Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022
CẦN TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA VIỆT NAM
VIỆT NAM XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HÒA BÌNH, TỰ VỆ, THEO NGUYÊN TẮC "BỐN KHÔNG"
ĐÁP ỨNG NIỀM TIN, KỲ VỌNG CỦA CỬ TRI VÀ NHÂN DÂN
VIỆT NAM ĐANG LÀM TẤT CẢ ĐỂ KIỂM SOÁT THAM NHŨNG
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy “Tự phê bình và phê bình"....
“Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”.
HOA KỲ XÁC ĐỊNH “ VIỆT NAM KHÔNG THAO TÚNG TIỀN TỆ”
KẾT CỤC "THẢM" BẮT NGUỒN TỪ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG SUY THOÁI!
CỰC LỰC PHẢN ĐỐI BỘ GIÁO DỤC VẪN ĐANG ÂM MƯU TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH TỰ CHỌN MÔN LỊCH SỬ Ở CẤP THPT!
LỊCH SỬ KHÔNG THỂ BỊ BẺ CONG!
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA (ngày 14/6/1955)
Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam
Trong thời gian tới, để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh
thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nhằm “không ngừng gia tăng tiềm lực mọi
mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt
được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”, cần thực
hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của các tổ chức, lực lượng và nhân dân về vị trí, vai trò của tiềm lực chính
trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Đây là giải pháp tiền đề tạo sự thống nhất nhận thức và hành
động để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần. Theo đó, cần “đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân
đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”. Quán triệt sâu
sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là
then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an
ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, khắc phục các biểu hiện sai lệch
trong nhìn nhận vị trí, vai trò của các tiềm lực, khi tuyệt đối hóa tiềm lực
kinh tế, tiềm lực quân sự hay tiềm lực khoa học…, mà xem nhẹ tiềm lực chính trị
- tinh thần. Quan tâm tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong tổng thể
các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, trong kế hoạch và tổ chức
thực hiện ở mọi cấp, ngành, lĩnh vực và các địa phương.
Thứ hai, tăng cường tiềm lực chính trị
- tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Đối với hệ tư tưởng, chế độ chính trị: Tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện tốt các chủ trương, quan
điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên định con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ. Quán triệt và tổ chức
thực hiện tốt Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư Trung ương
Đảng khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập,
nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trong tình hình mới”; Chỉ thị số 124-CT/QUTW, ngày 31-3-2011, của Thường vụ
Quân ủy Trung ương, “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính
trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Đổi mới nội dung,
phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng kết hợp với giáo dục
quốc phòng - an ninh sâu rộng trong toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh làm thất
bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội; kích động, gây rối,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân đội với
nhân dân của các thế lực thù địch.
Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII. Chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống
chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ,
đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất,
năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục
đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ
nạn xã hội.
Đối với đường lối đối nội, đối ngoại: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa,
đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu
quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín
quốc tế của Việt Nam.
Nâng cao nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm của nhân dân: Quan tâm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, trọng dụng nhân
tài. Giáo dục, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Củng cố lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới.
Tăng cường đồng thuận xã hội, tạo nền tảng tinh thần vững chắc. Kết hợp chặt
chẽ giữa tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần với đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội, tạo lập cơ sở vật chất vững chắc của sức mạnh tinh thần Việt Nam.
Kết hợp đề cao pháp luật với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ
nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân theo phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Đối với giá trị văn hóa tinh thần: Quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 76/KL/TW,
ngày 4-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hóa,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Kế
thừa và phát huy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, đoàn kết cộng đồng, tinh
thần nhân văn, nhân đạo, khơi dậy khát vọng vươn lên. Xây dựng môi trường văn
hóa, đạo đức một cách toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong
các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp và lực lượng vũ trang để
văn hóa thực sự là động lực, đột phá phát triển các tiềm lực khác trong sức
mạnh quân sự quốc gia.
Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam
về tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự.
Quân đội là lực lượng nòng cốt, là nhân tố chủ yếu trong sức
mạnh quân sự Việt Nam. Để phát huy vai trò nòng cốt, quân đội phải phục tùng sự
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống
nhất của Nhà nước, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến
thẳng lên hiện đại(6). Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
thường xuyên tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách nâng cao
chất lượng, hiệu quả xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng tiềm lực chính
trị - tinh thần. Phát huy và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác
Đảng, công tác chính trị trong quân đội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh công tác
dân vận; tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, các phong trào
xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương,
nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; phòng, chống, khắc
phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ổn định cuộc sống, góp phần tăng cường niềm
tin, sự đồng thuận của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, xây dựng “thế
trận lòng dân” vững chắc. Giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên
quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới theo Nghị quyết 847-NQ/QUTW,
ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương.
HAIVAN
Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Sức mạnh quân sự quốc gia là tổng thể các lực lượng vật chất,
tinh thần của quân đội của một nhà nước và khả năng huy động những lực lượng đó
để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ đất nước.
Sức mạnh quân sự quốc gia được tạo ra từ các tiềm lực kinh
tế, xã hội, chính trị - tinh thần, khoa học - công nghệ và quân sự. Trong đó,
tiềm lực chính trị - tinh thần có vai trò quan trọng, như V.I.Lê-nin khẳng
định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh
thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Tiềm lực chính trị - tinh
thần được biểu hiện ở hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội, hệ thống các
chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước; năng lực, trình độ nhận thức, niềm
tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý của nhân dân và lực lượng vũ trang; hệ
thống giá trị văn hóa tinh thần. Tiềm lực chính trị - tinh thần là “linh hồn”
và chất keo “kết dính” để huy động và nhân lên sức mạnh của các tiềm lực khác.
Lịch sử đã chứng minh, nhờ có hệ tư tưởng đúng đắn, có niềm tin, ý chí quyết
tâm, hệ thống giá trị văn hóa tinh thần giàu bản sắc, nhân văn…, nên dù tiềm
lực kinh tế chưa mạnh, khoa học - công nghệ chưa phát triển…, Việt Nam đã chiến
thắng nhiều kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn rất nhiều.
Nhận thức được vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong
sức mạnh quân sự Việt Nam, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như: Nghị quyết số
33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, “Về xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước”; Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị, “Về công tác
lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày
15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ
Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW, ngày
25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán
bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Cuộc vận động
“Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn
với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… Tiềm
lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự của Việt Nam ngày càng được
nâng cao, củng cố vững chắc. Các lực lượng vũ trang nhân dân nhận thức đầy đủ,
tin tưởng và kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối đổi mới của Đảng. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là mục tiêu nhất quán của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân, là sự thống nhất trong nhận thức, tư tưởng và hành
động, tạo nên sự đồng thuận về mặt chính trị - tinh thần trong xã hội. Quan hệ
đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Mỗi người dân tự có ý thức
trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa…
Tuy nhiên, bên cạnh đó, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức
mạnh quân sự Việt Nam hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Một bộ phận
cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ”. Bên
cạnh đó, “tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu
thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng làm
giảm sút trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ với đất nước, với cộng đồng. Lợi dụng
không gian mạng xã hội, một số cá nhân công khai phê phán, bác bỏ, xuyên tạc
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối đổi mới của
Đảng, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối chính trị của Đảng, gây
chia rẽ về tư tưởng chính trị trong xã hội, suy giảm sức mạnh chính trị - tinh
thần của nhân dân, lực lượng quân đội trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc nói chung,
tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nói riêng.
HAIVAN
BÁO CHÍ CÁCH MẠNG PHẢI PHÒ CHÍNH, TRỪ TÀ!
Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay.
Kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí
quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
trong tình hình hiện nay, đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy
đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về
chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành
với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi
tình huống”
Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc
trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị,
cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất
giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội.
Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức
quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất
lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng
công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm,
có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai
đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và
phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các
nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống,
cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu
tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa
tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ.
Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù
địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp
thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội.
Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để
đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ
thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính
ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương,
biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần
xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.
HAIVAN
Kích động kỳ thị dân tộc - âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.
Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.
Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...
Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...
Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.
Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.
Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.
Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kiểm soát, định hướng phát huy vai trò kinh tế tư nhân cho mục tiêu chủ nghĩa xã hội
Tại Việt Nam, từng có ý kiến lo ngại rằng, kinh tế tư nhân (KTTN) lớn mạnh sẽ thao túng nền kinh tế, làm chệch hướng chủ nghĩa xã hội (CNXH), trong đó nhiều ông chủ tư nhân có quyền lực vô biên, đứng trên cả pháp luật.
Thế nhưng, thực tiễn thời gian qua đã cho thấy, dù doanh nghiệp tư nhân có phát triển thế nào vẫn phải hành động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phục vụ mục tiêu đi lên CNXH, mọi vi phạm đều bị xử lý nghiêm.
Đóng góp quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội
Trong hơn 35 năm của thời kỳ đổi mới, KTTN ở nước ta đã dần phát triển, thực sự trở thành lực lượng vật chất quan trọng trong nền kinh tế, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội. Sự phát triển của KTTN chính là góp phần để thực hiện các mục tiêu của thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Đảng, Nhà nước đã có chủ trương, chính sách khuyến khích KTTN phát triển không hạn chế quy mô, số lượng. Vai trò của KTTN trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH là rất to lớn. KTTN đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các nguồn lực trong nền kinh tế, tạo ra “sức bật” về trình độ công nghệ, đào tạo nghề cho người lao động, gia tăng khả năng hấp thu vốn, công nghệ hiện đại, thúc đẩy tăng năng suất lao động. Điều quan trọng hơn là KTTN phát triển đã góp phần hoàn thiện hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại. Đây chính là những mảng kết cấu cơ sở vật chất mà CNXH đang cần. Chúng ta thấy những tập đoàn KTTN lớn như Sun Group, Vingroup, Thaco, Masan, FPT... KTTN tham gia và làm tốt nhiều lĩnh vực mà trước đây chỉ có kinh tế nhà nước mới đủ khả năng thực hiện như xây dựng sân bay, cảng biển trị giá hàng nghìn tỷ đồng; sản xuất ô tô; lĩnh vực hàng không... Điển hình như Tập đoàn Sun Group đầu tư 3 công trình trọng điểm: Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn xây chưa đầy hai năm, được trao hai giải thưởng là “Sân bay mới hàng đầu châu Á 2019” và “Sân bay mới hàng đầu thế giới”; Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, cao tốc Hạ Long-Vân Đồn... Các doanh nghiệp Thaco, VinFast đang biến khát vọng ô tô “make in Vietnam” thành hiện thực. Những tập đoàn KTTN như Sun Group, Vingroup... đã kiến tạo nên các công trình, dịch vụ, sản phẩm du lịch độc đáo xứng tầm quốc tế như: Bà Nà Hill, cầu Vàng, Khu du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl; Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng; chuỗi Carnival đường phố khắp các tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hạ Long (Quảng Ninh), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Đà Nẵng... tạo sức bật mạnh mẽ cho ngành du lịch Việt Nam.
KTTN còn khẳng định được vai trò to lớn trong giải quyết việc làm, đóng góp quan trọng trong tổng GDP đất nước. Tham gia các hoạt động an sinh xã hội không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp tư nhân cũng đóng góp to lớn. Điển hình là khả năng thu hút, tham gia đào tạo người lao động, giải quyết việc làm; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền. Theo thống kê, hiện nay KTTN thu hút và giải quyết việc làm cho khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, điều này cũng có nghĩa doanh nghiệp tư nhân bảo đảm cho phần lớn lực lượng lao động trong nền kinh tế có việc làm, thu nhập, được bảo đảm các điều kiện tối thiểu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Điều đó giúp cho người lao động, các nhóm yếu thế trong xã hội bảo đảm được sinh kế ổn định, kể cả trong điều kiện có rủi ro về thiên tai, dịch bệnh cũng như tác động của đại dịch Covid-19.
Quản lý, kiểm soát, định hướng hoạt động của KTTN theo khuôn khổ pháp luật
Tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho sự phát triển của KTTN nhưng đồng thời Nhà nước cũng quản lý, điều tiết, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó có KTTN bằng pháp luật. Bất kể là doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn KTTN trong hay ngoài nước, bất kể quy mô doanh nghiệp, trình độ công nghệ ra sao, khả năng chi phối, điều tiết thị trường thế nào đều phải chấp hành pháp luật Việt Nam. Trong chủ nghĩa tư bản, nhà nước tư sản tìm mọi cách ban hành các chính sách kinh tế có lợi cho các tập đoàn tư bản độc quyền chi phối thị trường, tối đa hóa lợi nhuận, kinh doanh trong cả những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro (như kinh doanh súng đạn) bất chấp sự tổn hại lợi ích của người lao động, của xã hội và môi trường. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, sự phát triển của KTTN hoàn toàn khác biệt. Doanh nghiệp KTTN hoạt động đúng khuôn khổ pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động và lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia. Doanh nghiệp tư nhân được tự do sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, không gây tổn hại đến xã hội và môi trường, bảo đảm đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước. Để bảo vệ quyền lợi của người lao động, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam quy định rõ mức lương tối thiểu vùng, quy định các vấn đề về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động buộc chủ doanh nghiệp tư nhân muốn sử dụng lao động phải tuân thủ. Đây chính là định hướng nhằm bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Đồng thời, Nhà nước xử lý nghiêm các doanh nghiệp, tập đoàn KTTN trục lợi, vi phạm pháp luật, thao túng thị trường gây tổn hại cho các nhà đầu tư, xâm hại lợi ích của xã hội. Thực tế là trong thời gian qua, đã có không ít lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân lớn bị điều tra, xử lý khi có những dấu hiệu vi phạm pháp luật...
Sự nghiêm minh của pháp luật vừa tạo điều kiện bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân phát triển, đồng thời cũng là ranh giới để các doanh nghiệp hoạt động. Ở Việt Nam, dưới chế độ XHCN, mọi thành phần kinh tế đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Không phải cứ doanh nghiệp lớn, có sức ảnh hưởng cao trên thị trường, thậm chí đóng góp nhiều cho các hoạt động xã hội thiện nguyện là muốn làm gì thì làm, muốn xúc phạm ai tùy ý. Những hành vi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý, bất kể đó là lãnh đạo tập đoàn nào, khả năng chi phối thị trường, sức ảnh hưởng đến nền kinh tế ra sao. Những vụ việc đối với lãnh đạo một số doanh nghiệp lớn vừa qua là lời cảnh tỉnh cho lãnh đạo các doanh nghiệp tư nhân, để họ luôn làm ăn chân chính, có trách nhiệm xã hội cao, để bảo đảm rằng sự phát triển lành mạnh doanh nghiệp của họ mang lại lợi ích cho xã hội, vì mục tiêu XHCN.
Như vậy, sự phát triển và đóng góp của KTTN đã chứng minh rằng phát triển KTTN không những không từ bỏ mục tiêu CNXH mà ngược lại, chúng ta sử dụng nó như một phương tiện cần thiết trong thời kỳ quá độ nhằm phát triển lực lượng sản xuất, gia tăng các nguồn lực vật chất cho mục tiêu CNXH. KTTN được tự do phát triển nhưng theo sự điều tiết của Nhà nước XHCN, dựa trên nền tảng vật chất của CNXH. Vì vậy, KTTN không thể hướng lái nền kinh tế nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Sự phát triển có định hướng của KTTN luôn phải bảo đảm cả mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, trở thành công cụ quan trọng để thực hiện tăng trưởng, phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, có thể khẳng định đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển KTTN thành một động lực quan trọng của nền kinh tế là đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Đường lối đó sẽ là mấu chốt để khơi dậy, phát huy động lực to lớn của khu vực KTTN, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra lực lượng vật chất cần thiết hỗ trợ cho con đường đi lên CNXH ở nước ta. Thừa nhận KTTN không có nghĩa là từ bỏ mục tiêu CNXH, ngược lại sử dụng, phát huy thành phần kinh tế này như một công cụ cho quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho CNXH trong thời kỳ quá độ.






