Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Bộ Chính trị thi hành kỷ luật cảnh cáo Ban Cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Cán sự đảng Bộ Y tế.

  - Ngày 4-6-2022, tại trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật Ban Cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016 - 2021, Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021; các đồng chí: Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Nguyễn Thanh Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế; Phạm Công Tạc, Ủy viên Ban Cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp Bộ Chính trị_Ảnh: TTXVN

Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy:

Những vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016 - 2021, Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021 gây hậu quả nghiêm trọng. Các đồng chí: Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long, Phạm Công Tạc đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch COVID-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo Quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo: Ban Cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016 - 2021, Ban Cán sự đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí Phạm Công Tạc.

Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Chu Ngọc Anh và đồng chí Nguyễn Thanh Long.

Đề nghị các cơ quan chức năng thi hành kỷ luật về hành chính theo đúng quy định đối với các tập thể, cá nhân đã bị kỷ luật đảng./.

Thống nhất nhận thức và tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách tài khóa bảo đảm cho phục hồi và phát triển KT - XH

 - Chính sách tài khóa là một công cụ quan trọng trong việc điều hành chính sách kinh tế của Nhà nước, có ảnh hưởng lớn đến cân đối vĩ mô của nền kinh tế cũng như hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Vì vậy, thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách tài khóa là biện pháp quan trọng để cùng với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế khác bảo đảm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và chỉ đạo Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác tài chính - ngân sách nhà nước năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Nền tảng quan trọng cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội gắn với kiểm soát dịch bệnh

Kết thúc kế hoạch 5 năm (2016 - 2020), mặc dù chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 vào năm cuối kỳ kế hoạch, kinh tế nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 5,9%); quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, lạm phát kiểm soát ở mức thấp; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần; vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế được nâng cao.

Trong lĩnh vực tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN), quy mô và tính bền vững của NSNN tiếp tục được cải thiện. Thu ngân sách bình quân đạt 25,2% GDP, tăng 1,6 lần so với giai đoạn 2011 - 2015; tỷ lệ thu từ thuế, phí xấp xỉ 21% GDP; tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN đến năm 2020 đạt 85,6%, tăng gần 26% so với 10 năm trước đó. Chi NSNN bình quân đạt xấp xỉ 28% GDP; cơ cấu chi chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chi đầu tư phát triển đạt khoảng 28%, chi thường xuyên giảm xuống dưới 64% tổng chi NSNN. Dư địa tài khóa được củng cố, khả năng chống chịu của NSNN được tăng cường; bội chi NSNN bình quân cả giai đoạn là 3,45% GDP, thấp hơn mục tiêu (dưới 3,9% GDP); nợ công giảm mạnh từ mức 63,7% GDP cuối năm 2016 xuống còn 55,2% GDP cuối năm 2020 và được cơ cấu lại theo hướng bền vững hơn (huy động trong nước là chủ yếu, kéo dài kỳ hạn nợ, giảm lãi suất huy động,...). Nhờ đó, NSNN đã bảo đảm được nguồn lực xử lý các nhu cầu cấp bách phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt là ứng phó với đại dịch COVID-19.

Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 đã tác động nghiêm trọng đến kinh tế thế giới và nước ta. Trong 2 năm 2020 - 2021, tăng trưởng kinh tế nước ta liên tiếp giảm ở mức thấp(1); dư địa nguồn lực của cả khu vực nhà nước, doanh nghiệp và người dân bị suy giảm, tiềm ẩn nhiều thách thức về ổn định vĩ mô, lạm phát... ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và cả giai đoạn 2021 - 2025.

Từ những kết quả nêu trên; trên cơ sở nhận định tình hình thế giới và trong nước trong thời gian tới có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi phải chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới để đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định “phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII, trong đó mục tiêu đặt ra cho kế hoạch 5 năm (2021 - 2025) là: nhanh chóng phục hồi nền kinh tế trong những năm đầu (2021 - 2022), tận dụng hiệu quả các cơ hội mới cho bứt phá, phát triển đất nước trong những năm cuối (2023 - 2025), phấn đấu tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân cả giai đoạn đạt khoảng 6,5% - 7%/năm.

Để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ứng phó với đại dịch COVID-19, nhiều giải pháp, chính sách về kinh tế, tài chính, tiền tệ, như: các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động theo Nghị quyết số 42/NQ-CP, Nghị quyết số 68/NQ-CP, của Chính phủ; miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí theo Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định số 52/2021/NĐ-CP, của Chính phủ...; chính sách chung về thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh theo Nghị quyết số 105/NQ-CP, Nghị quyết số 63/NQ-CP, của Chính phủ... được ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức triển khai quyết liệt, tập trung vào các ngành, lĩnh vực, người dân chịu ảnh hưởng nặng nề, trực tiếp bởi dịch bệnh, kết hợp lồng ghép, thúc đẩy một số ngành, lĩnh vực ưu tiên... góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giảm thiểu tác động của dịch bệnh, an dân và ổn định xã hội. Đây là nền tảng quan trọng cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội gắn với kiểm soát dịch bệnh.

Phục hồi sản xuất tại nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long _Ảnh: Trọng Hoàng

Mặc dù vậy, trước những khó khăn, tác động sâu rộng của dịch bệnh, rất cần phải có giải pháp, chính sách tổng thể để nhanh chóng hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và phát triển, không để lỡ nhịp với đà phục hồi kinh tế của khu vực và thế giới. Vì vậy, việc xây dựng Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với gói giải pháp tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình là phù hợp và rất cấp thiết.

Thực hiện các kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị(2); các nghị quyết của Quốc hội(3), Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng, trình Bộ Chính trị xem xét, cho phép thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội(4); trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 43/2022/QH15, ngày 11-1-2022, “Về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội” nhằm góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội cho cả giai đoạn 2021 - 2025 và các năm tiếp theo, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế trong tương lai. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 30-1-2022, “Về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình”, trong đó quy mô chính sách tài khóa chiếm tới 83% tổng gói hỗ trợ và được cho là “chìa khóa” để thực hiện thành công Chương trình.

Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng với các quan điểm chủ đạo: 1- Bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, gắn kết chặt chẽ với các chương trình, kế hoạch 5 năm và hằng năm(5); 2- Điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; kiểm soát chặt chẽ lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chỉ tăng bội chi ngân sách để tăng chi đầu tư phát triển và bảo đảm cân đối NSNN khi thực hiện giải pháp miễn, giảm thuế; 3- Quy mô, nguồn lực chương trình đủ lớn; có mục tiêu trọng tâm, trọng điểm tập trung vào đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng đặc biệt, đường giao thông và an sinh xã hội, đúng đối tượng cần hỗ trợ để giải quyết những vấn đề cấp bách, tránh dàn trải, lãng phí nguồn lực; 4- Chính sách, giải pháp hỗ trợ phải khả thi, triển khai ngay, kịp thời, hiệu quả, thực hiện chủ yếu trong 2 năm (2022 - 2023); một số chính sách có thể kéo dài, bổ sung nguồn lực thực hiện tùy theo diễn biến dịch bệnh; 5- Huy động, phân bổ, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; cân đối hợp lý giữa các vùng, miền, địa phương, lĩnh vực, đối tượng ưu tiên; dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát, đánh giá; chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, trục lợi chính sách; bảo đảm hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch.

Mục tiêu của Chương trình nhằm phục hồi, phát triển nhanh hoạt động sản xuất - kinh doanh, phấn đấu đạt mục tiêu của giai đoạn 2021 - 2025: tăng trưởng GDP bình quân 6,5 - 7%/năm, chỉ tiêu nợ công dưới mức cảnh báo Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 23/2021/QH15, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn trong trung hạn và dài hạn... Tiết giảm chi phí, hỗ trợ dòng tiền, bảo đảm tính chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và người dân. Phòng, chống đại dịch COVID-19 hiệu quả; bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người lao động, người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Chương trình xác định 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện là: 1- Mở cửa nền kinh tế gắn với đầu tư nâng cao năng lực y tế, phòng chống dịch bệnh; 2- Bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm, như: hỗ trợ 3 tháng tiền thuê nhà cho người lao động, thực hiện hiệu quả các chính sách cho vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách xã hội...; 3- Hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh thông qua miễn, giảm thuế, phí, lệ phí phải nộp, gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất; tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống đại dịch COVID-19 cho kỳ tính thuế năm 2022; hỗ trợ lãi suất cho vay 2%/năm tập trung vào một số ngành, lĩnh vực quan trọng...; 4- Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tập trung vốn cho các dự án quan trọng, cấp thiết, có tác động lan tỏa lớn, có khả năng giải ngân nhanh và hấp thụ ngay vào nền kinh tế; 5- Cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành thị sát công trường thi công sân bay Long Thành _Ảnh: VGP

Giải pháp chính sách tài khóa chủ yếu của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Một là, trong tổng thể Chương trình, giá trị của các giải pháp chính sách tài khóa ước khoảng 291 nghìn tỷ đồng (bằng khoảng 83% tổng gói hỗ trợ) và khá toàn diện, từ chính sách thu, như: giảm thuế, phí, lệ phí tối đa khoảng 64 nghìn tỷ đồng, tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất với mức hỗ trợ khoảng 6 nghìn tỷ đồng; đến chính sách chi, như: đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, hiện đại hóa hệ thống y tế, cấp bù lãi suất, hỗ trợ lãi suất tối đa khoảng 176 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động khoảng 6,6 nghìn tỷ đồng; đồng thời, tăng hạn mức bảo lãnh Chính phủ đối với trái phiếu phát hành trong nước cho Ngân hàng Chính sách xã hội tối đa 38,4 nghìn tỷ đồng.

Tổng nhu cầu nguồn lực thực hiện Chương trình tối đa là 240 nghìn tỷ đồng, tương ứng tăng bội chi NSNN từ 1 - 1,2% GDP/năm so với mức hiện tại (khoảng 3,7 - 3,8% GDP); trên cơ sở tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có, như: nguồn tăng thu, tiết kiệm chi của ngân sách Trung ương; sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong kế hoạch trung hạn (tài chính, đầu tư công) giai đoạn 2021 - 2025; tiết kiệm, tiết giảm tối đa các khoản chi, điều chỉnh linh hoạt giữa các nhiệm vụ, khoản mục chi trong phạm vi thẩm quyền; huy động trái phiếu chính phủ trong nước, vay ODA và ưu đãi nước ngoài theo hình thức hỗ trợ cân đối ngân sách; huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác.

Mức bội chi tính toán trên được xác định trong điều kiện giả định các yếu tố vĩ mô khác là ổn định. Theo đó, nợ công đến cuối năm 2025 ước khoảng 49 - 50% GDP, nợ Chính phủ 45 - 46% GDP, dưới ngưỡng cảnh báo và thấp hơn so với mức trần đã được Quốc hội cho phép tại Nghị quyết số 23/2021/QH15(6). Trên thực tế, Chương trình sẽ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế, qua đó tác động tích cực tới thu NSNN, cùng với quản lý chi ngân sách chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên,... giảm áp lực tăng bội chi NSNN.

Hai là, việc thực hiện các giải pháp chính sách tài khóa dự kiến sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh và nâng cao năng lực nội tại, sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế, cụ thể:

Theo tính toán, trường hợp không thực hiện giải pháp chính sách tài khóa, tiền tệ thì bình quân tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 tối đa chỉ đạt 5,4%/năm, không đạt mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra. Khi thực hiện, các giải pháp chính sách tài khóa, cùng với chính sách tiền tệ sẽ góp phần hỗ trợ, thúc đẩy phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là các ngành, lĩnh vực quan trọng, bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh. Qua đó, phấn đấu thực hiện được mục tiêu tăng trưởng 5 năm (2021 - 2025) từ 6,5 - 7%/năm.

Các chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cải thiện dòng vốn kinh doanh để vượt qua khó khăn, khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, tránh bị mất đơn hàng, bạn hàng, thị trường tiêu thụ, ảnh hưởng đến sự phát triển trong trung và dài hạn của doanh nghiệp. Đồng thời, giúp tạo việc làm, hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm, đào tạo, đào tạo lại, từ đó tạo ra thu nhập và chuyển đổi nghề bền vững cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội.

Các dự án đầu tư công được triển khai mạnh mẽ, tập trung, hoàn thành nhanh sẽ góp phần tạo đột phá về kết cấu hạ tầng, giảm thời gian và chi phí vận tải cho doanh nghiệp. Việc thực hiện các giải pháp chính sách tài khóa sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh, năng lực nội tại, tính tự chủ của nền kinh tế.

Các giải pháp chính sách tài khóa tuy tạo áp lực cân đối ngân sách và nợ công trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn, sẽ góp phần tạo ra nguồn thu mới bền vững cho NSNN, ổn định tài chính quốc gia. Đồng thời, phối hợp thực hiện chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ nhằm bảo đảm giữ ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát, kiểm soát bội chi. Bộ Tài chính tập trung quản lý thị trường bảo hiểm, thị trường chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp để bảo đảm kinh tế đất nước phát triển bền vững.

Chủ động, quyết liệt, hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách tài khóa

Xác định tầm quan trọng và yêu cầu phải đưa các giải pháp chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình đi vào cuộc sống trong thời gian nhanh nhất, sớm nhất, Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ đã yêu cầu các bộ, cơ quan Trung ương, địa phương tập trung triển khai, khẩn trương có chương trình, kế hoạch hành động cụ thể thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp được giao; đề cao trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện các nội dung, chính sách; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “xin - cho”, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực đối với người dân, doanh nghiệp và chủ động xử lý những vướng mắc phát sinh.

Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội và bám sát nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã phân công, giao nhiệm vụ với thời hạn hoàn thành cụ thể cho các đơn vị trong Bộ, với 18 nhiệm vụ chủ trì và 13 nhiệm vụ phối hợp với các bộ, cơ quan khác, trong đó có nhiều nhiệm vụ phải hoàn thành, trình cấp thẩm quyền ban hành trong quý I/2022, như: 1- Văn bản quy định chi tiết chính sách giảm thuế giá trị gia tăng; 2- Quy định việc giảm tiền thuê đất, gia hạn thời gian nộp các khoản thuế, tiền thuê đất; 3- Quyết định phương án bảo lãnh phát hành trái phiếu của Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay đối với các đối tượng chính sách; 4- Hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội; 5- Hướng dẫn chính sách cho vay đối với học sinh, sinh viên để mua máy tính phục vụ học tập trực tuyến; 6- Tháo gỡ khó khăn, vưỡng mắc trong sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp; 7- Phối hợp hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay từ NSNN đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh...

Thực tế đến thời điểm này, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn về chính sách miễn, giảm thuế (Nghị định số 15/2022/NĐ-CP, ngày 28-1-2022, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-2-2022); nghị định quy định về lệ phí trước bạ (Nghị định số 10/2022/NĐ-CP, ngày 15-1-2022, có hiệu lực từ ngày 1-3-2022); đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện, như: Một là, dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt và tiền thuê đất năm 2022. Hai là, dự thảo Thông tư về sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp. Ba là, hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội. Bốn là, hướng dẫn thực hiện cho vay đối với học sinh, sinh viên để mua máy tính phục vụ học tập trực tuyến do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Đồng thời, tích cực phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương để triển khai Chương trình.

Hướng dẫn sử dụng máy tính bảng - quà tặng cho các cháu thiếu nhi tại làng chài xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội có hoàn cảnh khó khăn _Ảnh: Tư liệu

Bên cạnh đó, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính tăng cường công tác quản lý, giám sát chặt chẽ các nguồn thu, phấn đấu tăng thu, giảm bội chi, triệt để tiết kiệm chi NSNN, nhất là chi sự nghiệp có tính chất đầu tư; đẩy mạnh lộ trình cải cách thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế; triển khai hóa đơn điện tử,... tận dụng các dư địa tăng thu NSNN, nhất là dư địa tăng thu đối với các giao dịch số xuyên biên giới và các dịch vụ trên nền tảng số; thu hồi các khoản kinh phí chi thường xuyên chậm phân bổ, chậm triển khai... để bổ sung nguồn lực thực hiện Chương trình.

Phối hợp với các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đẩy nhanh việc cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước; tích cực rà soát lại các quỹ tài chính ngoài NSNN, nguồn vốn từ tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội, năng lực đầu tư của Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước để đề xuất kế hoạch huy động, sử dụng phù hợp.

Xây dựng các giải pháp huy động và sử dụng linh hoạt, hiệu quả các nguồn lực thực hiện Chương trình, bảo đảm đáp ứng kinh phí đầy đủ, kịp thời cho các nhiệm vụ chi của NSNN nói chung và thuộc Chương trình nói riêng./.

--------------------

(1) Tăng trưởng GDP năm 2020 đạt 2,91% so với kế hoạch là 6,8%; năm 2021 đạt 2,58% so với kế hoạch là 6%
(2) Gồm: 1- Kết luận số 77-KL/TW, ngày 5-6-2020, của Bộ Chính trị, trong đó yêu cầu khắc phục, tháo gỡ khó khăn về sản xuất, kinh doanh, chuẩn bị nguồn lực, xây dựng các chính sách đặc biệt, tận dụng cơ hội, nâng cao năng lực nội tại và sức cạnh tranh, khả năng chống chịu và tính tự chủ của nền kinh tế; 2- Kết luận số 16-KL/TW, ngày 8-10-2021, của Bộ Chính trị yêu cầu chuẩn bị phương án khả thi phục hồi kinh tế - xã hội trong thời gian tới; 3- Kết luận số 20-KL/TW, ngày 16-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII “chuẩn bị phương án khả thi phục hồi kinh tế - xã hội trong thời gian tới và xây dựng kịch bản tăng trưởng trong tình hình mới, không để Việt Nam rơi vào suy thoái kinh tế và suy giảm các động lực tăng trưởng trong dài hạn”.
(3) Gồm: 1- Nghị quyết số 16/2021/QH15, ngày 27-7-2021, “Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025”, trong đó yêu cầu nghiên cứu, xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế khả thi, hiệu quả; 2- Nghị quyết số 32/2021/QH15, ngày 12-11-2021, “Về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022”; 3- Nghị quyết số 41/2021/QH15, ngày 13-11-2021, “Về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV” và Nghị quyết số 42/2021/QH15, ngày 13-11-2021, của Quốc hội, “Về Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV” xác định mục tiêu trong năm 2021 khẩn trương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
(4) Kết luận số 24-KL/TW, ngày 30-12-2021, của Bộ Chính trị.
(5) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình phòng, chống dịch COVID-19 (2022 - 2023).
(6) Nghị quyết số 23/2021/QH15 quy định chỉ tiêu nợ công có ngưỡng cảnh báo là 55% GDP, trần nợ công là 60% GDP; nợ Chính phủ có ngưỡng cảnh báo là 45% GDP, mức trần Quốc hội cho phép là 50% GDP.

Chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị năm 1972: Bài học kinh nghiệm vận dụng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

  - Cách đây 50 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi. Nửa thế kỷ đã trôi qua, song sự kiện giải phóng Quảng Trị vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc; để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

 Chiến trường Trị - Thiên - Huế năm 1972 ác liệt_Ảnh: TTXVN

Trong hai năm 1970 - 1971, mặc dù bị thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, song Mỹ - ngụy vẫn ngoan cố thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng tạo thế để mặc cả với ta trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Thực hiện ý đồ đó, chúng tăng cường phòng thủ trên hướng Trị - Thiên, biến nơi đây thành tuyến phòng thủ kiên cố, liên hoàn, vững chắc. Lực lượng địch ở khu vực này gồm 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, 3 thiết đoàn (xe tăng, thiết giáp), 17 tiểu đoàn pháo binh,… được không quân, pháo binh (kể cả pháo hạm) chi viện, hòng ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công của ta.

Về phía ta, thực hiện chủ trương giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, ngày 23-2-1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến đấu và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược, mở cuộc tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, lấy Trị - Thiên làm hướng tiến công chủ yếu, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng phối hợp quan trọng. Trên hướng Trị - Thiên, ta mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn. Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6-1972), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên đã giành thắng lợi rất to lớn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 30.000 tên địch, phá hủy và thu giữ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc chiến đấu giải phóng Quảng Trị năm 1972 để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Một là, nâng cao khả năng dự báo tình hình, tham mưu hiệu quả, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Ngay sau thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tháng 5-1971, Bộ Chính trị họp, đề ra nhiệm vụ cho chiến trường miền Nam là giành thắng lợi quyết định trong năm 1972; đồng thời khẳng định, ta đang đứng trước thời cơ mới có thể giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là “kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài”(1).

Để cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 6-1971, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu tình hình và đề ra nhiệm vụ của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Quân ủy Trung ương xác định, đòn tiến công của chủ lực sẽ tiến hành đồng thời trên 3 hướng chiến lược là Trị - Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; theo đó, miền Đông Nam Bộ là hướng tiến công chủ yếu số một, Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu số hai, Trị - Thiên là hướng phối hợp quan trọng. Tuy nhiên, đến nửa đầu tháng 3-1972, căn cứ tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch, qua kiểm tra công tác chuẩn bị của từng hướng và cân nhắc các hướng chiến lược, Quân ủy Trung ương quyết định báo cáo Bộ Chính trị chọn Trị - Thiên làm hướng chiến lược chủ yếu. Bởi vì, cuộc tiến công này phải giáng đòn quyết định của bộ đội chủ lực vào địa bàn dễ gây tác động lớn đối với Mỹ - ngụy. Ta phải đánh mạnh vào nơi địch mạnh hoặc tương đối mạnh, nơi hiểm yếu, buộc địch phải đối phó quyết liệt với những cố gắng cao nhất. Tại địa bàn này, địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh ở vòng ngoài, nhưng yếu ở bên trong, khi ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch dễ có điều kiện phát triển tiến công tiêu diệt, làm chủ các mục tiêu chủ yếu; khi bị ta tiến công uy hiếp, buộc địch phải đưa quân chi viện, ta có điều kiện tiêu diệt được nhiều lực lượng và phương tiện. Đối với ta, địa bàn Trị - Thiên là nơi có điều kiện để phát huy sức mạnh cao nhất của bộ đội chủ lực, của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ nhận định chính xác đó, Bộ Chính trị chính thức phê chuẩn đề nghị của Quân ủy Trung ương chuyển chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp quan trọng trở thành hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược. Sự nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong việc điều chỉnh hướng tiến công chiến lược là nhân tố hàng đầu đưa đến thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên.

Từ bài học kinh nghiệm về chọn hướng tiến công chiến lược ở chiến trường Trị - Thiên năm 1972, vận dụng vào thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cho thấy, mặc dù hòa hình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn ở khu vực và trên thế giới, nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh, xung đột cục bộ vẫn diễn ra gay gắt. Đặc biệt, một số nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực hải quân với những thế hệ vũ khí mới. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia - dân tộc.

Là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, ổn định của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cần chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình; trên cơ sở đó, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định và thực hiện đường lối, chiến lược, chủ động, tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; trong đó, cần chủ động nghiên cứu, dự kiến các tình huống, biện pháp đối phó hiệu quả với mọi tình huống về quân sự, quốc phòng cả trên không, trên đất liền, trên biển, đảo và trên không gian mạng, kiên quyết không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; luôn bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển toàn diện đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội. Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự… Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(2). Đây là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Trong Chiến dịch tiến công Trị - Thiên, ta đã xây dựng được lực lượng tại chỗ rộng khắp(3), lực lượng chủ lực cơ động hùng hậu, do đó, tạo thuận lợi cho phối hợp tác chiến của bộ đội chủ lực và lực lượng tại chỗ ngay từ giai đoạn hoạt động tạo thế, cài thế, nghi binh lừa địch. Từ tháng 1 đến tháng 3-1972, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị đã đánh gần 400 trận lớn, nhỏ. Ở Thừa Thiên ta liên tục hoạt động trên hướng tây đường số 12, đồng thời kết hợp với hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ xây dựng cơ sở chính trị, diệt ác, trừ gian, nhất là ở các vùng xung yếu… Các hoạt động trên làm cho thế kìm kẹp của địch bị phân tán, ta cài được thế vào cả 3 vùng (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng thành thị), vẫn giữ được bí mật chiến dịch, phân tán sự chú ý của địch về hướng tiến công chủ yếu của ta ở mặt trận Quảng Trị. Đợt 1 chiến dịch (từ ngày 30-3 đến ngày 9-4-1972), bộ đội chủ lực tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài, đẩy địch vào thế hoang mang dao động. Tận dụng thời cơ có lợi, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, các tiểu đoàn đặc công và các đại đội bộ đội địa phương, lực lượng dân quân du kích cùng quần chúng nổi dậy giải phóng quận lỵ Gio Linh, Bến Ngự, Mai Xá Thị, Xuân Khánh, Hà Thượng…

Cùng với đó, trên hướng phối hợp, lực lượng vũ trang địa phương của Thừa Thiên liên tục đánh địch ở Cù Mông, điểm cao 620, đường số 12 (đoạn Tà Lương - Động Tranh) suốt từ ngày 26-3 đến ngày 30-4-1972, đã kiềm chế và thu hút một phần lực lượng địch, tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu (hướng Quảng Trị) của chiến dịch tiến công tiêu diệt địch. Đợt 2 (từ ngày 27-4 đến ngày 2-5-1972), chiến dịch sử dụng Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh và Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 (Quân đoàn 2) thọc sâu, vu hồi phía đông, phối hợp với hướng chia cắt (hướng nam Quảng Trị do Sư đoàn bộ binh 324 đảm nhiệm), đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng ở Triệu Phong và Hải Lăng nổi dậy giành quyền làm chủ. Trên hướng phối hợp, lực lượng Quân khu Trị - Thiên cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục tiến công địch trên hướng đường số 12… Đợt 2 của chiến dịch đã giành thắng lợi to lớn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Đợt 3 (từ ngày 20-6 đến ngày 27-6-1972), ta chủ trương tiếp tục tiến công nhằm tiêu diệt đại bộ phận lực lượng quân địch, giải phóng Thừa Thiên, kể cả Huế và Phú Bài, nhưng do thiếu sót trong đánh giá tình hình địch - ta, cũng như trong công tác bảo đảm các mặt, nên hiệu quả tiêu diệt địch thấp; do đó, đêm 27-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định ngừng tiến công, chuyển phương thức tác chiến mới, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại nỗ lực tái chiếm Quảng Trị của địch. Thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 có nhiều yếu tố cấu thành, trong đó nghệ thuật kết hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đã phát triển đến đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để lại nhiều bài học quý về xây dựng quân đội nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự biến động của tình hình thế giới, khu vực đem lại những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cân đối, đồng bộ, có chất lượng tổng hợp, trình độ, sức mạnh và khả năng phối hợp tác chiến cao, nhất là giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ; tranh thủ thời cơ, tận dụng, khai thác, phát huy tốt lợi thế của các lĩnh vực, nhất là khoa học - công nghệ..., đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa quân đội đáp ứng ngày càng tốt sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 935, Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân_Nguồn: qdnd.vn

Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; điều chỉnh tổ chức, biên chế bảo đảm “tinh, gọn, mạnh”. Cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, giảm đầu mối trung gian, đồng bộ giữa vũ khí, trang bị với nhân lực và công tác bảo đảm. Cùng với đó, cần xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, được quản lý chặt chẽ, sẵn sàng động viên, mở rộng lực lượng khi cần thiết. Củng cố lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng, cơ cấu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân số, chú trọng lực lượng dân quân tự vệ ở các vùng trọng điểm, dân quân biển; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh ngay tại cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cần bảo đảm chất lượng huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, “đội quân lao động, sản xuất” trong thời bình, sẵn sàng giúp nhân dân trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và những thách thức an ninh phi truyền thống, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Ba là, chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, sức chiến đấu của bộ đội, khả năng, trình độ tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị, lực lượng trong toàn quân.

Nghiên cứu, đánh giá đúng về tình hình địch - ta và địa bàn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên quyết định đánh vào chỗ tương đối mạnh của địch, nhưng là nơi địch không ngờ tới, bởi chúng cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh lớn ở Quảng Trị. Đây là quyết định rất đúng đắn và táo bạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhằm tạo bất ngờ cho địch, đồng thời chứng tỏ trình độ, khả năng tác chiến của quân đội ta. Thực hiện quyết tâm đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương sử dụng pháo binh chiến dịch đánh “mềm” chiến trường, lực lượng pháo cao xạ sẵn sàng bắn máy bay, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng chi viện của không quân địch; kết hợp sức cơ động, đột kích của xe tăng, bộ binh lần lượt tiêu diệt các cứ điểm từ ngoài vào trong, tạo bàn đạp phát triển sâu vào trung tâm phòng ngự của địch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị đánh chiếm từng mục tiêu và thực hành hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân, các hướng tiến công; đồng thời, trên từng hướng, mũi thống nhất hành động giữa bộ binh với các lực lượng binh chủng.

Như vậy, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tổ chức chiến dịch tiến công quy mô lớn, lấy sức mạnh hiệp đồng binh chủng đánh vào khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, khiến chúng bất ngờ và choáng váng. Điều quan trọng là, nghệ thuật điều hành, phối hợp các lực lượng trên các tuyến, hướng tiến công, nhất là giữa bộ binh, pháo binh và xe tăng luôn nhịp nhàng, ăn khớp, tạo sức mạnh to lớn, đập tan các “ổ đề kháng” kiên cố của địch. Đây là thực tiễn quan trọng để ta tiếp tục phát triển, vận dụng vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Diễn biến chiến dịch cho thấy, ngay khi mở màn, lực lượng pháo binh ta đã bắn gần 8.000 viên đạn, khống chế hơn 24 căn cứ, trong đó có 13 cụm pháo binh địch, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều công trình quân sự, trung tâm thông tin địch. Chớp thời cơ, bộ binh cùng xe tăng trên 4 hướng đồng loạt tiến công, đánh chiếm các mục tiêu: Động Toàn, Ba Hồ, điểm cao 544… Đặc biệt, Trung đoàn đặc công hải quân 126, với cách đánh bí mật của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, đã nhanh chóng tiến công tiêu diệt toàn bộ địch trên sông và duyên đoàn 11 của địch tại Cửa Việt, khống chế hoàn toàn tuyến đường sông phía đông. Với việc vận dụng nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, sáng tạo, nên chỉ sau 5 ngày tiến công của đợt 1 chiến dịch, phía ta đã phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch, phá tan hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tăng viện khẩn cấp cho mặt trận Quảng Trị và hô hào tử thủ, bảo vệ những khu vực còn lại.

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài và bị thiệt hại nặng, địch tăng cường lực lượng và điều chỉnh lại thế bố trí phòng ngự thành các cụm quân mạnh ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, tạo thành khu vực “co cụm cứng”, kết hợp với di động linh hoạt để đối phó với ta. Theo đó, ta không thể dùng lối đánh ồ ạt, chớp nhoáng để đập tan các cụm cứ điểm “di động” của địch bằng một đòn, mà phải tiếp tục thực hiện bằng nhiều đòn liên tục, nhằm đập vỡ từng đoạn, tiến tới thực hiện đòn đánh quyết định, tiêu diệt lớn lực lượng địch. Thực hiện phương pháp tác chiến mới, chiến dịch tập trung phát huy sức mạnh của binh khí, kỹ thuật hiện đại, tiến hành đột phá liên tục, tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm vỡ “vỏ cứng” phòng ngự, vừa bắn phá những mục tiêu chủ yếu trên toàn tuyến, vừa tập trung diệt từng điểm, cụm; kiên quyết bao vây, chia cắt chiến dịch, đánh vỡ từng mảng, tiến tới tiêu diệt toàn bộ địch co cụm. Thực tế, đợt 2 chiến dịch cho thấy, dưới sự chi viện mạnh của hỏa lực, các đơn vị thực hành tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm mất chỗ dựa của bộ binh địch, từ đó đánh chiếm từng mục tiêu lần lượt từ ngoài vào trong, theo cách “bóc vỏ”, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng của ta nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm mục tiêu bên trong, trên cả 3 cụm phòng ngự chủ yếu của địch, làm chủ trận địa. Điển hình là, trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch đánh vào cụm Đông Hà (Quảng Trị), Sư đoàn bộ binh 308, Quân đoàn 1 được sự chi viện của pháo binh, xe tăng đã nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao 30, 28…, cô lập hoàn toàn Đông Hà; đồng thời, tổ chức Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 và Tiểu đoàn đặc công 33 tạo thành mũi thọc sâu đánh chiếm sân bay Đông Hà, dồn địch vào thế hỗn loạn, buộc chúng phải bỏ cả vũ khí, trang bị kỹ thuật rút chạy, ta làm chủ Đông Hà, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, tạo cục diện mới cho cuộc chiến tranh.

Tiểu đoàn bộ binh 43, Trung đoàn bộ binh 842, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị huấn luyện, kiểm tra các chiến sĩ mới thực hành bắn đạn thật súng tiểu liên AK_Ảnh: baoquankhu4.com.vn

Thành công của Chiến dịch Trị - Thiên chứng tỏ vai trò to lớn của công tác tổ chức huấn luyện, tổ chức chỉ huy cũng như hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch trong mọi tình huống. Vận dụng bài học kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc; phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, cần chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ tổ chức hiệp đồng chiến đấu của bộ đội. Theo đó, toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18-1-2019, của Quân ủy Trung ương, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo; Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng, cụ thể hóa bằng các chủ trương, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả. Coi trọng công tác đào tạo, huấn luyện, diễn tập sát với đối tượng, phù hợp với tổ chức, biên chế, trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong huấn luyện bộ đội, chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị, nhất là vũ khí, khí tài mới, hiện đại; kết hợp giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực cho bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện. Chỉ đạo huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, trình độ xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng cho cán bộ chỉ huy; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án tác chiến đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu của bộ đội.

Chiến dịch tiến công Trị - Thiên là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch, các bên tác chiến đều tập trung khả năng cao nhất để giành chiến thắng, tạo chuyển biến cục diện chiến tranh trong thế có lợi. Một trong những yếu tố làm nên chiến thắng Trị - Thiên của quân và dân ta trong năm 1972 không thể không nhắc tới tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của yếu tố này, lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Trước khi chiến dịch bắt đầu, các đơn vị tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, nghiên cứu chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị của Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Mặt trận, thư của Trung ương, Quân ủy Trung ương… Các tài liệu học tập đều được sinh hoạt trong các cấp ủy, phổ biến đến tận chiến sĩ theo mức độ khác nhau. Các đợt giáo dục và sinh hoạt đều tập trung vào xây dựng ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết hiệp đồng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị nhanh chóng phát hiện và uốn nắn những nhận thức tư tưởng không đúng, như sau đợt 1 xuất hiện tư tưởng chủ quan, khinh địch, thiếu cảnh giác. Nhờ vậy, tư tưởng, quyết tâm của bộ đội được giữ vững, hiệu suất chiến đấu được nâng cao, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu. Bộ đội pháo binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tình hình tư tưởng, quyết tâm của bộ đội từ ngày nổ súng đến khi kết thúc chiến dịch được giữ vững và phát huy, các biểu hiện tiêu cực hầu như không có, xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đơn vị công binh cầu đường, dù bị địch đánh phá ác liệt, thương vong nhiều, khí tài hư hỏng, giảm sút, nhưng mọi nhiệm vụ được giao đều hoàn thành kịp thời theo đúng yêu cầu, mọi tuyến giao thông trên bộ đều thông suốt; cán bộ không có hiện tượng thoái thác nhiệm vụ. Sư đoàn bộ binh 308 tiến công cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng trong thời gian gấp, lại chưa có kinh nghiệm đánh cứ điểm trung tâm phòng ngự của địch, quân số hao hụt chưa được bổ sung, nhưng Sư đoàn đã làm tốt công tác chuẩn bị, kịp thời động viên bộ đội vượt qua khó khăn, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Lễ thượng cờ cho 2 tàu hộ vệ tên lửa hiện đại lớp Gepard 3.9 là 015-Trần Hưng Đạo và 016-Quang Trung của Hải quân Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Vận dụng bài học kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong Chiến dịch Trị - Thiên vào công tác xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, cần đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”(4). Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội. Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội. Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới./.

-------------------

(1) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 514

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 159

(3) Tỉnh Quảng trị có 1 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn và 5 đại đội bộ đội địa phương, 8 đại đội biệt động của tỉnh, 6 trung đội bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa; mỗi huyện Hải Lăng, Triệu Phong có từ 1 đến 2 trung đội và dân quân du kích xã… Tỉnh Thừa Thiên có 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương, 2 tiểu đoàn đặc công của tỉnh, 10 đại đội địa phương các huyện và dân quân du kích xã…

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 227

LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ.


Bản chất của quan điểm sai trái, thù địch trên là cố tình xuyên tạc, làm xấu hình ảnh của người cán bộ, đảng viên nhằm hạ uy tín, bôi nhọ công tác cán bộ của Đảng.
Gần đây, có một số quan điểm sai trái, thù địch cho rằng: Cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc. Chúng ra sức rêu rao bằng những luận điểm cũ rích rằng: “Những cán bộ bị xử lý kỷ luật chẳng qua là do tư tưởng tiến bộ mà bị thanh trừng”; do “phe nhóm”, đấu đá “cục bộ” trong Đảng; “Chỉ khi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam thì mới có thể hết tham nhũng”…
Vì vậy, để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh, làm thất bại những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch thì nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ của Đảng thực sự là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Người nhấn mạnh: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề cán bộ, công tác cán bộ. Đảng không che giấu khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ, từ đó, xác định đúng nội dung, phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
Những năm gần đây, việc xử lý kỷ luật một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ diện Trung ương quản lý thực sự là cuộc cách mạng đã và đang làm trong sạch Đảng, làm Đảng ta mạnh lên. Dư luận trong xã hội và đa số cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đều đồng tình, ủng hộ và cho rằng đây là những mức kỷ luật vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn, thấu tình đạt lý, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa chung rất sâu sắc. Điều đó càng thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí; kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Vì vậy, việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của người cán bộ, của công tác cán bộ của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, phản động sai trái. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Một số vấn đề về hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.

 - Hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình là một trong những hoạt động giúp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, qua đó, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng để nghiêm khắc lên án hành vi bạo lực gia đình, hướng tới xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.

Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 24-6-2021, của Ban Bí thư “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới” khẳng định, gia đình Việt Nam có vai trò quan trọng với cá nhân và xã hội, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước.

Các gia đình cho các con trải nghiệm du lịch nông trại tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình được hiểu là việc gia đình, dòng họ, cơ quan, tổ chức và tổ hòa giải ở cơ sở thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt bạo lực, mâu thuẫn, tranh chấp một cách ổn thỏa, phục hồi lại cuộc sống, tâm lý của cá nhân, gia đình. Hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình là quá trình người/tổ hòa giải thực hiện hoạt động phân tích, tư vấn, hướng tới sự đồng cảm và sẵn lòng lắng nghe nỗi đau của nạn nhân, sự thừa nhận những tổn thương và chấp nhận thay đổi thái độ, hành vi của người gây ra hành vi bạo lực. Quá trình hòa giải là giải quyết và cố gắng hàn gắn chia rẽ, khép lại vụ việc và chữa lành vết thương, mang lại công lý cho nạn nhân; phục hồi cuộc sống và tâm lý của các nạn nhân; thúc đẩy sự đồng cảm, sẻ chia gắn với trách nhiệm của đối tượng gây ra bạo lực; từ đó, khôi phục cuộc sống bình yên cho gia đình và cộng đồng. Đây là một quá trình thay đổi sâu sắc, liên quan đến thay đổi thái độ, nguyện vọng, cảm xúc, thậm chí có thể cả niềm tin. Sự thay đổi sâu sắc như vậy không thể vội vàng hoặc áp đặt, mà cần có thời gian, cũng như không có công thức thành công chung cho mọi trường hợp. Quá trình hòa giải không chỉ nghiêm khắc lên án hành vi bạo lực gia đình, mà còn góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề bình đẳng giới, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng, khuyến khích những nạn nhân bị bạo lực gia đình, nhất là phụ nữ, không e ngại, không che giấu khi gặp phải hành vi bạo lực gia đình; đồng thời, xây dựng ở mỗi người dân tinh thần chủ động thông tin cho cơ quan chức năng về các hành vi bạo lực gia đình.

Thời gian qua, bạo lực đối với phụ nữ vẫn là một trong những vấn đề nhức nhối mà phụ nữ phải đối mặt trên quy mô toàn cầu. Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 (trên 5.976 phụ nữ từ 15-64 tuổi) cho thấy, tuy tỷ lệ bạo lực ở các hình thức đều thấp hơn so với năm 2010, song tình hình còn khá phức tạp. Năm 2019, cứ ba phụ nữ thì có gần hai phụ nữ (62,9%) từng bị chồng/bạn tình bạo lực thể xác, tình dục, tâm lý (tinh thần và kiểm soát hành vi) và/hoặc bị bạo lực kinh tế; có 31,6% phụ nữ chịu các hình thức bạo lực này trong năm 2019; 13,3% phụ nữ bị chồng bạo lực tình dục trong đời và 5,7% bị bạo lực này vào thời điểm khảo sát và hầu hết những phụ nữ này cũng bị bạo lực thể xác. Phụ nữ bị chồng/bạn tình bạo lực nhiều hơn so với bạo lực do người khác gây ra và chịu những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, năng suất lao động và cuộc sống nói chung (1). Ở Việt Nam, phần lớn phụ nữ bị chồng bạo lực không tìm kiếm sự giúp đỡ, chỉ rất ít người tìm kiếm sự giúp đỡ từ xã hội. Việc gặp gỡ, tiếp xúc với nạn nhân cũng như người gây ra bạo lực gia đình rất khó khăn do tâm lý xác định đây là việc gia đình, không muốn đưa ra ngoài xã hội; nhiều vụ bạo lực gia đình đã xảy ra song chưa được chính quyền địa phương và tổ hòa giải tham gia giải quyết kịp thời, nhất là các vụ bạo lực gia đình về tinh thần và tình dục rất khó phát hiện do tâm lý chịu đựng của phụ nữ. Đa số các vụ việc bạo lực gia đình là do người dân phát hiện, rất ít trường hợp người bị bạo lực tố giác, yêu cầu can thiệp. Chính vì thế, công tác hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình là hoạt động cần thiết và cần đặt trong mối quan hệ giới và gia đình của không gian văn hóa Việt Nam hiện nay.

Để nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải, góp phần phòng, chống bạo lực gia đình hiệu quả, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Quá trình hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình cần chú ý đến chiều cạnh văn hóa và quyền lực giới.

Trước tiên, hoạt động hòa giải cần quan tâm đặc biệt đến chiều cạnh văn hóa của các mối quan hệ hôn nhân, gia đình. Chiều cạnh văn hóa của hòa giải nhiều khi ảnh hưởng đến khía cạnh pháp lý, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi sức mạnh và tầm ảnh hưởng của dòng họ, cộng đồng truyền thống còn đậm nét. Ví dụ, người hòa giải nhiều khi gắn các cá nhân với việc thực hành vai trò của giới theo quan niệm truyền thống thông qua các tục ngữ, thành ngữ nói về đức làm vợ, làm chồng, đề cao sự nhẫn nhịn, cam chịu của phụ nữ (như “chồng giận thì vợ bớt lời”, “một sự nhịn, chín sự lành”); về ý nghĩa của gắn kết gia đình toàn vẹn, mà bỏ quên những cam chịu, đau khổ, tổn thương của nạn nhân bạo lực gia đình. Do đó, vấn đề hòa giải bạo lực gia đình thường được tiếp cận trên quan điểm giữ gìn sự toàn vẹn gia đình là ưu tiên hàng đầu.

Thiếu nhi thi vẽ tranh chủ đề "Gia đình của em" - hoạt động trong khuôn khổ Ngày hội Gia đình Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức _ Ảnh: TTXVN

Chiều cạnh quyền lực giới có liên hệ mật thiết với chiều cạnh văn hóa trong hòa giải phòng, chống bạo lực gia đình. Hiện nay, những thay đổi về luật pháp, chính sách, biến đổi văn hóa và xã hội tác động mạnh tới quan hệ quyền lực giới ở Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam đã có những vị thế xã hội cao hơn trong gia đình, xã hội và các không gian khác mà trước đây là độc quyền của nam giới. Tuy nhiên, nhiều nơi trên cả nước vẫn còn bị ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo phong kiến với nhiều định kiến giới với phụ nữ và đề cao vai trò, vị thế của nam giới trong gia đình và xã hội. Trong không gian gia đình Việt Nam mang đậm nét truyền thống hiện nay, mối quan hệ của giới và quyền lực thường đặt gia đình lên trên cá nhân, nam giới trên nữ giới, người cao tuổi trên người trẻ tuổi. Nam giới cao tuổi trong gia đình thường giữ vai trò quyết định trong các cuộc họp hòa giải mâu thuẫn gia đình. Nhiều nam giới hợp lý hóa việc bạo hành vợ bằng những quan điểm chịu ảnh hưởng của phong kiến khi cho rằng, vợ phải phục tùng chồng và cho mình quyền dạy dỗ vợ bằng bạo lực. Đa số phụ nữ cho rằng, gia đình là ưu tiên, chồng được ưu tiên hơn vợ trong phát triển sự nghiệp. Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ năm 2019 cho thấy, hơn một phần tư phụ nữ (27,2%) quan niệm rằng, người vợ tốt là phải nghe lời chồng, cho dù bản thân không đồng ý (2)Vì thế, nhiều quá trình hòa giải được bắt đầu bởi chính những tiền đề có sẵn ở những người làm hòa giải, rằng một số mức độ bạo lực là có thể chấp nhận, có thể tha thứ (do một “lỗi” nào đó của người vợ).

Bên cạnh đó, vị thế phụ thuộc chồng về kinh tế khiến nhiều người phụ nữ bị bạo hành thường nhẫn nhịn, cam chịu, vì thế, nhiều người chồng nắm quyền kinh tế cho mình có quyền bạo hành vợ mà không cần quan tâm tới hậu quả. Với những trường hợp này, sự tham gia của người vợ vào quá trình hòa giải là ít ý nghĩa vì sự thống trị quyền lực kinh tế của chồng với vợ. Do đó, trao quyền kinh tế cho phụ nữ để họ có thể tự chủ trong cuộc sống là một giải pháp bền vững.

Đồng thời, vì muốn con cái được có đầy đủ cha mẹ, nhất là trong bối cảnh văn hóa phụ nữ Việt Nam có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với con cái hơn so với nam giới, nhiều phụ nữ bị bạo hành vẫn chịu đựng để giữ gia đình toàn vẹn cho con cái, giữ thể diện cho gia đình. Trong trường hợp này, người phụ nữ đặt quyền tự do, tự chủ cuộc sống của bản thân bên dưới sự toàn vẹn gia đình cho con cái. Với những ảnh hưởng của các chiều cạnh văn hóa này, người hòa giải nhiều khi vô tình mang những định kiến giới để khuyên nạn nhân bạo lực gia đình nhẫn nhịn, hy sinh, tha thứ cho người gây ra bạo lực. Vì thế, cần chú trọng yếu tố văn hóa, con người, bình đẳng giới trong hòa giải phòng, chống bạo lực gia đình.

Quá trình hòa giải phòng, chống bạo lực gia đình cần tiếp cận lấy phụ nữ, người bị bạo lực làm trung tâm, tôn trọng các giá trị văn hóa và tính tự chủ của phụ nữ. Tiếp cận này chú ý tới việc tôn trọng người phụ nữ, đặt người phụ nữ bị bạo hành không chỉ là một nạn nhân đơn độc, mà còn là một người vợ, người mẹ, người con dâu, giúp người phụ nữ thấy được sự gắn bó với gia đình và cộng đồng, từ đó tìm kiếm sự chia sẻ, giúp đỡ không chỉ của các thành viên gia đình, họ hàng mà cả xã hội. Các tổ hòa giải cần thể hiện sự sẵn sàng giúp đỡ và sự hiểu biết về hoàn cảnh gia đình của nạn nhân, động viên nạn nhân không nên cam chịu, mà cần tìm sự hỗ trợ từ các tổ chức, đoàn thể. Đồng thời, đặc thù của bạo lực gia đình là nạn nhân và người gây ra hành vi bạo lực cùng sống trong gia đình; nam giới gây ra hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ là chủ yếu, nên người nam giới cần được xem là đối tượng đích trong công tác hòa giải. Hòa giải thực sự là sự thay đổi từ người có hành vi bạo lực, chứ không phải là sự chấp nhận hay tha thứ từ người chịu bạo lực. Nếu người gây ra hành vi bạo lực sẵn sàng nhận sự giáo dục, giúp đỡ ngăn chặn hành vi bạo lực của mình, cụ thể là chấp nhận hòa giải, tư vấn, thì mối quan hệ bạo lực có thể được thay đổi.

Như vậy, có thể thấy, trong quá trình hòa giải phòng, chống bạo lực gia đình, điều quan trọng nhất là phải lấy phụ nữ, người bị bạo lực làm trung tâm, đặt trong mối quan hệ với các đặc điểm văn hóa, quan hệ giới trong xã hội đương đại. Có như vậy, công tác hòa giải mới có thể mang lại hiệu quả thực sự bền vững, hướng tới xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.

Nâng cao trình độ, năng lực người hòa giải

Lớp tập huấn dành cho nhân viên tham vấn và công tác xã hội trực tiếp hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực tại mô hình "Nhà tạm lánh" (Ngôi nhà Bình yên)_Ảnh: baoquocte.vn

Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công và bền vững của hòa giải là trình độ, năng lực của người hòa giải. Thực tế cho thấy, các hòa giải viên thường chưa được bồi dưỡng kiến thức về giới và bạo lực gia đình nên nhiều vụ việc hòa giải chưa thực sự phát hiện được bản chất sự việc, chưa hóa giải được mâu thuẫn, do đó, nhiều trường hợp bạo lực tái diễn. Thậm chí, một số người còn có tư tưởng định kiến giới khi hòa giải theo hướng khuyên nhủ sự nhẫn nhịn của phụ nữ để xây dựng gia đình ấm êm, mà chưa thực sự quan tâm đến tâm lý, tình cảm, quyền của phụ nữ. Cũng chính do trình độ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở còn hạn chế, nhiều nạn nhân lo sợ hậu quả đối với chính bản thân và con cái về vật chất và tinh thần. Bởi người hòa giải nếu không khéo léo, không đủ năng lực hóa giải mâu thuẫn thì khi người hòa giải rời đi, để lại người gây ra hành vi bạo lực và người bị bạo lực cùng chung sống dưới một mái nhà, sẽ gây nhiều nguy cơ cho người bị bạo lực. Vì thế, việc các hòa giải viên được tập huấn về kiến thức, kỹ năng và có chứng chỉ hòa giải viên bạo lực gia đình là cần thiết.

Ngoài ra, do đặc điểm che giấu bạo lực gia đình, nên các trường hợp được phát hiện hay được báo cáo đa phần là nghiêm trọng. Chẳng hạn, các vụ việc bạo lực về thể chất đối với phụ nữ thì tổ hòa giải thường không thể trực tiếp tiến hành hòa giải, mà cần có sự giúp đỡ của lực lượng công an địa phương. Ngoài việc bảo đảm yếu tố giới, dân tộc thiểu số trong thành phần tổ hòa giải trong Luật Hòa giải ở cơ sở hiện nay, thì việc có đại diện của ngành công an là cần thiết để bảo đảm tính kịp thời của việc hòa giải và tình huống chuyển tiếp thành vụ việc hành chính, hình sự.

Sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn nữa cho hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình.

Dự thảo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) năm 2022 nêu các quy định về hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình. Quy định này trong dự thảo luật sửa đổi nên được gọi thống nhất như luật hiện hành là “Các nguyên tắc hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình”.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hiện hành quy định hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp do gia đình, dòng họ tiến hành (Điều 13), do cơ quan tổ chức tiến hành (Điều 14) và do tổ chức hòa giải cơ sở tiến hành (Điều 15). Dự thảo luật sửa đổi có quy định các loại hình hòa giải tương tự. Việc phân chia các loại hình hòa giải như trên là cần thiết, nhằm bảo đảm có sự tham gia đầy đủ của gia đình, cộng đồng, xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình.

Thực tế công tác hòa giải yêu cầu người hòa giải cần có kinh nghiệm, thấu hiểu được những nhu cầu, giá trị, nguyện vọng của cả nạn nhân và người gây ra hành vi bạo lực. Người hòa giải vì thế không chỉ cần am hiểu pháp luật, chính sách, mà còn cần có hiểu biết về văn hóa và các tập quán truyền thống của cộng đồng để có thể bảo đảm tính pháp lý cũng như khả năng hòa giải thành công. Trên thực tế, đối với hòa giải do gia đình, dòng họ và cơ quan tổ chức tiến hành, các yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, về kiến thức pháp luật, kỹ năng về phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới trong gia đình, về quyền con người không phải lúc nào cũng được bảo đảm. Để kịp thời ngăn chặn bạo lực gia đình đang diễn ra, kịp thời bảo vệ sức khỏe, mạng sống cho người bị bạo lực, thì bất kỳ ai trong gia đình, dòng họ, cơ quan, tổ chức chứng kiến hoặc biết vụ việc đều có thể hòa giải ngăn chặn, không bắt buộc bảo đảm có đầy đủ tiêu chuẩn về hòa giải ở cơ sở. Đối với thành viên tổ hòa giải cơ sở, các yêu cầu về tiêu chuẩn như trên là cần thiết. Bên cạnh đó, luật cần có quy định rõ hơn khi nào thì phải xử lý một tình huống bằng hòa giải thông thường và khi nào thì cần các biện pháp khác, như xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự. Luật nên bổ sung các quy định để người tham gia hòa giải của từng loại hình nắm được khi nào cần làm gì cho từng tình huống cụ thể của bạo lực gia đình. Ví dụ, hòa giải của gia đình, dòng họ cho những tình huống nào, khi nào cần báo cáo vụ việc lên chính quyền, khi nào dừng ở hòa giải? Với các cơ quan, tổ chức tham gia hòa giải, cần quy định cụ thể tình huống nào thì hòa giải, khi nào thì báo cáo vụ việc để xử lý. Đặc biệt, với trẻ em, người cao tuổi hay một số nhóm đặc thù như hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, cần có các quy định về phòng ngừa, hòa giải và bảo vệ, hỗ trợ trong phòng, chống bạo lực gia đình cụ thể./.

-------------------------------

(1) Xem: Trần Thị Minh Thi (chủ biên): Những giá trị cơ bản của gia đình Việt Nam đương đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021
(2) Xem: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam: Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 - Hành trình để thay đổi, Hà Nội, 2020