải nhịn nhường thông cảm Bởi trái tim Anh quả cảm biết nhường nào? Dưới khói đạn ………. Mưa bom con đường vào chỗ chết Dưới giông gió tả tơi bùn đất bết chân trần Sao? trí trai ai cũng dần vững tiến Bởi quê hương hay đảo biển thân thương Anh Lính hôm nay …….. vẫn kiên cường như thế Vẫn hy sinh vẫn để nước non mình Lên đôi vai lên chiều dài nỗi nhớ Tình trong tim đem giấu ở non ngàn Giặc cô vít …….. nay loang tràn khắp ngả Đời phong sương Lính vất vả nhiều hơn Cho em gửi nhé chia đôi điều tâm sự Hậu phương là vừng trăng đang ngự Trong trái tim …….. anh để tự hằng đêm Thắp lên niềm tin cho thêm ấp áp Ơn đền nghĩa đáp Nước non Con đường Cách mạng là (CON BÁC HỒ). Thay lời cho hàng triệu… triệu trái tim muốn nói Cố lên Các ĐỒNG CHÍ ơi! Cố lên CÁC BẠN ơi! Tự hào hát mãi lên VIỆT NAM TÔI!!!! Tác giả Hoa Cỏ May( Hậu Phương Người Lính).

Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo quan điểm Mác – Lênin

 

 Cũng như giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với  sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.

Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực lượng vũ trang ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi đôi với việc phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản càng trở nên sâu sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì cũng  đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất là lực lượng vũ trang

Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, nảy sinh mâu thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội. đối với bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng để nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước. Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”

Như vậy, sự xuất hiện của hiện tượng  lực lượng vũ trang trong lịch sử gắn chặt với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước và chiến tranh. Lực lượng vũ trang là công cụ để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định.

C. Mác,  Ph. Ăng ghen và Lênin xem xét vấn đề chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ với chính trị. Phạm trù bạo lực, chiến tranh và lực lượng vũ trang bao giờ cũng gắn liền với phạm trù chính trị - giai cấp. Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực; lực lượng vũ trang là công cụ để tiến hành chiến tranh, để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định

Lực lượng vũ trang là lực lượng đặc biệt của một giai cấp, là công cụ vũ trang chủ yếu của nhà nước để tiến hành chiến tranh nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp. lực lượng vũ trang hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện chính trị. Mọi mặt hoạt động của lực lượng vũ trang đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với giai cấp, với chế độ xã hôi, với nhan dân, với dân tộc. Lực lượng vũ trang  bao giờ cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc. Không có và không thể có  lực lượng vũ trang “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, “quân đội phi chính trị” hoặc “đứng ngoài chính trị”.

Trong khi chăm lo xây dựng sức mạnh toàn diện của lực lượng vũ trang, để làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới thực sự trung thành và phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, Mác, Ăng ghen và Lênin hết sức chăm lo xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, nhất là chăm lo củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang, coi đó là vấn đề sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những nguyên tắc hết sức cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới.   

Trong quá trình xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị; xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã thường  xuyên quan tâm xây dựng cả 3 phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là sự kiên định và thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp công nhân; giáo dục hệ tư tưởng Mác – Lênin, thực hiện đường lối, nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang theo quan điểm, đường lối của giai cấp công nhân. Mặt khác, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới khác về chất với các kiểu lực lượng vũ trang của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây. Đồng thời, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm đến tăng cường xây dựng các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, nhất là mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trên cơ sở thống nhất về nghĩa vụ và quyền lợi; tăng cường củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần quốc tế vô sản.

V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành công tác tưởng, công tác tổ chức trong lực lượng vũ trang, coi đó là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, trực tiếp nâng cao chất lượng chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. V.I Lênin đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điểm sai lầm và phản động của giai cấp tư sản coi lực lượng vũ trang “ là trung lập đứng ngoài chính trị”, từ đó đi tới phủ nhận nội dung giai cấp trong xây dựng lực lượng vũ trang.

Những thảm kịch ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm 90 vừa qua là bài học đau xót và lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, nhất là vấn đề xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang kiểu mới.

 

 

 

 

 

 


SỰ CHÂN THÀNH VÀ GIẢ TẠO

 


          Dựa và quần chúng nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên lý; là vấn đề thuộc quan điểm và là giải pháp cơ bản, thường xuyên rất quan trong của Đảng ta trong suốt hơn 90 năm qua và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Thực tiễn chỉ rõ, chính thực hiện tốt vấn đề trên mà Đảng ta được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là người lãnh đạo, người cầm lái con thuyền cách mạng Việt nam vượt qua bao khó khăn, thách thức, có lúc hết sức ngặt ngèo để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đại đa số nhân dân ta đều hiểu rõ điều đó, luôn biết ơn, quý trọng, gần gũi, gắn bó và “một lòng một dạ” đi theo Đảng; tuy nhiên, thời nào cũng vậy, có một số phần tử phản động, cơ hội, bất mãn trong nước cùng với các thế lực thù địch ngoài nước cố tình không nhận ra điều đó và tìm mọi cách xuyên tạc, nói xấu... để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Hiện nay, chúng thường dùng chiều trò “thư ngỏ”, “góp ý”, “kiến nghị” với Đảng, Nhà  về vấn đề nọ, vấn đề kia... Khi chúng ta bác bỏ những ý kiến sai trái, phản khoa học, phản động, thù địch thì chúng lu loa là không tiếp thu “quan điểm khác”, là thành kiến, trù dập những người có “quan điểm” khác... Vậy vấn đề nên được cắt nghĩa như thế nào cho khách quan?

Chẳng khó gì trong phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm thù địch”. Về vấn đề này, cụ thể là: Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của Đảng (điều đó là bình thừơng) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có lợi cho đất nước và nhân dân, có lợi cho việc giải quyết vấn đề “quốc kế dân sinh” trong quá trình phát triển của quốc gia dân tộc thì cần nghiên cứu tiếp thu. Nếu như “quan điểm khác” nhưng trái với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần phải kiên quyết lên án và đấu tranh bác bỏ bằng những biện pháp cần thiết. Như vậy, và chỉ như vậy chúng ta mới dứt khoát được về nhận thức, lập trường và biện pháp cụ thể trong xử lý với những vấn đề trên. Tin tưởng rằng tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ủng hộ và các thế lực thù địch, kẻ xấu khó có bề lợi dụng “dân chủ” để chống phá./.

 

ĐỀ CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước, đã cận kề. Đại hội lần này diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến rất nhanh, phức tạp và khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức với rất nhiều vấn đề mới đặt ra; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đặt kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm và tăng cường lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống phá, với các luận điệu xảo quyệt thông quan trả lời phỏng vấn, "thư ngỏ", bài viết trên mạng xã hội nhằm xuyên tạc, bịa đặt, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chĩa rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nói chung; chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ trong số các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng nói riêng.

Gần đây, chúng lợi dụng quá trình đổi mới, chỉnh đốn Đảng, sàng lọc đảng viên; chống tham nhũng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; công tác nhân sự của Đảng để che đạy, bao biện cho hành động chống Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nội dung chống phá của chúng thường không mới, song luận điệu thì hết sức tinh vi, xảo quyệt và trên thực tế đã làm cho một số người có nhận thức không đầy đủ, nhẹ dạ, cả tin, bất mãn.... tin theo. Vì vậy, hơn bao giờ hết, kiên định bản lĩnh chính trị, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân để nhận diện rõ âm mưu, mục đích, dã tâm phản động của những đối tượng này là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết thiết.

Thực hiện vấn đề trên cần phải: 1- Tiếp tục làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam và những thành tựu vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng suốt 91 năm qua. 2- Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. 3- Tăng cường thông tin tích cực, đồng thời ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội; xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân đưa tin sai sự thật, xấu độc trên Internet, mạng xã hội. 4- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành cương lĩnh điều lệ Đảng.... nói chung, nhất là việc phát ngôn trước, viết bài sai trái trước, trong và sau đại hội Đảng lần thứ XIII. 5- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng mạng Internets, mạng xã hội; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật đối với các nhà mạng, cơ quan chủ quản báo chí, trang thông tin điện tử.../.

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Các Mác - Giá trị lịch sử và thực tiễn sinh động ở Việt Nam

 

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc của Chủ nghĩa Mác; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổi mới, phát triển bằng cách tiếp thu có chọn lọc, có phê phán tất cả sản phẩm trí tuệ loài người đã sáng tạo ra.

Thủ tướng phát biểu trước Hội đồng bảo an LHQ về thách thức an ninh biển

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định trước Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam nhận thức rất sâu sắc giá trị to lớn của biển cũng như những thách thức đặt ra đối với an ninh biển.

Không ngừng củng cố, vun đắp mối quan hệ Việt-Lào

 Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith nhấn mạnh sẽ tiếp tục dành ưu tiên cao nhất cho việc không ngừng củng cố và vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào; coi đây là quy luật phát triển, có ý nghĩa sống còn và là một trong những nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng mỗi nước.

Thủ tướng Phạm Minh Chính điện đàm với Thủ tướng Cộng hòa Séc Andrej Babis

 


 

Chiều ngày 9/8/2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Cộng hòa Séc Andrej Babis (An-đờ-rây Ba-bít) nhằm trao đổi về quan hệ song phương, dành nhiều thời gian để thảo luận các biện pháp hợp tác trong phòng chống COVID-19.

TAM QUYỀN, PHÂN LẬP CÓ THỰC SỰ CHỐNG ĐƯỢC THAM NHŨNG?

 

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Ở Việt Nam, tham nhũng được chỉ ra là một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp.

Tuy nhiên, không thể lợi dụng vấn đề phòng, chống tham nhũng để xuyên tạc, nói xấu Đảng , rồi “bẻ lái” với mục tiêu đen tối nhằm: truyền bá quan điểm, tư tưởng trái với đường lối, chủ trương của Đảng, đi ngược con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đang dày công xây dựng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xây dựng một thể chế tam quyền phân lập trong cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam như lời lẽ của Nguyễn Quang Duy trên trang Hưng-viet.org vừa qua, với tiêu đề: “Chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng”. Đọc bài viết của Y, xin có đôi điều như sau:

Thứ nhất, khi nói về tham nhũng, V.I.Lênin từng khẳng định: “tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng (Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng) đã cho thấy: Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham những; trong đó có cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”. Như vậy, Nguyễn Quang Duy phải hiểu rằng: tham nhũng và chống tham nhũng, là vấn đề để mọi quốc gia đều quan tâm và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Điều quan trọng là quốc gia đó có đủ quyết tâm, có đủ kiên trì để hạn chế, tiến tới xóa bỏ nạn quan liêu, tham nhũng hay không mà thôi!

Thứ hai, thế chế “tam quyền, phân lập” không bao giờ loại trừ được nguồn gốc, nguyên nhân của tham nhũng.

 Tham nhũng có thể xảy ra ở các tổ chức, cá nhân khi hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế, chế độ chưa đồng bộ, chặt chẽ, thiếu công khai minh bạch; sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát, điều tra chưa duy trì thường xuyên; dư luận xã hội và vai trò của quần chúng nhân dân, của báo chí, truyền thông chưa được phát huy đầy đủ; xử phạt chưa nghiêm minh, tội phạm tham nhũng chưa bị trừng trị đích đáng tới mức “thân bại, danh liệt”; cá nhân có chức, có quyền nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện…

Vì vậy,  làm sao mà chỉ có thực hiện tam quyền, phân lập với sự phân quyền giữa ba nhánh quyền lực có thể xóa bỏ được tận gốc tham nhũng như lời của Nguyễn Quang  Duy. Mà, chỉ khi nào xóa bỏ được nguồn gốc và nguyên nhân nảy sinh tham nhũng, khi đó mới xóa bỏ được nạn tham nhũng mà thôi!

Tóm lại, mấy lời nhảm nhí mà Nguyễn Quang Duy đăng trên Hưng-viet.org, thực chất chỉ là âm mưu xuyên tạc nhằm khoét sâu mâu thuẫn, gây chia rẽ đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, hướng cách mạng nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, dã tâm thâm độc, xảo quyệt của những kẻ phản động như Nguyễn Quang Duy.

KHÔNG ĐỂ BẢO THỦ TRỞ THÀNH “SỢI DÂY” TRÓI BUỘC SỰ TIẾN BỘ

 

Đổi mới là đòi hỏi tất yếu       

Trên thực tế vẫn có rất nhiều người đang cố thủ trong các vỏ bao bọc của lề thói cũ, tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề này cũng đã được Đảng ta chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Ngoài những yếu tố khách quan như tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân; ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp một thời; là sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên… chúng ta cần phải thấy một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến căn bệnh bảo thủ là do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Do chưa nhận thức rõ vấn đề và những đòi hỏi từ thực tế nên chúng ta đã chậm đổi mới trong cả tư duy và hành động; giáo dục và đào tạo không bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại… Từ thực trạng tình hình, Đảng ta đã nhận rõ đổi mới tư duy là quy luật tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định rằng: “Chỉ có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”… Chính sự quyết tâm đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước mà chúng ta có được những bước tiến dài như ngày hôm nay. Có thể khẳng định, hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Trước những đòi hỏi mới của tình hình, nhất là ở thời Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cái mới, cái tiến bộ không ngừng nảy sinh phủ định cái cũ, cái lạc hậu và chính sự ra đời của cái mới, sự triệt tiêu của cái cũ giúp cuộc sống của chúng ta không ngừng vận động, phát triển, thì cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, không ngừng đổi mới, sáng tạo càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước… Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”(*). Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là chúng ta phủ định sạch trơn cái ra đời trước, kinh nghiệm của những người đi trước. Nhưng nếu chúng ta cứ bình chân nằm ôm khư khư đống kinh nghiệm ấy mà không tìm tòi, đổi mới, sáng tạo thì nhất định chúng ta sẽ tụt hậu, đặc biệt trong xã hội hiện đại, khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, tri thức mới không ngừng ra đời như hiện nay.

Kiên trì đấu tranh bằng nhiều giải pháp

Bảo thủ là một tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thuộc tính cố hữu trong cách nghĩ, cách làm và tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân. Mặt khác, phản ứng lại sự tấn công của cái mới, cái tiến bộ vốn là thuộc tính của tư tưởng bảo thủ. Để bảo vệ mình, người mang tư tưởng bảo thủ luôn tìm ra đủ phương cách. Do đó đấu tranh khắc phục tư tưởng bảo thủ không phải là công việc đơn giản và dễ thực hiện trong một sớm một chiều. Muốn chữa trị căn bệnh bảo thủ, chúng ta phải có quyết tâm cao, kiên trì tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều giải pháp.

Thực tế cho thấy tình trạng mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển của đất nước ta. Để khắc phục tình trạng ấy, chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục. Thực tế đã chứng minh tuyên truyền, giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh bảo thủ. Để làm được điều đó, trước hết chúng ta phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong các cơ quan, đơn vị, trường học; nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cơ quan cấp trên, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, bởi những người này mang nặng tư tưởng bảo thủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tập thể. Cùng với đó, chúng ta phải bảo vệ nhân tố mới, cổ vũ tư tưởng đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính linh hoạt, sáng tạo cả trong tư duy và hành động. Việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức để chống tư tưởng bảo thủ phải được xác định là việc làm thường xuyên, liên tục, ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, đối tượng… Đối với từng nhóm đối tượng phải lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền sao cho phù hợp, hiệu quả, trong đó cần nêu cao vai trò của báo chí, truyền thông.

Mặt khác, như đã nêu ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tư tưởng bảo thủ là do trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Thực tế cho thấy, với bất cứ một nền kinh tế-xã hội nào muốn duy trì sự tồn tại và phát triển cần phải có một nguồn lực nhất định, trong đó nguồn lực quan trọng và quyết định nhất là con người. Do vậy, để đẩy lùi căn bệnh bảo thủ, chúng ta cần nâng cao trình độ dân trí. Muốn nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao dân trí thì không có cách nào khác là phải đầu tư cho giáo dục và đào tạo, hay nói cách khác là đầu tư cho con người. Trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí được nâng cao, sẽ giúp chúng ta từng bước hạn chế và đi đến xóa bỏ được tư tưởng bảo thủ, trì trệ cả trong tư duy và hành động.

Nguồn: Báo QĐND

KẾT QUẢ PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Thời gian qua, trên các trang mạng xã hội, có nhiều bài viết về công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam. Bên cạnh những phân tích, đánh giá đúng đắn, khách quan, vẫn còn những tiếng nói lạc điệu, cố tình xuyên tạc tình hình dịch Covid-19 và phủ nhận nỗ lực phòng, chống dịch của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Trong bài “Một chính phủ bất tài cần được thay thế” đăng trên trang Quyenduocbiet.com, với những ngôn từ không thiện cảm, Nguyễn Huy Vũ đã cố tình xuyên tạc công tác phòng, chống dịch ở Việt Nam, khi cho rằng “chiến lược vắc-xin chậm ở tất cả các khâu… không có kế hoạch về việc tiêm vắc-xin”. Rõ ràng đây là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật hòng gây sự hoài nghi, tâm lý hoang mang trong dư luận về tình hình phòng, chống dịch.

Thứ nhất, Việt Nam đã rất chủ động trong tiếp cận các nguồn vắc xin trên thế giới.

Sau hơn 1 năm bùng phát, dịch Covid-19 vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại mà đang diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, dịch đã bùng phát lần thứ tư, diễn biến phức tạp hơn, với số ca mắc nhiều hơn những đợt dịch trước, tác động mạnh đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống của người dân. Tuy nhiên, dịch Covid-19 tại Việt Nam vẫn đang trong tầm kiểm soát, đã khoanh vùng được các ổ dịch lớn tại nhiều tỉnh, thành và vẫn đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. 6 tháng đầu năm 2021, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 5,64%.

Để phòng, chống dịch có hiệu quả, cùng với việc Chính phủ đề ra hệ thống các giải pháp quyết liệt, thì vắc xin phòng Covid-19 được xác định là chìa khóa quan trọng nhất để chấm dứt đại dịch. Ngay từ đầu tháng 8 năm 2020, được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội, Bộ Y tế đã chủ động kết nối, bàn trực tiếp với nhà sản xuất trong và ngoài nước về vắc xin phòng dịch. Đồng thời, qua các kênh ngoại giao, đến nay Việt Nam đã có một số nguồn vắc xin: Covax Facilily, AstraZeneca và Pfizer. Ngoài ra, chúng ta còn nhận được sự viện trợ của một số tổ chức và quốc gia khác trên thế giới.

Điều này cho thấy Chính phủ không chỉ xác định đúng vai trò của vắc xin trong phòng, chống dịch Covid-19, mà còn rất chủ động, tích cực trong tiếp cận các nguồn vắc xin, chứ không phải Chính phủ chậm trong chiến lược vắc xin như sự bìa đặt, xuyên tạc của Nguyễn Huy Vũ.

Thứ hai, Việt Nam đã chủ động trong nghiên cứu sản xuất vắc xin và có kế hoạch tiêm phòng cụ thể, khoa học.

Bên cạnh việc tìm nguồn vắc xin nhập khẩu để đáp ứng tình trạng khẩn cấp, việc nghiên cứu, phát triển vắc xin trong nước được xem là một trong những ưu tiên của Chính phủ. Đến nay, nước ta đã có một số đơn vị ban đầu thành công trong nghiên cứu sản xuất vắc xin: Vắc xin Nanocovax của Nanogen đã bắt đầu thử nghiệm giai đoạn 3; phấn đấu đến cuối tháng 8, đầu tháng 9 sẽ có số liệu ban đầu của giai đoạn 3 để trình Bộ Y tế và Chính phủ. Vắc xin Covivac của IVAC đã hoàn thành giai đoạn 1 và đang gửi kết quả sang Canada để đánh giá về tính sinh miễn dịch. Ngoài ra, còn một số đơn vị khác đang tiếp nhận nghiên cứu, chuyển giao từ một số tổ chức nghiên cứu của nước ngoài.

Để sớm đạt được mục tiêu miễn dịch cộng đồng, chia sẻ với khó khăn của Chính phủ, Quỹ vắc xin phòng Covid-19 đã được thành lập, nhằm huy động tổng hợp nguồn đóng góp xã hội phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu, nghiên cứu, sản xuất vắc xin và sử dụng vắc xin phòng Covid-19 cho người dân. Đây là việc làm đúng đắn, sáng tạo, nhằm phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam, được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ và được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Đến ngày 6/7/2021 quỹ đã nhận được trên 8 nghìn tỷ đồng ủng hộ từ người dân trên khắp cả nước, các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp FDI và kiều bào ở nước ngoài.

Cùng với việc chuẩn bị nguồn vắc xin, Chính phủ đã có kế hoạch tiêm chủng trên cả nước. Kế hoạch đã xác định rõ các đối tượng ưu tiên, phân bổ cho các địa phương, lực lượng; việc tổ chức các khâu, các bước tiêm chủng. Chính phủ đặt mục tiêu đến cuối năm nay, Việt Nam sẽ có khoảng 150 triệu liều vắc xin tiêm phủ khoảng 75% dân số cho những người từ trên 18 tuổi để đạt được miễn dịch cộng đồng. Điều đó cho thấy, việc tổ chức tiêm phòng dịch ở Việt Nam là có kế hoạch và được thực hiện nghiêm túc, không có chuyện người nhà của lãnh đạo được ưu tiên tiêm trước như lời bịa đặt của Nguyễn Huy Vũ.

Chiến lược vắc xin của Việt Nam rất cụ thể, rõ ràng và được công khai, minh bạch, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tin tưởng, ủng hộ, vậy mà nguyễn Huy Vũ lại cố tình xuyên tạc, vu khống Chính phủ không có kế hoạch về việc tiêm vắc xin, chiến lược vắc xin chậm…

Mặc dù dịch Covid-19 đang diễn biến phưc tạp, nhưng với sự nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân, tin tưởng rằng, công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam chắc chắn sẽ giành thắng lợi. Để góp phần vào thắng lợi trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, bên cạnh việc tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, thực hiện nghiêm các khuyến cáo của Bộ Y tế, mỗi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái xuyên tạc, phủ nhận kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam của các phần tử cơ hội, phản động.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CÔNG TÁC TIÊM VACCINE COVID-19 Ở VIỆT NAM

 Hiện nay, tình hình Covid-19 trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp, do biến thể Delta và Delta Plus lây lan nhanh. Hàng ngày trên thế giới có trên 160.000 ca nhiễm, trong đó khu vực Đông Nam Á đang nổi lên là điểm nóng của dịch Covid-19, mỗi ngày có hàng trăm nghìn ca nhiễm, nhất là Inđônêxia với gần 50 nghìn ca nhiễm mỗi ngày.

Việt Nam sau khống chế thành công đợt bùng phát Covid-19 lần thứ ba, lần thứ tư này, Covid-19 với biến thể Delta và Delta Plus có thời gian ủ bệnh ngắn, lây lan dễ và nhanh hơn rất nhiều biến thể cũ. Cho nên, dù Chính phủ, chính quyền các cấp và nhân dân luôn tích cực, chủ động và thực hiện nhiều biện pháp mạnh nhưng dịch vẫn đang diễn biến phức tạp, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong đó nổi lên là thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.

Để phòng, chống hiệu quả dịch Covid-19, khống chế thành công đại dịch và đạt mục tiêu kép vừa chống dịch thành công vừa phát triển kinh tế, theo nhận định chung của Chính phủ, Bộ Y tế, các cấp chính quyền và các chuyên gia dịch tễ, bên cạnh thực hiện nghiêm, chặt chẽ Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về giãn cách xã hội và một số biện pháp tăng cường như: Thần tốc khoanh vùng, xét nghiệm, sàng lọc, phát hiện, nhất là ở khu vực có nguy cơ cao; xử phạt nghiêm những trường hợp vi phạm trong thời giãn cách xã hội; cấp giấy lưu thông ngoài đường và phát phiếu đi chợ cho người dân; thực hiện ba tại chỗ ở các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, kiên quyết dừng hoạt động sản xuất nếu không đảm bảo an toàn phòng, chống Covid-19… Đặc biệt, tăng cường ngoại giao vaccine để đẩy nhanh việc tiếp nhận và tiêm chủng vaccine Covid-19 cho lực lượng tuyến đầu và cho toàn dân từ 18 tuổi trở lên là biện pháp kiên quyết, là ưu tiên hàng đầu để đạt miễn dịch cộng đồng và đưa xã hội trở về trạng thái hoạt động bình thường.

Vì lẽ đó, trong thời qua, với chính sách ngoại giao vaccine hợp lý, hiệu quả, đến nay đã có 150 triệu liều vaccine Covid-19 được ký kết sẽ chuyển giao cho Việt Nam. Tính đến ngày 06/8/2021 có hơn 18,5 triệu liều vaccine Covid-19 đã về Việt Nam. Chính phủ Việt Nam lên kế hoạch thực hiện chiến dịch tiêm chủng lớn nhất trong lịch sử, với hàng trăm nghìn điểm tiêm trên cả nước. Nhưng do những khó khăn khách quan về nguồn cung vaccxin Covid-19, nên bên cạnh việc tích cực để có nguồn vaccine theo cơ chế Covax, Việt Nam cũng đã đàm phán với các đối tác Nga, Cu Ba, Nhật, Mỹ để chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine Covid-19 tại Việt Nam; Việt Nam cũng đang chủ động nguồn cung bằng cách hoàn thiện nghiên cứu và sản xuất vaccine Covid-19 Nanocovax và một số loại khác để sớm đưa vào sử dụng, đáp ứng nhu cầu trong nước; huy động các doanh nghiệp tư nhân vào sản xuất vaccine Covid-19, như tập đoàn Vingroup ký kết với Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Arcturus Therapeutics (Mỹ) nhận chuyển giao độc quyền công nghệ sản xuất vắc xin phòng Covid-19, với năng lực sản xuất lên tới 200 triệu liều/năm.

Với chính sách phân bổ vaccine hợp lý và tiêm chủng có hiệu quả, lượng vaccxin về Việt Nam đến đâu được Chính phủ triển khai thực hiện ngay đến đó, trên tinh thần: Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm lưu giữ và vận chuyển vaccine đến các điểm tiên chủng; ưu tiên cho lực lượng tuyến đầu tiêm đủ hai mũi, những nơi đang có diễn biến dịch phức tạp và các thành phố lớn đông dân cư, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Hà Nội… Tính đến ngày 06/8/2021 đã có 8.061.116 liều được tiêm, trong đó tiêm 1 mũi là 7.241.093 liều, tiêm mũi 2 là 820.023 liều. Số lượng vaccine được tiêm này đã và đang đạt được những kết quả tích cực trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Thế nhưng, với những kẻ luôn có tư tưởng chống phá Việt Nam và một số tổ chức phản động, chúng sẵn sàng đổi trắng thay đen, phủ nhận mọi kết quả phòng, chống dịch Covid-19 nói chung và công tác tiêm vaccine Covid-19 nói riêng ở Việt Nam. Theo đó, chúng quy chụp, vu khống, xuyên tạc năng lực chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế và chính quyền các cấp, sự bất công bằng trong phân phối vaccine, thiếu chủ động trong nguồn cung vaccxin. Đặc biệt, chúng xuyên tạc về tiến độ tiêm vaccine Covid-19 của Việt Nam là quá chậm, người dân mong mỏi vaccine nhưng chính quyền cứ làm ngơ; xuyên tạc sự yếu kém trong nghiên cứu và sản xuất vaccine. Chúng còn cho rằng Việt Nam chỉ “nổ” khi đưa ra những thông số và tiến độ của quá trình nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước…

Phải khẳng định, các luận điệu trên đều là sự vu khống, xuyên tạc trắng trợn của những kẻ chống phá, tổ chức phản động với Chính phủ và nhân dân Việt Nam, nhằm phá hoại công tác phòng, chống dịch và tiêm vaccine Covid-19 ở Việt Nam, gây hoang mang trong dư luận. Chúng ta cần hết sức cảnh giác để không mắc bẫy của chúng và luôn tin tưởng tuyệt đối vào công tác phòng, chống dịch và tiêm vaccine Covid-19, chấp hành nghiêm mọi quy định của Chính phủ, Bộ Y tế và chính quyền các cấp về phòng, chống dịch Covid-19.

CĂN BỆNH THỜ Ơ, VÔ CẢM, THIẾU TRÁCH NHIỆM CẦN PHẢI ĐƯỢC CHỮA TRỊ

 Hiện nay, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đang trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng, lây lan trong xã hội. Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống ấy luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, vun đắp nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; kinh tế ngày càng khởi sắc, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Song, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống nước ngoài, nhất là lối sống thực dụng không phù hợp với truyền thống văn hóa và đạo lý dân tộc đã khiến một bộ phận trong xã hội ngày càng trở nên vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm và trở thành căn bệnh làm mờ nhạt những truyền thống tốt đẹp đó.

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn, các phương tiện thông tin truyền thông đã cảnh báo và đưa nhiều minh chứng về sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm gây bức xúc trong xã hội. Thờ ơ, vô cảm đã cho thấy sự thể hiện trơ lì về cảm xúc, dửng dưng trước các sự việc xung quanh; thờ ơ với nỗi đau khổ, mất mát của người khác, chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình. Chính sự thờ ơ, vô cảm ấy mà thấy tốt không ủng hộ, thấy xấu không lên án, ngại va chạm tạo điều kiện, tiếp tay cho cái xấu, cái ác nảy nở.

Không thể đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, trong xã hội vẫn không thiếu những người tốt, những câu chuyện về “người tử tế”, những câu chuyện ấm áp lòng người như những hiệp sĩ đường phố, về người đi xây cầu từ thiện, những tấm gương quên mình cứu người giữa dòng nước lũ; tấm lòng của các nhà hảo tâm chung tay ủng hộ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong cơn hoạn nạn… đã góp phần xây dựng lối sống hướng thiện, một xã hội, cộng đồng tốt đẹp, nhân văn…

Để chữa trị căn bệnh này cần phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền làm thức dậy tình thương yêu con người, đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm đối với xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cá nhân trong đấu tranh, ngăn ngừa căn bệnh thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động nhân ái, bao dung, nghĩa hiệp, chống lại cái xấu, vun đắp và xây dựng những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.