Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

 Ba2505

Xét xử nghiêm các vụ án trọng điểm và đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Hầu hết các công việc triển khai hoàn thành theo kế hoạch

Phát biểu kết luận Phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo nhấn mạnh, trong năm 2021, mặc dù trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều thành viên Ban Chỉ đạo mới được kiện toàn, bổ sung, nhưng dưới sự chỉ đạo quyết liệt, toàn diện, sâu sát, với nhiều đổi mới của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo; sự quyết tâm, tích cực, trách nhiệm của các thành viên; sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng, nên hầu hết các công việc theo Chương trình công tác của Ban đã được triển khai thực hiện nghiêm túc và hoàn thành theo kế hoạch.

Nhất là, Ban đã chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; gắn phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, xử lý nghiêm sai phạm theo quy định về kỷ luật của Đảng, Nhà nước và xử lý hình sự. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, “không ngừng”, “không nghỉ”, không vì chống dịch mà “chùng xuống, không xử lý” của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố thêm niềm tin của nhân dân.

Nổi bật là, nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, mạnh mẽ về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện quyết liệt, tạo khí thế mới ngay từ năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng đã tích cực, khẩn trương cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đã tổ chức 7 hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII, trong đó có Hội nghị về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt nhiều văn bản quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Quy định số 22-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Quy định số 41-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Kết luận số 05-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng. Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV;...

Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Đầu tư; Luật Đấu thầu và Luật Thi hành án dân sự;... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 144 nghị định, 40 quyết định; các bộ, ngành ban hành hơn 700 thông tư, thông tư liên tịch...

Xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm

Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả; thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo về cơ chế phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm, tạo bước đột phá mới trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tăng cường kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 đảng viên so với năm 2020). Nhất là, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm 2020).

Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính, thu hồi 81.290 tỷ đồng và 811 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.286 tập thể và 6.132 cá nhân; nhất là đã hoàn thành thanh tra chuyên đề diện rộng việc sử dụng quỹ bảo hiểm y tế, mua sắm trang thiết bị y tế và vật tư, đấu thầu thuốc chữa bệnh; việc chấp hành pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai tại 3 tập đoàn, tổng công ty. Công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra, kiểm toán được tăng cường và đạt nhiều kết quả tích cực.

Điểm nổi bật là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng thực hiện nghiêm cơ chế phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; qua kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán đã chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý hơn 330 vụ việc có dấu hiệu tội phạm (tăng hơn 3 lần so với năm 2020). Cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã kịp thời cung cấp thông tin, chuyển tài liệu sai phạm của nhiều cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương để xem xét, kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng. Việc thực hiện cơ chế này, vừa nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa bảo đảm sự đồng bộ, nghiêm minh, kịp thời giữa kỷ luật của Đảng với xử lý hình sự, xử lý kỷ luật hành chính, đoàn thể đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.

Xét xử kịp thời 10 vụ án trọng điểm

Công tác điều tra, truy tố, xét xử tiếp tục được đẩy mạnh; xử lý nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Các cơ quan chức năng đã phối hợp chặt chẽ, tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ xác minh, xử lý các vụ việc, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, tiêu cực thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Trong năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án/1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau Phiên họp thứ 19 đến nay, đã khởi tố 10 vụ án/40 bị can; kết thúc điều tra 15 vụ án/150 bị can; truy tố 16 vụ án/164 bị can; xét xử sơ thẩm 21 vụ án/179 bị cáo, xét xử phúc thẩm 13 vụ án/74 bị cáo. Đặc biệt, đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp; tiếp tục mở rộng điều tra, kiên quyết, kiên trì đi sâu làm rõ bản chất tham nhũng, tiêu cực trong nhiều vụ án, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, trong đó 10 trường hợp cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; đã kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm vụ án đưa, nhận hối lộ liên quan đến Phan Văn Anh Vũ; một số vụ án xảy ra trong lĩnh vực y tế, lợi dụng phòng, chống dịch Covid-19 để trục lợi; các vụ án xảy ra tại Đồng Nai, Bình Dương, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang,...

Xét xử kịp thời 10 vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo gồm: Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Bộ Công Thương và Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) liên quan đến dự án 2-4-6 Hai Bà Trưng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ án “Buôn lậu; Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường và một số đơn vị liên quan.

Vụ án “Đưa hối lộ; Môi giới hối lộ; Nhận hối lộ” liên quan đến Phan Văn Anh Vũ.

Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty Cổ phần hóa dầu và nhiên liệu sinh học dầu khí Ethanol Phú Thọ và Tổng Công ty xây lắp dầu khí Việt Nam.

Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên.

Vụ án “Vi phạm các quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội.

Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi.

Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, liên quan đến các quân nhân thuộc Bộ Quốc phòng.

Vụ án “Tham ô tài sản; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC), Công ty Phát triển Nam Sài Gòn (SADECO) và các đơn vị liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Tham ô tài sản; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn.

Công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án chuyển biến tích cực, các cơ quan chức năng đã thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản có giá trị trên 15 nghìn tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị lớn. Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo từ năm 2013 đến nay đã thu hồi được hơn 31 nghìn tỷ đồng (đạt 33,33%); trong đó, năm 2021 đã thu hồi được trên 9 nghìn tỷ đồng (tăng hơn 7.100 tỷ đồng so với năm 2020). Nhất là, đã thu hồi được số tiền gần 2,7 triệu USD và 127.000 đô la Singapore của Phan Sào Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, công tác phối hợp, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, tiêu cực trong các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường. Các cơ quan chức năng trong Công an, Quân đội đã chủ động phát hiện, xử lý kỷ luật 98 cán bộ, chiến sỹ; Tòa án, Viện Kiểm sát, Thi hành án dân sự, thanh tra, kiểm toán đã xử lý kỷ luật 50 cán bộ, công chức có sai phạm, tiêu cực; Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã khởi tố, điều tra 26 vụ án/32 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Trong năm 2021, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã khởi tố mới án tham nhũng. Trong đó, nhiều địa phương đã điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm (như: Đồng Nai, An Giang, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Yên, Hà Nội, Sơn La…).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Về nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022, Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng không được chủ quan, thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được; phải kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với những trường hợp vi phạm, bất kể người đó là ai; kịp thời biểu dương, khen thưởng, động viên các tổ chức, cá nhân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để “không thể tham nhũng”. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập, đảm bảo thực chất, hiệu quả; rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản công,…; sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Đất đai, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các dự án luật liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; thực hiện nghiêm chỉ đạo về cơ chế phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm liên quan các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, tập trung chỉ đạo kết thúc điều tra 16 vụ án, kết thúc xác minh, xử lý 40 vụ việc; truy tố 20 vụ án; xét xử sơ thẩm 22 vụ án, xét xử phúc thẩm 1 vụ án theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.

Nhất là, tập trung chỉ đạo xử lý vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các vụ việc, vụ án liên quan đến lĩnh vực y tế; các vụ việc, vụ án xảy ra tại Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang…

Xét xử sơ thẩm đối với 10 vụ án trọng điểm, gồm: Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Tổng công ty Sản xuất - Xuất nhập khẩu Bình Dương.

Vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh” xảy ra tại Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đầu tư và xây dựng Tân Thuận.

Vụ án “Buôn lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả; đưa hối lộ; nhận hối lộ…” xảy ra tại Đồng Nai và một số địa phương.

Vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; nhận hối lộ” xảy ra tại một số đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và Bộ đội biên phòng.

Vụ án “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op).

Vụ án “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Dự án sinh thái tâm linh Cửu Long Sơn Tự và Dự án Biệt thự sông núi Vĩnh Trung tại khu vực núi Chín Khúc, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Bệnh viện Bạch Mai và một số cơ quan, đơn vị.

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Tim Hà Nội và các đơn vị có liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ; nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công” xảy ra tại Công ty Việt Á và một số cơ quan, địa phương.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xử lý nghiêm các sai phạm, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, đột phá hơn nữa trong công tác giám định, định giá và thu hồi tài sản tham nhũng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo, đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục liêm chính, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu. Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chỉ đạo khẩn trương hoàn thành tổng kết Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC); đề án thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh và các đề án, chuyên đề khác theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Ban Chỉ đạo đã thảo luận, thống nhất Kế hoạch triển khai thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực theo Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16-9-2021 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 03-KH/TW, ngày 1-12-2021 của Bộ Chính trị thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, với 19 nhóm nhiệm vụ; phân công cụ thể cho các cấp ủy, tổ chức đảng và các thành viên Ban Chỉ đạo; xác định rõ lộ trình, thời gian thực hiện, trong đó nhấn mạnh công tác hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cũng tại Phiên họp, Ban Chỉ đạo đã thảo luận, cho ý kiến để hoàn thiện dự thảo Chương trình công tác năm 2022; kết thúc chỉ đạo xử lý đối với 9 vụ án, 4 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo do đã kết thúc việc giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU KHÔNG PHẢI LÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRƯỚC SAU VẪN KHÔNG PHẢI LÀ MẪU HÌNH HƯỚNG TỚI CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 


Đối với chúng ta, sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật đau đớn, một tổn thất lớn lao của phong trào cộng sản và các lực lượng yêu chuộng hòa bình, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Sự kiện đó buộc chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, bình tĩnh, sáng suốt đánh giá đúng đắn đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực với tất cả thành công lẫn sai lầm, khuyết điểm để rút ra những kết luận xác đáng. Sau khi Liên Xô tan rã, chúng ta càng có thêm những bằng chứng chứng tỏ nguyên nhân sâu xa của sự đổ vỡ đó là những sai lầm nghiêm trọng về đường lối và quá trình thực hiện đường lối cải tổ cùng với những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi, thâm hiểm của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội. Sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa  không phải xuất phát từ  bản chất chủ nghĩa xã hội, mà chính là việc từ bỏ lý tưởng, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để chuyển hướng, đổi màu chế độ theo chủ nghĩa tư bản.

Đúng là mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có một số khiếm khuyết,  nhược điểm, làm hạn chế tiềm năng sáng tạo, làm suy yếu động lực của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là cuối thập niên 70 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, không ai có thể phủ nhận những thành tựu vĩ đại thể hiện tính ưu việt nổi trội của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Trong chế độ xã hội đó, con người được giải phóng khỏi ách áp bức, nô dịch, nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, nâng cao trình độ văn hóa, dân trí, nhân dân có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng phong phú, tốt đẹp. Chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, từ một nước có trình độ phát triển trung bình, Liên Xô đã trở thành một cường quốc lớn mạnh cả về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự, làm chỗ dựa của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo nên đối trọng với chủ nghĩa tư bản thế giới. Nhờ thực lực đó, Liên Xô đã đủ sức đi đầu và là lực lượng quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ II, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội diễn ra mạnh mẽ chưa từng thấy trên phạm vi toàn cầu.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một học thuyết cách mạng và khoa học duy nhất có thể vạch đường cho sự giải phóng hoàn toàn và triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới. Đó cũng không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, vì chủ nghĩa xã hội hiện vẫn tồn tại và phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào, Triều Tiên và nhiều biểu hiện ở các nước khác với số lượng dân cư trên 1 tỷ người. Ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các lực lượng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được phục hồi, đông đảo người dân ngày càng nhận rõ hơn chân giá trị xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. Sự thất bại tạm thời của chủ nghĩa xã hội chỉ nói lên tính chất quanh co của lịch sử, không làm thay đổi tính chất, nội dung của thời đại. Loài người nhất định vẫn sẽ đi đến một xã hội tốt đẹp, văn minh, dân chủ, tiến bộ hơn chế độ tư bản chủ nghĩa, đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Khẳng định chủ nghĩa tư bản trước sau vẫn không phải là mẫu hình hướng tới của xã hội loài người. Cho dù tô vẽ đến mấy, "thế giới tự do" của chủ nghĩa tư bản vẫn bộc lộ đầy đủ những khuyết tật cố hữu không thể vượt qua như: tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng doãng ra đến cực độ; tình trạng mất dân chủ, các tệ nạn, tội ác ngày càng lan tràn trong xã hội… Ngay đối với Mỹ là nước giàu nhất thế giới, nhưng tỷ lệ người nghèo ở đây cũng cao nhất trong số các nước phát triển. Người Mỹ luôn quảng bá và mong muốn áp đặt "hình mẫu dân chủ" của mình đối với thế giới, nhưng trên thực tế "dân chủ" kiểu Mỹ luôn là dân chủ của kẻ giàu, là "cuộc chơi dành cho người giàu". Theo kết quả thăm dò dư luận trên toàn nước Mỹ, 73% người Mỹ cho rằng, người dân bình thường không có cách nào liên hệ với lãnh đạo; 64% số người Mỹ cảm thấy lãnh đạo của họ bị quyền lực tha hóa; 62% cho rằng, các lãnh đạo chỉ tìm cách tăng túi tiền của bản thân. Bình quân mỗi năm có gần 12.000 người Mỹ dùng súng giết người. Nếu nhìn rộng ra đối với thế giới tư bản chủ nghĩa, phải mất gần 200 năm xây dựng mới có được những nước G7 trong tổng số hơn 100 nước. Đó là chưa tính những nước nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, nhưng vẫn nghèo đói, nợ nần, kém phát triển, thậm chí nội bộ luôn mâu thuẫn gay gắt, xung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra triền miên… 

Ngay như những thời gian vừa qua, dịch bệnh Covid-19 đã bùng phát trên toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước Tư bản như: Mỹ, Anh, Đức…số người nhiễm và chết lớn nhất thế giới. Bức tranh toàn cảnh của chủ nghĩa tư bản đã nói lên tính chất bế tắc, suy đồi của một chế độ xã hội sớm muộn cũng sẽ bị lịch sử vượt qua. Vì thế, ngay trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội trên thế giới thoái trào, gặp nhiều khó khăn, nhưng nhiều đảng cộng sản, đảng cánh tả mác xít vẫn khẳng định loài người tất yếu sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, dù quanh co, khúc khuỷu, song cuối cùng chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi.

Từ sự phân tích bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế trên đây, cho phép chúng ta khẳng định đường lối kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng là hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại. Chỉ có gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mới là đảm bảo chắc chắn nhất cho lợi ích lâu dài của dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn thể nhân dân Việt Nam. Niềm tin đó đã được thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây và ngày nay nó càng phải được phát huy mạnh mẽ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì vậy, mọi ý kiến đòi hỏi Đảng phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đều trở thành tiếng nói lạc lõng, phi thực tiễn./.

   Vũ Bão 9

THẤM NHUẦN LỜI DẠY CỦA BÁC VỀ ĐỨC VÀ TÀI, "HỒNG" VÀ "CHUYÊN" CỦA NGƯỜI CÁN BỘ


Cứ đến dịp 19 tháng 5, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kính yêu, vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Dù Bác đã đi xa, nhưng đạo đức, phong cách, tư tưởng của Người vẫn luôn gần gũi với mỗi người dân Việt Nam; định hướng, soi đường cho mỗi cán bộ đảng viên. Đức và Tài, “Hồng” và “Chuyên” là một trong những tư tưởng như vậy.

Sinh thời, trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viện, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo bồi dưỡng, giáo dục rèn luyện về mọi mặt cả phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, cả trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên đã được Hồ Chí Minh khái quát ngắn gọn trong hai chữ Đức và Tài. Từ đó đức và tài đã trở thành tiêu chuẩn, giá trị cơ bản cho mỗi người cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện và cũng là tiêu chuẩn cơ bản để xem xét, đánh giá, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, đảng viên.

Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Ở đây, Người đã đi đến một sự khái quát mới về những phẩm chất, nhân cách của người đoàn viên thanh niên và rộng hơn của tất cả những người xã hội chủ nghĩa, trong đó có đội ngũ cán bộ, đảng viên là vừa “hồng” lại phải vừa “chuyên”.

“Hồng” ở đây có thể được hiểu bao gồm cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa; là trình độ giác ngộ mục tiêu; lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. “Hồng” còn thể hiện ở đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thể hiện ở lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh.

“Chuyên” ở đây bao gồm trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ. “Chuyên” không chỉ là làm chủ được tri thức khoa học, có sự hiểu biết thấu đáo về lĩnh vực chuyên môn mà mình hoạt động, mà “chuyên” còn bao gồm cả kỹ năng thực hành. Dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực chuyên môn nào, thì người có “chuyên” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị mà còn giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung.

Trong khi yêu cầu phải đào tạo cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên – những con người xã hội chủ nghĩa phải vừa “hồng”, vừa “chuyên” không phải ngẫu nhiên mà người đặt chữ “hồng” lên trước. Cũng như khi nói đến đức và tài, bao giờ người cũng coi “đức” là gốc, và người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.

Mặt khác, giữa “hồng” và “chuyên” Hồ Chí Minh không xem nhẹ mặt nào, mà Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” không phải chỉ có “hồng” mà không có “chuyên” càng không phải chỉ có “chuyên” mà không có “hồng” cũng như vừa có đạo đức, lại phải vừa có tài. Có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két, thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài, ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không mang lợi ích gì cho loài người.

Là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, trong quá trình giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng rèn luyện cả đức và tài, cả “hồng” và “chuyên” để không ngừng hoàn thiện nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong thư gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, người căn dặn phải ra sức thi đua: luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thụât cho thông thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức người quân nhân cách mạng cho vững vàng. Bởi vì, theo Người, nếu anh em tư tưởng, chính trị vững vàng, thân thể khoẻ mạnh thì ta nhất định thắng.

Nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ quân đội, cùng toàn thể nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ; nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Người./.

 

Vũ Bão 8

 

 



ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

 


Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để.

Tuy nhiên, lâu nay những luận điệu giả dối, phản khoa học  cho rằng “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” vẫn tiếp tục chống phá cách mạng, thực chất là  họ đang tiếp tục thực hiện những âm mưu, ý đồ đen tối mà thôi. Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử tương ứng. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. C.Mác viết “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quy định”. Chính những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, … quy định dân chủ chứ không phải cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho rằng, đa đảng thì có dân chủ, một đảng thì mất dân chủ thực chất là là một trò bịp nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam.

Nói dân chủ là nói đến quyền làm chủ xã hội thuộc về ai. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ của dân”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủy quyền của nhân dân vào Nhà nước và Nhà nước là cơ quan quyền lực của dân, thực thi sự ủy quyền của dân.

Còn nói đến đa nguyên chính trị là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế độ đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, phát triển, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Thực tiễn cho thấy, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, có những những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho phát triển.

Cái gốc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới chủ nghĩa xã hội, tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền. Còn quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị. Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.

Chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản ở phương Tây chỉ là sự phân chia quyền lực giữa các phe cánh. Thực chất, chế độ đa đảng đó dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, đều là đảng của giai cấp tư sản. Còn một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cho nên, thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu.

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của  nhân dân, đó là sự lựa chọn bảo đảm cho dân chủ được thực hiện thực sự trong đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự tìm kiếm nào khác nhằm “đa nguyên chính trị, đa đảng” ở Việt Nam sẽ là mơ hồ mất, phương hướng chính trị - giai cấp và ảo tưởng, phản động./.

Vũ Bão 7

 

BÁO MỸ: VIỆT NAM ĐỨNG ĐẦU 01 TRONG 05 QUỐC GIA KHÔNG THỂ BỊ CHINH PHỤC BỞI BẤT CỨ ĐẠO QUÂN XÂM LƯỢC NÀO

 

Theo cổng thông tin điện tử về Quân sự của Mỹ 'We are the Mighty', Việt Nam đứng đầu trong danh sách 5 quốc gia không thể bị chinh phục bởi bất cứ đạo quân xâm lược nào dựa trên vòng xoáy của lịch sử trong suốt hàng trăm năm qua. Cũng theo “We are the Mighty”, cuộc chiến gần đây nhất mà người Mỹ mang đến Việt Nam là chỉ một trong hàng chục cuộc kháng chiến của Việt Nam chống lại các đạo quân xâm lược. Cũng cần nhắc lại rằng trong quá khứ, Việt Nam là một trong số những quốc gia hiếm hoi đánh bại đội quân Mông Cổ vốn đang làm điên đảo cả châu Á lẫn châu Âu trong suốt thế kỷ thứ 13. Kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, chỉ trong vỏn vẹn hơn 30 năm Việt Nam đã phải đối mặt với bốn cuộc chiến tranh xâm lược, thế nhưng sức mạnh quân sự hay âm mưu thôn tính của kẻ thù chưa bao giờ có thể làm Việt Nam khuất phục. Với ý chí kiên định và lòng quyết tâm của nhân dân Việt Nam trước mọi đạo quân xâm lược, trang We are the Mighty đã xếp Việt Nam đứng đầu danh sách 5 quốc gia không thể bị chinh phục trên toàn thế giới./.

Nguồn: kienthuc

NHỮNG ĐÓNG GÓP THẦM LẶNG CỦA NGƯỜI LÍNH TRONG CUỘC CHIẾN VỚI ĐẠI DỊCH COVID – 19


Đại dịch Covid-19, với biến chủng Delta và mới đây nhất là Omicron tiếp tục lây lan nhanh, gây khó khăn rất lớn cho công tác phòng, chống của tất cả các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Trong cuộc chiến chống Covid-19 ở Việt Nam, bên cạnh sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ; những biện pháp, khuyến cáo hiệu quả của Bộ Y tế; sự chủ động phòng chống đại dịch của chính quyền các cấp; sự đồng lòng và chấp hành nghiêm quy định phòng, chống dịch Covid-19 của người dân, còn là sự tích cực, chung sức của nhiều tổ chức, lực lượng, đặc biệt có những đóng góp thầm lặng của những người lính.

Có thể thấy, ngay từ đầu cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, những người lính luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích tích cực, chủ động trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên nhiều mặt trận, như: Những người lính biên phòng tuần tra, kiểm soát vùng biên không để ngăn chặn dịch Covid-19 xâm nhập; người lính hóa học khoanh vùng, phun hóa chất dập dịch; những người lính nhường doanh trại cho người dân thực hiện cách ly; người lính phóng viên, phát thanh, truyền hình, làm công tác dân vận kịp thời thông tin, tuyên truyền những quyết sách của Đảng, Nhà nước và các khuyến cáo phòng, chống dịch Covid-19 của Bộ Y tế. Đặc biệt, những người lính là các nhà khoa học, bác sĩ, y sĩ, dược sĩ luôn phát huy cao nhất tinh thần, trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân, không quản ngại khó nhọc, hiểm nguy lấy mẫu xét nghiệm và chữa trị bệnh nhân Covid-19. Họ cũng đã đóng góp quan trọng vào nghiên cứu, chế tạo và sản xuất hàng loạt bộ Kit xét nghiệm nhanh Covid-19; nhất là trong phối hợp nghiên cứu, đưa vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 vaccine Nanocovax, góp phần chủ động nguồn cung cấp vaccine cho công tác phòng, chống Covid-19 ở Việt Nam… Rồi, trước diễn biến hết sức phức tạp của Covid-19 ở các tỉnh, thành phía Nam, theo tiếng gọi của Tổ quốc và nhân dân, những người lính lại Nam tiến để chiến đấu với “giặc” Covid-19, tham gia các chốt kiểm soát đảm bảo người dân thực hiện nghiêm Chỉ thị 16 của Chính Phủ; hỗ trợ vận chuyển các gói an sinh xã hội, cung cấp lương thực thực phẩm đến từng nhà và đi chợ thay dân ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Hiện nay, khi tình hình dịch đã tạm được kiểm soát, các anh lại trở về với nhiệm vụ ở đơn vị, đó là ngày đêm luyện rèn để có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi về kỹ, chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc.

Những hoạt động thầm lặng của người lính trong cuộc chiến chống Covid-19 đã tiếp nối truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, khi nào Tổ quốc cần, nơi nào nhân dân khó là có các quân nhân; thể hiện bản chất giai cấp công dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ của người lính Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Điều này không những đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội, mà còn là tấm gương sống, tạo nên sức mạnh phi thường mà không một thế lực nào cóa thể bóp méo, xuyên tạc./.

 Vũ Bão 6

 

FDI ĐẠT 4,42 TỶ USD - MỐC CAO NHẤT CỦA QUÝ I TRONG 5 NĂM QUA

 

Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, quý I năm 2022, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước - đây là mức cao nhất của quý I trong 5 năm qua.

Theo đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3,44 tỷ USD - chiếm 77,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 379,8 triệu USD - chiếm 8,6%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 350,3 triệu USD - chiếm 7,9%.

Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê cũng cho biết, tính đến ngày 20-3-2022, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam; bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 8,91 tỷ USD, giảm 12,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục Thống kê chỉ ra, nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 68,7% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,71 tỷ USD, chiếm 23,5%; các ngành còn lại đạt 569,6 triệu USD, chiếm 7,8%.

Đáng chú ý, trong quý I năm nay, số dự án cấp mới tăng 37,6%; số lượt dự án điều chỉnh tăng vốn tăng 41,6%; số lượt dự án góp vốn, mua phần tương đương quý I năm ngoái. Điều này chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoài đã coi Việt Nam là điểm đến đầu tư an toàn, thể hiện niềm tin về môi trường đầu tư kinh doanh, tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam, khi Việt Nam kiểm soát tốt dịch Covid-19, nền kinh tế đang phục hồi và tăng trưởng trở lại trong trạng thái bình thường mới.

Ngoài ra, Tổng cục Thống kê cũng cho biết, trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2022, Đan Mạch là nhà đầu tư lớn nhất với 1,32 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Singapore, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), đặc khu hành chính Hong Kong (Trung Quốc).

Để tăng cường thu hút dòng vốn FDI, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng cho biết, Việt Nam tiếp tục chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc (giảm số lượng, tăng về chất lượng), đưa hoạt động đầu tư nước ngoài chuyển sang giai đoạn mới…

 XÂU XÉ NỖI ĐAU NGƯỜI KHÁC ĐỂ CHỐNG PHÁ

____________
Chuyện là rạng sáng ngày 01/4/2022, một sự việc vô cùng đau lòng xảy ra khi một nam sinh đang theo học tại trường THPT Hà Nội Amsterdam, đã để lại thư tuyệt mệnh, trèo qua ban công căn hộ ở tầng 28 tòa chung cư Văn Phú Victoria (phường Phú Lương, quận Hà Đông, Hà Nội) nhảy xuống dẫn đến tử vong.
Sau khi vụ việc xảy ra, hình ảnh bức thư của nam sinh và video clip ghi lại quá trình nam sinh tự tử cũng đã được lan truyền rộng rãi với tốc độ chóng mặt trên không gian mạng và nhận được sự quan tâm, chia sẻ của cộng đồng mạng. Bên cạnh những ý kiến tỏ ra bàng hoàng, xoát thương, chia sẻ với gia đình nam sinh khi vụ việc xảy ra, thì có rất nhiều ý kiến trái chiều chỉ trích bố mẹ của nam sinh và nhà trường; cho rằng nguyên nhân sâu xa của vụ việc bắt nguồn từ bệnh thành tích.
Đặc biệt, lợi dụng vụ việc này một số đối tượng đã tuyên truyền, xuyên tạc, quy chụp, đổ lỗi cho nền Giáo dục Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; ca ngợi nền giáo dục của Mỹ và các nước phương Tây. Chúng cho rằng, nền giáo dục của Việt Nam là thối nát.. ....Những cái nhìn thiển cận, có vẻ quy chụp, thêm bớt dẫn dắt người đọc thêm vài cái lý lẽ xuyên tạc có vẻ hợp lý đã đánh lừa dư luận của một bộ phận người dùng mạng xã hội thiếu hiểu biết về vấn đề này. Vô hình dung đả vẽ ra một bức tranh màu tối cho nền giáo dục Việt Nam.
VẬY SỰ THẬT NẰM Ở ĐÂU?
Việc học sinh tự vẫn hiện nay đang là vấn nạn trên toàn thế giới chứ chả riêng gì Việt Nam, mà nguyên nhân chủ yếu cũng chẳng liên quan quái gì đến nền giáo dục cả nó xuất phát rất nhiều nguyên nhân như: Áp lực từ gia đình tạo ra cho con cái; từ tâm lý xã hội, tình cảm cá nhân, bệnh trầm cảm cũng là một nguyên nhân..
Các đất nước phát triển trên thế giới tình trạng tự sát như thế nào, cụ thể:
1. Hàn Quốc: Tại Hàn Quốc, 14.160 người đã tìm đến cái chết vào năm 2012, tương đương, trung bình có 39 người/ngày. Trong năm 2009, 9% nhóm trẻ tuổi học đường (bao gồm cả bậc tiểu học và trung học) thừa thận đã nghĩ đến chuyện quyên sinh.
2. Nhật Bản: Theo báo cáo của Cục cảnh sát quốc gia, số học sinh sinh viên tự tử vì các vấn đề ở trường học tăng 20 em mỗi năm và tăng lên mức kỷ lục 91 em vào năm 2006,. Theo thống kê, năm 2014, số lượng học sinh sinh viên tự tử ở đất nước mặt trời mọc là 874 người, chiếm 3,4% tổng số trường hợp tìm đến cái chết.
3. Mỹ: Tại Mỹ, tình trạng giới trẻ tự tìm đến cái chết cũng khá cao. Nhiều trường hợp tìm đến tự tử hơn một lần khi lần trước không thành. Một cuộc khảo sát quốc gia năm 2011 ở nhóm tuổi từ lớp 9-12 tại các trường công lập và dân lập tại Mỹ cho thấy, 16% học sinh có suy nghĩ nghiêm túc về chuyện tự tử, 13% cho biết đã lập 1 kế hoạch cho việc này. Mỗi năm Mỹ có khoảng 157.000 thanh thiếu niên được điều trị y tế đối với những tổn thương do tự trẻ gây ra.
Trong lúc đó theo thống kê của chủa Tổ chức y tế thế giới năm 2014 thì tỷ lệ người tự sát ở Việt Nam nằm ở mức trung bình của thế giới.
Như vậy đúc rút ra một điều những lời xạo ngôn của những kẻ có cái nhìn không thiện chí về Việt Nam cũng chỉ là “mượn gió bẻ măng” mà thôi. Chúng nó chỉ lôi nỗi đau người khác ra rồi thay nhau bình phẩm, xâu xé trên chính vết thương của gia đình họ, những người ở lại để nói những đạo lý dối trá mà mục đích cuối cùng là chống phá Đảng Nhà nước ta.
KẾT: Một tập tính của loài “Rận chủ” mà được chúng phát huy tối đa là cái gì, kể cả ỉa không ra củng do Đảng Nhà nước Việt Nam cả.
Nguồn:H.R

Sự tác động của cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh ý thức hệ đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị


Hiện nay cùng với những tàn dư của tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tư sản là hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa chống cộng và chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại đang tấn công toàn diện và mạnh mẽ vào bản chất cách mạng của quân đội ta.

Bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi trọng chống phá ta về chính trị, tư tưởng và văn hoá, chúng tìm mọi cách gieo rắc tư tưởng “về sự phá sản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, rêu rao luận điệu “ Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang làm tha hoá về tư tưởng, đạo đức, lối sóng của cán bộ, chiến sĩ ta, làm cho lực lượng vũ trang biến chất về chính trị.

Đây  là cuộc chiến tranh không có khói lửa, không có tiếng súng, không dễ dàng nhận rõ mặt kẻ thù như trong chiến tranh vũ trang trước đây, chúng ta không chỉ chống lại chiến lược “Diễn biến hoà bình” mà còn chống lại cả nguy cơ “Tự diễn biến” từ bên trong.

Trong những điều kiện đó việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang, là một nội dung rất cơ bản, có tính chất quyết định đến xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị.

Sự phát triển của đất nước trong tiến trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra những vấn đè mới đối với xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.

 

Cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đời sống xã hội những nhân tố kinh tế, chính trị xã hội, giai cấp, tư tưởng đang biến đổi và tác động đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị trên các mặt chủ yếu sau đây:

Sự tác động của nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường đến xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị

Sự phát triển của kinh tế, sự ổn định chính trị của đất nước đã tác động tích cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang: lòng tin vào Đảng, vào chế độ được củng cố, ý thức, trách nhiệm chính trị đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng cao, làm tăng thêm sức mạnh chính trị – tinh thần của lực lượng vũ trang .

Tuy nhiên, bên cạnh sự tác động tích cực, thì mặt trái của nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã làm xuất hiện những tiêu cực mới, tác động không nhỏ đến lực lượng vũ trang như: ý thức giác ngộ chính trị; nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự thoái hoá biến chất, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Vì vậy, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là vấn đề cốt tử trong xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị.

Sự tác động của những biến đổi về cơ cấu xã hội – giai cấp ở nước ta hiện nay đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị. Trong quá trình vận động, biến đổi, các giai cấp và tầng  lớp xã hội có xu hướng xích lại gần nhau, liên kết, hợp tác với nhau, trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Mặt khác với cơ cấu xã hội – giai cấp không thuần nhất, phát triển đa dạng, đan xen, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau dẫn tới sự không thuần nhất về chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng khác nhau thậm chí đối lập nhau sẽ tác động đến quá trình xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị.

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc tiếp tục xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang với thành phần tham gia lực lượng vũ trang từ các giai cấp, tầng lớp khác nhau của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.

 


Tác động của tình hình thế giới tới xây dựng LLVT về chính trị

  

Cục diện kinh tế, chính trị thế giới thay đổi sâu sắc, nhanh chóng, nhất là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu làm cho tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng thay đổi bất lợi cho chủ nghĩa xã hội.

Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới, với những nội dung mới, hình thức phức tạp mới,  dưới những sắc thái mới, mà tính chất của chúng không kém phần gay go, quyết liệt

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ phi thường đưa tới những tiến bộ to lớn, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong kinh tế và cả trên các mặt của đời sống xã hội … đồng thời, làm nảy sinh những khó khăn thánh thức mới cực kỳ gay gắt.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định thay đổi chiến lược tiến công chủ nghĩa xã hội và các phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới, từ xâm lược bằng vũ trang là chủ yếu sang xâm lược bằng phi vũ trang, bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình” là chủ yếu, kết hợp với răn đe quân sự, sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, kể cả tiến hành chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao.


Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo quan điểm Mác – Lênin

 

 Cũng như giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với  sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.

Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực lượng vũ trang ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi đôi với việc phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản càng trở nên sâu sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì cũng  đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất là lực lượng vũ trang

Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, nảy sinh mâu thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội. đối với bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng để nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước. Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”

Như vậy, sự xuất hiện của hiện tượng  lực lượng vũ trang trong lịch sử gắn chặt với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước và chiến tranh. Lực lượng vũ trang là công cụ để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định.

C. Mác,  Ph. Ăng ghen và Lênin xem xét vấn đề chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ với chính trị. Phạm trù bạo lực, chiến tranh và lực lượng vũ trang bao giờ cũng gắn liền với phạm trù chính trị - giai cấp. Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực; lực lượng vũ trang là công cụ để tiến hành chiến tranh, để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định

Lực lượng vũ trang là lực lượng đặc biệt của một giai cấp, là công cụ vũ trang chủ yếu của nhà nước để tiến hành chiến tranh nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp. lực lượng vũ trang hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện chính trị. Mọi mặt hoạt động của lực lượng vũ trang đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với giai cấp, với chế độ xã hôi, với nhan dân, với dân tộc. Lực lượng vũ trang  bao giờ cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc. Không có và không thể có  lực lượng vũ trang “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, “quân đội phi chính trị” hoặc “đứng ngoài chính trị”.

Trong khi chăm lo xây dựng sức mạnh toàn diện của lực lượng vũ trang, để làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới thực sự trung thành và phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, Mác, Ăng ghen và Lênin hết sức chăm lo xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, nhất là chăm lo củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang, coi đó là vấn đề sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những nguyên tắc hết sức cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới.   

Trong quá trình xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị; xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã thường  xuyên quan tâm xây dựng cả 3 phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là sự kiên định và thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp công nhân; giáo dục hệ tư tưởng Mác – Lênin, thực hiện đường lối, nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang theo quan điểm, đường lối của giai cấp công nhân. Mặt khác, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới khác về chất với các kiểu lực lượng vũ trang của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây. Đồng thời, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm đến tăng cường xây dựng các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, nhất là mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trên cơ sở thống nhất về nghĩa vụ và quyền lợi; tăng cường củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần quốc tế vô sản.

V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành công tác tưởng, công tác tổ chức trong lực lượng vũ trang, coi đó là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, trực tiếp nâng cao chất lượng chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. V.I Lênin đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điểm sai lầm và phản động của giai cấp tư sản coi lực lượng vũ trang “ là trung lập đứng ngoài chính trị”, từ đó đi tới phủ nhận nội dung giai cấp trong xây dựng lực lượng vũ trang.

Những thảm kịch ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm 90 vừa qua là bài học đau xót và lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, nhất là vấn đề xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang kiểu mới.

 


TĂNG CƯỜNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân. Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương hiện nay là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá. Chúng đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước. Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch. Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

HAIVAN