Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Điểm tựa vùng biên.

 Đảng bộ Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị có 24 TCCSĐ, hơn 900 đảng viên. Thời gian qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, coi trọng việc dựa vào dân, lấy dân làm gốc để xây dựng thế trận biên phòng toàn dân, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đơn vị là lá cờ đầu trong các phong trào thi đua và triển khai các mô hình đồng hành, hỗ trợ bà con biên giới.

Củng cố TCCSĐ vùng biên

Tỉnh Quảng Trị nằm ở phía bắc miền Trung, điểm khởi đầu trên con đường xuyên Á nối Việt Nam với các nước trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây, có tuyến biên giới cả trên biển lẫn đất liền. Với vị trí chiến lược, việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, biển đảo là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng và một phần trách nhiệm nặng nề ấy đặt lên vai lực lượng BĐBP. Trong đó, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Trị luôn xác định xây dựng và củng cố TCCSĐ vùng biên là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị.

5 năm qua, BĐBP tỉnh đã tổ chức 4.823 đợt, với 18.061 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra đơn phương, phát hiện 710 lượt tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển, tổ chức tuần tra xua đuổi 668 lượt; chủ trì, phối hợp đấu tranh thành công 41 chuyên án, 167 vụ án, qua đó đã bắt giữ 334 đối tượng về buôn bán và tàng trữ ma túy. Ngoài ra, đơn vị cũng phát động 3 xã, 41 thôn, bản, với 4.672 người tham gia mô hình “Xã, thôn, bản không có tội phạm ma túy”. Đến nay, BĐBP tỉnh đã thành lập 35 tổ tàu, thuyền an toàn trên biển với 954 tàu và 2.384 thuyền viên tham gia; 976 hộ tham gia tổ tự quản đường biên, cột mốc; 193 tổ tự quản an ninh trật tự thôn, bản và biển đảo.

Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã cử cán bộ biên phòng là đảng viên về cơ sở, tạo “cầu nối” vững chắc giữa Đảng, Quân đội với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới. Nhiệm kỳ 2015-2020, BĐBP tỉnh đã cử 17 cán bộ tham gia cấp ủy cơ sở nơi biên giới giữ chức phó bí thư đảng ủy xã; 15 cán bộ tham gia HĐND xã; 42 đảng viên tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản; phân công 353 đảng viên thuộc 14 đồn biên phòng phụ trách 1.798 hộ gia đình với 8.747 khẩu ở khu vực biên giới.

Với tinh thần “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới đã tự nguyện đóng góp lương, phụ cấp và kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức bên ngoài để hỗ trợ bà con biên giới xây nhà, làm đường. Nhiều dự án, công trình do BĐBP tỉnh triển khai và làm chủ đầu tư như đường Sa Trầm - Pa Tầng, Lao Bảo - Hướng Phùng; điện ở Hướng Phùng; nước sạch ở A Ngo; trồng và bảo vệ rừng theo Dự án 661 của Chính phủ... được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả, tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần cho đồng bào vùng biên giới.

Quán triệt phương châm “Bốn tại chỗ”, lực lượng BĐBP tỉnh đã làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai và khắc phục hậu quả lụt, bão. Năm qua, khi các tỉnh miền Trung chịu thiệt hại nặng nề do mưa lũ, BĐBP là lực lượng xung kích đi đầu trong việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, di dời dân đến nơi trú ẩn an toàn, cung cấp lương thực, nước uống và khám chữa bệnh cho nhân dân…

Trong phòng, chống COVID-19, BĐBP tỉnh đã triển khai 84 chốt cố định, 23 tổ cơ động với 531 cán bộ, chiến sĩ tham gia túc trực 24/24 giờ trên tuyến biên giới Việt - Lào từ khi có dịch đến nay.

Hiệu quả từ một mô hình

BĐBP tỉnh Quảng Trị là một trong những đơn vị đi đầu trong toàn quân về việc triển khai vận động quần chúng, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh với nhiều mô hình, chương trình đậm tính nhân văn, tạo sự lan tỏa trong xã hội cao như xây dựng “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”, “Ánh sáng vùng biên”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Xuân biên giới, ấm lòng dân bản”, “Ổ bánh mì nơi biên giới”, “Nâng bước em đến trường”… Đặc biệt trong số đó phải kể đến mô hình “Con nuôi Biên phòng”, BĐBP tỉnh đã nhận nuôi các em mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn...

Nói đến mô hình “Con nuôi Biên phòng”, từ tháng 10-2018, trước khi Bộ Tư lệnh BĐBP phát động mô hình này trong toàn lực lượng (tháng 5-2019), Đồn Biên phòng A Vao (Quảng Trị) đã nhận nuôi 9 anh em trong một gia đình người dân tộc Pa Kô ở bản Pa Lin; cháu lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 5 tuổi. Đích thân Thượng tá, Đồn trưởng Ngô Đức Tuyến tìm hiểu hoàn cảnh, đưa các em về nuôi và trở thành “bố nuôi”, nâng bước các em tới trường.

Hành trình đưa các em tới trường chẳng hề dễ dàng, bởi hầu hết người dân vùng biên là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn hạn hẹp. Để thuyết phục gia đình 9 cháu nhỏ, lãnh đạo Đồn Biên phòng A Vao cử một tổ công tác lên tận nhà “cùng ăn, cùng ở” để vận động, thuyết phục gia đình. Dẫu vậy, cha của những đứa trẻ vẫn chưa tin bộ đội. Tổ công tác đã mời cha các em đến thăm nơi ăn chốn ở của các em do đơn vị chuẩn bị. Tận mắt chứng kiến nơi sau này các con mình sẽ sinh hoạt có đầy đủ tiện nghi, bữa cơm có đủ chất dinh dưỡng, không phải độn sắn, độn củ rừng, cha của 9 đứa trẻ đã đồng ý cho các con mình làm “con nuôi” của Đồn. Những ngày đầu, 9 đứa trẻ thường xuyên khóc vì nhớ nhà, các chiến sỹ của Đồn đã luôn quan tâm, động viên để các cháu sớm hoà nhập với cuộc sống mới. Vậy là từ đó, những đứa trẻ ngây thơ, chưa biết tới con chữ đã được tới trường, được ăn uống đầy đủ, nơi ở sạch sẽ, thoáng mát, được trang bị đầy đủ đồ dùng cá nhân. Nhưng trên hết, các em đã có thêm nhiều người “bố nuôi” là các chiến sỹ biên phòng trực tiếp quản lý, hướng dẫn, chăm lo, dạy dỗ.

Bắt đầu từ A Vao, đến nay mô hình này đã được nhân rộng tại 8 đồn biên phòng trên toàn tỉnh, nuôi dưỡng 21 em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn (trong đó nuôi tại đồn, trạm biên phòng 15 em, nuôi tại nhà 6 em). Văn phòng Bộ Chỉ huy và các phòng, đơn vị còn lại giúp đỡ nuôi dưỡng 33 em với mức hỗ trợ mỗi em 200.000 đồng/tháng. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã hướng dẫn các đơn vị phối hợp với nhà trường, chính quyền địa phương lựa chọn những em thuộc gia đình chính sách, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để giúp các em có điều kiện ăn ở, học tập. Toàn bộ chi phí ăn, ở, học tập, sinh sống của các em đều do các cán bộ, chiến sĩ của lực lượng BĐBP tỉnh Quảng Trị đóng góp. Các em được lo cho chỗ ăn ở, được  nuôi dạy đến khi tốt nghiệp THCS. Khi các cháu vào THPT thì sẽ thực hiện theo mô hình “Nâng bước em đến trường” để các cháu trở về sinh sống với gia đình. Đến nay, các đơn vị cơ sở trong BĐBP tỉnh đã “Nâng bước em tới trường” 92  học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vượt khó (trong đó có 9 em người nước bạn Lào). Hằng tháng, đồn biên phòng hỗ trợ mỗi học sinh 500 ngàn đồng và cử những người “bố nuôi” kèm cặp, giúp đỡ, hướng dẫn các em học tập, định hướng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện của mỗi em. Nhiều đồn biên phòng bố trí cho các em tham gia hoạt động tập thể, vui chơi giải trí để bồi dưỡng kỹ năng sống, khuyến khích các em phát huy năng khiếu, sở trường để phát triển tốt hơn. Các đồn biên phòng cũng cử cán bộ giữ mối liên hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình và nhà trường nơi các em theo học, thường xuyên trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của từng em.

Những tấm gương tiêu biểu

Một tập thể vững mạnh luôn phát huy truyền thống của lực lượng, của quê hương Quảng Trị anh hùng đã xuất hiện nhiều cán bộ, chiến sĩ BĐBP như những tấm gương sáng vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, nhận được sự tin yêu của chính quyền và nhân dân trong tỉnh.

Tiêu biểu trong đó có Đại úy Lê Thừa Văn, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế (CKQT) Lao Bảo, người đã 3 lần hoãn cưới để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19. Anh là 1 trong 10 Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2020 và Gương mặt trẻ Việt Nam triển vọng năm 2020.

Lần hoãn cưới đầu tiên của anh là khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi tình hình dịch tạm thời lắng xuống thì tình hình xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới nước ta ở các cửa khẩu thuộc địa bàn tỉnh Quảng Trị vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan, người lính trẻ này lại quyết định hoãn cưới lần 2 vào tháng 9-2020. Khi anh dự kiến tổ chức đám cưới vào tháng 3-2021 thì đợt dịch COVID-19 thứ ba tại Việt Nam chưa kết thúc. Các đơn vị biên phòng tiếp tục duy trì 100% quân số tại đơn vị để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch, đồng nghĩa với việc đám cưới của cặp đôi này lại thêm một lần trì hoãn.

Đại úy Lê Thừa Văn chia sẻ: “Tôi xác định mình là cán bộ biên phòng làm công tác dân vận, nếu không gương mẫu thì làm sao tuyên truyền cho nhân dân nghe và làm theo được. Vậy nên, tôi quyết định thêm một lần nữa hoãn ngày vui của mình để cùng đồng đội bám trụ biên giới”.

Theo Đại úy Lê Thừa Văn, mặc dù chỉ cách nhau gần 5km, nhưng nhiều tháng qua, anh và vợ chưa cưới hiếm có dịp gặp nhau. Tập trung thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19, từ tháng 2-2020 đến nay, Đại úy Lê Thừa Văn và đồng đội ngày đêm tuần tra, kiểm soát chặt chẽ các đường mòn, lối mở tại khu vực biên giới, trực tiếp phát hiện, ngăn chặn kịp thời 105 công dân nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Bên cạnh đó, anh trực tiếp đến từng bản, từng gia đình để tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các quy định về phòng, chống dịch bệnh; vận động nhân dân không tiếp tay cho hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới. Năm 2020, anh cùng đơn vị phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị trấn Lao Bảo (huyện Hướng Hóa) hỗ trợ sửa chữa 9 nhà, cùng các gia đình xây mới 15 nhà, tổng giá trị 800 triệu đồng; kêu gọi, vận động các doanh nghiệp, các Mạnh Thường Quân hỗ trợ kinh phí thực hiện các mô hình “Bò giống cho người nghèo”, “Nuôi dê chuồng” cho hơn 100 hộ dân trong huyện.

Có một Gương mặt trẻ tiêu biểu BĐBP năm 2017, đó là Thượng úy Nguyễn Văn Bằng, Đội trưởng Tham mưu Hành chính, Đồn Biên phòng CKQT La Lay. Anh cùng đồng đội đã có nhiều chương trình giúp đỡ bà con các xã A Bung và A Ngo của huyện Đakrông lao động sản xuất, bảo vệ biên giới, xây dựng thôn, bản, cho con em đến trường. Đến nay Thượng úy Nguyễn Văn Bằng cùng đồng đội đã xây dựng thành công nhiều mô hình, phong trào mang đậm tính nhân văn, được chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao như: “Ánh sáng đường biên”, “Ổ bánh mì nơi biên giới”, “Nồi cháo nghĩa tình”, “Tiết học biên giới”...

Cũng tại Đồn Biên phòng CKQT La Lay, còn có tấm gương Thượng úy Nguyễn Thanh Sơn, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, tấm gương đảng viên trẻ tiêu biểu của toàn lực lượng biên phòng tỉnh. Thượng úy Sơn được phân công phụ trách 9 hộ gia đình thôn La Lay, xã A Ngo, huyện Đakrông. Bằng tình cảm và trách nhiệm của mình, anh đã thực hiện “3 cùng, 4 bám”, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hỗ trợ người dân thay đổi tập quán canh tác, mạnh dạn xóa bỏ những tập tục lạc hậu, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi. Mới đây anh đã để lại dấu ấn khi tham mưu với Đảng ủy, Ban Chỉ huy đơn vị phối hợp với Đoàn cơ sở Trung tâm Y tế huyện Đakrông triển khai thí điểm chương trình “Nồi cháo nghĩa tình” đến các bệnh nhân nghèo trên địa bàn. Chương trình như “liều thuốc vật chất và tinh thần” kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ người bệnh nghèo, khó khăn vượt qua những thử thách bởi bệnh tật.

Đó chỉ là ba trong số hàng trăm gương sáng chiến sỹ vùng biên của lực lượng BĐBP tỉnh Quảng Trị đóng góp vào thành tích chung của tập thể vững mạnh. Với những chiến công đã lập được, BĐBP tỉnh Quảng Trị đã nhận được nhiều phần thưởng của các cấp, các ngành, nhưng cao quý hơn cả là sự tin yêu của Nhân dân vùng biên đối với các chiến sĩ mang quân hàm xanh.


 

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Xây dựng Đảng về đạo đức theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

 Nghị quyết Đại hội XIII xác định tiếp tục tập trung xây dựng Đảng về đạo đức. Bài viết này góp phần làm rõ thêm nhận thức về luận điểm này và đề xuất các giải pháp tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Tầm quan trọng của xây dựng Đảng về đạo đức

Đạo đức là một bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, xây dựng xã hội văn minh và tiến bộ. Cán bộ, đảng viên không phải chỉ tuân thủ chuẩn mực đạo đức xã hội mà còn phải gương mẫu về đạo đức cách mạng, biết đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và Nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, hết lòng phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và Nhân dân.

Sinh thời, Hồ Chí Minh cảnh báo nếu cán bộ, đảng viên không biết tu dưỡng đạo đức cách mạng thì dễ sa vào các căn bệnh hủ hóa, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, tham ô… Hủ hóa là sự tha hóa về nhân cách, phản ánh sự suy thoái về đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng bệnh hủ hóa là “ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ”; là “tham ô”, “lãng phí”, “quan liêu”(1). Chủ nghĩa cá nhân sẽ làm nảy sinh và làm trầm trọng thêm các chứng bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc địa phương, bè cánh… “Trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình… Số người đó coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi, nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình quyền sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(2).

Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn phải chú trọng xây dựng đạo đức cách mạng, đề phòng nguy cơ suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên(3). Theo Bác, “Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính… Thiếu một đức thì không thành người”#(4). Đạo đức phải là gốc vì “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”#(5).

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được triển khai quyết liệt, đồng bộ, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tuy nhiên, “xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn nhiều hạn chế: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ…”(6).

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống chính là sự lệch chuẩn các hành vi ứng xử, quy tắc, chuẩn mực xã hội, thuần phong mỹ tục của con người và ngày càng xa lạ với đạo đức cách mạng. Suy thoái về đạo đức, lối sống làm tha hoá cán bộ, đảng viên, từ đó làm suy yếu sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hệ thống chính trị, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng. Để ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, chúng ta cần hệ thống các giải pháp, từ đó tác động có chủ đích đến ý thức, hành vi của cán bộ, đảng viên theo đúng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Giải pháp tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

Thứ nhất, tổ chức học tập, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, trong đó có nội dung “xây dựng Đảng về đạo đức”

Đại hội XIII xác định trong 10 nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ thứ ba là “tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”. Ngày 9-3-2021, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW “về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Công tác tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai phải được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, chất lượng; nêu cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp. Cấp ủy đảng các cấp phải xây dựng chương trình hành động cụ thể, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII.

Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; đồng thời, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ hai, thể chế hóa các chủ trương của Đảng

Tập trung thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, quy định, chỉ thị của Đảng thành pháp luật, chương trình, kế hoạch của Nhà nước với các chế tài thực thi đạt hiệu lực cao. Hệ thống quy định, biện pháp cần được xây dựng đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng với pháp luật của Nhà nước, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện bảo đảm thành công trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái về đạo đức, lối sống.

Trước hết, triển khai đề án nghiên cứu “Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”(7). Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Đạo đức cán bộ, công chức. Việc này đáp ứng được yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Luật Đạo đức cán bộ, công chức xác định rõ các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ, hành vi đạo đức và công cụ đạo đức.

Thứ ba, đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng với nội dung thiết thực

Nhiệm vụ Đại hội XIII đề ra là: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”(8).

Giáo dục đạo đức cách mạng là một trong những công cụ hữu ích, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Giáo dục là con đường cơ bản và phổ biến để hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cần thiết cho mỗi cán bộ, đảng viên. Giáo dục đạo đức cần bao trùm những nội dung rèn luyện nâng cao chuyên môn gắn với tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, thái độ ứng xử và động cơ làm việc của cán bộ, đảng viên vì mục tiêu chung của tập thể. Hồ Chí Minh khẳng định trau dồi đạo đức của cán bộ, đảng viên cần được thể hiện trên cả ba phương diện: Đối với mình, đối với mọi người và đối với công việc. Đối với mình, không ngừng học tập, rèn luyện nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, tu dưỡng đạo đức cách mạng, không được tự cao, tự đại và luôn có ý chí cầu tiến. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên kiểm điểm, tự phê bình để phát huy điều hay, hạn chế, sửa đổi, khắc phục những điều chưa tốt của bản thân, phải coi việc tự phê bình mình như việc rửa mặt hằng ngày. Đối với mọi người, luôn giữ thái độ chân thành, thật thà, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc; nghiêm túc phê bình những sai sót, khuyết điểm, hạn chế của người khác với dụng ý nhân văn, mong muốn họ sửa chữa sai lầm và trở nên tiến bộ. Đối với công việc, nói phải đi đôi với làm, việc công phải đặt lên trước việc tư; phải tận tâm, tận tuy, không ngại khó khăn, gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cấp ủy đảng các cấp phải xây dựng chương trình hành động, nội dung sinh hoạt chuyên đề thiết thực; mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm nêu gương và tích cực học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Thứ tư, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện tốt các quy định nêu gương

Đại hội XIII yêu cầu: “Thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị”(9). “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải nêu gương, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(10).

Thực hiện tốt các quy định trách nhiệm nêu gương có giá trị quan trọng, khẳng định đây là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Nêu gương tạo sự khích lệ hoàn thiện, tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh thái độ và hành vi, răn đe, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa nguy cơ sai phạm của mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hành nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, nếp văn hóa, đề cao ý thức trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương. Đề cao trách nhiệm nêu gương góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng tích cực xây dựng kế hoạch chi tiết, khả thi và tổ chức thực hiện hiệu quả để từng cán bộ, đảng viên thực hành các quy định nêu gương nền nếp, thực chất, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Đồng thời, coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, báo chí và Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên khi thực hiện các quy định nêu gương.

Thứ năm, đề cao ý thức rèn luyện tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo hình ảnh sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội”(11). Đây là giải pháp rất quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên của từng cán bộ, đảng viên. Sự tu dưỡng đạo đức của mỗi người phản ánh trung thực và sinh động nhất về nhân cách cá nhân. Người thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức khiến cho bản thân dễ bị cám dỗ bởi vật chất, tiền bạc, danh vọng, từ đó dễ sa vào cá nhân chủ nghĩa, lối sống ích kỷ, thực dụng, tham ô… Bởi vậy, nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức làm cho mỗi cán bộ, đảng viên giữ vững, hoàn thiện nhân cách, phẩm giá, duy trì lối sống trong sạch, lành mạnh, văn minh.

Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong sáng, lành mạnh phải được thực hiện bền bỉ, thường xuyên và liên tục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và sự giúp đỡ của tập thể, của quần chúng. “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lên lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ. Vì vậy, gột rửa chủ nghĩa cá nhân ví như rửa mặt thì phải rửa hằng ngày”(12)#.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong rèn luyện đạo đức cách mạng, đấu tranh ngăn chặn suy thoái về đạo đức, lối sống. Thực hành phẩm chất đạo đức, lối sống thể hiện thông qua việc hoàn thành trách nhiệm chính trị được giao, biết hy sinh vì quốc gia, dân tộc. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần: “Việc thiện thì nhỏ mấy, khó mấy cũng nên làm; việc ác thì nhỏ mấy cũng tránh”#(13).

-----

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011. tập 4 , tr.65. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB CTQG, tập 26, tr.23-24. (3) Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên thể hiện rõ trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” (1949). “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và Di chúc của Người (1969)... (4) Sđd, tr.117. (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 9, tr.293. (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 2. NXB CTQG ST, 2021, tr.178-179. (7), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr.183-184. (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr.184. (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr.183. (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr.184. (12) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 9, tr. 293. (13) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 6, tr.131.


Cội nguồn sức mạnh của Ban đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh.

 Những năm qua, Ban đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; thường xuyên quán triệt cho đội ngũ cán bộ, nhân viên nhận thức đúng đắn về yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ xuất bản, trong đó đặc biệt chú trọng các loại sách tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X; sách về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các bộ sách về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...
Cội nguồn sức mạnh cho sự thành công của đơn vị là luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng, xây dựng Chi bộ Ban đại diện trong sạch, vững mạnh, cơ quan vững mạnh toàn diện; xây dựng và tăng cường tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng trách nhiệm, đề cao dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể trong thực hiện nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân viên đơn vị luôn chấp hành tốt kỷ luật Quân đội và nội quy, quy định của cơ quan; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; không có cán bộ, đảng viên, nhân viên vi phạm kỷ luật.
Chi bộ luôn quán triệt và thực hiện nghiêm các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Cơ quan Tổng cục Chính trị; nghị quyết của cấp ủy cấp trên; quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị, quy định về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và làm tốt công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Chi bộ, nhiệm vụ của đơn vị.
Trong công tác chuyên môn, Chi bộ tập trung lãnh đạo nâng cao đổi mới, nâng cao chất lượng công tác biên tập; xây dựng chế độ biên tập hợp lý; đẩy nhanh tiến độ biên tập và tăng cường tính chủ động trong công tác tổ chức bản thảo cũng như các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách… Bên cạnh đó, thường xuyên quan tâm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ biên tập viên, phóng viên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm thực hiện nghiêm chế độ quy định của Quân đội, cơ quan.
Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, Lãnh đạo đơn vị đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và của Nhà xuất bản; nắm chắc tình hình, đặc điểm và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Khâu then chốt là nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, biên tập viên (nhất là các biên tập viên, phóng viên mới vào nghề) trong tổ chức bản thảo và biên tập.
Hai là, lãnh đạo xây dựng cơ quan vững mạnh về mọi mặt, trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ biên tập viên, nhân viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức trong sáng; đổi mới phương pháp, tác phong làm việc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác; duy trì nền nếp, chấp hành kỷ luật, nội quy, quy định của Quân đội và cơ quan; tham gia huấn luyện quân sự hằng năm (bắn súng, điều lệnh đội ngũ, phòng, chống cháy nổ) đạt kết quả tốt; tích cực phòng, chống dịch bệnh COVID-19 hiệu quả, an toàn.
Ba là, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các Nghị quyết của BCH Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, XI; chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Tổng cục Chính trị và của Đảng ủy Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” theo Chỉ thị số 855-CT/QUTW của BTV Quân ủy Trung ương. Thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Chi bộ, chú trọng giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ biên tập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; phấn đấu xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, 100% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đảng viên theo kế hoạch.
Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong thời gian tới Ban đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân sẽ tập trung một số giải pháp sau:
Một là, tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, trước hết là về nhận thức, trách nhiệm và năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ biên tập, xuất bản; nắm chắc đặc điểm tình hình và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm, khâu then chốt là nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ biên tập, tổ chức bản thảo và biên tập xuất bản sách, đặc biệt chú trọng các loại sách tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, XI; sách về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các bộ sách về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... đúng định hướng chính trị.
Hai là, lãnh đạo xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện: Tiếp tục lãnh đạo, giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân viên có quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, có ý chí, trách nhiệm, quyết tâm cao thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội, chức trách, nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân tốt; kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Chi bộ và cơ quan. Tiếp tục xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện.
Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng Chi bộ trong sạch, vững mạnh. Duy trì và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Chi bộ, Đảng bộ; chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và làm tốt công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng và phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Chi bộ; phát hiện và ngăn chặn kịp thời, không để cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và những điều đảng viên không được làm; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Chi bộ, xây dựng Chi bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.

Tăng cường vai trò giám sát để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bầu cử.

 Hoạt động kiểm tra, giám sát của mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp không chỉ góp phần làm cho việc thực hiện quy trình bầu cử dân chủ, công khai, minh bạch, mà còn kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phát hiện những vi phạm pháp luật về bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử thật sự dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thật sự là ngày hội của toàn dân.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ diễn ra vào ngày 23-5-2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của mặt trận Tổ quốc (MTTQ) góp phần không nhỏ để cuộc bầu cử ĐBQH khoá XV và HĐND các cấp lựa chọn được những đại biểu xứng đáng thay mặt nhân dân tham gia cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực cao nhất. Điều này cũng thể hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong việc lựa chọn, bầu ra những đại diện xứng đáng tham gia ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, đồng thời thực hiện chức năng, nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước của MTTQ, thực hiện được vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.

MTTQ Việt Nam thực hiện kiểm tra, giám sát các việc sau: Thành lập và hoạt động của Hội đồng Bầu cử quốc gia và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương; việc giới thiệu người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và việc nộp hồ sơ ứng cử của người ứng cử, người được giới thiệu ứng cử; việc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; việc lập, niêm yết danh sách cử tri; việc lập, niêm yết danh sách những người ứng cử; việc tuyên truyền, vận động bầu cử; trình tự bỏ phiếu, việc kiểm phiếu; việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến công tác bầu cử; việc triển khai thực hiện kiểm tra, giám sát bầu cử.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát của hệ thống MTTQ trước và trong bầu cử, chia làm 3 đợt, đợt 1 từ ngày 20-2-2021 đến ngày 13-4-2021; đợt 2 từ ngày 13-4-2021 đến ngày 22-5-2021; đợt 3 trong ngày tổ chức bầu cử 23-5-2021. MTTQ Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát công tác bầu cử. Ban Thường trực Trung ương MTTQ Việt Nam yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát công tác bầu cử của ủy ban MTTQ các cấp phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, kịp thời, tiết kiệm, hiệu quả, đúng nội dung và tiến độ theo kế hoạch đề ra. Khi phát hiện vi phạm phải kịp thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết, đồng thời phải báo cáo ngay Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ban thường trực ủy ban MTTQ các cấp để xem xét giải quyết, chịu trách nhiệm về những kiến nghị của đoàn kiểm tra, giám sát hoặc của cá nhân cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Ban thường trực ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố đã xây dựng kế hoạch giám sát công tác bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, đồng thời các địa phương tổ chức triển khai trong hệ thống MTTQ và các tổ chức thành viên để thực hiện. Hàng nghìn cán bộ MTTQ và các tổ chức thành viên đã được tập huấn công tác bầu cử. Ủy ban MTTQ các địa phương đã phối hợp với ủy ban bầu cử, thường trực HĐND cùng cấp và các tổ chức thành viên thực hiện công tác giám sát theo kế hoạch, nhằm đánh giá tình hình công tác tổ chức, triển khai, thực hiện việc chấp hành các quy định của pháp luật về công tác bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 trên địa bàn; làm rõ những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan; kịp thời phát hiện và kiến nghị để khắc phục những hạn chế, sai sót trong quá trình thực hiện công tác bầu cử.

Sau Hội nghị hiệp thương lần thứ hai, ban thường trực ủy ban MTTQ các tỉnh, thành phố và huyện đã có kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Ban thường trực ủy ban MTTQ các xã, phường, thị trấn thuộc các tỉnh đã chủ động phối hợp với UBND cùng cấp tổ chức các hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử theo kế hoạch. Ban thường trực ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện tổ chức các hội nghị hướng dẫn cách thức tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử, tự ứng cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc của người tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Các ý kiến, kiến nghị, phản ánh về người ứng cử đều được xác minh và trả lời cử tri theo đúng quy định.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức các đoàn giám sát việc triển khai công tác bầu cử tại các tỉnh, thành phố. Kết thúc mỗi đợt giám sát, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ tổng hợp báo cáo kết quả giám sát, trong đó có những vấn đề kiến nghị, phát sinh gửi tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, các tỉnh được giám sát và các cơ quan hữu quan có liên quan để kịp thời xem xét, giải quyết.

Đến ngày 22-3-2021, các cơ quan phụ trách bầu cử ở Trung ương và địa phương đã được thành lập đúng tiến độ, số lượng và thành phần theo quy định của pháp luật, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Các địa phương đã xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác bầu cử trên địa bàn nghiêm túc, đúng tiến độ và đúng quy định. Các tỉnh, thành phố đã kịp thời nắm bắt, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc và chỉ đạo cấp dưới triển khai công tác bầu cử theo đúng quy định và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Công tác tuyên truyền được triển khai với nhiều hình thức, nội dung phong phú.

Ban thường trực ủy ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã phối hợp chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác bầu cử kịp thời nhằm hạn chế tối đa những vụ việc trở thành “điểm nóng”. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội  được kiểm soát tốt, ổn định; cấp ủy, chính quyền các địa phương đều tăng cường bám sát cơ sở, nắm chắc dư luận; bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin tuyên truyền; đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng bầu cử để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;  có các biện pháp dự báo, phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng cuộc bầu cử để tuyên truyền, kích động, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, tăng cường công tác giữ gìn an ninh trật tự tại các địa phương giáp biên giới, bảo đảm không có điểm nóng về an ninh trật tự ảnh hưởng đến kết quả cuộc bầu cử. Đặc biệt chú ý địa bàn giáp ranh với các tỉnh lân cận, tránh để hình thành “điểm trắng” cho các phần tử xấu lợi dụng, hoạt động phá hoại.

Kiểm tra, giám sát cũng cho thấy Bộ Chính trị, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các địa phương chủ động triển khai công tác bầu cử, tập huấn, quán triệt nghiêm túc, bài bản các quan điểm, yêu cầu của cuộc bầu cử đến cấp cơ sở. Công tác chuẩn bị nhân sự ứng cử được tiến hành thận trọng, bảo đảm đúng quy trình lựa chọn, giới thiệu người ứng cử. Quá trình hiệp thương đã cân đối hợp lý cơ cấu, thành phần ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, chú ý thành phần đại biểu nữ, trẻ tuổi, ngoài Đảng, người dân tộc thiểu số, có trình độ chuyên môn cao và đại diện cho các thành phần xã hội. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để danh sách sơ bộ người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp có một số thành phần cơ cấu đạt tỷ lệ rất cao.

Từ nay đến thời điểm diễn ra bầu cử không còn dài, việc thực hiện các quy trình tiếp theo có ý nghĩa hết sức quan trọng như: Tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; phân bổ ứng cử viên ĐBQH ở Trung ương về ứng cử tại các địa phương; tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách chính thức người ứng cử; công bố danh sách chính thức những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử; rà soát danh sách cử tri; niêm yết danh sách những người ứng cử; người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc cử tri thực hiện vận động bầu cử, báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động nếu trúng cử; cấp phát kinh phí, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết phục vụ ngày bầu cử...

Các địa phương trong cùng một thời điểm phải chuẩn bị và tiến hành cả công tác bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND nên khối lượng công việc nhiều, thời gian dành cho công tác chuẩn bị và triển khai thực hiện lại ngắn nên tạo áp lực lớn với đội ngũ cán bộ cơ sở. Vì vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác bầu cử, nhất là ở cấp cơ sở. Đặc biệt là sẵn sàng tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh về bầu cử, giải đáp, hướng dẫn kịp thời. Từ nay tới khi tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ ba, tất cả các vấn đề vướng mắc đối với các ứng cử viên phải được làm rõ. MTTQ các cấp khi kiểm tra, giám sát cần linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, bảo đảm đúng luật và tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Gắn chặt kiểm tra, giám sát với tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân, người ứng cử, phát huy tính giám sát toàn dân.

Việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ, phù hợp với tiến trình của cuộc bầu cử không chỉ cho thấy vai trò kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, mà còn thể hiện trách nhiệm của cơ quan đại đoàn kết vì mục tiêu bảo đảm cho cuộc bầu cử được tổ chức dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội của toàn dân.

 

Đấu tranh chống âm mưu đòi "chuyển đổi thể chế chính trị" 

ở Việt Nam

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.       

Tổng Bí thư Lê Duẩn - Tổng công trình sư của phong trào cách mạng giải phóng miền Nam Việt Nam.

 Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986) sinh tại xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Quá trình hoạt động cách mạng của ông bắt đầu từ rất sớm. Năm 1928, đồng chí tham gia Đảng Tân Việt, năm 1929 tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, năm 1930 là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên của Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó). Năm 1931, đồng chí Lê Duẩn là Ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc kỳ, bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù giam và lần lượt bị giam ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Côn Đảo.

Nhiệt huyết của người chiến sỹ cộng sản

Năm 1936, nhờ kết quả của phong trào đấu tranh cách mạng trong nước và thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, Lê Duẩn được trả lại tự do. Ngay lập tức, đồng chí liên lạc với tổ chức và trực tiếp tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Trung, giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung kỳ. Năm 1939, đồng chí là Ủy viên BCH Trung ương Đảng và dự Hội nghị lần thứ VI BCH Trung ương (tháng 11-1939), góp phần cùng Trung ương Đảng thực hiện chuyển hướng chiến lược cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp đoàn kết quần chúng đấu tranh trong thời kỳ mới. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt ở Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đồng chí được trả tự do, sau đó trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Lê Duẩn đã cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng, củng cố hệ thống tổ chức đảng trong toàn xứ, tổ chức nghiên cứu đường lối kháng chiến, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đấu tranh ở nông thôn, đẩy mạnh công tác dân vận… Tại Đại hội Đảng bộ xứ Nam Bộ (cuối năm 1947), đồng chí Lê Duẩn đã được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Từ thực tiễn hoạt động, nghiên cứu sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, vận dụng trên chiến trường Nam Bộ, những ý kiến của Lê Duẩn về vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, địa chủ…; về việc giải quyết ruộng đất ở Nam Bộ; về xây dựng và củng cố khối đoàn kết trong hàng ngũ cách mạng, nhất là khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng… đã chứng minh tính đúng đắn của những vận dụng này, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Lê Duẩn cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ đã triển khai sáng tạo và hiệu quả chủ trương, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng ta, gắn chặt với thực tiễn cách mạng sinh động và phức tạp tại Nam Bộ.

Với tầm nhìn chiến lược và đúng đắn, ông đã thu hút và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhiều nhân sĩ trí thức có tiếng ở Nam Bộ tham gia kháng chiến. Đồng chí Lê Duẩn thực sự là “ngọn đèn pha”(1) rọi sáng, dẫn dắt cuộc đấu tranh tại chiến trường Nam Bộ trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.

Người kiến thiết đường lối cách mạng miền Nam

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, cách mạng miền Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức với chính sách đàn áp tàn bạo “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm… Đồng chí Lê Duẩn xin Trung ương cho ở lại Nam Bộ, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ. Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng viết: “Năm mươi năm nhìn lại và suy ngẫm, càng thấu hiểu ý nghĩa lớn lao và phẩm cách cao cả của nhà yêu nước và nhà hoạt động cách mạng Lê Duẩn với quyết định xin ở lại miền Nam sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ mà Bác Hồ và Trung ương giao cho sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chiếc tàu áp chót neo đậu ở thị trấn Sông Đốc, Cà Mau. Anh Ba lên tàu như người đi tập kết để che mắt kẻ thù, đến nửa đêm Anh bí mật rời tàu, quay trở lại. Trong hồi tưởng, tôi rất xúc động và cảm phục khi nghĩ về sự kiện lớn lao đó”(2).

Dự cảm được chặng đường kháng chiến đầy chông gai và lâu dài, khi tiễn chân đồng chí Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) từ Nam Bộ xuống tàu ra Bắc (năm 1955), đồng chí Ba Duẩn đã nói: “Anh ra báo cáo với Bác Hồ và các anh trong Bộ Chính trị, 20 năm nữa, chúng ta sẽ gặp nhau”. Sau ngày toàn thắng, trả lời câu hỏi: “vì sao anh Ba nêu 20 năm?”, đồng chí Sáu Thọ giải thích rằng, “đó là vì anh Ba đã sớm thấy cách mạng miền Nam không tránh khỏi sẽ phải đối đầu với quân xâm lược Mỹ; do nhiều nguyên nhân cuộc đụng độ lịch sử này sẽ vô cùng ác liệt trong thời gian dài”(3).

Với sự am hiểu sâu sắc chiến trường Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn cùng Xứ ủy tiếp tục bám sát địa bàn công tác, dựa chắc vào quần chúng, tổ chức củng cố, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng. Năm 1956, đồng chí dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam ngay tại chính địa bàn trung tâm đầu não của đối phương. Đề cương chỉ rõ chính quyền miền Nam Việt Nam là chính quyền thực dân kiểu mới, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chà đạp thành quả cách mạng nhân dân ta giành được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng thời xác định rõ đối tượng của cách mạng miền Nam là đế quốc và phong kiến; kẻ thù cụ thể và trước mắt của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ xâm lược, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản phản động, tay sai của đế quốc Mỹ và bản chất của chính quyền Ngô Đình Diệm là “con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới”. Từ đó, đồng chí đã viết: “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác”. Bản Đề cương cách mạng miền Nam ra đời trong thời điểm lịch sử bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có ý nghĩa hết sức quan trọng, cho thấy tư duy sắc sảo, nhãn quan chính trị sáng suốt của đồng chí Lê Duẩn, kết tinh trí tuệ của Đảng và thấm đẫm hơi thở của thực tiễn cách mạng. Văn kiện này góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và chính trị cho các văn kiện quan trọng tiếp theo như Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960)… về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta.

Cuối năm 1957, theo điều động của Trung ương, đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội, tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, chuẩn bị văn kiện tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tại Đại hội III (năm 1960), đồng chí được bầu vào BCH Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao khó khăn, sóng gió, đối mặt với những chuyển biến phức tạp của tình hình quốc tế, phong trào cộng sản thế giới và sức mạnh của đế quốc Mỹ cùng tay sai trên chiến trường miền Nam.

Khát vọng và quyết tâm giải phóng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn luôn thể hiện trong từng lời phát biểu tại các cuộc họp Bộ Chính trị, trong các bức điện, thư, chỉ thị gửi các đồng chí lãnh đạo miền Nam trong giai đoạn từ đầu năm 1961 đến năm 1975. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của tinh thần cách mạng triệt để, ý chí tiến công quyết liệt, quyết tâm đánh thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đồng chí Lê Duẩn cùng các đồng chí Lãnh đạo Đảng từng bước cụ thể hóa đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, tranh thủ sự giúp đỡ và đoàn kết quốc tế để tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trên chiến trường miền Nam, từ sự kiện Đồng khởi (năm 1960) đến các chiến thắng ở Núi Thành (5-1965), Vạn Tường  (8-1965) đã minh chứng khả năng của ta đánh bại quân Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực; tạo đà cho quân dân ta ở hai miền Nam - Bắc tiến lên giành những thắng lợi mới, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Với chiến thắng của quân và dân miền Nam mùa khô 1965-1966, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận bước vào bàn đàm phán với chúng ta.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (năm 1969), đồng chí Lê Duẩn đã kế tục và hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ vĩ đại của nhân dân ta. Thắng lợi lịch sử trong trận Điện Biên Phủ trên không (năm 1972) và việc ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973 đã tạo ra một bước ngoặt căn bản cho việc chuẩn bị kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí đã khẳng định: “Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”(4). Ngay khi chuẩn bị lực lượng, chờ đợi và nắm bắt thời cơ, cho đến khi quyết định tổ chức Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), hàng loạt thư từ, điện đàm, chỉ thị… của đồng chí Lê Duẩn gửi vào chiến trường cho thấy sự sát sao, nhạy bén và khát vọng giải phóng miền Nam của ông.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh chính là một minh chứng về sự đóng góp của đồng chí Lê Duẩn vào sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Đại tướng Hoàng Văn Thái đã viết: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, do Hồ Chủ tịch đứng đầu - sau khi Người qua đời do Tổng Bí thư Lê Duẩn kế tục - thực sự là Bộ Thống soái kiệt xuất trong chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam”(5). Đồng chí Lê Duẩn chính là một tổng công trình sư của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần quan trọng trong quá trình thiết kế, phát triển, cụ thể hóa và hoàn chỉnh đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam nói riêng, đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, cũng như tổ chức thực hiện một cách năng động, sáng tạo đường lối đó.

Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976) và lần thứ V (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn được bầu vào Trung ương, Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư. Từ năm 1978 đến năm 1984, ông làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong bối cảnh quốc tế khó khăn và phức tạp, Tổng Bí thư Lê Duẩn luôn kiên trì giữ vững tư tưởng độc lập dân tộc như một điều bất khả xâm phạm trong đường lối lãnh đạo đất nước của mình.

-----

(1) Nhà trí thức Phạm Ngọc Thuần đã ví von đồng chí Lê Duẩn là “Anh Ba deux cents bougies” (ngọn đèn 200 nến) - cách ví đã trở nên rất phổ biến ở Nam Bộ thời chống thực dân Pháp. (2) Nhớ đồng chí Lê Duẩn, đăng tải trên website www.nhandan.com.vn, ngày 16-8-2006. (3) Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Hồi ký, NXB CTQG, H.2002, tr.491. (4) Lê Duẩn: Thư vào Nam, NXB Sự thật, H.1985, tr.375. (5) Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, NXB Quân đội nhân dân, 1985, tr.321.

Xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên giáo. Người không chỉ là hiện thân của “Tổng tư lệnh tối cao” trên mặt trận tư tưởng, mà còn để lại những quan điểm, tư tưởng quý báu về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo, có phương pháp làm việc khoa học,… đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng đất nước.




Bác Hồ về thăm quê Nam Đàn, Nghệ An (năm 1957). Ảnh: TL.

Khắc ghi lời Bác dạy…

Bàn về vai trò của công tác tuyên giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đội ngũ cán bộ tuyên giáo và công tác tuyên truyền được xem như là một mặt trận tư tưởng chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, lạc hậu và ủng hộ cái mới, cái tốt, cái tiến bộ, khơi dậy ý chí và động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm cho “Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng”(1). Do vậy, ngay từ khi gia nhập và hoạt động tại Đảng Xã hội Pháp, Người đã tìm cách thông qua hoạt động báo chí để tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thức tỉnh tinh thần yêu nước của bà con Việt kiều và cũng qua họ tìm cách đưa một số tài liệu báo chí về nước bằng nhiều con đường khác nhau để giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc của nhân dân ta. Người đã lựa chọn một số thanh niên tiêu biểu đưa sang đào tạo tại Liên Xô, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho một số thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị đội ngũ cán bộ trở về nước để tổ chức hoạt động, đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Ban Tuyên giáo cũng được thành lập. Trải qua các chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng, Ban Tuyên giáo không ngừng lớn mạnh, trực tiếp đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã và đang góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phương pháp, tác phong của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm bồi dưỡng. Người căn dặn cán bộ tuyên giáo phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình, trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch, phải biết chịu kham khổ, biết nhẫn nại. Đồng thời, Người chỉ rõ công tác tuyên giáo phải xuất phát từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động; phải phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng ta, của dân tộc.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi (ngày 31-8-1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tính Đảng là nguyên tắc và nền tảng của công tác tuyên giáo, nó bảo đảm cho các hoạt động tuyên giáo của Đảng giữ vững lập trường giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân; tính khoa học của công tác tuyên giáo phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ quy luật phát triển của xã hội, lấy đó làm cơ sở giải thích cho nhân dân hiểu một cách có căn cứ khoa học những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó, họ hành động tự giác, có hiệu quả. Người yêu cầu cán bộ tuyên giáo phải có phong cách đi sâu, đi sát cơ sở, đến những mũi nhọn của mặt trận sản xuất và chiến đấu, nơi có phong trào khá và cả những nơi có phong trào kém, phát hiện và giải đáp được những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Vì theo Người, chỉ có đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội thì mới tìm hiểu, đánh giá đúng thực chất tình hình công tác tuyên giáo của địa phương, đơn vị, mới phát hiện được những vấn đề mới, nhân tố mới, những điển hình tốt, người tốt việc tốt để cổ vũ, biểu dương, nhân rộng, đồng thời vạch ra những hiện tượng, những biểu hiện sai trái để phê phán, uốn nắn nhằm đẩy mạnh việc phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vừa hồng, vừa chuyên

Học tập và làm theo tư tưởng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên giáo, trong suốt chặng đường cách mạng kháng chiến kiến quốc, Đảng ta luôn khẳng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường phát triển. Công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, trong nước sẽ tiếp tục có những diễn biến mới, phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Tình hình kinh tế - xã hội nước ta bên cạnh thành tựu lớn cũng xuất hiện những khó khăn và thách thức mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta nêu ra từ Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá VII vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Bên cạnh đó, bốn vấn đề bức xúc trong xã hội hiện nay là an toàn an ninh mạng, an toàn môi trường, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm đang hằng ngày, hằng giờ tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, chất lượng cuộc sống và sức khoẻ, tính mạng của nhân dân. Các tệ nạn xã hội còn nảy sinh phức tạp, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Lợi dụng những khó khăn này, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, hòng gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” mưu đồ làm thay đổi chế độ chính trị nước ta, đã tác động đến tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Trước tình hình đó, công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn Dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo, có phương pháp làm việc khoa học… xứng đáng là “người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tuyên giáo của Đảng” có vai trò vô cùng quan trọng trong tình hình hiện nay.

Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp của Đảng ta hiện nay cần phấn đấu, rèn luyện về phẩm chất, năng lực trên các tiêu chí cụ thể như:

Thứ nhất, cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, phải có “tâm” và “tầm”. Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu của người cán bộ tuyên giáo. Là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng, là người gieo niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, vì vậy bản thân các cán bộ làm công tác tuyên giáo phải thực sự là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, tư tưởng, sự kiên định vững vàng và đạo đức, lối sống để nâng cao tính đảng, tính chiến đấu và tính thuyết phục của công tác tuyên giáo. Cán bộ làm công tác tuyên giáo không được xa rời quan điểm của Đảng, luôn thấm nhuần quan điểm của Đảng, lập trường giai cấp để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu biết đúng đắn những hiện tượng và sự kiện của đời sống xã hội; đứng trước khó khăn của cách mạng không bị tác động, ảnh hưởng của những cám dỗ từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; không bị tác động bởi các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; dù ở đâu, làm gì, mỗi bài viết, bài nói đều phải theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng để tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; làm tăng niềm tin, thúc đẩy hành động để tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách.

Cái “tâm” của cán bộ tuyên giáo thể hiện rõ trong sự kiên định với lý tưởng, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng. Đó thực chất là bản lĩnh vững vàng trước cám dỗ của cơ chế thị trường, dũng cảm trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chống quan điểm sai trái, thù địch; trong sáng, lành mạnh trong lối sống. Còn cái “tầm” của cán bộ tuyên giáo lại thể hiện ở sự am hiểu sâu sắc, ở trình độ chuyên môn khoa học, được đào tạo cơ bản trên một nền tảng văn hóa vững chắc. Cái tầm của người cán bộ tuyên giáo ngày nay thể hiện sự nhạy bén, chủ động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh; dám nghĩ, dám làm trong đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo; sự thông thạo trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào công việc một cách hiệu quả; có nhãn quan dự báo tình hình và nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội.

Thứ hai, cán bộ tuyên giáo phải là người biết nêu gương, chủ động, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời tham mưu làm tốt công tác tư tưởng tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Trong khi các thế lực thù địch đang đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây bất ổn an ninh chính trị, điều này đặt ra cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo phải am hiểu cả về lý luận và thực tiễn để vận dụng vào công tác của mình một cách có hiệu quả. Nâng cao năng lực dự báo, định hướng tuyên truyền kịp thời. Chủ động nghiên cứu, tham mưu có hiệu quả việc tổng kết thực hiện các chỉ thị, nghị quyết; phân tích, lý giải về những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới từ thực tiễn cuộc sống ở cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận của Nhân dân. Tích cực, chủ động đổi mới phương thức hoạt động; vận dụng sáng tạo phương thức hoạt động theo nhóm để có nhiều sáng kiến dự báo, giải pháp xử lý các tình huống tư tưởng; sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đi sâu, sát thực tiễn, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận và tâm trạng xã hội để tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc nổi lên trên địa bàn mà dư luận xã hội quan tâm.

Thứ ba, cán bộ tuyên giáo phải là người say mê, tâm huyết và luôn trao dồi kiến thức, kỹ năng nói, viết để nâng cao năng lực công tác. Công tác tuyên giáo hiện nay có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn, phức tạp. Trong điều kiện đó, để hoàn thành tốt nhiệm vụ cần có lòng say mê, tận tụy và tâm huyết nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bởi trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tuyên giáo là tuyên truyền thông qua nói, viết để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đồng thời, quan trọng hơn là thông qua đó làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng và thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách đó. Theo đó, cần thực hiện đúng chỉ dẫn của Người là: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp: “Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?”(2).

Thứ tư, cán bộ tuyên giáo phải luôn hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì phương pháp lãnh đạo, phong cách quản lý, cách tổ chức, cách đặt kế hoạch phải phù hợp với quần chúng; phải luôn hướng về cơ sở, sâu sát cơ sở, luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Có như vậy, cán bộ tuyên giáo mới nắm bắt được tình hình, những diễn biến tư tưởng, những “điểm nóng”, tình huống tư tưởng nảy sinh, mới có thể dự báo, kịp thời tham mưu được các giải pháp đúng đắn. Đồng thời, việc gắn bó mật thiết với nhân dân sẽ giúp người cán bộ tuyên giáo đúc rút được nhiều kinh nghiệm hay; đồng thời gắn với thực tiễn cũng chính là để phát hiện, đánh giá hiệu quả các nghị quyết của Đảng đã đi vào cuộc sống như thế nào, có gì cần tham mưu, đề xuất khắc phục, sửa chữa những chỗ chưa hợp lý. Đồng thời cổ vũ nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để tổng kết, đánh giá và phổ biến, nhân rộng.

Thứ năm, phải có phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả. Phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ có tri thức, nhiệt tình, nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Đồng thời, để cán bộ yên tâm công tác, không vì chủ quan nóng vội mà làm ẩu cho xong việc, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Bác, mọi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, từ đó mới đảm bảo tính nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phát huy tinh thần sáng tạo của mọi người trong thực hiện công việc. Đối với công tác tuyên giáo, người cán bộ cần có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, tư duy, độc lập, sáng tạo; tránh xa lối giáo điều, vay mượn, mà tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra cái đúng, phù hợp thực tiễn.
Những tư tưởng và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo của Đảng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta đã chỉ rõ: “Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trưng bày triển lãm, tuyên truyền cổ động được tổ chức sôi nổi, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao và du lịch trọng đại của đất nước, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân”(3). Đảng ta cũng khẳng định các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở đã: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động định hướng thông tin tuyên truyền của Đảng và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Triển khai mạnh mẽ, rộng rãi thông tin, tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, nhất là thông qua Giải báo chí về xây dựng Đảng (mang tên “Búa liềm vàng”) và Giải “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(4). Do vậy, hoạt động này cần được đặc biệt coi trọng và tiến hành thường xuyên, liên tục theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra là: “Hình thành thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa, thông tin lành mạnh góp phần làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, xu hướng phát triển xã hội, đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ”(5). Đồng thời, thực hiện chủ trương: “Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin”(6). 

Trong bối cảnh hiện nay, để chủ trương, đường lối của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, đạt được thành quả, đáp ứng được nguyện vọng của Nhân dân tất yếu cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vững mạnh, nhất là về năng lực, trình độ, phẩm chất, bản lĩnh chính trị ngang tầm nhiệm vụ là nội dung vô cùng quan trọng, vừa cấp bách, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài.

----------------------------------------

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H. 2011, tập 7, tr.415.
(2). Sách đã dẫn, tập 14, tr.159.
(3). Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.4.
(4). Sách đã dẫn, tập II, tr.216.
(5). Sách đã dẫn, tập II, tr.263.
(6). Sách đã dẫn, tập I, tr.272.

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị.

 Sáng 15-4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-2-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là Hội nghị toàn quốc đầu tiên để quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng.



Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đồng chủ trì Hội nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Hội nghị nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân cả nước cũng như trong vùng nhằm sớm đưa Nghị quyết quan trọng này vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển vùng. Hội nghị khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, mở đường cho những cơ chế chính sách mới để phát triển vùng. 
Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Mai Văn Chính, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Đảng uỷ cơ quan chủ trì. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Ban; lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị trong Ban.

Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương.


 

Chấn chỉnh sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn trên mạng Internet

Quan sát các trang mạng xã hội, có thể dễ dàng thấy nhiều biểu hiện của sự lệch lạc tiếng Việt trong cách nói và cách viết, từ việc làm biến dạng vỏ từ ngữ hay cố tình viết sai chính tả, chẳng hạn: buồn viết thành bùn, luôn thành lun, rồi viết thành rùi, nhé viết thành nhóe, nhá thành ná, xinh thành xưn/xuynh/xynh, mình thành mềnh, yêu thành iu, thế thành thía, hoặc chêm xen tiếng Anh khi giao tiếp… 

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa

 

Đứng chân tại xã đảo Thổ Châu, thành phố Phú Quốc (Kiên Giang) xa đất liền hàng trăm kilomet, điều kiện đi lại khó khăn, nhưng với tinh thần vì nhân dân phục vụ, thời gian qua Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 (Quân khu 9) được xem là điểm tựa của người dân trong điều trị bệnh, chăm sóc sức khỏe.

19 giờ ngày 11-9-2021, Bệnh xá Quân dân  y Trung đoàn 152 tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Văn A, 35 tuổi, ngư dân thành phố Phú Quốc (Kiên Giang) với tình trạng có nhiều vết thương trên cơ thể, trong đó có vết thương ở ổ bụng chảy nhiều máu được xác định là do xô xát.

Ngay lập tức, bệnh nhân được thăm khám, tiến hành hồi sức, chụp X-quang, truyền dịch lấy máu làm xét nghiệm cấp cứu và hội chẩn. Kết quả chẩn đoán cho thấy bệnh nhân bị đa vết thương, vết thương thấu bụng. Bệnh nhân nhanh chóng được chuyển lên phòng mổ để phẫu thuật cấp cứu xử lý vết thương. Kíp phẫu thuật do Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức, Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 152 trực tiếp thực hiện. Bệnh nhân bị rách động mạch chủ bụng, vết thương bó mạch thượng vị dưới chảy nhiều máu, khó cầm gây nhiều khó khăn trong quá trình phẫu thuật.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y ân cần, phục vụ người bệnh. 

Ngoài ra, bệnh nhân còn bị thủng ruột già, vị trí tổn thương nằm sau các tạng quan trọng, dễ gây tổn thương các tạng xung quanh trong quá trình phẫu thuật. “Chúng tôi đã nhanh chóng tiến hành làm sạch vết thương, khâu bảo tồn vết thương manh tràng, sau đó đặt dẫn lưu manh tràng qua gốc ruột thừa và tiến hành lau rửa ổ bụng, khâu đóng lại vết mổ khâu cầm máu các tổn thương sau gần 3 giờ phẫu thuật. Hơn nửa tháng điều trị, bệnh nhân phục hồi nhanh, tình trạng ổn định và xuất viện”, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức chia sẻ.

Trước đó, ngày 21-8-2021, Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Văn Son, tàu buôn tỉnh Ninh Thuận trong tình trạng đau dữ dội ở vùng hông phải và sốt trên 370C. Theo thông tin từ người nhà, khi đang đang ở trên tàu ông Son bị đau bụng âm ỉ vùng quanh rốn, sau đó đau lan xuống hố chậu phải, kèm theo nôn nên nhanh chóng cập bờ đưa ông đến Bệnh xá Quân dân y để thăm khám. Tại đây, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức cùng kíp trực chẩn đoán bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp và quyết định mổ cấp cứu cắt ruột thừa viêm.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y phối hợp với Trạm Y tế xã Thổ Châu phẫu thuật ruột thừa cho người dân

Trong quá trình thực hiện, bác sĩ Sức thấy ruột thừa nằm ở vị trí khó, quặt ngược phía sau trong manh tràng, ngọn ruột thừa dính chặt vào thành bụng sau nên quyết định cắt ruột thừa ngược dòng. Sau 2 giờ, phần ruột thừa được cắt bỏ thành công. “Đây là trường hợp khó cả về chẩn đoán và điều trị phẫu thuật vì các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng không đầy đủ. Trong quá trình phẫu thuật, tôi thấy ruột thừa có kích thước dài, nằm ở vị trí khó, thành bụng dày khiến trường mổ khá hẹp nên đã gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện kỹ thuật. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được chuyển về hậu phẫu, điều trị thêm 3 ngày kháng sinh và ra viện. Trước khi ra về, gia đình bệnh nhân có gửi lời cảm ơn đến các y, bác sĩ của Bệnh xá đã kịp thời cứu chữa”, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức nói.

Được biết, đó là 2 trong 11 ca bệnh nặng được các y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 phối hợp với Trạm Y tế xã Thổ Châu cấp cứu thành công trong năm 2021 và những tháng đầu năm 2022. Theo Trung úy, Bác sĩ Phùng Duy Thành, Bệnh xá trưởng Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152, xã đảo Thổ Châu hiện có hơn 2.000 người dân sinh sống tập trung và thường xuyên có gần 1.000 ngư dân vãng lai. Điều kiện khó khăn cùng với tập quán ăn uống cho nên người dân thường xuyên mắc các dịch bệnh như: Sốt xuất huyết, thủy đậu, sốt nhiễm vi rút, ngộ độc thức ăn…

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y hỗ trợ y tế địa phương khám sàng lọc Covid-19

Bên cạnh đó, các tai nạn trong quá trình lao động, sản xuất dẫn đến chấn thương sọ não, cột sống, gãy chân, tay, viêm ruột thừa cấp do lặn biển sâu cũng thường xảy ra. Chính vì vậy, những năm qua, cùng với Trạm Y tế xã Thổ Châu, Bệnh xá Quân dân y của đơn vị luôn được xem là chỗ dựa tin cậy của người dân trên đảo khi chẳng may mắc các chứng bệnh.

Được sự quan tâm sâu sát của cơ quan chuyên môn, từ ngày thành lập cho đến nay, đơn vị đã phối hợp hiệu quả với các y, bác sĩ Trạm Y tế xã Thổ Châu nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho quân và dân trên đảo. Đặc biệt, hằng năm, Bộ tư lệnh Quân khu 9 đều tăng cường kíp phẫu thuật của Bệnh viện Quân y 121 và Bệnh viện Quân y 120 ra đảo, nhờ đó hầu hết các trường hợp cấp cứu nội khoa, ngoại khoa đều được giải quyết kịp thời.

Cùng Thiếu tá Hồ Thế Lức, Tổ trưởng Tổ tăng cường, Bệnh viện Quân y 121 đến thăm các phòng bệnh, quan sát chúng tôi thấy các nhân viên, y sĩ luôn nhiệt tình hướng dẫn, giải thích cho gia đình và bệnh nhân. “Khi có một ca bệnh chuyển đến, các khâu tiếp nhận được thực hiện khẩn trương đều theo phương châm “Đến đón tiếp niềm nở-Ở chăm sóc tận tình-Về dặn dò chu đáo”. Trong thời gian điều trị do nóng lòng, hoặc do cơn đau hành hạ nên có trường hợp có những lời nói, thái độ không tốt với y, bác sĩ. Hiểu được tâm lý bệnh nhân, chúng tôi luôn động viên nhau phải thật bình tĩnh, lắng nghe, chia sẻ, cố gắng để chữa bệnh cho người dân được tốt nhất. Đáng mừng là hiện nay, không chỉ tôi mà các y, bác sĩ khác đã thành công với nhiều ca phẫu thuật khó như mổ ruột thừa, mổ bắt con; kịp thời cứu sống nhiều trường hợp bị suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, sốt xuất huyết chuyển độ…”, Thiếu tá Hồ Thế Lức tâm sự.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 khám bệnh cho người dân.

Trước cơn sóng đại dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát phức tạp, khó lường, y, bác sĩ Bệnh xá luôn nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh. Cùng với lực lượng y tế địa phương, đơn vị đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các biện phòng tránh dịch bệnh; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức diễn tập các phương án phòng, chống dịch, chuẩn bị đầy đủ phương tiện vật chất, doanh trại cho khu cách ly trong công tác phòng dịch. Song song đó, đơn vị còn tổ chức chặt chẽ việc giám sát khai báo y tế cho mọi người ra vào đảo, từ vùng có dịch về đơn vị; tổ chức khám sàng lọc và tiêm vắc xin mũi 3 cho cán bộ, chiến sĩ và toàn bộ người dân trên đảo, cùng hàng trăm ngư dân đánh bắt cá quanh đảo. “Đến thời điểm hiện tại, 100% quân và dân trên đảo đã được tiêm vắc xin mũi 3, tất cả đều thực hiện nghiêm 5K của ngành y tế. Tình hình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt, mọi hoạt động của quân và dân trên đảo đã trở lại trạng thái bình thường mới”, Thiếu tá Trương Ngọc Phong, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 152 khẳng đinh.

nguồn báo quân đội nhân dân.