Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

BẮT KHẨN CẤP ĐỐI TƯỢNG TUYÊN TRUYỀN KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH TẠI THANH HÓA


Tại Thanh Hoá, do chủ động làm tốt công tác nắm tình hình, triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn nên ANTT trên địa bàn tỉnh vẫn giữ vững ổn định, không để xảy ra hoạt động tụ tập biểu tình, kích động gây rối ANTT. 

Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh cũng phát hiện một số đối tượng thông qua các trang mạng xã hội, nhất là trang Facebook để tuyên truyền kích động nhân dân biểu tình trái pháp luật.

Thông qua công tác nghiệp vụ, mới đây ngày 12/6 vừa qua, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã điều tra, làm rõ và thi hành Lệnh bắt khẩn cấp đối tượng Nguyễn Văn Quang (31 tuổi) ở xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa về hành vi tàng trữ, phát tán thông tin có nội dung chống phá Nhà nước. 

Kết quả điều tra ban đầu của lực lượng an ninh đã xác định đối tượng Nguyễn Văn Quang đã thường xuyên sử dụng facebook cá nhân có địa chỉ Quang Nguyen Van để đăng tải, phát tán những bài viết có nội dung kêu gọi, kích động nhân dân biểu tình trái pháp luật. Tại cơ quan công an đối tượng này đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Hiện nay, Giám đốc Công an tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị công an trong tỉnh tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là công nhân, thanh niên, học siinh, sinh viên trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Riêng lực lượng công an đã xây dựng các kế hoạch, phương án tăng cường lực lượng sẵn sàng giải quyết, xử lý các tình huống phức tạp về ANTT liên quan đến hoạt động biểu tình trái pháp luật trên địa bàn tỉnh để giữ vững ANTT và cuộc sống bình yên của nhân dân.

MỸ VÀ EU BƠM VŨ KHÍ


Ta có thể nghe lý do đơn giản là Mỹ bơm vũ khí vì thương Ukraina, bênh vực Ukraina, muốn Ukraina đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Nga. Nhưng trên thế giới này, ngoài Việt Nam và Cuba, có nhà chính trị nào thật lòng thương nhau, thật lòng thương quốc gia khác, thật lòng muốn giúp dân nước khác không nhỉ?

Nếu trả lời là CÓ, e rằng ta chưa hiểu chính trị. Chính trị không có khái niệm tình thương yêu.

Nếu trả lời là KHÔNG, e rằng ta chạm đến một sự thật mà ai cũng che đậy.

Nói trắng ra là Mỹ cần ai đó đứng ra chịu đánh cho Nga suy yếu, và Ukraina là quốc gia được "chúa" chọn. Mỹ sẽ tìm cách bơm vũ khí mãi cho Ukraina để đánh nhau với Nga cho tới khi Nga suy yếu và Ukraina tan nát không còn tồn tại. Miễn Nga suy yếu là Mỹ thành công, còn Ukraina hay nước nào nữa biến mất khỏi bản đồ thế giới không quan trọng. Chính trị là vậy.

THÍ TỐT QUA SÔNG


Trên bàn cờ mỗi quân có 1 ví trí vai trò khác nhau nhưng để tạo thành thế “đánh” hay thì buộc tất cả phải đặt trong một mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Nhưng “rẻ rúng” nhất có lẽ vẫn là quân tốt, chả thế mà người ta vẫn coi nó là quân thí mạng trong những tình huống khẩn cấp hoặc chấp nhận mất nó để tạo ra 1 thế đánh có lợi trên bàn cờ.

“CHIẾC GƯƠNG” ĐỂ MỖI TỔ CHỨC ĐẢNG, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN “TỰ SOI, TỰ SỬA”!

     Quy định số 37-QĐ/TW ra đời như “chiếc gương” để mỗi tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa” và không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
     Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 thay thế Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Những điều đảng viên không được làm”, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Song, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, phản động đã tung luận điệu xuyên tạc về quy định này./.

.....
Môi trường ST.

LÁ CỜ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BẰNG GỐM LỚN NHẤT VIỆT NAM TẠI ĐẢO TRƯỜNG SA!

         Tại đảo Trường Sa lớn, quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa có bức tranh bằng gốm in hình lá cờ Việt Nam với kích thước kỷ lục (12,4m x 25m) 310m2. Quốc kỳ Việt Nam bằng gốm thực hiện trên mái tòa nhà hội trường của đảo Trường Sa lớn, được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam.

Đây là sản phẩm từ ý tưởng của họa sỹ Nguyễn Thu Thủy - tác giả công trình Con đường gốm sứ ven sông Hồng tại Hà Nội, công dân ưu tú của Thủ đô Hà Nội.

Họa sĩ Thu Thủy cho biết, sau hai cuộc họp và thảo luận, Bộ Tư lệnh Hải quân nhất trí nên đưa lá cờ bằng gốm lên nóc tòa nhà hội trường ở trung tâm đảo Trường Sa. Khi chụp ảnh từ vệ tinh hay search Google Earth, lá cờ sẽ xuất hiện ở vị trí trung tâm đảo Trường Sa lớn.

Mái tòa nhà hội trường có kích thước 14m x 30m là mái bằng có lợp tôn bên trên. Khi thi công, lá cờ gắn bằng gốm trên nóc nhà có kích thước 14m x 21m. Gốm phủ men nặng lửa màu đỏ tươi sẽ đảm bảo chịu được mưa nắng ngoài trời, độ mặn của muối biển và không bị bay màu.

Trung tâm bức tranh là bản đồ Việt Nam với ngôi sao vàng ở vị trí Thủ đô Hà Nội tỏa ánh hào quang ra bốn phương trời đất nước. Hình ảnh mang tính biểu trưng với hình rồng thời Lý cùng Khuê Văn Các, Chùa Một Cột của Hà Nội, chùa Thiên Mụ của Huế, Tháp Chàm Mỹ Sơn, Bến cảng Nhà Rồng và tượng đài Bác Hồ.

Phía tiền cảnh diễn tả lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam gắn với biển Đông từ hình thuyền Đông Sơn thời các vua Hùng dựng nước, thuyền buồm lớn trải qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc đến thời đại Hồ Chí Minh.

Một chiến sĩ công tác tại đảo Trường Sa tâm sự: “Khi nhìn thấy lá cờ bằng gốm trên nóc nhà văn hóa của đảo thật rất tự hào, gần gũi. Bởi vì gốm sứ là chất liệu truyền thống có từ lâu rồi, chịu được sóng gió Trường Sa và khẳng định được chủ quyền ở biển đảo từ trên không. Lá cờ Tổ quốc bay trên nóc nhà văn hóa là mãi mãi. Rất tự hào khi có lá cờ to như thế. Lá cờ có độ dốc 5 độ, tàu ở phía xa cũng nhìn thấy lá cờ”./.
Môi trường ST.

Phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam trong điều kiện mới

“Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, phấn đấu giữ vững danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Với 5 chuẩn mực: - Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; - Hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; - Ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; - Bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; - Năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ, gìn giữ, phát triển các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được chỉ rõ hơn, sâu sắc hơn trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847). Theo đó, Quân ủy Trung ương xác định 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu xây dựng, hướng tới; đồng thời "điểm mặt" 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân để mỗi tổ chức, cá nhân nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi. Những chủ trương trên thể hiện tinh thần hết sức nghiêm túc, trách nhiệm trong quán triệt, cụ thể hóa Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội; là cơ sở chính trị, động lực tinh thần, phương châm hành động để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động và nghiên cứu, sớm đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống là giải pháp tốt nhất để danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của Quân đội ta được lưu danh mãi với thời gian, thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân. Đây cũng là phương cách hữu hiệu nhằm tạo đề kháng, sức miễn dịch cho bộ đội trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch. Để cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, trước hết, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong toàn quân về giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết 847 đối với việc lưu giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ-giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng, phòng truyền thống, nhân chứng lịch sử; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tinh thần lạc quan cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phấn đấu, rèn luyện, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời chủ động phát hiện, khắc phục kịp thời mọi biểu hiện tư tưởng lệch lạc, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc, làm việc cầm chừng, vô cảm trước khó khăn, hoạn nạn của nhân dân, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không bảo vệ, sai không đấu tranh, phê bình, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết quân-dân...

Âm mưu, thủ đoạn mới của thế lực thù địch được đẩy mạnh và điều chỉnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” hiện nay

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "Diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước. Hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hòa bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” để “vô hiệu hóa” Quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa. Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành. Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Lào Cai thiệt hại hơn 20 tỉ đồng chỉ trong 2 ngày mưa lớn

Thông tin từ Văn phòng Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai tỉnh, mưa lớn kéo dài trong 2 ngày đã gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Theo đó, do ảnh hưởng của vùng hội tụ gió trên cao, từ đêm 13.6 đến ngày 14.6, các địa phương trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa vừa, mưa to làm xuất hiện lũ ống, lũ quét, sạt lở đất gây hư hỏng nhà cửa, tài sản, cây hoa màu của nhân dân và hạ tầng giao thông ở các tuyến tỉnh lộ, quốc lộ. Hậu quả, có 226 nhà bị ảnh hưởng, thiệt hại do sạt lở, ngập úng. Trong đó, có 3 nhà bị sập đổ hoàn toàn tại TP.Lào Cai, huyện Bảo Thắng và Văn Bàn. Có đến hơn 200 ngôi nhà bị hư hỏng, ảnh hưởng và sập hoàn toàn do mưa lớn, sạt lở.© Được Lao Động cung cấp Có đến hơn 200 ngôi nhà bị hư hỏng, ảnh hưởng và sập hoàn toàn do mưa lớn, sạt lở. Về nông nghiệp, có đến khoảng 230ha diện tích lúa bị thiệt hại, ngô và rau màu khoảng 52ha, gần 13ha ao thủy sản bị vỡ hoặc tràn bờ và khoảng 10.000 cây giống lâm nghiệp đang trong vườn ươm của huyện Văn Bàn bị hư hỏng. Giao thông ở nhiều địa phương bị ùn tắc do sụt sạt và có đến 7 công trình thủy lợi bị hư hỏng, 2 nhà văn hóa thôn, 2 trường học cũng bị hư hỏng. Ước thiệt hại do ảnh hưởng của mưa lũ trong 2 ngày qua lên đến trên 20 tỉ đồng. Hiện các hộ bị sập, đổ nhà đã được ở nhờ nhà người thân để chuẩn bị vật liệu làm lại nhà, các hộ bị ảnh hưởng do sạt lở, ngập nước đã được dọn dẹp, vệ sinh nhà ở, di chuyển người, tài sản đến nơi an toàn. Hiện tại, cơ bản các hộ đã ổn định cuộc sống. Các lực lượng cũng tổ chức khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương nhằm nhanh tiêu thoát lũ bảo vệ hoa màu. Các tuyến giao thông tiếp tục được khắc phục, đảm bảo nhanh nhất để lưu thông.

Tiếp tục nhận diện và kiểm định đầy đủ các hành vi bạo lực gia đình

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết, dự thảo Luật trình lần này đã phân loại ra 4 nhóm lĩnh vực về bạo lực gia đình. Trên cơ sở góp ý của các đại biểu, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nhận diện và kiểm định đầy đủ các hành vi này. Chiều 14.6, phát biểu giải trình tại phiên thảo luận Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, đây là một luật khó, có phạm vi rộng, hàm chứa các vấn đề liên quan đến quyền con người. Luật có liên quan đến nhiều vấn đề đang được điều chỉnh bởi các luật khác về trẻ em, về người cao tuổi, về hôn nhân gia đình. Việc kế tục, phát huy được những quy định pháp luật sẵn có và thiết kế được những điều luật mới vừa đảm bảo hợp lý, thống nhất không phải việc đơn giản. Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nêu rõ, xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Đồng thời đó là một cơ sở chính trị để cho đại biểu nghiên cứu, nhưng cũng còn các cơ sở pháp lý khác rất quan trọng quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Dự thảo Luật được xây dựng để phát huy truyền thống văn hóa của gia đình trên cơ sở thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Không thể rập khuôn máy móc, sao chép các luật của quốc gia khác mà phải biết kế thừa, phát huy những giá trị này để phòng chống, để giữ được gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc. Về những vấn đề chung, các đại biểu tiếp tục làm rõ hơn thực trạng về công tác phòng, chống bạo lực trong thời gian qua, nêu lên những mong muốn, tranh luận để làm rõ một số vấn đề mà các đại biểu đang còn có ý kiến khác nhau. Chính những mong muốn, những trăn trở này đang đòi hỏi độ khó cho cơ quan soạn thảo. Đối với nhóm vấn đề về hành vi bạo lực gia đình, Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật trình lần này đã phân loại ra 4 nhóm lĩnh vực về bạo lực gia đình. Tuy nhiên, trên cơ sở góp ý của các đại biểu, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nhận diện và kiểm định đầy đủ các hành vi này. Ngoài ra, Bộ trưởng cho biết, Ban soạn thảo sẽ tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội về vấn đề thực hiện hòa giải, quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan, các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình, nâng cao nhận thức và đẩy mạnh truyền thông… để hoàn thiện dự thảo Luật đạt chất lượng cao nhất. Đại biểu Hà Thị Nga.© Được Lao Động cung cấp Đại biểu Hà Thị Nga. Phát biểu tại phiên thảo luận trước đó, đại biểu Hà Thị Nga - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát và xác định rõ hơn nhằm đảm bảo sự tương xứng giữa hành vi bạo lực gia đình với các biện pháp xử lý được quy định trong luật. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu để đảm bảo tính bao quát của các hành vi bạo lực gia đình theo các dạng bạo lực về thể chất, về tinh thần, về tình dục, về kinh tế. Bổ sung thêm các hành vi như là cưỡng ép hoặc ngăn cản việc sử dụng các biện pháp tránh thai trái ý muốn hay cưỡng ép sinh đẻ nhiều, cưỡng ép mang thai hộ trái luật hoặc là các hành vi gián tiếp như bao che, dung túng, cổ vũ hành vi bạo lực gia đình. Ngoài ra, đại biểu cũng đồng tình với một số ý kiến phát biểu trước, đó là không nên để bỏ sót các trường hợp bạo lực gia đình, đặc biệt là đối với con riêng của vợ chồng hoặc những người đang chung sống với nhau như vợ chồng. Bên cạnh việc Quốc hội bổ sung, hoàn thiện các quy định của luật, đại biểu đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm tăng cường công tác lãnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền các cấp về công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Đồng thời đề nghị Chính phủ nghiên cứu và nhân rộng mô hình cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, nhà tạm lánh ở các địa phương.

Một số giải pháp tăng cường phòng chống “diễn biến hòa bình” đối với thanh niên trong giai đoạn hiện nay

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, thanh niên nước ta từ thế hệ này đến thế hệ khác đã luôn nêu cao tinh thần yêu nước, không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đại bộ phận thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm của lứa tuổi thanh niên, hiện nay các thế lực thù địch không ngừng tập trung thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trong thanh niên.

        Thanh niên là một đối tượng đặc thù trong công tác dân vận của Đảng,  với những đặc trưng nổi bật về tâm sinh lý do yếu tố độ tuổi quy định (đủ 16 đến 30 tuổi – theo Luật Thanh niên). Thanh niên có nhiều ưu điểm, họ là lớp người trẻ, có sức khỏe, nhiệt huyết, nhiệt tình, nhạy bén với cái mới, thích nghi nhanh với khoa học công nghệ… nhưng còn bồng bột, nông nổi, chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích động.

        Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định vai trò của thanh niên cũng như công tác thanh niên quan trọng hơn bao giờ hết. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTW Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa” đã khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Cũng vì thế mà các thế lực thù địch luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong thanh niên. Nhiều năm qua, các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm cách tác động vào giới trẻ; chúng lợi dụng internet để phát tán tài liệu có nội dung phản động, đồi trụy để chuyển hóa dần giới trẻ; chúng bịa đặt đưa ra nhiều thông tin sai lệch, lấp lửng giật gân và tạo ra các diễn đàn để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận; chúng khoét sâu và hướng luồng dư luận vào những vụ việc tiêu cực để kích động giới trẻ tỏ thái độ bất mãn … nhằm mục đích thâm độc là tạo ra một thế hệ trẻ sống theo chủ nghĩa thực dụng, thích ăn chơi, vụ lợi, vị kỷ, sẵn sàng xét lại quá khứ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với lớp người đang là rường cột, tương lai của đất nước.

        Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo Đảng ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng về thanh niên và công tác vận động thanh niên trong đó có: Nghị quyết số 25- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020”; tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chương trình nhằm tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên.

       Trong bối cảnh hiện nay, để tăng cường sức đề kháng và phát huy vai trò tiền phong của thanh niên trên mặt trận đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trong thế hệ trẻ, các cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

       Một là, cần làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đoàn viên và thanh niên về âm mưu, bản chất thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lục thù địch; về mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm của thanh niên trong đấu tranh.  Bởi lẽ, hiện nay vẫn còn một bộ phận đoàn viên, thanh niên vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đúng về chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lục thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trước mắt, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên nhận diện được những chiêu bài, cách thức lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch để đánh vào sự nông nổi của một số ít bạn trẻ như lợi dụng tự do, tôn giáo, bịa đặt, đưa thông tin sai lệch, khoét sâu vào những việc tiêu cực trong xã hội... Đồng thời, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên nhận thức được những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra; thấy được việc phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta ... Mặt khác, làm rõ sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước và sự tồn vong của chế độ nếu như không phòng, chống, đấu tranh kịp thời, kiên quyết.

       Hai là, cần tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống văn hoá, lịch sử của Đảng, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và dân tộc cho thanh niên. Tích cực tuyên truyền cho đoàn viên, thanh niên về những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, của Đảng và của Đoàn: đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; truyền thống xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ được giao; truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, đoàn kết gắn bó với nhân dân, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, đặc biệt là vào những thời điểm đối mặt với kẻ thù hay thiên tai, truyền thống đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại; truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, kỹ thuật, quản lý và quân sự, sống có văn hóa, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng… Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào hành động cách mạng của thanh niên, xây dựng và thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức, định hướng giá trị nhân cách, làm cho thanh niên hiểu, có khả năng tự đề kháng và tích cực đấu tranh với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

        Ba là, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn cần chủ động, kịp thời nắm bắt dư luận, dự báo tình hình tư tưởng, nắm những xu hướng tư tưởng chủ đạo để động viên khuyến khích; nhận biết những nhận thức lệch lạc để kịp thời uốn nắn; định hướng nội dung tuyên truyền, giáo dục trong đoàn viên, thanh niên. Thực hiện công tác giáo dục thanh niên bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, hấp dẫn, thông qua những việc làm thiết thực kết hợp với việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và phù hợp với từng đối tượng; phát huy ưu thế của các công cụ, phương tiện truyền thông hiện đại, nâng cao vai trò của hệ thống báo chí, xuất bản của Đoàn trong giáo dục đoàn viên, thanh niên. Tiếp tục phát huy hiệu quả và tổ chức tốt hoạt động trao đổi, đối thoại giữa thanh niên với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lãnh đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đơn vị.

       Điều quan trọng quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trong giới trẻ chính là bản thân đoàn viên, thanh niên. Vì vậy, mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò và những ưu điểm, hạn chế của chính mình. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm, dám nói, dám làm, dám đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những âm mưu thâm độc của kẻ thù. Đồng thời phải ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn lên để đảm đương trọng trách công việc trong thời kỳ mới cùng với đó là khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, không thể hiện rõ lập trường, quan điểm trước những hành vi tiêu cực hoặc thờ ơ, không dám đấu tranh với sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các âm mưu chống phá, kích động…

       Đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Chính trị tỉnh Bình Phước là lực lượng chủ lực trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và trong toàn xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ cán bộ, giảng viên nhất là lực lượng giảng viên trẻ cần phát huy tinh thần xung phong, xung kích trong nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp… để góp phần quan trọng và thường xuyên trong việc phát triển, bồi đắp nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

       Tóm lại, xuất phát từ những đặc thù về đặc điểm tính cách, nhận thức của độ tuổi thanh niên mà các thế lực thù địch luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Vậy nên, trong bối cảnh hiện nay, trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa và sự suy thoái đạo đức của một bộ phận thanh niên Việt Nam, công tác giáo dục, phòng chống “diễn biến hòa bình” cho thế hệ trẻ là điều quan trọng và cấp thiết góp phần giúp thanh niên có được những tri thức khoa học để nhận thức đúng đắn, có lý tưởng cách mạng cao đẹp, hoàn thiện nhân cách thanh niên Việt Nam hiện nay, để họ xứng đáng là lớp người trẻ tuổi làm chủ nước nhà, xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

T3.

 


Không thể xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn và khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa Xuân năm 1930 và đã được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Từ đó đến nay, trong suốt quá trình 90 năm Cách mạng Việt Nam, dù trải qua muôn ngàn cam go thử thách, có những lúc rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thế nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã đi đến những thắng lợi to lớn, đi đến vinh quang ngày hôm nay.
Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch, phản động vẫn luôn không ngừng ráo riết thực hiện các âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một trong những âm mưu nguy hiểm ấy chính là chúng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng - Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng không chỉ phủ định Chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn phủ nhận cả Tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những thủ đoạn vô cùng tinh vi và thâm độc.

Những kẻ tự xưng là “người yêu nước” đã lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Người như: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa… Đại hội XIII của Đảng đang sắp tới, các thế lực thù địch, cá nhân, tổ chức phản động trong nước và lưu vong ở nước ngoài càng đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng mọi thủ đoạn thông qua việc thành lập các tổ chức, mở các diễn đàn, xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền… Âm mưu của chúng là nhằm tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ yếu và quyết định bản chất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận Tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nền tảng tư tưởng lý luận, cương lĩnh, đường lối của Đảng. Từ đó, làm tha hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tất cả những thủ đoạn, luận điệu chống phá của chúng đều không có cơ sở khoa học, đều là mưu toan chính trị nhằm xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, chúng ta, bằng những luận cứ khoa học, bằng thực tiễn sinh động của lịch sử dân tộc để chứng minh và khẳng định giá trị, bản chất của Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như những công lao to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Điều đó thể hiện rõ ở các điểm sau: 

Một là, con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy, lựa chọn, dẫn dắt. Con đường cách mạng vô sản gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, đã được thực tiễn dân tộc kiểm nghiệm tính đúng đắn qua hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Và, Hồ Chí Minh chính là người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam từ trong bùn lầy tối tăm của kiếp nô lệ bước sang kỷ nguyên của độc lập tự do. 

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam - là chính Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Thực tiễn đã chứng minh, hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, xây dựng được niềm tin tưởng, ủng hộ của nhân dân.

 Ba là, Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự vận dụng mà còn bổ sung và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự bổ sung và phát triển sáng tạo ấy thể hiện rõ trong việc (i) vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. (ii) vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về Đảng Cộng sản. (iii) vận dụng và phát triển sáng tạo về chiến lược tập hợp lực lượng. (iv) vận dụng, phát triển nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ.

Theo Giáo sư Nhật Bản, Singô Sibata, “một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng mácxít trên thế giới áp dụng lý luận này”.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, giá trị Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam nói riêng, với kho tàng lý luận cách mạng của thế giới nói chung là vô cùng to lớn, không thể phủ nhận. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Tình cảm, sự tôn trọng, kính yêu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa của dân tộc; cán bộ, đảng viên và đại bộ phận nhân dân ta từ trước đến nay có niềm tin tuyệt đối vào Người; có lượng kiến thức cơ bản để phân biệt thật - giả, đúng - sai những thông tin, đánh giá về Người. Nhưng, không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác, coi thường sự tấn công và hậu quả của những luận điệu chống đối, xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh là một chủ trương kiên quyết và nhất quán của Đảng ta. Nó gắn chặt với cuộc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng. Bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ nền tảng tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc./.

T3.

 

Giá trị cốt lõi của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 


 Lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội - sự khẳng định giá trị cốt lõi của mô hình “cách mạng đến nơi”

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta chỉ rõ: đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp lô gíc và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Thực tiễn đã minh chứng, chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất giải phóng dân tộc Việt Nam, là sự khẳng định trong hiện thực giá trị của một mô hình “cách mạng đến nơi”.

Làm thế nào để: “tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc”, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Đó là mong muốn, là mục đích và là động lực để Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bôn ba khắp nơi trên thế giới tìm kiếm con đường thực hiện mục tiêu đó. Sau gần 10 năm đi nhiều nước, đọc nhiều lý luận, học thuyết, học hỏi nhiều kinh nghiệm, tiếp xúc với nhiều hạng người, chứng kiến trực tiếp văn minh phương Tây, đồng thời hòa mình với cuộc sống của người lao động trong xã hội tư bản, Người nhận ra rằng, cách mạng giải phóng của Việt Nam phải học tập nhiều điều ở cách mạng Mỹ (1776) và cách mạng Pháp (1789), nhất là ở tinh thần cách mạng của họ. Nhưng cách mạng Việt Nam có đi theo con đường của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp không? Hồ Chí Minh khẳng định dứt khoát: con đường đó không phù hợp với cách mạng Việt Nam. Bởi đó là những cuộc cách mạng chỉ đem lại quyền lợi cho người giàu, là cuộc cách mạng “không đến nơi”. Theo Người: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Trên con đường khảo cứu thế giới, đặc biệt là những năm tháng hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp ở Pari đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản. Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin đã làm sáng tỏ trong Người tất cả những điều đang trăn trở về con đường giải phóng dân tộc, nhân dân. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Nga Xô viết. Tình hình nước Nga khiến Người nhận thức sâu sắc sự lạc hậu của chế độ phong kiến và sự tàn bạo của chế độ tư sản. Và sự xuất hiện một chế độ xã hội mới, trong đó nhân dân lao động thực sự được giải phóng khỏi áp bức bất công là một thực tiễn mà Người mơ ước thiết lập ở Việt Nam; là mô hình “cách mạng đến nơi” mà Người đang khát khao kiếm tìm. Chính từ đây, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Theo đó, con đường cách mạng Việt Nam cũng như nhiều nước châu Á là phải giành độc lập hoàn toàn và tiến lên CNXH. CNXH là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc; cách mạng giải phóng dân tộc phải trở thành cách mạng XHCN thì nền độc lập dân tộc mới được củng cố vững chắc, cách mạng mới giành thắng lợi hoàn toàn.

Như vậy, sự lựa chọn mục tiêu CNXH suy cho cùng là quyết định khách quan của lịch sử. Và trong số những khối óc trăn trở tìm tòi con đường cứu nước, lịch sử đã lựa chọn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh -  người duy nhất lúc đó nắm được cơ hội lịch sử để thay đổi vận mệnh đất nước, thay đổi thân phận con người bằng khát vọng mãnh liệt của dân tộc và của chính Người, thông qua sự nung nấu, trăn trở và mài sắc tư duy theo thời gian của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chứ không phải là sự chủ quan, nhất thời hoặc ngẫu nhiên, hay do vận may lịch sử.

 Giải phóng con người, nhân dân lao động làm chủ xã hội là giá trị cốt lõi của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một trong những nội dung trọng tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh; trong đó, những luận giải của Người về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là biểu trưng mẫu mực về sự thấm nhuần nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, về tinh thần sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh các nước thuộc địa. Đây là những luận điểm đặt tiền đề quan trọng và là kim chỉ nam cho cho hành trình tới tương lai tươi sáng của dân tộc; là nền tảng vững chắc cho việc tiếp tục phát triển hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong điều kiện mới.

Trong di sản lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã đưa ra những dự đoán về xã hội tương lai - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Hai ông đã có công biến CNXH vốn là học thuyết không tưởng thành học thuyết có cơ sở khoa học. Tuy vậy, do điều kiện lịch sử, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ có thể dự đoán những nét chủ yếu, chứ không thể nêu lên một cách chi tiết những quan niệm của mình về xã hội tương lai. Hơn nữa, những dự đoán ấy được hình thành chủ yếu trên cơ sở nghiên cứu hiện thực xã hội TBCN phát triển tương đối cao ở một số nước Tây Âu. Vấn đề đặt ra là: chế độ cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không? Có thể có một mô hình CNXH chung cho mọi quốc gia, dân tộc không?

Về vấn đề thứ nhất, ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho rằng cần xem xét tình hình cụ thể ở lục địa châu Á về mặt lịch sử và địa lý. Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo và sự hiểu biết sâu rộng, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các nước châu Á một cách toàn diện cả về lịch sử, xã hội - văn hoá, kinh tế, chính trị... Người đi đến kết luận: “Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”. Bởi ở châu Á, tư tưởng về cộng đồng xã hội, bình đẳng, giáo dục và đề cao giá trị nhân văn; tư tưởng phải đấu tranh cho hạnh phúc của con người, đề cao nhân dân... đã phát triển sớm, trở thành cơ sở thuận lợi để tiếp nhận tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Cuối thế kỷ XX, một sự thật lịch sử là trong khi một mô hình CNXH tan rã ở các nước XHCN châu Âu, thì chế độ XHCN lại được củng cố và phát triển ở các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc... Thực tế đó đã chứng minh nhận định thiên tài của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh.

Về vấn đề thứ hai. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã có những dự đoán về xã hội tương lai, song các ông không cho rằng, trong tương lai CNXH sẽ chỉ có một mô hình duy nhất. CNXH về bản chất và mục tiêu là thống nhất, nhưng có nhiều mô hình khác nhau, thể hiện sự đa dạng, phong phú trong việc lựa chọn con đường đi lên CNXH. Mô hình CNXH ở mỗi quốc gia bao giờ cũng mang trong nó những nét đặc thù về lịch sử, văn hóa, dân tộc của quốc gia đó.

Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH từ nhiều phương diện khác nhau: từ chủ nghĩa yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, từ phương diện đạo đức, từ góc độ văn hoá... Trên các phương diện, Người đều thấy rằng, về bản chất, CNXH là một chế độ mới khác biệt, một chế độ thực sự ưu việt, đầy tính nhân văn cao cả. “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...”. Đối với Việt Nam, CNXH là con đường phát triển tất yếu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau này, trong lý luận nhận thức về CNXH, Người khẳng định thêm nhiều luận điểm quan trọng: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”; CNXH là “nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”...

Giá trị xuyên suốt và đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình CNXH gắn liền với khát vọng cháy bỏng của Người; đó là xã hội giải phóng thật sự con người, xã hội do nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ chính trị - xã hội ưu việt là nhằm giải phóng con người về mặt chính trị. Khi đó, con người mới thực sự là mục tiêu theo ý nghĩa chân chính của nó. Mặt khác, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột và nô dịch trong xã hội có giai cấp đối kháng là động lực mạnh mẽ, là công cụ chủ yếu để khai thác và phát huy mọi khả năng vật chất và tinh thần của con người vào sự phát triển xã hội. Xã hội XHCN, theo Hồ Chí Minh quan niệm, là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc, phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã nêu những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cả sáu vấn đề người đưa ra đều liên quan đến con người và giải phóng con người. Đó là:

Nhân dân đang đói, làm gì để thoát khỏi nạn đói.

Nhân dân đang dốt, làm gì để thoát khỏi dốt.

Nhân dân chưa được hưởng dân chủ, làm gì để nhân dân được hưởng tự do.

Nhân dân bị đầu độc bằng rượu và thuốc phiện, phải làm gì để thoát khỏi nạn này.

Nhân dân phải chịu nhiều thứ thuế, phải bỏ ngay các thứ thuế đó cho dân.

Nhân dân bị thực dân chia rẽ, phải làm gì để đoàn kết nhân dân lại.

Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH, Người thường xuyên nhắc nhở Đảng và Chính phủ phải luôn chăm lo cho dân: việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Như vậy, yêu thương những con người lao động, đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, khỏi sự nghèo đói, dốt nát là điểm xuất phát trong cách tiếp cận mô hình CNXH của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, CNXH là xã hội duy nhất mà quyền con người trở thành hiện thực và có khả năng phát huy cao nhất mọi tiềm năng con người (cá nhân, tập thể, cộng đồng). Với Hồ Chí Minh, con người là chủ thể tích cực của lịch sử, nhân dân là giá trị quý báu nhất, cao nhất; của dân, tài dân, sức dân là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển. Không có dân ủng hộ giúp đỡ thì cách mạng không có sức mạnh, không thể thành công. Không có dân thì Đảng không có lực lượng. Có dân, được dân tin, dân yêu, dân phục, lại có đường lối đúng để dẫn dắt dân tranh đấu thì việc khó mấy cũng giải quyết được.

Nói đến quyền con người trong CNXH không thể không nói đến tư tưởng dân chủ. Dân chủ XHCN chính là sự thể hiện quyền con người của cá nhân và cộng đồng ở mức cao nhất. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân thì dân chủ là của quý báu nhất trên đời của nhân dân; dân chủ nghĩa là: dân là chủ và dân làm chủ. Quan niệm đó thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa tính nhân văn và tính pháp lý của dân chủ, được thể hiện thống nhất trong nội hàm dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân và vì nhân dân. Nhưng để nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình, đem lại hạnh phúc cho chính mình, cần phải có sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới công việc thực tế để xây dựng nền dân chủ tiến bộ thực sự của dân, do dân, vì dân. Người luôn quan tâm xây dựng Đảng trên cả ba phương diện: tư tưởng, lý luận; đường lối chính trị; tổ chức cán bộ. Người đòi hỏi Đảng phải thực sự là đạo đức, là văn minh, cán bộ đảng viên phải “chính tâm”, “nghiêm pháp”; tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, ngoài ra không còn lợi ích nào khác. Đảng và nhà nước không phải là “cứu tinh” của nhân dân mà có trách nhiệm phụng sự nhân dân, là đày tớ của nhân dân. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng phải quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chú trọng nâng cao dân trí; đặt dân sinh, dân trí, dân chủ trong quan hệ thống nhất.

Khi xác lập những đặc trưng cơ bản của CNXH, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh, CNXH không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải tuân theo, không phải là những sắc lệnh từ trên xuống, mà nó là một phong trào hiện thực, là sự nghiệp sáng tạo của bản thân quần chúng nhân dân. Vì thế, mọi sự gò ép, bất chấp hiện thực, công thức hóa những tư tưởng lý luận trên thực tế đều phải trả giá. CNXH hiện thực luôn phát triển, do đó quan niệm về nó cũng phải được phát triển.

CNXH và cách mạng XHCN ở Việt Nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản nhưng được diễn ra ở một xứ thuộc địa không hoàn toàn giống một cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo ở phương Tây như các nhà kinh điển Mác - Lênin đã chỉ ra. Vì vậy, tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi sự vận dụng cần phải “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Đồng thời, nó phải được cụ thể hóa, phát triển và hoàn thiện trong quá trình cách mạng. Hơn nữa, CNXH và con đường đi lên CNXH có nhiều nội dung, mỗi nội dung có quy luật phát triển riêng và luôn mang tính khả biến, gắn với diễn trình lịch sử trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng. Bởi vậy, để cách mạng thắng lợi, đòi hỏi trong nghiên cứu, hoạch định đường lối và chỉ đạo thực tiễn phải có quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển; phải thấy rõ, phân tích và giải quyết tốt các mối liên hệ, có bước đi phù hợp và những điều kiện cơ bản bảo đảm cho con đường cách mạng được hiện thực hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tìm ra con đường cách mạng Việt Nam mà đã không ngừng phát triển hoàn thiện nó qua các thời kỳ lịch sử với những quan điểm đúng đắn, sáng tạo.

Tính cách mạng khoa học, đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định con đường cách mạng Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc đi lên CNXH, sau chiến thắng 30-4-1975 cả nước đi lên CNXH. Sự phát triển không ngừng của đất nước trước những cam go, thử thách và biến động thăng trầm của lịch sử, những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong gần thế kỷ qua càng chứng minh giá trị và sức sống mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự vận động của thực tiễn cách mạng đòi hỏi lý luận về mô hình CNXH phải có bước phát triển mới. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và tám đặc trưng được xác định trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự tiếp nối kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước./.

T3.

 


Nhóm bạn bè Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 nhấn mạnh UNCLOS là ‘hiến pháp của đại dương’

Ngày 14/6, tại trụ sở Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc (LHQ) ở New York đã diễn ra buổi chiêu đãi dành cho các nước thành viên Nhóm bạn bè Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thông qua UNCLOS. Buổi lễ diễn ra đúng vào dịp một năm ngày thành lập Nhóm (30/6/2021-2022), cùng thời gian tổ chức Hội nghị lần thứ 32 các nước thành viên UNCLOS. Tham dự sự kiện có Trưởng phái đoàn 12 nước sáng lập Nhóm; bà Vanessa Frazier, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Malta, Chủ tịch Hội nghị UNCLOS lần thứ 32; ông Miguel Soares, Phó Tổng thư ký LHQ phụ trách các vấn đề pháp lý kiêm Cố vấn pháp lý của LHQ; ông Vladimir Jares, Trưởng Văn phòng các vấn đề về đại dương và luật biển. Cùng tham gia hoạt động này còn có sự tham gia đông đảo của nhiều Đại sứ, Trưởng đoàn các nước tham gia SPLOS 32 và gần 100 đại diện, các chuyên gia về luật biển của các nước thành viên Nhóm bạn bè. Trong phát biểu chào mừng, thay mặt cho 12 nước sáng lập Nhóm, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ vui mừng cho biết, trong một năm qua, dù gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, Nhóm vẫn duy trì hoạt động đều đặn dưới các hình thức đa dạng, ý nghĩa. Đại sứ bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả 115 nước thành viên đã luôn ủng hộ và tham gia tích cực vào hoạt động chung, khẳng định sự tham gia đó thể hiện cam kết chung của các nước đối với mục đích thành lập của Nhóm là đề cao UNCLOS là Công ước thường được coi là "hiến pháp của đại dương”. Đại sứ Việt Nam nhấn mạnh mong muốn trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang đứng trước nhiều thách thức chung về biển, đại dương, Nhóm bạn bè sẽ tiếp tục phát triển, đóng góp hơn nữa vào các nỗ lực chung của quốc tế nhằm ứng phó với các thách thức đó. Bà Vanessa Frazier, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Malta, Chủ tịch Hội nghị UNCLOS 32 cho rằng, việc ủng hộ và cam kết mạnh mẽ đối với UNCLOS sẽ giúp các quốc gia, trong đó có Malta, nâng cao uy tín quốc tế, mở rộng sự tham gia của các nước. Khẳng định UNCLOS là văn kiện toàn diện, điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển và đại dương, bà Frazier cho rằng, với số lượng thành viên rộng lớn đến từ tất cả các nhóm khu vực của mình, Nhóm bạn bè UNCLOS sẽ tạo ra một diễn đàn cởi mở, thân thiện để các nước cùng trao đổi các vấn đề về biển và đại dương, qua đó đóng góp chung vào việc thực hiện đầy đủ UNCLOS, trong đó có công việc của các Hội nghị SPLOS. Phó Tổng thư ký LHQ Miguel Soares cho rằng, UNCLOS là một bước phát triển quan trọng của luật pháp quốc tế, được sự ủng hộ hết sức rộng rãi của các nước thành viên LHQ và qua đó đã trở thành luật tập quán quốc tế, tạo khuôn khổ cho các hoạt động về biển, trong đó có phát triển bền vững các vùng biển, thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững thứ 14 về biển. Ông Miguel Soares hoan nghênh những hoạt động tích cực của Nhóm trong thời gian qua và kỳ vọng Nhóm sẽ phát huy hơn nữa vai trò của mình tại các diễn đàn thảo luận các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, với nhiều hoạt động, cơ chế quốc tế diễn ra trong năm nay. Trong trao đổi trước và trong buổi chiêu đãi, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như 12 nước đồng sáng lập Nhóm, cho rằng buổi lễ có ý nghĩa tích cực, diễn ra trong thời gian Hội nghị UNCLOS 32, góp phần đề ra cam kết của đông đảo các nước thành viên LHQ, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước. Nhóm bạn bè là một hình thức phối hợp không chính thức, linh hoạt, nhằm tăng cường hợp tác giữa một số nước có cùng quan tâm về một vấn đề cụ thể để thúc đẩy các mục tiêu chung. Nhóm bạn bè UNCLOS là nhóm đầu tiên Việt Nam khởi xướng, đồng chủ trì vận động thành lập (cùng Đức) và tham gia nhóm nòng cốt (bao gồm 12 nước là Argentina, Canada, Đan Mạch, Đức, Jamaica, Kenya, Hà Lan, New Zealand, Oman, Senegal, Nam Phi và Việt Nam) chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động của Nhóm. Đến nay, tham gia Nhóm bạn bè của UNCLOS có 115 nước, đại diện cho tất cả các khu vực địa lý, bao gồm 5 nước ủy viên thường trực HĐBA LHQ, nhiều nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương như Indonesia, Philippines, Brunei, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Australia, New Zealand và các khu vực khác. Các nước thành viên Nhóm đã có nhiều hoạt động đa dạng trong thời gian qua, như tổ chức các hội thảo, tọa đàm về vai trò của UNCLOS sau 40 năm được thông qua, tình hình hoạt động của Cơ quan quyền lực đáy đại dương (một trong các cơ chế được thành lập theo UNCLOS). 12 nước đồng sáng lập Nhóm đã có phát biểu chung tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ tháng 4/2022 kỷ niệm 40 năm Công ước, trong đó nhấn mạnh những giá trị phổ quát, lâu dài của UNCLOS, tầm quan trọng của việc tuân thủ và thực hiện đầy đủ Công ước, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, cùng giải quyết các thách thức chung về biển, đại dương.

Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 


 Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ là giải pháp đầu tiên, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là rất quan trọng. Đây là giải pháp nền tảng chi phối, chỉ đạo các giải pháp khác trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, tiếp tục nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, người đứng đầu các cấp nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính quyền, xây dựng tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh.

 Kết hợp chặt chẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Kết hợp công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ luôn đòi hỏi Đảng phải có biện pháp, cơ chế kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo của hai công tác này. Trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và coi đó là yêu cầu, nội dung và biện pháp quan trọng hàng đầu để tìm ra giải pháp làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Và ngược lại, trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, cái này đan xen, bện chặt vào cái kia, tác động, chi phối lẫn nhau. Vì vậy, phải coi đó là yêu cầu có tính nguyên tắc để có biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Tăng cường đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo của Đảng; thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, đủ hiệu lực của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của cấp ủy các cấp đối với công tác này.

Duy trì nghiêm và phát huy hiệu quả cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, có tư duy mới và biện pháp lãnh đạo phù hợp. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy dân chủ, tạo động lực trong công tác đấu tranh. Tăng cường bồi dưỡng tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giai cấp, dân tộc; nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; sắp xếp, kiện toàn Ban Chỉ đạo 94 các cấp tinh gọn, hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và phổ biến kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để họ không mắc mưu địch.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Đề xuất được giải pháp mới nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên với việc chủ động lãnh đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đấu tranh đã xác định. Tiếp tục thúc đẩy các Ban Chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” các cấp hoạt động có kế hoạch, “chuyên nghiệp” và thực thi hơn, tránh mắc “bệnh” thành tích. Có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, phải tích cực, chủ động, tiên phong trong cuộc đấu tranh này.

Quan tâm chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Đây là giải pháp hỗ trợ trực tiếp, rất hiệu quả; phục vụ đắc lực cho công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; là thực lực sức mạnh và ưu thế của chế độ ta. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm cho chế độ xã hội luôn luôn ổn định, được đổi mới và phát triển. Cùng với đó, thực hiện tốt giải pháp này là góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; không để “khoảng trống chính trị” để các thế lực thù địch lợi dụng, xâm nhập chống phá cách mạng Việt Nam.

Tóm lại, âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là dùng “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là yêu cầu khách quan - mệnh lệnh của cuộc sống.

Thực tiễn Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về nhận thức và thực tiễn lãnh đạo; song còn có hạn chế nhất định. Nhận diện đúng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của nó để đề xuất các giải pháp “xây” và “chống” sao cho hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các thế lực thù địch sử dụng “trăm phương ngàn kế” để chống phá ta, đó là ý muốn chủ quan của chúng; còn chúng có thực hiện được mưu đồ đen tối ấy hay không quyền quyết định là của chúng ta./.

T3.

 

 

Một số yêu cầu đối với công tác lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

 


Một là, phải không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; giúp họ nhận diện sao cho trúng, cho đúng đối tác, đối tượng, bạn, thù; bản chất sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các tổ chức, lực lượng thù địch, cơ hội, xét lại trong tình hình mới và tính chất nguy hiểm, tác hại của nó đối với cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải có biện pháp hữu hieuj để lãnh đạo cuộc đấu tranh đạt hiệu quả: bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào đều phải kiên định, vững vàng; tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ ràng “phải trái, trắng đen”; đâu là nhận thức lệch lạc, không đúng, không đầy đủ mà sinh ra quan điểm sai trái; đâu là sự cố tình chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, bọn cơ hội, xét lại; đâu là những yếu kém, khuyết điểm và hạn chế của ta, của cán bộ, đảng viên; đâu là sự chống phá “giấu mặt”, “trá hình” và công khai của các thế lực thù địch…Trong tình hình mới phải tìm ra phương cách tối ưu nhất để quản lý chặt bọn cầm đầu, chủ mưu; có kế hoạch chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của địch từ trong “trứng nước”; không để xảy ra hiện tượng “tả khuynh” và hữu khuynh; không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ.

Hai là, phải đẩy mạnh nghiên cứu dự báonắm chắc tình hình địch - ta; dự báo chính xác những nơi có thể xảy ra “điểm nóng”, “vùng nóng”; tìm được biện pháp tối ưu trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với kiên định ý chí tiến công; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, làm sao cho thực lực của ta ngày càng mạnh lên; biết lấy xây vững mạnh là chính, là quyết định, còn đấu tranh chống là rất quan trọng. Đây là yêu cầu khách quan đang đặt ra cấp bách đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh, kết hợp giữa “xây” và “chống” gắn với khắc phục các nguy cơ khác đe dọa cách mạng Việt Nam sao cho hiệu quả.

Ba là, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Yêu cầu này cần phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan hệ tác động qua lại giữa nó với “diễn biến hòa bình”; “diễn biến hòa bình” là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “kết quả lôgíc”, hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt kết quả khi gắn liền với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trong tình hình mới./.

T3.

 

 

Một số kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Kinh nghiệm thứ nhất, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân ở các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, xác định là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Đây là mặt trận tư tưởng mang ý nghĩa quyết định nhất đối với việc đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Kinh nghiệm thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng cầm quyền thật sư đoàn kết, thống nhất, trong sạch vững mạnh là nhân tố quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ ba, xây dựng mối quan hệ máu thịt hữu cơ sống còn giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ tư, nền kinh tế đất nước ổn định, phát triển bền vững là sức đề kháng tốt nhất của xã hội trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ năm, lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là công cụ sắc bén chuyên chính có hiệu quả với kẻ thù trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bao loạn lật đổ, chống phá Việt Nam./.

T3.