Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Những thủ đoạn chủ yếu các thế lực thù địchlợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

 


Một là, tìm mọi cách để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hai là, triệt để lợi dụng nhiều tổ chức, nhiều diễn đàn, các kênh thông tin để tuyên truyền xuyên tạc, vu khống nói xấu, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, tập trung phá hoại các cơ sở kinh tế - xã hội; dùng tiền, vật chất để mua chuộc, dụ dỗ; dùng tôn giáo để dọa nạt, vẽ ra viễn cảnh cuộc sống sung túc ở nước ngoài để lôi kéo đồng bào các dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Nam.

Bốn là, thành lập các đảng phái, tổ chức phản động trong nước và ở nước ngoài làm hạt nhân nòng cốt lãnh đạo, chỉ đạo dân tộc thiểu số, tôn giáo đấu tranh chống Đảng, Nhà nước ta; tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam như: truyền đạo trái phép để “tôn giáo hóa” các vùng dân tộc, lôi kéo, tranh giành đồng bào dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền.

Năm là, tiến hành chống phá mọi mặt, có hệ thống, trên mọi địa bàn; tập trung cao độ ở vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo miền núi, vùng có đông tín đồ tôn giáo, các thành phố lớn.

Tại sao các thế lực thù địch lại lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”để chống phá cách mạng Việt Nam.

 

Điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu xuyên suốt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng; trước hết, là các nước xã hội chủ nghĩa bằng Chiến lược “Diễn biến hòa bình”,gây bạo loạn lật đổ; thực hiện “chính trị hóa” dân tộc, tôn giáo dẫn đến quốc tế hóa bằng cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ của toàn bộ chiến lược đó. Phương thức của chúng là tập hợp, liên kết lực lượng lấy danh nghĩa tôn giáo, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc Kinh với các dân tộc khác, giữa lương - giáo, tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước. Mục tiêu nhằm khuyến khích tư tưởng ly khai, khuyến khích đồng bào các dân tộc, tôn giáo tiến hành biểu tình, bạo động, bạo loạn chính trị, bạo loạn lật đổ... có thời cơ thành lập Nhà nước độc lập của dân tộc, tôn giáo như: “Nhà nước Đề Ga tự trị” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ Me Crôm” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Mông tự trị” ở Tây Bắc, chia cắt đất nước ta, tạo cớ can thiệp nhằm thay đổi thể chế chính trị, xâm lược thôn tính nước ta.

Đặc biệt, trong thời gian quacác thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng quyền công dân, quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tín ngưỡng thành lập hội nhóm, cấu kết với các tổ chức phản động ở nước ngoài xuyên tạc, chống đối, kích động bạo lực. Mục đích của chúng là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo điểm nóng chính trị để thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế, phá hoại sự nghiệp phát triển của đất nước. Bên cạnh vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, lịch sử, chủ quyền, chúng còn xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận thành tựu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, ngoại giao, quốc phòng, an ninh; bôi nhọ lãnh tụ; lợi dụng các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế để tuyên truyền chống đối. Các hoạt động chống phá trên là rất nguy hiểm về mặt chính trị, âm mưu của chúng nhằm kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xúi giục ly khai, xuyên tạc về vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là không bao giờ thay đổi. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá Việt Nam; với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Mục đích nhằm xoá vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”. Để thực hiện âm mưu chủ đạo đó, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để thực hiện chống phá ta. Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, nhất là giữa dân tộc Kinh với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau; chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc. Kích động, lôi kéo các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc, chức việc trong các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hoá sự quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo. Coi tôn giáo là lực lượng đối trọng với Đảng, Nhà nước ta, nên chúng thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để các phần tử chống đối trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước.Đồng thời, tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện âm mưu hình thành “Ủy ban liên tôn đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo”, thành lập tổ chức “Liên tôn chống cộng”. Nếu nhìn nhận phiến diện thì đúng là có sự đối lập giữa thế giới quan tôn giáo và thế giới quan cách mạng của Đảng. Sự đối lập đó không có nghĩa là phải xóa bỏ tôn giáo, mà đòi hỏi có cách nhìn sâu sắc, toàn diện, lịch sử, cụ thể hơn. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chưa bao giờ có tư tưởng xóa bỏ, kỳ thị hay áp bức tôn giáo mà luôn nhất quán nhận thức: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch, nhất là các luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cho rằng Đảng, Nhà nước ta kỳ thị tôn giáo.

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

Đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” trong thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay

Nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào; trong đó, truyền bá các sản phẩm văn hóa độc hại làm băng hoại những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc, từng bước làm chệch hướng đời sống văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn được chúng coi trọng. Thực chất đây là hình thức “xâm lăng văn hóa” rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác và chủ động đấu tranh. Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” từ lĩnh vực văn hóa, tinh thần của các thế lực thù địch hiện nay, là tiêm nhiễm văn hóa xấu độc, làm xói mòn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; đồng thời, từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, phản bội lại Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng chúng hướng tới là nhân dân, trước hết là lớp trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách, bản lĩnh chưa vững vàng, còn ít kinh nghiệm sống. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, chiêu trò thâm hiểm; đặc biệt là chiến thuật “tâm công” theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” để đánh vào lòng người. Chúng lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông để truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu độc, ngoại lai cùng những hành vi phản nhân văn, phi tiến bộ để tác động vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi người. Qua đó, từng bước làm thay đổi các thang giá trị xã hội, đạo đức, lối sống, làm cho một số người sao nhãng nghĩa vụ, trách nhiệm; khơi dậy bản năng thấp hèn, chạy theo lạc thú, lợi ích vật chất, chỉ lo “cái tôi” mà quên đạo nghĩa, quay lưng lại với truyền thống và những giá trị hiện hữu tốt đẹp của dân tộc. Cùng với công kích chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận giá trị của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược trước đây và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc hiện nay; đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước, bán nước. Chúng tuyên truyền các giá trị văn hóa phương Tây; phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ và đòi tách lĩnh vực này ra khỏi đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Đồng thời, đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ. Đặc biệt là, các thế lực thù địch còn dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật; thực hiện âm mưu ly gián về nhân tâm, tư tưởng và chia rẽ về tổ chức, lôi kéo văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Đó là mưu đồ rất thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện “xâm lăng văn hóa” đối với nước ta. Trong một thế giới đầy biến động ngày nay, nhiều tổ chức, nhà đầu tư, du khách quốc tế tìm đến Việt Nam vì sự ổn định về chính trị và cũng vì một Việt Nam lôi cuốn, hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc, độc đáo đó. Song, các thế lực thù địch không muốn Việt Nam phát triển theo đường lối độc lập, tự chủ. Cái họ muốn là đất nước Việt Nam từ bỏ quá khứ, từ bỏ bản sắc của mình để “hòa nhập”, “phát triển” theo ý đồ của họ, mà thực chất là “hòa tan” vào văn hóa phương Tây. Điều đó lý giải vì sao chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam. Vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” không chỉ là một yêu cầu quan trọng, cấp bách trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa hiện nay mà còn góp phần thiết thực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực làm tha hóa con người Việt Nam. Đó chính là yếu tố bảo đảm cho Việt Nam trường tồn và phát triển.

Tham nhũng, tiêu cực - mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta hiện nay

Tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh xã hội nguy hiểm, không chỉ làm cản trở sự phát triển của đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội mà nguy hiểm hơn, còn là mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới làm suy yếu bộ máy của Đảng và Nhà nước, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ XHCN. Cho nên, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề cấp bách. Tham nhũng, tiêu cực (TN,TC) là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Những hệ lụy từ TN,TC tác động xấu đối với nhiều lĩnh vực của đời sống đất nước, cả về chính trị, kinh tế, xã hội, kỷ cương, kỷ luật,… dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Về chính trị, TN,TC là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. TN,TC nếu không sớm loại trừ sẽ gây nguy hại về nhiều mặt, như: làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trở nên quan liêu, xa dân, xuống cấp và hoạt động kém hiệu lực. Ở một phương diện khác, TN,TC có thể dẫn đến khủng hoảng chính trị, trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của chế độ hiện hành. Về kinh tế, nó gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền của, thời gian, công sức của nhân dân; làm chậm nhịp độ phát triển nền kinh tế. Đồng thời, phá vỡ chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; hạn chế các nhà đầu tư thâm nhập thị trường; làm suy giảm uy tín, năng lực cạnh tranh; trực tiếp tác động xấu đến các chính sách an sinh xã hội; làm cạn nguồn đầu tư nội địa, gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô, kìm hãm hoạt động của các ngành kinh tế vi mô. Về xã hội, TN,TC làm tha hóa nhân cách con người, xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Tình trạng chạy theo lợi ích vật chất, vì đồng tiền sẵn sàng chà đạp lên luân thường, đạo lý, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước, hủy hoại các dịch vụ công, gây nên những bức xúc trong đời sống xã hội. Đồng thời, làm méo mó, lệch chuẩn các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức; gây tê liệt hệ thống hành pháp, mất đoàn kết nội bộ và đó sẽ là cơ hội cho kẻ thù lợi dụng chống phá. Về kỷ cương, kỷ luật, TN,TC làm rối loạn kỷ cương, phép nước, gây đảo lộn các quan hệ xã hội, làm giảm niềm tin của nhân dân vào công lý, lẽ phải và lối sống có tình nghĩa. Thậm chí, nếu không ngăn chặn triệt để, đối tượng TN,TC có thể còn liên kết với các tội phạm khác, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tội phạm tẩy rửa tiền làm đảo lộn xã hội, xâm hại nền tảng đạo đức và công lý cũng như sự phát triển toàn diện của con người. Hiện nay, nhiều vụ án TN,TC, trong đó có cả trọng án có quy mô lớn được phát hiện, điều tra, xử lý cho thấy xuất hiện xu hướng liên kết, hình thành tổ chức phạm tội trong các khu vực, lĩnh vực kinh tế, có yếu tố nước ngoài với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp. Nguy hiểm hơn, TN,TC dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch là một nguy cơ đối với Đảng ta, nhưng đó là nguy cơ từ bên ngoài tấn công vào nội bộ Đảng, Nhà nước. Với TN,TC, đó là quá trình diễn ra từ bên trong. Đây là kẻ thù nội sinh rất nguy hiểm, bởi nó liên quan đến CB,ĐV có chức vụ, quyền hạn, trực tiếp gây nên những bức xúc, hoài nghi trong nội bộ Đảng và các tầng lớp nhân dân. Sự kết hợp giữa yếu tố bên ngoài và nhân tố bên trong sẽ gây sự rối loạn xã hội, làm cho Đảng suy yếu dần và cuối cùng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự đánh mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và như vậy, chúng ta sẽ rơi vào cái “bẫy” chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tạo điều kiện cho chúng thực hiện mưu đồ “không đánh mà thắng”. Nhận thức đầy đủ tính nghiêm trọng và sự nguy hại của TN,TC, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp tích cực để phòng, chống và bước đầu đã đạt được kết quả khả quan, góp phần tích cực vào ngăn chặn tệ nạn nguy hiểm này.

Cán bộ, công chức nhà nước cần tiết kiệm, chống phung phí, bớt xén thời gian làm tổn hại lớn tới tiền bạc và tài sản của nhân dân

Dân gian có câu “Thời gian là vàng bạc”. Khi nhìn lại quá khứ, nhiều người tỏ ra tiếc nuối: “Ước gì cho thời gian trở lại”,… Thế nhưng, chẳng phải ai cũng nghĩ được cần làm gì để khỏi phí thời gian. Chẳng nói đâu xa, tại một số công sở, cơ quan hiện nay - nơi mà thời gian cần được tôn trọng nhất, thì tình trạng bớt xén, sử dụng thời gian không đúng mục đích, vẫn diễn ra thường xuyên với các biểu hiện, mức độ khác nhau. Nói tới tiết kiệm, chống lãng phí, nhiều người thường nghĩ đến sử dụng điện, nước, phương tiện, tài chính,… mà không nghĩ đến việc sử dụng thời gian ra sao. Thêm vào đó là những bất cập về quản lý, đã góp phần tạo kẽ hở để tình trạng sử dụng tùy tiện, phung phí thời gian có đất tồn tại. Vào các dịp lễ hội hay bất cứ một sự kiện nào đó, người ta vẫn bắt gặp một số cán bộ, công chức nhà nước ngang nhiên góp vui ngay cả trong giờ hành chính. Báo chí đã từng phản ánh về sự bức xúc của người dân địa phương, khi tìm đến công sở để giải quyết công việc, mặc dù trong giờ làm việc, nhưng phải ngậm ngùi ra về vì “cửa đóng then cài”. Thôi thì đủ thứ lý do: nào là cơ quan bận dự đám tang của người nhà cấp trên; nào là liên hoan chia tay một cán bộ mới được nghỉ chính sách,… Một số cuộc họp tập thể, ban đầu thì đông đủ, nhưng chẳng biết vì sao, càng về sau, ghế càng trống, v.v. Sự phung phí thời gian không chỉ biểu hiện ở việc bớt xén công việc, mà còn diễn ra khá phổ biến ở kiểu làm việc “đánh trống ghi tên”, không quan tâm đến chất lượng, hiệu quả. Xu hướng này hiện nay đang bị tiếp tay bởi công nghệ thông tin. Không biết bao nhiêu thời gian trong “8 giờ vàng ngọc” nơi công sở đã và đang được cán bộ, nhân viên, trợ lý,… dùng cho việc chát chít, chơi game, lướt web,… Tình trạng làm việc theo kiểu “nước chảy bèo trôi” đang là một cảnh báo đối với nhiều cơ quan, đơn vị. Theo nhìn nhận của cơ quan chức năng, trong bộ máy của chúng ta vẫn còn không ít công chức làm việc theo kiểu “sáng cắp ô đi, tối cắp về”, không mang lại bất cứ hiệu quả công việc nào, làm tổn hại lớn tới tiền bạc và tài sản của nhân dân. Thiết nghĩ, để cho thời gian luôn thật sự là vàng bạc, mỗi chúng ta phải thực sự nghiêm túc với bản thân mình cả trong suy nghĩ và việc làm. Đó cũng là một trong những nội dung cần khắc phục theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng Đảng, cũng như yêu cầu của việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) đã chỉ ra.

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI TUÂN THỦ NGUYÊN TẮC ĐẢNG LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT ĐỐI VỚI QĐND VIỆT NAM!

         Hiện nay, hòng xoá nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, các thế lực thù địch đang tập trung công kích với những luận điệu xuyên tạc và hết sức phản động. Họ cho rằng, quân đội chỉ là của quốc gia dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào, cần phải chuyên nghiệp hoá quân đội càng sớm càng tốt, nhằm thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” Quân đội.
      Hiện nay, thực hiện phương hướng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó một số lực lượng tiến thắng lên hiện đại chúng ta không thể không thực hiện mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh nhằm hiện đại hoá nền quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình thực hiện phương hướng trên, các thế lực đang tận dụng mọi thời cơ mà chúng coi là thuận lợi để tấn công phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội nhân dân.
Trong gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành quân đội ta luôn giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, hoàn thành tốt chức năng là đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất. Trong mọi hoàn cảnh cả thời chiến và thời bình, quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
  Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau: thứ nhất, tăng cường đổi mới, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Thứ hai, tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thứ tư, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, không ngừng củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Thứ năm, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội. Thứ sáu, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội. 
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam. Bảo vệ và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội là vấn đề có ý nghĩa quyết định bản chất giai cấp công nhân của quân đội, đến giữ vững và phát huy truyền thống quân đội ta trong thời kỳ mới./.



Yêu nước ST.

“Tự soi”, “tự sửa” là mệnh lệnh mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay

Ngày 25/10/2021, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Việc ban hành Quy định này là lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng. Việc ban hành Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm là vấn đề quan trọng, cấp thiết hiện nay. Những điều không được làm đó không chỉ là vấn đề “trái tai gai mắt”, mà đó là sự suy thoái, thậm chí là vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước nên cần có quy định để ngăn chặn, phòng ngừa. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình của đa số cán bộ, đảng viên về sự cần thiết phải ban hành Quy định này, có ý kiến cho rằng, nên chăng, cứ giữ nguyên quy định cũ, bởi đã ăn sâu vào tiềm thức đảng viên, vấn đề quan trọng là mỗi đảng viên có tự giác chấp hành nó trong thực tiễn hay không, v.v. Thực ra, ý kiến trên không phải không có cơ sở, nhất là mong muốn đưa những điều đảng viên không được làm thực sự đi vào cuộc sống; trở thành nếp sống hằng ngày đối với cán bộ, đảng viên. Nhưng ngẫm lại thì ý kiến đó chưa thật đúng và đầy đủ. Bởi lẽ, với tốc độ phát triển của xã hội ngày nay, một quy định ban hành cách đây hơn 10 năm sẽ có nhiều điều không còn phù hợp. Hơn nữa, đây lại là những điều liên quan trực tiếp đến từng cán bộ, đảng viên và sức mạnh nội sinh của Đảng, nếu không có định hướng, quy định chặt chẽ, khoa học,… thì khó có thể đạt hiệu quả trong thực tiễn. Vì thế, Quy định 37 của Đảng như một lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết. Với nội hàm đầy đủ, chặt chẽ, lô gic vừa có tính kế thừa, vừa được bổ sung, sửa đổi những nội dung mới phù hợp, Quy định số 37 được xem như khung tiêu chuẩn; là mệnh l là mệnh lệnh mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; dù bất cứ ở cương vị nào đều phải tự giác chấp hành, không có sự ưu ái, thiên vị hay ngoại lệ. Cũng chẳng có gì khó hiểu, khó làm theo Quy định số 37 cả, nếu như mọi cán bộ, đảng viên xác định rõ vai trò, vị trí của nó để tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nâng cao năng lực công tác, thực sự gương mẫu đi đầu, đề cao trách nhiệm thực hiện thật tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, không để suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hành động nêu gương tốt của đảng viên sẽ được nhân lên, lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho toàn xã hội. “Quốc có Quốc pháp, Gia có Gia quy”, Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… của Đảng đã đề ra thì mọi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Song, dù Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… của Đảng có chi tiết, cụ thể đến đâu cũng không thể bao phủ hết thực tiễn sinh động của cuộc sống. Do đó, điều quan trọng hơn cả vẫn từ ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi của mỗi đảng viên, theo phương châm: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Những ai không như thế, thì đã tự đưa mình ra “ngoài vòng pháp luật”, trở thành những người phai nhạt lý tưởng cách mạng, phản bội lại Đảng, phụ bạc lòng tin của nhân dân dù rằng họ cố tìm mọi cách quanh co, lấp liếm, hòng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay bất cứ lý do nào khác.

Freedom House lại xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam

 Ngày 2/6 vừa qua, tổ chức Freedom House tung ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”. Nội dung của báo cáo có nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!...

Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam.

Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ.

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó.

Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy. 

Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.

Tháng 9/2020, A Ga chính thức thành lập cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” - một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Thông tin về tổ chức này đã được Công an tỉnh Đắk Lắk công bố trên mạng Internet. Đối với cái gọi là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” - VOICE, đây thực chất là tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân.

Các cơ quan báo chí đã nhiều lần vạch trần bản chất của tổ chức này. Trong đó có thể kể đến như: bài báo “Về Trịnh Hội và tổ chức VOICE” đăng ngày 27/7/2015 trên Báo Nhân dân; loạt bài “Bản chất của các tổ chức “xã hội dân sự” - tổ chức ngoại vi của Việt Tân” đăng trên Báo CAND tháng 1/2022…

Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.

Luận điệu sai trái về chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

 Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã tán thành Tờ trình của Bộ Chính trị về chủ trương thành lập ban chỉ đạo (BCĐ) cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC). Lợi dụng sự kiện trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Nhận diện luận điệu sai trái

Trên nhiều trang mạng xã hội của các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại chống phá Việt Nam như RFA, VOA, RFI… phát tán nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), trong đó tập trung đả phá Đề án thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC.

Các thế lực thù địch quy kết công tác PCTN “chỉ là mị dân”, ngụy biện “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam”, quy kết “tham nhũng do chế độ độc đảng cầm quyền”! Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, chủ trương thành lập BCĐ PCTN,TC cấp tỉnh là “không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân”, cho rằng việc làm này là “giả tạo”, vẽ ra câu chuyện “ta đánh ta”, “cộng sản thì ai cũng tham nhũng”… Mục đích các bài viết nhằm quy kết tham nhũng là “bản chất của chế độ”, từ đó kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải “xã hội dân sự”…

Đây thực chất là trò chống phá kiểu “bình mới rượu cũ” của số đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Số này cố gắng vẽ ra bức tranh tối màu về công tác PCTN của Việt Nam, phớt lờ thực tế hiệu quả công tác PCTN, phủ nhận mọi cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong việc đẩy lùi vấn nạn tham nhũng; tìm cách gieo rắc tâm lý bất an, gây ra sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, TC, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, lấy cớ kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự đối lập, bất ổn từ bên trong.

Tham nhũng là vấn nạn của nhiều quốc gia

Thực chất, tham nhũng là hiện tượng xã hội đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, nó tồn tại trong mọi chế độ chính trị khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế và cho dù chế độ chính trị nào, chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa, chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vẫn có nạn tham nhũng. Một số ví dụ điển hình về tham nhũng ở các nước có chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị như: Vụ Watergate - vụ bê bối về quyền lực chính trị để trục lợi từ 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn. Trước nguy cơ bị Quốc hội phế truất ngày 9/8/1974, Tổng thống Mỹ Richard Nixơn buộc phải từ chức, đây là Tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức khi đang là Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.

Tổng thống Philippines Joseph Estrad (1998 - 2001) phạm tội tham nhũng phải ngồi tù chung thân; Thủ tướng Ukraine (1996 - 1997) Pavlo Lazarenko đã biển thủ 200 triệu USD từ ngân sách nhà nước (tương đương nửa triệu USD/ngày trong thời gian làm Tổng thống) phải bỏ trốn sang Hoa Kỳ; Tổng thống Hàn Quốc Park Geun - hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất vào tháng 12/2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính…

Tham nhũng là một vấn đề nan giải, một căn bệnh nhức nhối với những biến dạng rất phức tạp, đang hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả tiêu cực ở các quốc gia với chế độ xã hội khác nhau. Vì vậy, đấu tranh bài trừ tham nhũng được các nước rất quan tâm, thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện như pháp luật, hành chính, chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa, lối sống… Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ Đảng và Nhà nước.

Trong khi đó, Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Colombia, Brazil… còn thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng.

Không thể phủ nhận kết quả PCTN, TC ở Việt Nam

Ở nước ta, cuộc chiến PCTN,TC đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm” và đã đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Thành quả đó để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận.

Theo số liệu của BCĐ Trung ương về PCTN tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng năm 2021, cơ quan có thẩm quyền đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 so với năm 2020), trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là những con số biết nói, khẳng định công tác đấu tranh PCTN “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Chính những thành quả trong công tác PCTN đã góp phần loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ, nhằm xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Việc xử lý nghiêm minh có ý nghĩa cảnh cáo, răn đe phòng ngừa chung, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; khẳng định vị thế, uy tín của Đảng, đất nước ta trên trường quốc tế. Điều này cũng bác bỏ những luận điệu xảo trá, suy diễn của các lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC là cần thiết, quan trọng

Năm 2006, BCĐ Trung ương về PCTN được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN.

Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN.

Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Thực tiễn hoạt động của BCĐ Trung ương là bài học kinh nghiệm quý giá để công tác PCTN,TC ở các cấp, ngành, địa phương học hỏi, làm theo.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Sau khi BCĐ Trung ương về PCTN hoạt động thể hiện được tính hiệu quả, ưu việt thì có đủ lộ trình, thời gian và sự chuẩn bị nguồn lực phù hợp để thành lập BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương.

Tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp, được xem là một trong các nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Mặc dù kết quả PCTN,TC thời gian qua đạt được là rất quan trọng song công tác PCTN,TC ở nhiều ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh PCTN,TC.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN,TC tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN,TC chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN,TC ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất.

Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. Đây là những cơ sở để phản 

Kích động kỳ thị dân tộc - âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

 

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa

Ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa

Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Suy thoái không trừ một ai

Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. 

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.

Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.

Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.

Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Lắng nghe và cầu thị

 

Lắng nghe và cầu thị

“Phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị” là một trong những nội dung cấu thành đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

Điều này đã được kiểm nghiệm và chứng minh trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta. Ở giai đoạn cách mạng mới, phẩm chất đó càng cần được gìn giữ và phát huy, xem như một giải pháp căn cốt, nền tảng vững chắc để xây đắp tình đoàn kết đồng chí, đồng đội, tạo nên sức mạnh tập thể để cán bộ, chiến sĩ (CB, CS) đồng lòng vượt khó, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.  

Phát huy dân chủ là một trong những truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Từ khi ra đời đến nay, Quân đội ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của CB, CS trong các nhiệm vụ; coi đó là mặt công tác cơ bản trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm tạo môi trường thuận lợi để bộ đội thực hiện tốt quyền lợi, trách nhiệm, nâng cao ý thức kỷ luật và chất lượng, hiệu quả công tác. Minh chứng sinh động về phát huy dân chủ trong quân đội những năm qua, đó là việc triển khai thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở. Mọi CB, CS được nghiên cứu, trao đổi và quán triệt thực hiện tốt các chủ trương, chính sách trên từng lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế trong môi trường quân đội; qua đó xác định quyền làm chủ của mình trên các mặt hoạt động và bảo đảm đời sống; giải quyết được những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra, giữ vững niềm tin, củng cố tư tưởng, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cũng thông qua việc phát huy dân chủ, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của cấp dưới để xây dựng tập thể, kịp thời khắc phục hạn chế, bất cập trong thực hiện nhiệm vụ cũng như phương pháp, tác phong công tác. Cán binh thêm gần gũi, đồng lòng; đồng chí, đồng đội thêm thấu hiểu, sẻ chia, gắn kết chính là kết quả từ việc cấp trên biết lắng nghe cấp dưới, đồng nghiệp chân thành góp ý và hội tụ chung ở tinh thần xây dựng, cầu thị, tôn trọng lẫn nhau.

Để tăng cường phát huy dân chủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn, quyết định, quy chế, quy định trên các mặt, lĩnh vực công tác, cụ thể hóa việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong quân đội. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nghiêm túc, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Nổi bật là ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân được nâng cao; các thiết chế dân chủ ngày càng được hoàn thiện; sự đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị được tăng cường; niềm tin của CB, CS vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được củng cố vững chắc, tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân còn vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, biện pháp, kênh thông tin để nắm bắt, lắng nghe CB, CS đóng góp ý kiến, như: Tọa đàm, diễn đàn, đối thoại; trao đổi trực tiếp thông qua thực hiện nhiệm vụ hằng ngày hay các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục-thể thao, văn hóa-văn nghệ... Nhiều cán bộ nêu cao tính tiền phong gương mẫu, gần gũi, sẻ chia, tạo được niềm tin như người ruột thịt trong gia đình, là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, giãi bày những khó khăn, vướng mắc của bộ đội trong cả công việc lẫn cuộc sống. Phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đòi hỏi thực tiễn để người cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, mà còn trở thành “bí quyết” để tháo gỡ kịp thời và hiệu quả mọi vướng mắc nảy sinh ở cơ quan, đơn vị.

Không chỉ cấp trên chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của cấp dưới, mà đồng chí, đồng đội cũng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót của nhau để cùng khắc phục, sửa chữa, không ngừng hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Minh chứng rõ nét cho điều đó là thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình ở các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn quân. Quá trình tự phê bình và phê bình, từng đảng viên, tổ chức đảng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân cấp ủy viên, tránh biểu hiện hình thức, chiếu lệ, nói không đi đôi với làm, nể nang, né tránh, ngại va chạm. Trên cơ sở đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp nghiêm túc tiếp thu, đổi mới công tác lãnh đạo; từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì xây dựng kế hoạch phấn đấu, xác định phương hướng, nội dung, biện pháp khắc phục khâu yếu, mặt yếu được chỉ ra.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc gần gũi, lắng nghe ý kiến, hết lòng phục vụ nhân dân là đạo đức, phong cách của người cách mạng chân chính. Bác cho rằng: Lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc tiếng nói từ bên dưới mới có thể nhận được những thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh và sửa sai nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối, chương trình, kế hoạch; phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên cũng không sợ nghe sự thật. Muốn thành công trong công việc, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết lắng nghe và kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của quần chúng, của cán bộ dưới quyền, đặc biệt là những ý kiến phản biện.

Thực hiện lời dạy của Người, việc phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị đã được quân đội nói chung, các cơ quan, đơn vị, CB, CS toàn quân nói riêng luôn coi trọng, đề cao và thực hiện hiệu quả. Thế nhưng, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, tính toán thiệt hơn... như Nghị quyết 847 đã chỉ rõ. Hạn chế nêu trên có nguyên nhân không nhỏ từ việc thiếu dân chủ, quân phiệt, bảo thủ, duy ý chí, áp đặt, độc đoán, chuyên quyền, coi thường ý kiến người khác, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Có nơi, tập thể chỉ là “bình phong” để hợp thức hóa quyết định của người đứng đầu. Một số cán bộ chủ chốt vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể hoặc lợi dụng tập thể để thực hiện mục đích tư lợi cá nhân. Tình trạng đó xuất phát từ việc tập thể cấp ủy, cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu sức chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không dám nói khác hay làm trái ý kiến người đứng đầu, khiến dân chủ bị lợi dụng, thậm chí bị vô hiệu hóa.

Trong giai đoạn cách mạng mới, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà mỗi CB, CS cần nhận thức sâu sắc rằng, sự phát triển, vận động đi lên không có chỗ cho sự bảo thủ, duy ý chí. Thực tiễn đã kiểm nghiệm, nhiều chủ trương, chính sách của quân đội được bàn thảo, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi đã ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của đông đảo CB, CS, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Ở những cơ quan, đơn vị có người đứng đầu luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của cấp dưới thì ở đó dân chủ được phát huy, tập thể đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó, người đứng đầu phải công tâm, khách quan, cầu thị, có phương pháp lãnh đạo tốt, phong cách gần gũi quần chúng, sâu sát cơ sở. Ngược lại, những cán bộ cấp dưới, đảng viên, quần chúng cần phát huy dân chủ, tính chiến đấu, thẳng thắn đóng góp ý kiến trên tinh thần xây dựng. Sự tương tác hai chiều giữa lắng nghe và góp ý xuất phát từ động cơ trong sáng, ý thức vì tập thể mới tạo được mạch nguồn nuôi dưỡng dân chủ thực chất, vững bền trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi CB, CS cần bồi đắp tố chất biết lắng nghe, dám nghe những điều phản biện, cầu thị sửa mình để ngày mai tiến bộ hơn ngày hôm nay, đó cũng là hành động thiết thực góp phần xây dựng Quân đội ta ngày càng vững mạnh.