Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Hùng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

  - Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phạm Hùng gắn liền với lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX. Với tinh thần trách nhiệm cao, kiên định, sáng tạo, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách kinh tế trong những năm 1960 - 1965, đồng chí đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ là “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”(1). Đại hội xác định đường lối xây dựng kinh tế là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sau Đại hội, một loạt các phong trào thi đua trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, trong quân đội, giáo dục và phong trào thi đua đạt danh hiệu tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa được phát động.

Phó Thủ tướng Phạm Hùng (hàng đầu, thứ hai từ phải sang) xem tơ đã ươm tại Hợp tác xã Văn Quán (tỉnh Vĩnh Phúc), tháng 2-1964_Ảnh: TTXVN

Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp phụ trách kinh tế, đồng chí Phạm Hùng đã chủ động, nhạy bén trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sản xuất, phục vụ nhiệm vụ chiến lược củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, quán triệt chủ trương của Đảng, cuối tháng 9-1960, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Hùng phát động thi đua đẩy mạnh sản xuất vụ đông - xuân 1960 - 196l. Đồng chí nhấn mạnh: “Vụ đông - xuân này là đông - xuân mở đầu thời kỳ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, là vụ mở đầu kế hoạch sản xuất nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết lịch sử của Đại hội. Vụ đông - xuân thắng lợi to lớn và toàn diện sẽ biểu hiện một cách sinh động nhất tính chiến đấu, tính thực tiễn của Nghị quyết Đại hội Đảng, sẽ càng thuyết phục và cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu quần chúng biến Nghị quyết của Đại hội thành sức mạnh vật chất thúc đẩy sản xuất, hợp tác hóa phát triển với tốc độ cao”(2). Ngày 21-9-1960, Phó Thủ tướng Phạm Hùng ký Chỉ thị số 214/TTg, về việc đẩy mạnh công tác thủy lợi phục vụ thắng lợi vụ đông - xuân đầu tiên của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Đồng chí Phạm Hùng đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện. Nhiều nghị quyết và chỉ thị quan trọng về nông nghiệp đã được xây dựng và ban hành (3)Đồng chí Phạm Hùng nhất quán quan niệm: Xây dựng và phát triển kinh tế, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng hướng vào mục tiêu không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Theo đồng chí, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, Chính phủ là bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của người dân. Đây là tiêu chí hàng đầu đánh giá sự đúng đắn của các chính sách, cách thức quản lý kinh tế, năng lực của người lãnh đạo, quản lý, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, khơi gợi tinh thần, năng lực sáng tạo của toàn dân. Đồng chí luôn tâm niệm, uy tín của Đảng là ở tâm nguyện vì dân, thu phục, quy tụ được dân tâm.

Cuối năm 1960, khi phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đang lên cao, đồng chí Phạm Hùng đã dự Hội nghị tổng kết phong trào thi đua của tỉnh Quảng Bình, trong đó có mô hình tiên tiến của Hợp tác xã Đại Phong. Hợp tác xã Đại Phong lúc đầu chỉ có vài chục gia đình đồng bào miền Nam vượt tuyến ra Quảng Bình. Khi đến, họ chỉ có hai bàn tay trắng, Đảng và Chính phủ hỗ trợ một ít vốn, bà con ra sức vỡ hoang suốt ngày đêm, nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp, tình trạng đói ăn thường xuyên diễn ra. Dần dần, Đại Phong hợp nhất với hợp tác xã nghèo Đông - Tây - Bắc thành 135 hộ. Do tổ chức sản xuất hiệu quả, có tinh thần tương thân tương ái và đoàn kết, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, đời sống nhân dân dần được cải thiện, chỉ còn năm hộ thiếu ăn được bà con xã viên giúp đỡ. Cuối năm 1960, Đại Phong đã tiến lên hợp tác xã bậc cao với quy mô liên thôn. Nắm vững phương châm lấy sản xuất nông nghiệp là chính, Hợp tác xã Đại Phong tích cực cải tiến kỹ thuật, công cụ, xem kỹ thuật là khâu then chốt quyết định để tăng năng suất lao động. Tại buổi bế mạc hội nghị, đồng chí Phạm Hùng biểu dương phong trào thi đua của tỉnh Quảng Bình, trong đó nổi bật là Hợp tác xã Đại Phong và khen ngợi đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Nguyễn Ngọc Ánh. Từ những đánh giá kịp thời, sự động viên, khích lệ của đồng chí Phạm Hùng, Hợp tác xã Đại Phong đã trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào xây dựng hợp tác xã trên miền Bắc. Phong trào “học tập Đại Phong” dấy lên mạnh mẽ trên toàn miền Bắc sau đó.

Chiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng cho Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), nơi khởi nguồn phong trào thi đua "Gió Đại Phong" trong nông nghiệp, thực hiện luống cày đầu tiên (tháng 6-1961) trước sự vui mừng của bà con xã viên_Ảnh: TTXVN

Nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mà Trung ương Đảng đề ra là phải từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi các cấp, các ngành phải nỗ lực phấn đấu, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Trong Ban Bí thư, đồng chí Phạm Hùng phụ trách lĩnh vực kinh tế và trực tiếp phụ trách khối tài chính thương nghiệp, làm Trưởng Ban Tài mậu của Đảng, bao gồm các ngành tài chính, ngân hàng, nội thương, ngoại thương và giá cả. Nhiệm vụ quan trọng của các ngành thuộc khối tài mậu là cần phát huy hết chức năng để phục vụ sự nghiệp phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, hỗ trợ các ngành y tế, giáo dục, văn hóa phát triển, thực hiện tiết kiệm trong tiêu dùng, để dành vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản.

Trong nội dung đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, công nghiệp được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhưng khi bước vào thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, sản xuất mới được khôi phục, máy móc đã cũ, hư hỏng nhiều; thủ công nghiệp nghèo nàn, phân tán, lực lượng kỹ thuật hầu như không có. Trình độ văn hóa của nhân dân thấp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề rất ít. Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nền kinh tế miền Bắc bị tàn phá nặng nề, nhiều vùng vẫn chưa khai hoang, phục hóa. Nhiệm vụ quan trọng nhất của công nghiệp nặng thời kỳ này là “trang bị cho lao động cả nước, trước hết là lao động nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có đủ các loại công cụ với trình độ kỹ thuật khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại, tùy theo từng ngành và từng loại công việc, để gấp rút đưa năng suất lao động xã hội lên ít nhất gấp đôi, gấp ba mức năng suất hiện nay”(4).

Tháng 1-1961, tại Hội nghị cán bộ quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa III, đồng chí Phạm Hùng nêu rõ: Với việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, miền Bắc đã bước vào một thời kỳ cách mạng mới. Yêu cầu rất quan trọng đối với cán bộ, đảng viên là phải nhận thấy những nhân tố mới, thấy rõ yêu cầu mới của cách mạng, từ đó có cơ sở để thống nhất về nhiệm vụ cụ thể và chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp năm 1961; cần chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức để có tinh thần, tác phong làm việc mới; phát triển nông nghiệp làm cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hóa.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, cán bộ, đảng viên các cấp giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đa số đã tỏ rõ bản lĩnh và năng lực của mình, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tuy nhiên, còn một số cán bộ, đảng viên do trình độ, năng lực hạn chế, lại không thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, xa rời quần chúng…, gây cản trở tới việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Nắm bắt những khuyết điểm, hạn chế trong công tác quản lý kinh tế, tài chính của các cấp, các ngành, ngày 26-4-1962, Bộ Chính trị mở cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong ngành công nghiệp”(5). Yêu cầu của cuộc vận động trong bốn năm (1962 - 1965) là thực hiện một cuộc chuyển biến cách mạng trên các mặt tư tưởng và tổ chức, đưa công tác quản lý lên một trình độ mới, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời với cuộc vận động trong công nghiệp, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 19-2-1963, về cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”. Đồng chí Phạm Hùng cho rằng, phải thực hiện hai cuộc vận động này với tinh thần như hai cuộc cách mạng lớn và trong quá trình tiến hành phải phân định từng bước cho phù hợp, trong đó bước chuẩn bị là hết sức quan trọng. Thực hiện hai cuộc vận động này phải đi tới hoàn thành quan hệ sản xuất mới gắn liền với phát triển lực lượng sản xuất, với phương châm là làm đến đâu, phát hiện thấy có vấn đề gì cần sửa thì phải sửa ngay. Đồng chí Phạm Hùng nhiều lần khẳng định: Chỉ có sản xuất phát triển thì mới tạo tiền đề cho các lĩnh vực khác phát triển. Các ngành khác phát triển sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển đi lên. Mối quan hệ giữa sản xuất với các lĩnh vực đời sống xã hội có nhiều chiều, phức tạp, đòi hỏi khi xử lý phải nhạy bén và hết sức sáng tạo. Đồng chí Phạm Hùng cùng Ban Bí thư dành nhiều thời gian bàn thảo và chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện đối với các tỉnh trọng điểm, như Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nam Định...

Năm 1964, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường hoạt động khiêu khích, phá hoại và chuẩn bị cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân chống phá miền Bắc. Trước những mưu đồ và hành động chuẩn bị mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 81-CT/TW, ngày 7-8-1964, “Về tăng cường sẵn sàng chiến đấu chống mọi âm mưu của địch khiêu khích và phá hoại miền Bắc”. Bộ Chính trị chỉ thị cho các cấp bộ đảng và chính quyền tăng cường công tác phòng không nhân dân, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngay đầu năm 1964, đồng chí Phạm Hùng được Bộ Chính trị giao trách nhiệm gấp rút chuẩn bị đề án về thương nghiệp và giá cả thời chiến để trình Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa III họp vào cuối năm 1964. Đồng chí Phạm Hùng cùng các đồng chí phụ trách Ban Tài chính - Thương nghiệp của Phủ Thủ tướng, Vụ Vật giá, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, với sự tham gia của các đồng chí phụ trách Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương, thành lập Ban trù bị xây dựng báo cáo và dự thảo Nghị quyết để trình Trung ương.

Trước tình hình cấp bách, miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa phải chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa phải tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam, với phong cách làm việc tập trung, khẩn trương, trách nhiệm và hiệu quả, đồng chí Phạm Hùng cùng các đồng chí trong Ban trù bị tập trung nghiên cứu lý luận về lưu thông, phân phối, học tập những kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa về thương nghiệp và giá cả; đồng thời, tăng cường nghiên cứu sự hình thành và tổng kết kinh nghiệm về công tác thương nghiệp và giá cả từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Căn cứ vào những đặc điểm kinh tế, những nhiệm vụ chính trị và kinh tế về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Ban trù bị Hội nghị Trung ương 10 do đồng chí Phạm Hùng làm Trưởng ban đã đề ra những nội dung về nội thương, ngoại thương, giá cả, thảo luận sâu về các vấn đề, như vị trí, chức năng của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân; phương hướng, nhiệm vụ chung; nhiệm vụ cụ thể và những biện pháp thiết thực để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Trong quá trình thảo luận, đề xuất vấn đề, xây dựng báo cáo, khi các thành viên Ban trù bị phát biểu ý kiến, đồng chí Phạm Hùng luôn chú ý lắng nghe, điều hành thảo luận dân chủ rồi mới đi đến kết luận.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Khu lưu niệm đồng chí Phạm Hùng ở xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long_Ảnh: TTXVN

Tháng 12-1964, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp bàn về vấn đề thương nghiệp và giá cả. Căn cứ vào thực tiễn 10 năm phấn đấu quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hội nghị bổ sung một số điểm vào đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng là cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, lấy cách mạng kỹ thuật làm then chốt. Căn cứ đường lối đó, công tác thương nghiệp và giá cả phải phục vụ tốt đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy cách mạng kỹ thuật, cải tiến tổ chức thương nghiệp, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán, quản lý tốt thị trường.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 là những căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng một nền thương nghiệp và giá cả xã hội chủ nghĩa phục vụ đắc lực nhiệm vụ vừa đẩy mạnh sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chiến đấu chống đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam. Sau Hội nghị, đồng chí Phạm Hùng đã viết cuốn sách “Vị trí và nhiệm vụ của thương nghiệp và giá cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta” để phổ biến nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10. Thực tiễn sinh động và những luận giải mà đồng chí Phạm Hùng nêu trong cuốn sách là những đóng góp lý luận và thực tiễn lớn về một lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất nước.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Hùng, việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 được tiến hành hết sức khẩn trương, tích cực. Việc thu mua lương thực, thực phẩm, nông sản, hàng hóa theo giá ổn định trong nghĩa vụ và theo giá cao ngoài nghĩa vụ rất có hiệu quả trong việc tập trung nguồn hàng vào Nhà nước, kịp thời phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong bối cảnh miền Bắc phải kiên cường chống chiến tranh phá hoại.

Việc cung cấp hàng hóa theo định lượng đối với các nhu cầu thiết yếu của nhân dân kết hợp với bán theo giá cao ngoài định lượng cho các đối tượng có thu nhập cao hơn, đã tạo điều kiện ổn định đời sống của các tầng lớp nhân dân, thu hút lượng tiền mặt nhằm ổn định giá cả và giá trị đồng tiền trong thời chiến. Hậu phương lớn được ổn định, người già, trẻ em, những người mất sức lao động được bảo đảm đời sống đã tạo điều kiện cho hàng triệu thanh niên yên tâm, hăng hái lên đường nhập ngũ và gia nhập thanh niên xung phong.

Dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất cao độ của Trung ương Đảng, Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Hùng, công tác lưu thông phân phối thời chiến đã động viên được mọi nguồn lực, nhằm xây dựng và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm chi viện đến mức cao nhất cho tiền tuyến lớn miền Nam. 

Đến năm 1965, có 88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; trong đó, 71,7% số hộ lên hợp tác xã bậc cao. Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng giai cấp nông dân tập thể đã hình thành và phát triển. Diện tích, năng suất và tổng sản lượng sản xuất nông nghiệp đều tăng, tốc độ tăng bình quân hằng năm về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 4,1%. Nông nghiệp miền Bắc từ một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh, năng suất thấp dần dần trở thành một nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện. Thắng lợi lớn nhất của nông nghiệp miền Bắc thời kỳ này là đã giải quyết được phần lớn nhu cầu về lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và một phần cho xuất khẩu.

Công nghiệp miền Bắc có mức phát triển khá. Từ những cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ, đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sản xuất và phần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân. Một trong những thành quả lớn nhất của công nghiệp miền Bắc thời kỳ 1961-1965 là phục vụ nông nghiệp có hiệu quả, đặc biệt trong các khâu thủy lợi, trang bị máy móc, nông cụ, phân bón, thuốc trừ sâu,… Trong thời kỳ này, khối lượng tư liệu sản xuất cung cấp cho nông nghiệp tăng bình quân 25%/năm, chiếm 1/4 giá trị tổng sản lượng của công nghiệp nặng. Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân bước đầu được phát huy. Các ngành công nghiệp chủ yếu, như điện, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng,… đã hình thành và phát triển nhanh, nhất là ngành điện và ngành cơ khí. Nhiều khu công nghiệp phát triển và hình thành ở Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định, Vinh, Hồng Quảng. Miền Bắc bắt đầu xây dựng những công trình lớn, quan trọng, như gang thép Thái Nguyên, thủy điện Thác Bà, phân đạm Bắc Giang với tiến độ nhanh. Trong khi đó, sức mua của đồng tiền vẫn được giữ vững, giá cả ổn định. Những thành tích đó có sự đóng góp đáng kể của khối tài mậu, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, khéo léo, tài tình của đồng chí Phạm Hùng. Đồng chí đã dành nhiều tâm huyết, dày công chỉ đạo các ngành trong khối tài mậu, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các mặt, cân đối về thu - chi tài chính, về lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa, cân đối giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu, tạo nền nếp ổn định trong khối.

Khi miền Bắc bước vào thời kỳ ứng phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng chí Phạm Hùng cùng Chính phủ phải tổ chức nền kinh tế trong điều kiện có chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện tích cực cho cách mạng miền Nam.

Đoàn viên, thanh niên huyện Long Hồ tham quan, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng ở xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long_Ảnh: TTXVN

Trên những cương vị được đảm trách, đồng chí Phạm Hùng luôn quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đồng chí Phạm Hùng tỏ rõ sự chủ động, nhạy bén, tài thao lược trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, tài chính… Sự am hiểu, sâu sát thực tế giúp đồng chí cùng với tập thể lãnh đạo đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất nước nhà. Từ những đóng góp của đồng chí Phạm Hùng trong hoạt động chỉ đạo thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhiều khó khăn, thử thách, càng cho thấy rõ hơn tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì nước, vì dân của đồng chí. Đồng chí Phạm Hùng đã thấu triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư cách của một người cách mạng, người cộng sản chân chính, đó là đối với công việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng (11-6-1912 - 11-6-2022) là dịp để chúng ta ôn lại, tôn vinh những cống hiến to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, nhất là những đóng góp của đồng chí trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1960 - 1965). Những phẩm chất cao đẹp của đồng chí Phạm Hùng là tấm gương sáng để mỗi người Việt Nam hiện nay, nhất là những cán bộ, đảng viên học tập và noi theo, đóng góp sức lực, trí lực của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát đất nước nhanh và bền vững./.

------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 558 - 559
(2) Báo Nhân Dân, số 2378, ngày 22-9-1960
(3) Nghị quyết số 26-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 5 khóa III (tháng 7-1961), “Về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)”; Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 27-2-1961, của Bộ Chính trị, “Về nhiệm vụ và phương hướng công tác hợp tác hóa nông nghiệp trong năm 1961”; Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 24-7-1961, của Ban Bí thư, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật”; Nghị quyết số 70-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 19-2-1963, Về cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”
(4) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 98
(5) Còn gọi là cuộc vận động “ba xây, ba chống”

DÙ XÃ HỘI CÒN NHỮNG KHÓ KHĂN, TIÊU CỰC NHẤT ĐỊNH NHƯNG ĐỪNG BAO GIỜ VÌ THẾ MÀ PHẢN BỘI!


Khi đất nước bị xâm lược, gặp họa binh đao, triệu triệu người hiên ngang bước vào cuộc chiến, không mảy may vị kỷ, gợn tâm nghĩ đến mưu cầu vật chất, quyền được sống. Cứ thế họ lao lên, nhắm thẳng quân thù mà bắn. Cũng trong hoàn cảnh giang sơn tăm tối, điêu linh đó, nhiều người khác được Đảng, Nhà nước ưu ái cho đi nước ngoài học tập, những người đang bước qua lằn ranh sinh tử, chiến đấu trên chiến trường cũng gửi gắm, kỳ vọng vào những người được xuất ngoại, mong họ được bình an, chăm chỉ học tập, nghiên cứu để thành tài, trở về giúp nước, xây dựng Tổ quốc sau ngày giải phóng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Tức là, khi những người khác chịu gian khổ, hy sinh cho Tổ quốc được sống, thì một số người xuất ngoại lại được hưởng cuộc sống thanh bình, an nhàn nơi trời Tây. Thế rồi, Đất nước hòa bình, những người bước ra từ cuộc chiến ít hơn nhiều so với lúc những đoàn quân đi vào cuộc chiến, thậm chí bước ra cuộc chiến rồi mà vẫn không được hưởng hạnh phúc, no ấm, đủ đầy vì đất nước còn nghèo, con đau thương, vết cắt chiến tranh chưa lành; bản thân họ thân thể, tâm trí cũng không lành lặn gì. Họ vừa vật lộn với cuộc sống, vừa cố gắng vượt qua những cơn đau bằng ký ức chiến tranh, bằng những giấc ngủ mộng mị, bằng những âm thanh bom đạn chát chúa, xé thịt, bỏng rát văng vẳng bên tai mỗi đêm, bằng những giấc mơ ú ớ gọi tên đồng đội, bằng những tiếng hô xung phong trong những ngày chiến trận bám víu lấy cơ thể... thì những người xuất ngoại kết thúc khoảng thời gian êm ả ở bên Tây, trở về Tổ quốc, được bố trí công việc, có lương, có thưởng, ngồi phòng lạnh, phòng đẹp nghiên cứu mát rười rượi, sang chảnh làm việc, nghiên cứu khoa học, đề xuất chính sách xây dựng đất nước. Trong số họ nhiều người thăng tiến nhanh chóng trên con đường quan lộ, nhiều người trở nên giàu có, được gọi bằng hai chữ ĐẠI GIA.
Dù trái cảnh, ngược đời, những người sống chết với Tổ quốc trong chiến tranh không một tiếng kêu than, trách móc, so sánh, đòi hỏi, họ im lặng, lầm lũi lao động giản đơn, gặm nhấm quá khứ để sống trọn vẹn một kiếp người, họ cũng hiểu: Đã hy sinh thì phải hi sinh trọn vẹn mới không có lỗi với non sông. Còn những người đã từng xuất ngoại, trở thành tầng lớp trí thức, nay là nhà nghiên khoa học, là nhà kinh tế, là quan to, là đại gia, nhà đẹp, xe sang, cuộc sống dư thừa vật chất như bậc vương giả mà nền tảng của cuộc sống ấy không chỉ là tiền của của Nhà nước, của Nhân dân, không chỉ là sức lao động, chất xám của bản thân, mà còn bằng chính máu xương của những người từng ở lại dấn thân vào cuộc chiến, thì có không ít kẻ tự cho mình cấp tiến, tư duy mới, tư duy khoa học thượng đẳng, họ trở nên hung hăng đâm thẳng ngọn giáo làm bằng kim - tiền vào thẳng trái tim của những người từng đổ máu trên chiến trường, họ hùa vào nhau trên bàn nhậu đầy rượu ngoại, thức ăn ngon, rôm rả, bàn đàm về cuộc chiến tranh chống ngoại xâm mà họ măy mắn không trở thành một phần trong đó. Họ xét lại tất cả, xét lại cả tính chất, mục tiêu, ý nghĩa của chiến tranh, xét lại cả hành vi tàn bạo của kẻ thù, họ biến những người đã đổ máu, lấy máu của mình trải lên con đường lập nghiệp của họ trở thành những người lạc lối, bơ vơ, ngu muội. Họ coi những kẻ xâm lược là cứu tinh văn minh, xem những kẻ từng là tay sai, bán nước là chính danh, đồng nghĩa máu của những người yêu nước đổ xuống trong chiến tranh là vô nghĩa, phi nghĩa, bất nghĩa. Họ dùng lí luận, lí lẽ tây hóa biện minh cho âm mưu xét lại, dùng quyền uy và đồng tiền để che lấp sự thật, để đánh tráo bản chất.
Nỗi đau, sự bất hạnh không chỉ đến từ kẻ thù, không chỉ bởi cuộc sống vất vả, bất công, mà nỗi đau càng lớn, càng đau đớn gấp bội bởi sự vô tâm, phản bội của những người anh em, đồng loại.
Dù xã hội còn những khó khăn, tiêu cực nhất định nhưng đừng bao giờ vì thế mà phản bội.

BẢO ĐẢM TỐT NGUỒN NHÂN LỰC CHO NHIỆM VỤ QUỐC PHÒNG

 

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá việc bảo đảm quốc phòng của Việt Nam. Trong đó, chúng tập trung xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt về vấn đề bảo đảm nguồn nhân lực trong hoạt động quốc phòng.

          Thực tế, trong Quân đội thời gian qua cũng đã xảy ra một số vụ việc đáng tiếc, nhưng đều được Quân đội xử lý, giải quyết nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật và nhờ vậy được đông đảo nhân dân, dư luận hiểu rõ, cảm thông, đồng thuận và qua đó tiếp tục giữ vững niềm tin yêu vào bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong khi đó các thế lực thù địch, phản động đã cố tình lợi dụng các vụ việc cá biệt trên để thổi phồng, vu khống, làm méo mó bản chất sự việc… từ đó kích động, lôi kéo, nhằm chống lại việc tham gia phục vụ trong Quân đội của công dân, nhất là tuổi trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ trong Quân đội và nhiệm vụ quốc phòng.

          Nhưng các thế thù địch, phản động đã không đạt được mục đích xấu độc của chúng. Những vấn đề bảo đảm cho quốc phòng đã được pháp luật Việt Nam quy định rất rõ ràng, đầy đủ, khả thi. Đó là các quy định về bảo đảm nguồn nhân lực, bảo đảm nguồn lực tài chính, bảo đảm tài sản phục vụ quốc phòng, bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại, bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang…

          Trong đó tại Điều 29 của Luật Quốc phòng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 08/6/2018 có quy định về “Bảo đảm nguồn nhân lực”, cụ thể như sau:

          “1. Công dân Việt Nam là nguồn nhân lực chủ yếu của quốc phòng.

          2. Nhà nước có chính sách, kế hoạch xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; ưu tiên thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng”.

          Quy định trên đây của Luật Quốc phòng đúng với Hiến pháp, pháp luật và thực tế Việt Nam, được cả cộng đồng tán thành, ủng hộ. Từ nhiều năm nay việc bảo đảm nguồn nhân lực quốc phòng đã được thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả tốt. Nhờ vậy đã góp phần thiết thực bảo đảm nguồn nhân lực chung, trong đó có nhiều nhân lực chất lượng cao tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Điều đáng trân trọng, phấn khởi là ý thức tự giác, trách nhiệm và tình cảm với nhiệm vụ quốc phòng của nguồn nhân lực trên luôn được nâng cao, phát triển. Chỉ xin nêu một thực tế là ngày càng có nhiều công dân tốt, có đức, có tài năng tự nguyện xin nhập ngũ, tự nguyện xin được phục vụ trong Quân đội.

          Để tiếp tục thực hiện tốt việc bảo đảm nguồn nhân lực cho nhiệm vụ quốc phòng thời gian tới, đòi hỏi chúng ta cần phải triển khai tích cực các giải pháp đồng bộ, toàn diện hơn nữa.

          Phải kịp thời, nghiên cứu, chú ý hoàn thiện cơ chế chính sách, có sự ưu tiên ưu đãi thiết thực, phù hợp để thu hút tuyển chọn, sử dụng được tốt nhất nguồn nhân lực chất lượng cao cho nhiệm vụ quốc phòng. Tăng cường tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức và hành động, nhất là tính tự giác, tự nguyện của công dân, để giúp công dân hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi, tình cảm để có thể đóng góp tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng. Đồng thời, nêu cao cảnh giác và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các quan điểm thù địch, sai trái cũng như mọi hành vi chống phá trong lĩnh vực quan trọng này.

          Triển khai chấp hành chặt chẽ, nghiêm túc, đầy đủ, chu đáo quy định của Luật Quốc phòng về bảo đảm nguồn nhân lực và các bảo đảm khác trong bảo đảm quốc phòng là cơ sở quan trọng để chúng ta thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định: “… Thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, hành động của toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng, an ninh. Khai thác mọi nguồn lực quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…”./.

                                                                                                st

QUÂN ĐỘI TA MỘT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

 

          Quân đội ta do Đảng và Bác Hồ kính yêu tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giải phóng dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bằng tâm huyết, trí tuệ và những chiến công xuất sắc của mình, đã xây đắp nên lịch sử, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Tài sản riêng vốn có, làm nên giá trị, uy tín, danh dự của Quân đội ta; đồng thời, là tiêu chí để phân biệt với quân đội các nước khác thể hiện ở chỗ: Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ; suốt đời tự nguyện chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

          Thế nhưng, một số người, “mắt nhắm, mắt mở”, chỉ “nhìn thấy cây mà không thấy rừng”, đã “vơ đũa cả nắm”, cho rằng, một số quân nhân vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội đến mức phải xử lý kỷ luật: truy tố, cách chức, ngồi tù... đã vội tung tin, vu khống: “Quân đội nhân dân Việt Nam đã biến chất”, “đánh tuột bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn đủ sức bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân”, “Tổ quốc đang lâm nguy”, “cần phải phi chính trị hóa quân đội”... Đó là nhận thức phiến diện, một chiều, là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật, rất phi lý, không thể chấp nhận.

          Ai cũng biết rằng, trước đây cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn vững chắc tay súng, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo, thiềm lục địa; khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên của Tổ quốc; bảo vệ vững chắc cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Không có kẻ thù nào, thế lực nào có thể xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân; hủy hoạt bản chất, truyền thống của Quân đội ta.

          Thực tiễn gần 80 năm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta chính là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, thể hiện sự nhất quán về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng; khát vọng sống vì hòa bình, yêu quý độc lập, tự do, tha thiết yêu quê hương, đất nước, yêu con người; dù ở cương vị sĩ quan cao cấp hay là người chiến sĩ, tất cả đều trọn vẹn tấm lòng thủy chung, sẵn sàng dâng hiến tuổi trẻ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ. Không bao giờ có chuyện chỉ vì một số ít quân nhân vi phạm kỷ luật mà cán bộ, chiến sĩ toàn quân “buông súng”, không bao giờ cán bộ, chiến sĩ quân đội quên lời hứa với Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự tự nguyện suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

          Bằng tất cả tinh thần và trí tuệ, sức lực và tài năng, kỷ luật tự giác nghiêm minh và sự dâng hiến, tất cả cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân luôn ra sức phấn đấu với niềm tin và hy vọng đem lại niềm vui, lẽ sống cao đẹp cho mọi người với những giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Điều chân quý ấy thể hiện cô đọng ở phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; kết tinh, hội tụ và tỏa sáng ở mục tiêu, lý tưởng và lẽ sống “vì Đảng, vì nước và nhân dân”; ngoài lẽ sống cao đẹp ngời sáng ấy, Quân đội ta không có mục tiêu, lý tưởng và lợi ích nào khác.

          Những kẻ xấu “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò”, cố tình “vơ đũa cả nắm”, “mắt nhắm, mắt mở” nhìn sai lệch, méo mó hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân cần phải lên án. Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam: Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ và nhân dân, hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc là vô cùng thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nó đã được xây đắp nên bằng xương máu, tính mạng của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và nhân dân - những người thân yêu của các liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, chiến sĩ suốt gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành.

          Trong cuộc chiến đấu sinh tử dài lâu với kẻ thù, đã từng nếm trải đắng cay, cực khổ, thậm chí đã phải đổ máu, hy sinh suốt mấy chục năm dòng để chống lại những đội quân xâm lược nhà nghề to lớn, dẹp trừ cái ác, tìm lại lẽ phải, sự công bằng, cuộc sống bình yên cũng như thực hiện nhiệm vụ giúp dân “diệt giặc đói, giặc dốt”, vượt qua thảm họa thiên tai, cứu nạn, cứu hộ, làm nhiệm vụ quốc tế, đặc biệt là cùng toàn Đảng, toàn dân tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, quân đội của nhân dân đã làm nên nhiều chiến công xuắt sắc, viết tiếp bản anh hùng ca “tiến bước dưới quân kỳ”, “vì nhân dân quên mình”, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, tỏa sáng danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; góp phần đặc biệt quan trọng vào việc giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước, mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế.

          Nhờ đó, Quân đội ta đã phát huy tốt bản chất, truyền thống của quân đội anh hùng: Trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, vừa là đội quân sản xuất; đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, đoàn kết quốc tế; dân chủ rộng rãi, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; tiến lên chính quy, hiện đại; xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, sự ngưỡng mộ, quý mến của bạn bè quốc tế.

          Trước sự biến động dữ dội của tình hình thế giới, khu vực và âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta; cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, trước sau như một vẫn kiên định vững vàng; không cho phép kẻ thù nào xâm phạm đến độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, chống phá quân đội.

          Hơn lúc nào hết, trong thời điểm hiện nay, bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiểu rõ ai là bạn, ai là thù, ai đúng, ai sai; ai là đối tác và đối tượng; âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ trẻ hôm nay kế thừa, nối nghiệp cha anh cầm chắc tay súng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cán bộ, chiến sĩ toàn quân có thêm dũng khí, động lực, niềm tin yêu và sức mạnh để gách vác sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà lớp cha anh truyền lại cũng là niềm hạnh phúc lớn lao của thế hệ cán bộ, chiến sĩ ngày nay.

          Trước đây trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cũng như ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong bất luận điều kiện hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cũng một lòng, một dạ đi theo con đường cách mạng của Đảng, tuyệt đối chấp hành và thực hiện nghiêm túc Cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao Đó là niềm vui, hạnh phúc của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.

                                                                                                st

ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CẦN CÁC BIỆN PHÁP TOÀN DIỆN VÀ ĐỒNG BỘ

 

          Với âm mưu cơ bản và xuyên xuốt là hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hướng lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường chủ nghĩa tư bản, các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn, thường xuyên ra sức chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới ở nước ta, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong bối cảnh hiện nay, để đấu tranh phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, các biểu hiện suy thoái, biến chất, chúng ta cần nhận diện các lực lượng chống phá, trên cơ sở đó áp dụng những biện pháp phù hợp.

          Với các thế lực thù địch đối lập về ý thức hệ: Lực lượng này gồm những đối tượng có trình độ lý luận cao. Bất kỳ cái gì liên quan đến chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chúng cũng tìm cách xuyên tạc, chống phá. Đây là “kẻ thù không đội trời chung” của giai cấp vô sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần đặc biệt quan tâm đấu tranh phản bác ở tầm lý luận. Để đấu tranh về lý luận, chúng ta phải “Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn Việt Nam. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế xây dựng cơ sở vững chắc cho việc hoạch định, thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Các cấp ủy Đảng cần quyết liệt chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần huy động các nhà lý luận, các học giả chân chính trong và ngoài nước viết các bài với lập luận chắc chắn, sắc xảo, đập tan những luận điệu xuyên tạc. Cần huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở trong đấu tranh, phản bác. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân các bài viết, các tài liệu chính thống của ta bằng nhiều hình thức như thông qua đợt sinh hoạt chính trị, tuyên truyền qua các buổi họp, sinh hoạt chi bộ, qua các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền trên Internet, mạng xã hội, qua hoạt động tuyên truyền miệng,...

          Chẳng hạn, các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”, và rằng: “Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, kiên định với “chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” là sai lầm, là “lạc nhịp”.

          Để phản bác quan điểm xuyên tạc trên, cần chứng minh bằng giá trị khoa học, cách mạng, chân chính của học thuyết Mác-Lênin, khẳng định sự thay thế giữa các hình thái kinh tế-xã hội trong lịch sử là hoàn toàn khách quan, không thể chối cãi được; hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội) sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, đối với Việt Nam, cần phải khẳng định rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn của lãnh tụ Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhân dân Việt Nam, nó phù hợp với thực tiễn đất nước và xu hướng phát triển của thời đại.

          Bên cạnh đó, trong thời gian này, các đơn vị, cơ sở cũng cần tiếp tục tổ chức đợt sinh hoạt, học tập, phổ biến cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, nội dung cuốn sách đã và đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, thể hiện sự đồng tình cao. Đồng thời, cần tiếp tục đưa ra chứng cứ với những số liệu, dẫn chứng cụ thể nhằm khẳng định thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực sau 36 năm đổi mới ở Việt Nam. Thực tế đã cho thấy, trong bối cảnh tình hình kinh tế, thương mại toàn cầu suy giảm, kinh tế Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới, như nhận định của Ngân hàng Thế giới “mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời vẫn đang toả sáng ở Việt Nam”,... Do đó, rõ ràng là, chúng ta có đủ cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để khẳng định chắc chắn rằng trong 92 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

          Với lực lượng phản động cực đoan ở nước ngoài, các đối tượng vốn là kẻ thù trong quá khứ: Nhóm đối tượng này thường lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại, khơi lên thù hận; lợi dụng những khó khăn trong đời sống của Nhân dân ta; những thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí sai lầm của một số cấp ủy, chính quyền các cấp để tạo cớ can thiệp, chống phá ta.

          Với nhóm đối tượng này, chúng ta cần bình tĩnh, sáng suốt, không nóng vội mà dùng nhiều hình thức, biện pháp để khẳng định Việt Nam sẵn sàng gác lại quá khứ để hướng tới tương lai, dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống hòa hiếu. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cần chặt đứt mối quan hệ, câu kết của lực lực phản động cực đoan ở nước ngoài với các phần tử suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nước. Xử lý nghiêm những phần tử cố tình hại nước, hại dân. Chúng ta cũng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống, lịch sử. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cần kịp thời khắc phục những khuyết điểm, hạn chế, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành (nếu có), quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, để các thế lực thù địch không còn cơ hội hòng kiếm cớ tuyên truyền, kích động, xuyên tạc.

          Đối với lực lượng a dua, hùa theo: Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ rõ, căn bệnh a dua với biểu hiện cụ thể là: “Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”. Trước những thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt, một bộ phận đảng viên và Nhân dân không phân biệt được đúng-sai, nhất là còn hoang mang, dao động, thậm chí hùa theo.

          Với nhóm này, chúng ta cần tìm ra đối tượng cầm đầu để có biện pháp xử lý kịp thời. Cấp ủy các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, giúp mọi người nhận diện đúng bản chất và tính phức tạp, nhiễu loạn của các thông tin, biết phân biệt đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin xấu, độc. Mặt khác, cần tuyên truyền để mọi người dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng căn bệnh a dua để truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

          Thông qua tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng và khả năng “miễn dịch” cho mỗi người cán bộ, đảng viên, người dân, để chúng ta từng bước khắc phục căn bệnh a dua và âm mưu lợi dụng căn bệnh này của các thế lực thù địch để chống phá ta. Tuyên truyền để những lực lượng a dua nhận rõ đây là những hành động sai lầm và rút kinh nghiệm không tái phạm. Mặt khác, quan tâm xem xét, đáp ứng những đề xuất, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của Nhân dân để hạn chế tối đa những người bị lôi kéo, kích động. Tăng cường thực hiện quy chế dân chủ, đảm bảo “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

          Đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa: So với 3 nhóm trên, nhóm thứ tư này không khó để nhận ra, nhưng lại khó để đấu tranh hơn. Không khó để nhận ra, là vì hàng ngày khi cùng sinh hoạt, cùng công tác, những sai phạm, khuyết điểm của họ khó che đậy được trước hàng trăm con mắt của các thành viên trong cơ quan, đơn vị và trước dư luận quần chúng. Khó để đấu tranh, là vì họ đã từng là anh em, bạn bè, đồng chí, là người thân của chúng ta, thậm chí là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã từng đóng góp cho cách mạng, cho địa phương, cơ quan, đơn vị, có thành tích, nhiều lần đã được biểu dương, khen thưởng, vinh danh, cũng có khi đã từng là “thần tượng” để mọi người học tập.

          Với nhóm này, trước hết, cần phân công những người có trình độ, có ảnh hưởng, có uy tín gặp gỡ, dùng tình cảm và lý lẽ tác động tư tưởng, phân tích để họ thấy được nhận thức và hành động của họ là sai lầm, khuyên can họ dừng lại, cho họ cơ hội “quay đầu là bờ”, cải tà quy chính. Còn đối với những đối tượng cố tình chống đối, cấp ủy, chính quyền các cấp cần xử lý nghiêm, thực hiện đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ vi phạm, kể cả khi họ đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.

Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần tích cực tham gia đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền. Các cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời và kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa.

          Như vậy, mỗi nhóm đối tượng, chúng ta có các hình thức, biện pháp đấu tranh phù hợp. Các biện pháp này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cần được tiến hành đồng thời. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng học sinh, đoàn viên, thanh niên cần thường xuyên rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; gìn giữ thanh danh của người cán bộ, đảng viên; biết tự tạo cho mình “vacxin” miễn nhiễm với các thông tin xấu độc, cảnh giác và có trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng tăng cường biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn những thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường chia sẻ bài viết, thông tin thông tin tích cực, tạo thành luồng thông tin tốt, chủ đạo, chính thống trong dư luận, trên các báo, tạp chí và trên cả mạng xã hội./.

                                                                                      st

NGĂN CHẶN SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA

 

          Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

          Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

          Suy thoái không trừ một ai

          Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

          Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

          Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

          Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

          Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

          Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

          Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

          Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

          Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

          Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

          Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

          Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

          Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa

          Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.

          Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.

          Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.

          Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

                                                                                      QĐND