Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM !


Trong suốt quá trình cách mạng, đặc biệt từ khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tập trung xuyên tạc những nguyên lý cơ bản, phủ nhận nội dung cốt lõi và giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi chúng biết rõ rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống tư tưởng, quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ ra lực lượng, con đường, phương thức đạt mục tiêu đó. Với phẩm chất của nhà cách mạng chân chính, nhà khoa học vĩ đại, thiên tài; C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học và giành cả cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi để biến học thuyết cách mạng khoa học trở thành hiện thực; dẫn đường, chỉ lối cho nhân loại tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Luận giải khoa học về sự phát triển biện chứng, tất yếu thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại; về đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản; về tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, v.v.. Thành công của Cách mạng tháng Mười Nga (07/11/1917) dẫn đến sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba hiện nay là minh chứng thuyết phục về bản chất cách mạng, khoa học, sức sống và tính thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin; là ngọn cờ soi sáng phong trào đấu tranh giai cấp của công nhân và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới.
Bản chất cách mạng, khoa học và giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được kiểm nghiệm, khẳng định bởi thực tiễn trong hơn 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Sự kiên định, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX, nhất là, sau khi Pháp nổ súng xâm lược nước ta; với lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, lớp lớp các sĩ phu, anh hùng, hào kiệt đứng lên lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp, theo các trào lưu tư tưởng khác nhau nhưng lần lượt rơi vào thất bại. Các phong trào cách mạng của nhân dân ta bị thực dân Pháp và tay sai, phản động đàn áp, dìm trong biển máu; con đường cứu nước, giải phóng dân tộc lâm vào khủng hoảng, bế tắc... bởi thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn.
Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước đúng đắn và khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]và Người cho rằng: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[2]. Chính Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong phong trào công nhân, phong trào yêu nước và xúc tiến chuẩn bị các tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930). Nhờ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định Chính cương, Sách lược vắn tắt - vạch ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam; lãnh đạo cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), phong trào Dân chủ (1936 - 1939), phong trào Phản đế (1939 - 1941); lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên toàn quốc, lập nên Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), làm nên một “Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975). Thắng lợi đó đã góp phần quan trọng làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân mới; thúc đẩy phong trào độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò là “cẩm nang thần kỳ”, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa Mác - Lênin và căn dặn: Đảng phải luôn trung thành và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ của Đảng. Theo Người: “Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”[3] và “chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”[4]. Đồng thời, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên ra sức nghiên cứu, học tập, tu dưỡng nâng cao trình độ lý luận và vận dụng sáng tạo lập trường, quan điểm, phương pháp, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế công tác, theo tinh thần: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”[5].
Bằng trí tuệ thiên tài và thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu chọn lọc, vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và giải quyết thành công những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam; góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều lĩnh vực. Những cống hiến to lớn và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại... Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[6]. Ghi nhận những công lao đóng góp của Hồ Chí Minh, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp quốc, tại Nghị quyết 24C/18.65 khóa họp Đại hội đồng lần thứ 24 tại Pari (từ ngày 20/10 - 20/11/1987), vinh danh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, nên tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản vô giá của Đảng, dân tộc ta, mà còn là di sản tư tưởng quý giá của nhân loại tiến bộ, cổ vũ, khích lệ, soi sáng cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới.
Quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lêninvà tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại, thực tiễn đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều nhất quán khẳng định vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp đổi mới nói riêng. Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội lần thứ IX của Đảng rút ra bài học: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”[7]. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”[8]. Tổng kết 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”[9]. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”[10]. Để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới, Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Kiên định vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”[11].
Những thành tựu của cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đều bắt nguồn từ sự trung thành, vận dụng sáng tạo, không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn đất nước trong từng giai đoạn cách mạng. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị to lớn, sức sống mãnh liệt và giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động đã sử dụng nhiều chiêu trò vô cùng hiểm độc, xảo quyệt để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Nguy hiểm hơn, chúng luôn tự cho mình là những người “giàu lòng yêu nước, có tâm huyết, trách nhiệm với tiền đồ của dân tộc, có cái tâm trong sáng, có năng lực trí tuệ, hiểu biết cao siêu...”, đưa luận điệu cho rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm và đã quá lỗi thời, lạc hậu” nên phải từ bỏ. Chúng ra sức bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo hạ thấp thanh danh, uy tín cá nhân và xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Quy kết mọi sai lầm trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ta đều bắt nguồn từ sự trung thành, kiên định quá lâu với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết. Đồng thời, chúng ra sức tán dương, ngợi ca những giá trị “tốt đẹp và vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản và tuyên truyền, kích động Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ sự kiên trì, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tránh mắc sai lầm, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, nghèo nàn, lạc hậu.
Thực chất những luận điệu trên là phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; vai trò lãnh đạo của Đảng và những thành tựu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Điều đó, đặt ra yêu cầu cao đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp toàn quân trong xây dựng, triển khai thực hiện các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng trong tình hình mới, cụ thể:
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng và của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, nghiêm túc có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”...
Xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược và cán bộ chủ trì, người đứng đầu có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ; thực hiện nghiêm quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật, pháp luật. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, người đứng đầu các cấp trong thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, Quân ủy Trung ương, pháp luật của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Quốc phòng; gắn với đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, kiên quyết đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật.
Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ
Đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong Quân đội. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Khẳng định những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững, phù hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam và nghiên cứu, làm rõ sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống hóa những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước; nhất là hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Qua đó, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, xây dựng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm
Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Quân đội, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, Quân đội; không phát tán thông tin sai trái, phản động, luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, vu khống, kích động hoặc tán phát đơn thư nặc danh, mạo danh. Kiên quyết, kịp thời xử lý nghiêm những người làm trái đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, tung tin xấu độc, lan truyền tài liệu trái phép, sai sự thật, xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng trên internet, mạng xã hội... theo đúng quan điểm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.
Bốn là, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Tiếp tục triển khai, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW và quan điểm của Đại hội XIII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”[12].
Trước hết cần nhận thức và khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự sâu sắc, không thể phủ nhận. Đồng thời, tỉnh táo, nhạy bén phân biệt rõ bản chất cách mạng, khoa học, giá trị bền vững của những nguyên lý, quan điểm cơ bản, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là đối với một số luận điểm cụ thể của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã phản ánh đúng về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong thời đại của các ông, nhưng đã bị lịch sử vượt qua trong điều kiện mới của thời đại hiện nay. Đặc biệt, không bao giờ được đánh đồng giữa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm của chủ nghĩa cơ hội, xét lại; với nhận thức chủ quan và sự vận dụng sai lầm, thậm chí cố ý phủ nhận, làm trái với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin của một số chính đảng, người lãnh đạo đảng, nhà nước ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước kia và hiện nay...
Phát huy vai trò nòng cốt của cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Lực lượng 47, chuyên gia các cấp; các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản; cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị viên và đội ngũ cán bộ chính trị, báo cáo viên, tuyên truyền viên; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, các mạng xã hội... góp phần bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, chủ động thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn, loại bỏ thông tin xấu độc trên internet, mạng xã hội; xử lý nghiêm minh đối với tổ chức và cá nhân đưa tin sai sự thật, tuyên truyền, tán phát nội dung, quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống, phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Dù thực tiễn luôn vận động biến đổi và các thế lực thù địch phản động không ngừng đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhưng bản chất cách mạng, khoa học là điều không thể phủ nhận, tạo nên giá trị, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước là cơ sở khoa học, nhân tố quyết định để Đảng ta hoạch định chủ trương, đường lối đúng đắn, lãnh đạo đất nước tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương,
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.289.
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12, Sđd, tr.562.
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.97.
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, Sđd, tr.92.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, Sđd, tr.611.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.633.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2001, tr.19.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.70.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.99.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.40-41.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.183.
vubao-st13
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người
2

VIỆC NGĂN CẢN VIỆC PHỔ BIẾN QUỐC KỲ, QUỐC HUY ,QUỐC CA LÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT. 👍👍 ĐBQH nhấn mạnh việc lợi dụng quyền bảo hộ tác giả, quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là hành vi vi phạm pháp luật, cần được xử lý. Sáng 31/5, thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, ĐBQH Nguyễn Hải Anh (Đồng Tháp) cho rằng, về sở hữu trí tuệ với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là góp phần tích cực trong giáo dục con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, quốc gia, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, thực tế đã có tình trạng ngăn cản việc phổ biến Quốc ca. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, bởi Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là sản phẩm tinh thần của cả dân tộc Việt Nam chứ không của riêng cá nhân, tổ chức nào. “Hành vi cản trở, xúc phạm, lợi dụng quyền bảo hộ tác giả, quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là hành vi vi phạm pháp luật và cần được xử lý. Không tổ chức, cá nhân nào được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca”, ĐBQH Nguyễn Hải Anh nhấn mạnh. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, trong báo cáo, Chính phủ đề nghị quy định chặt chẽ hơn về việc cho phép khai thác, sử dụng và phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca trong đời sống xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng. Việc này vừa bảo đảm tính pháp lý, giữ gìn sự trang trọng, tôn nghiêm của Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, vừa đáp ứng nhu cầu phổ biến đến nhân dân, hội nhập quốc tế và nhu cầu thực tiễn. Theo ông Hoàng Thanh Tùng, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, các hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế diễn ra thường xuyên, việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca tại các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể dục thể thao ở trong nước, nước ngoài và cả trên không gian mạng trở nên phổ biến hơn. Việc tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu vừa bảo đảm sự tôn nghiêm của các biểu tượng quốc gia trong đời sống xã hội, vừa bảo đảm quyền thụ hưởng của người dân. “Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca”, ông Tùng nhấn mạnh. Qua nghiên cứu, thường trực Ủy ban Pháp luật cơ bản thống nhất với sự cần thiết bổ sung quy định: Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và quy định khác của pháp luật có liên quan. Dưới góc độ bản quyền, đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cho rằng, nếu không quy định cụ thể quyền liên quan thì xảy ra trường hợp nhân danh sáng tạo nghệ thuật, nhân danh tổ chức có quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến, tiếp cận Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca. “Khi sử dụng tác phẩm của các cơ quan nhà nước thì không phải xin phép, không phải trả tiền. Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm quy định để đảm bảo tính pháp lý, sự tôn nghiêm, đáp ứng nhu cầu phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, tránh việc lạm dụng để có hành vi cản trở, ngăn cản phổ biến tác phẩm”, ông Trí nói. Ông Hoàng Thanh Tùng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho biết, Ủy ban Pháp luật ủng hộ bổ sung quy định việc sử dụng, phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, nâng cao tinh thần cho người Việt, nhưng không trái với thông lệ quốc tế. Nêu ví dụ về trường hợp từng xảy ra việc bản Quốc ca Việt Nam vang lên thì bị tắt tiếng trên một số kênh YouTube tiếp sóng trận đấu giữa đội tuyển Việt Nam - Lào tại vòng bảng AFF Suzuki Cup 2020 mà nhiều báo gọi tên thủ phạm là BH Media, ông Tùng cho biết chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý trường hợp ngăn cản, cản trở việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca. "Không có bất cứ tổ chức, cá nhân nào có thể ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca. Chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý mọi trường hợp vi phạm", ông Tùng cho biết. THEO (VTC News) VOV TV VIỆT NAM

 

ĐBQH nhấn mạnh việc lợi dụng quyền bảo hộ tác giả, quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là hành vi vi phạm pháp luật, cần được xử lý.
Sáng 31/5, thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, ĐBQH Nguyễn Hải Anh (Đồng Tháp) cho rằng, về sở hữu trí tuệ với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là góp phần tích cực trong giáo dục con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, quốc gia, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, thực tế đã có tình trạng ngăn cản việc phổ biến Quốc ca. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, bởi Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là sản phẩm tinh thần của cả dân tộc Việt Nam chứ không của riêng cá nhân, tổ chức nào.
“Hành vi cản trở, xúc phạm, lợi dụng quyền bảo hộ tác giả, quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là hành vi vi phạm pháp luật và cần được xử lý. Không tổ chức, cá nhân nào được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca”, ĐBQH Nguyễn Hải Anh nhấn mạnh.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, trong báo cáo, Chính phủ đề nghị quy định chặt chẽ hơn về việc cho phép khai thác, sử dụng và phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca trong đời sống xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng.
Việc này vừa bảo đảm tính pháp lý, giữ gìn sự trang trọng, tôn nghiêm của Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, vừa đáp ứng nhu cầu phổ biến đến nhân dân, hội nhập quốc tế và nhu cầu thực tiễn.
Theo ông Hoàng Thanh Tùng, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, các hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế diễn ra thường xuyên, việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca tại các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể dục thể thao ở trong nước, nước ngoài và cả trên không gian mạng trở nên phổ biến hơn.
Việc tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu vừa bảo đảm sự tôn nghiêm của các biểu tượng quốc gia trong đời sống xã hội, vừa bảo đảm quyền thụ hưởng của người dân.
“Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca”, ông Tùng nhấn mạnh.
Qua nghiên cứu, thường trực Ủy ban Pháp luật cơ bản thống nhất với sự cần thiết bổ sung quy định: Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Dưới góc độ bản quyền, đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cho rằng, nếu không quy định cụ thể quyền liên quan thì xảy ra trường hợp nhân danh sáng tạo nghệ thuật, nhân danh tổ chức có quyền liên quan để ngăn cản việc phổ biến, tiếp cận Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
“Khi sử dụng tác phẩm của các cơ quan nhà nước thì không phải xin phép, không phải trả tiền. Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm quy định để đảm bảo tính pháp lý, sự tôn nghiêm, đáp ứng nhu cầu phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, tránh việc lạm dụng để có hành vi cản trở, ngăn cản phổ biến tác phẩm”, ông Trí nói.
Ông Hoàng Thanh Tùng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho biết, Ủy ban Pháp luật ủng hộ bổ sung quy định việc sử dụng, phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, nâng cao tinh thần cho người Việt, nhưng không trái với thông lệ quốc tế.
Nêu ví dụ về trường hợp từng xảy ra việc bản Quốc ca Việt Nam vang lên thì bị tắt tiếng trên một số kênh YouTube tiếp sóng trận đấu giữa đội tuyển Việt Nam - Lào tại vòng bảng AFF Suzuki Cup 2020 mà nhiều báo gọi tên thủ phạm là BH Media, ông Tùng cho biết chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý trường hợp ngăn cản, cản trở việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
"Không có bất cứ tổ chức, cá nhân nào có thể ngăn cản việc phổ biến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca. Chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý mọi trường hợp vi phạm", ông Tùng cho biết.
THEO (VTC News)
VOV TV VIỆT NAM
vubao-st12

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG"


Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Gần đây, nhân sự kiện chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga đang diễn ra ở Ukraine, chúng tìm mọi cách lại xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”(!).
Thưa Trân Văn, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nói đến Tổ quốc có thể khái quát là sự hợp thành của hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội. Nếu thiếu một trong hai phương diện trên thì chưa phải Tổ quốc hoàn chỉnh. Đúng thế! Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện tự nhiên lịch sử của đất nước ta vẫn còn nguyên đó, thực dân Pháp có “bê” được vùng đất, trời, biển của Việt Nam về lắp ghép với vùng đất, trời... của nước Pháp đâu mà nhân dân ta vẫn nói là nước mất nhà tan. Vì chính quyền phong kiến Việt Nam lúc đó chỉ là bù nhìn, làm tay sai cho thực dân Pháp mà thôi...
Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, Trân Văn lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.
Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của Trân Văn để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.
Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó.
Mới đây, trả lời phỏng vấn của Báo Tuổi trẻ về chiến dịch quân sự đặc biệt giữa Nga và Ukraine, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: Chúng ta không thể đứng ngoài sự việc này, bởi trước hết Nga và Ukraine đều là bạn của Việt Nam, những bên can dự vào đều là đối tác của chúng ta. Việt Nam chúng ta có 3 thế mạnh để có thể tham gia, đóng góp giúp tạo lập lại hòa bình. Thứ nhất, chúng ta đã chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, để kiến lập nền hòa bình bền vững cho đất nước. Thứ hai, chúng ta cũng có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn giữ được hòa bình. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, sóng gió như vậy nhưng Việt Nam giữ vững được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ được độc lập tự chủ và những gì chúng ta đang có, đồng thời giữ được hòa bình. Thứ ba, chúng ta có quan hệ đa phương rộng rãi với hầu hết các quốc gia, các tổ chức quốc tế.
Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu./.
Nguồn: Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
vubao11-st

TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU


Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.
Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.
Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.
Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.
NGUỒN ST.vubao10
Có thể là hình ảnh về 4 người và mọi người đang đứng
1