Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 17/6 :
Đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa chính trị
Đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa chính trị
Xét cho cùng, đạo đức là cái “gốc”, nền tảng của đạo làm người,
làm cán bộ của cán bộ, đảng viên. Trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 50 năm thực hiện
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 50 năm Ngày mất của Người, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, những chỉ dạy của Người về đạo đức cách mạng
“là sự tổng kết sâu sắc về lý luận, vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc để giữ vững
và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, sức chiến đấu của tổ chức đảng, của đội
ngũ cán bộ, đảng viên, tạo nên sức mạnh quy tụ lực lượng, củng cố và nâng cao
niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng”.
Từ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tấm gương sáng ngời, mẫu mực và cao đẹp về đạo đức cách mạng của Người, từ
bản chất của một đảng cộng sản chân chính và cách mạng, Tổng Bí thư đã chỉ rõ,
phải tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ,
đảng viên theo phương châm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.
Trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020), Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Làm theo chỉ dẫn của
Bác về “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, chúng ta cần
kiên quyết, kiên trì và tích cực làm trong sạch đội ngũ của Đảng, ngăn chặn và
đẩy lùi tệ tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
cán bộ, đảng viên, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Mỗi
cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức
vụ càng cao, cương vị càng lớn, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị
trong Đảng và trong bộ máy chính quyền lại càng phải gương mẫu trong tu dưỡng,
rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để
quần chúng, nhân dân noi theo, như lời Bác dạy: “một tấm gương sống còn có giá
trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Xây dựng Đảng về đạo đức được Tổng Bí thư phát triển lên một
tầm cao mới, yêu cầu mới và đặt trong mối quan hệ với xây dựng văn hóa Đảng,
văn hóa chính trị. Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực
hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12/6/2021, Tổng Bí thư chỉ rõ, tiếp
tục “đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở
thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hóa tinh thần trong Đảng, tạo dấu ấn
rõ rệt về xây dựng văn hóa đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.
Nội dung xây dựng văn hóa đảng, văn hóa chính trị được Tổng Bí thư đề cập trong
nhiều bài viết, bài phát biểu với những yêu cầu như: chú trọng mối quan hệ giữa
văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong
hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo
đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng Đảng
và hệ thống chính trị về văn hóa, đạo đức; kiên quyết đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, để Đảng ta và hệ thống chính trị của nước ta thật sự là đạo
đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tri và phẩm giá con người Việt Nam. Xây dựng
văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo
của Đảng; hiệu quả quản lý của Nhà nước; sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong sự nghiệp phát triển văn
hóa.
Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Cùng với việc quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII
và các văn bản của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp
cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau đây:
Một là, phải tiếp tục nhận thức thật sâu sắc và đầy đủ
hơn nữa vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật
đảng; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban
kiểm tra các cấp. Kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức lãnh đạo của
Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng; lãnh đạo mà
không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng
trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật
của Đảng. Kiểm tra, giám sát là “thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương” trong
bộ máy đảng và hệ thống chính trị.
Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng tăng cường trách nhiệm, đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật
đảng. Tập trung hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát đối với công tác cán bộ,
thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham ô, lãng phí, lợi ích nhóm. Tăng cường
phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra,
truy tố, xét xử của Nhà nước. Có cơ chế phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị - xã hội, truyền thông, báo chí và nhân dân đối với công
tác kiểm tra, giám sát.
Ba là, công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến
hành thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng và chặt chẽ, trong
đó lấy cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn là chính. Phải giữ vững các nguyên tắc của
Đảng, coi trọng chứng cứ, không suy diễn, không áp đặt, không thành kiến, thực
hiện đúng phương châm “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”. Kết hợp chặt
chẽ giữa xây và chống; xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài; chống là nhiệm
vụ quan trọng, cấp bách.
Bên cạnh việc phát huy hiệu quả công tác kiểm tra khi có dấu
hiệu vi phạm, cần tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm tra chấp hành và
công tác giám sát. Đây là việc làm thường xuyên, có tính phòng ngừa, kịp thời
nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục
đích “trị bệnh cứu người”, giữ được cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ
có biểu hiện tham nhũng; bị phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Kiên quyết
xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong công tác cán bộ. Tập
trung chỉ đạo kiểm tra những nơi có vấn đề phức tạp, dư luận quan tâm, các lĩnh
vực, địa bàn dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng.
Khi đã phát hiện có dấu hiệu vi phạm phải kịp thời kiểm tra,
xem xét, giải quyết dứt điểm; kết luận rõ ràng, minh bạch; xử lý phải công tâm,
khách quan; việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh và công khai kết quả xử lý trên
các phương tiện thông tin đại chúng để góp phần giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh,
ngăn ngừa vi phạm.
Bốn là, các cấp ủy, nhất là người đứng đầu, phải tổ
chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng theo chức
năng, nhiệm vụ và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng
cấp dưới thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn trong công tác kiểm tra, giám
sát ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Khắc phục cho được tình trạng nể nang,
né tránh, ngại va chạm trong công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban Kiểm tra Trung
ương tăng cường chỉ đạo ủy ban kiểm tra cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám
sát, thi hành kỷ luật đảng; tránh tình trạng “trông chờ, nghe ngóng”, “nhẹ
trên, nặng dưới” hoặc bao che sai phạm của các địa phương, cơ quan, đơn vị.
Năm là, phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm
tra đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới với các yêu cầu: có phẩm chất
đạo đức trong sáng, trong sạch, chí công vô tư, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn
những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân; cán bộ kiểm tra phải là
những chiến sĩ kiên cường, có bản lĩnh, nắm chắc các cơ chế, chính sách, Điều lệ
Đảng, các quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước; đặc biệt phải có dũng khí đấu
tranh, chính trực và hơn ai hết phải liêm khiết, trong sạch, giữ gìn phẩm chất,
đạo đức, tâm huyết, kiên quyết và trách nhiệm cao trong nghề nghiệp; phải thực
sự gương mẫu trong cuộc sống và công tác, thực sự công tâm, khách quan, đặt lợi
ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết.
Quán triệt quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Quán triệt quan điểm “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Một là, khơi dậy và phát huy mọi
nguồn lực, sức mạnh của nhân dân để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho
nhân dân
Xây dựng, phát triển đất nước phồn
vinh, thịnh vượng, bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân là khát vọng
ngàn đời của dân tộc ta. Chăm lo lợi ích và phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân
là “mục đích thiêng liêng, lý tưởng cao cả” của Đảng và cũng là “động lực của
công cuộc đổi mới đất nước”. “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
“con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện” là một trong những đặc trưng bản chất của xã hội XHCN mà chúng ta hướng đến.
Do đó, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta không lấy lợi nhuận của một
thiếu số dựa trên sự chiếm đoạt lợi ích cộng đồng làm mục tiêu tối thượng,
không vì tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội.
Trái lại, phải gắn kết hài hòa kinh tế với văn hóa, xã hội và môi trường; bảo đảm
“mỗi chính sách kinh tế phải đi liền với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”,
đồng thời “mỗi chính sách xã hội phải tạo động lực để kinh tế phát triển bền vững”.
Trên tinh thần ấy, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển
là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên
phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng
xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới
các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt
cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”. Thời gian qua,
đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, song Đảng, Nhà nước
ta vẫn nhất quán khẳng định “bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết,
trước hết” và dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua
khó khăn của đại dịch. Điều đó thể hiện rõ tính nhân văn, tất cả vì con người,
vì nhân dân của chế độ ta, không ai có thể phủ nhận.
Để thực hiện mục tiêu và khát vọng
xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, phải dựa vào chính sức mạnh,
phát huy các nguồn lực to lớn của nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn:
“đem tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân”, vì “không có lực lượng nhân dân, thì
việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó
mấy, to mấy, làm cũng được”. Thực tiễn cũng đã chứng minh, nhờ phát huy được
nguồn lực và sức mạnh to lớn của nhân dân mà công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều
thành tựu, lập nên những kỳ tích, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc. Qua
35 năm đổi mới, đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên mọi lĩnh vực; quy
mô, chất lượng nền kinh tế không ngừng nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân đều được cải thiện rõ rệt; nước ta trở thành điểm sáng trong hoàn
thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, được bạn bè quốc tế ca ngợi.
Nhìn lại thực trạng nền kinh tế -
xã hội của đất nước những năm trước đổi mới, với nền kinh tế lạc hậu, thấp kém,
đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, thách thức, “nhiều nhu cầu chính đáng
tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa chưa được bảo đảm”,
“công bằng xã hội bị vi phạm”... chúng ta càng tự hào và thấy rõ ý nghĩa lớn
lao của những thành quả mà đất nước ta, nhân dân ta bằng ý chí, nỗ lực, quyết
tâm để đạt được. Vì thế, “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng:
Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như
ngày nay”.
Thực tế đó góp phần củng cố niềm
tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, tạo động lực, khí thế
mới, cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước
phồn vinh, hạnh phúc” và cống hiến vì sự cường thịnh, trường tồn của dân tộc.
Tuy nhiên, các nguồn lực và tiềm năng sáng tạo của nhân dân chưa thực sự được
khai thác và phát huy hiệu quả, đời sống của một bộ phận nhân dân chưa hết khó
khăn. Vì vậy, một trong những đòi hỏi bức thiết là phải “Tập trung khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần
đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc.
Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi
người dân Việt Nam”.
Hai là, dựa vào nhân dân để xây
dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; thực hành dân
chủ, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
Sinh thời, V.I.Lênin từng cảnh
báo: “Đối với đảng cộng sản..., thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng
sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(9). Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng căn dặn, Đảng Cộng sản Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phấn
đấu”, và “ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào
khác”. Do đó, “phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là: hết lòng ra sức
phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên
hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết
thành một khối”.
Tiếp nối tinh thần ấy, đồng thời
trên cơ sở tổng kết các bài học thành công và chưa thành công từ thực tiễn,
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng
phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của
Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân
dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế
độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”. Vì thế, phải “Thường xuyên tăng cường mối
quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân
và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”, đồng thời “Lấy kết quả công việc, sự
hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng
tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.
Thực tiễn đã chứng minh, mối liên
hệ gắn bó máu thịt với nhân dân là truyền thống của Đảng ta. Chính nhân dân tạo
nên sức mạnh của Đảng, cùng Đảng làm nên những kỳ tích lịch sử. Trong những năm
đổi mới, việc đối thoại, lắng nghe tâm nguyện của nhân dân được coi trọng; những
nguyện vọng, kiến nghị, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nhiều vấn đề bức xúc của
nhân dân được giải quyết kịp thời đã góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ
chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng
không ngừng được phát huy.
Quan điểm “dân là gốc” cũng được
quán triệt trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ
hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện. Bằng chứng thực tế là, Quốc hội
“thực sự là cơ quan quyền lực, đại biểu cao nhất của nhân dân”; nền hành chính
nhà nước ngày càng “chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai,
minh bạch, dân chủ, vì dân”; nền tư pháp không ngừng hướng đến “công bằng,
nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa từng bước được hiện thực hóa, quyền làm chủ của nhân dân được phát
huy; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đi vào thực chất
và vận hành hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh mới hiện nay, một
trong những nhiệm vụ và yêu cầu bức thiết đặt ra là phải tiếp tục thực hành dân
chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng
củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tăng cường đồng thuận xã hội.
Do đó, phải “có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới” và không ngừng “thắt
chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”.
Ba là, dựa vào nhân dân để bảo
vệ thành quả của công cuộc đổi mới, vì cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân
dân
Dựng nước đi đôi với giữ nước là
quy luật của sự hình thành, phát triển dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH gắn liền
với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của cách mạng
nước ta hiện nay. Tạo lập căn cứ vững chắc trong lòng dân, xây dựng lực lượng
quân sự hùng hậu bằng sức mạnh của nhân dân; lấy làng xã làm pháo đài, dựa vào
dân để chiến đấu là một trong những nghệ thuật quân sự đặc sắc, là cách thức
xây dựng quân đội để bảo vệ Tổ quốc rất hiệu quả của người Việt từ xưa đến nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, sự đồng lòng của nhân dân sẽ “đúc thành một bức
tường đồng” vững chắc, mà bất cứ kẻ địch nào đụng phải đều cam chịu thất bại. Từ
truyền thống lịch sử và thực tiễn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định,
quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Do đó, phải chú trọng
củng cố “thế trận lòng dân” một cách vững chắc trên nền tảng của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội. Văn kiện Đại hội XIII xác định: Xây dựng
“thế trận lòng dân”, kết hợp với xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân và thế
trận an ninh nhân dân” vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.
Thực tiễn những năm qua đã chứng
minh một cách hùng hồn, “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh, quyết định sự thành bại
của công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả xây dựng đất nước, giữ vững độc lập,
chủ quyền quốc gia. Tin vào dân, quy tụ được lòng dân, khơi dậy và phát huy sức
mạnh toàn dân tộc là nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; phát huy mạnh mẽ “thế trận
lòng dân”.
Trước bối cảnh trong nước và quốc
tế nhiều biến động rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo hiện nay, để xử lý tốt
các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, giữ vững “chủ quyền
số quốc gia trên không gian mạng”, tạo “vành đai an ninh”, ngăn ngừa từ sớm, từ
xa các nguy cơ gây bất ổn xã hội, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” để không
bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cùng những
thành quả của công cuộc đổi mới, thì còn phải dựa vào nhân dân, khai thác mọi
nguồn lực trong dân, phát huy tiềm năng, sức mạnh toàn dân tộc. Đó là “nhiệm vụ
trọng yếu, thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị. Mặt
khác, phải dựa vào dân để “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” với ba
trụ cột là “đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”, tạo nên
thế trận liên hoàn, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ cuộc sống yên bình, hạnh phúc của
nhân dân.
NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM LÀ XUYÊN TẠC, ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã
xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung
và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của
Người, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý
giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng
và nhân dân ta”. Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói
chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Thời
gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá
nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư
tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh
không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”;
“Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã
hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải
quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu
xuyên tạc này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai
cấp
Luận
điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ
rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt
nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình
thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành
lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở
thành dân tộc. Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu
thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các
nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách
mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở
hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng
cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp
không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết
triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách
mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho
sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và
đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới.
Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc
trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều
này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính
lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự
ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo.
Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt
động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khi
phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một
nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự
phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên
hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân
tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến
diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ
giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu
tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước
mình như thế nào để làm cho đúng”.
Thực
tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa
Mác - Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam.
Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ
nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển
cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng
hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.
Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã
cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết
hợp được Chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã
thu được nhiều thắng lợi trong công tác”, và sự thật là thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.
Thực
tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập
giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ
giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con
người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng
Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau,
điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác
nhau.
Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận
Mác-Lê nin
Một
trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động,
cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với
phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ
nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử,
chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì
vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí
Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).
Việc
đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ
định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của
Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm
toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của
sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” .
Sự
khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa
Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người,
cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ
nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh
không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào
giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách
mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ
thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).
Đối
lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô
căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí
Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục
tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc
cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản,
nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc
vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.
Chính
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện
thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng
Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào
sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới,
qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của
Chủ nghĩa Mác-Lênin.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SUY DIỄN VỀ TÌNH HÌNH TỰ DO BÁO CHÍ Ở NƯỚC TA.
Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).
Ngày 3/5/2022, tổ chức
RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự
do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp
Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của
Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng
176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170.
Trong bảng xếp hạng này,
RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ
chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp
hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang.
Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng
cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam
được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”.
Đây không phải lần đầu
tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và
có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn
lại”, mục đính nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự
do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế.
Nhiều quốc gia trên thế
giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích
động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí
của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do
báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các
chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức
này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không
cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng
biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt
động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc
được suy diễn, phóng đại.
Việc RSF xếp loại tự do
báo chí ở Việt Nam thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản
động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam
cung cấp. Chính vì vậy, tổ chức này tìm cách bênh vực cho những đối tượng khoác
áo, mượn danh nhà báo như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”…
Họ cố ý khoác áo nhà báo, ca ngợi, tán dương cho những kẻ hoạt động chống phá
Việt Nam.
Những thông tin mà “Bảng
xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2022 của RSF là không khách quan,
sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế,
trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền
tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp,
cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất
cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.
Chúng
ta thấy rõ, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội,
trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm,
phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn
luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của
mọi công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện
các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí
và quyền hưởng thụ thông tin của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống
theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn
kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 11,
Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ quyền của công dân: “Phát biểu ý kiến về tình hình
đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến
nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.
Quyền tự do báo chí, quyền
tự do ngôn luận báo chí của công dân bao gồm: Quyền sáng tác tác phẩm báo chí;
cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông
tin báo chí; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, phê phán, kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức cá nhân khác. Nghĩa vụ của cá
nhân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí cũng được
Luật Báo chí 2016 quy định: Không được đăng phát thông tin xuyên tạc, phủ nhận
chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch
sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin
sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự,
nhân phẩm của cá nhân… Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn song hành,
không tách rời nhau; mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do báo chí, quyền tự
do ngôn luận báo chí, đồng thời đều phải có nghĩa vụ thực hiện quyền ấy trong
khuôn khổ pháp luật.
Tự do báo chí không thể
vượt quá hạn định, không phải là tự do quá trớn, càng không phải muốn nói gì
thì nói, viết gì thì viết, làm gì thì làm theo ý muốn chủ quan của chủ thể.
Cũng như bất kỳ các quốc gia trên thế giới, một mặt, Nhà nước ta tạo điều kiện
thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên
báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, không ai được
lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Ở Việt Nam, không ai bị
xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những
đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật như tung
tin giả, tin xấu độc, xuyên tạc, vu cáo hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây
mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… thì bị
xử lý theo pháp luật.
Theo Bộ Thông tin và
Truyền thông, hiện Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động
trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí,
25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát
thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Chất
lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao
hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng
Internet. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN,
BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… dễ dàng được tiếp cận tại
Việt Nam.
Rõ ràng, nội dung đánh
giá của RSF vẫn tiếp tục phớt lờ thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí ở Việt Nam. Càng ngày, RSF càng lộ rõ bản chất định kiến với Việt
Nam, cố tình phủ nhận những nỗ lực, thành tựu đạt được của Đảng, Nhà nước ta
trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG
Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại mang tính tất yếu và khách quan trong xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực; người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng để tham nhũng, thu về những lợi ích bất chính.
Tham nhũng chính là trở
ngại lớn đối với sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; làm giảm
niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, Đảng viên, Đảng và Nhà
nước ta. Về lâu dài, điều này đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó,
công tác phòng, chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng mang mục đích
giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của quần
chúng nhân dân đối với giai cấp cầm quyền. Không nằm ngoài xu hướng vận động
trên, công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta cũng theo quy
luật tất yếu để giữ vững, đảm bảo sự tồn vong của chế độ, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thời gian
qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước
thường xuyên đưa các thông tin, luận điệu về công cuộc đấu tranh phòng chống
tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bóp méo về công tác
phòng chống tham nhũng của Đảng ta là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe
cánh” và nguồn gốc của tham nhũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta. Không
dừng lại ở đó, chúng còn đưa ra các kết luận vô căn cứ như: Đảng Cộng sản Việt
Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; tham nhũng hay
tình trạng tham nhũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam là “căn bệnh nan y không có
thuốc chữa”; nguyên nhân tất yếu và nguồn cơn của của tham nhũng là do Đảng ta
là chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền và kiểm soát quyền lực trong công tác cán
bộ …
Thủ đoạn của các thế lực
thù địch là hết sức thâm hiểm, chẳng hạn: Khi chúng ta xử lý kỷ luật một số cán
bộ Đảng viên liên quan đến tham nhũng nhưng chưa áp dụng xử lý theo quy định
của pháp luật Hình sự thì một số trang mạng cho rằng đây là kiểu “kỷ luật mềm”,
chỉ là cái cớ chứ sự thực “Đảng vẫn bao che, dung túng”. Đến khi chúng ta xử lý
hình sự những cán bộ, Đảng viên này thì chính những trang mạng này lại quay
ngoắt ngòi bút phi nghĩa theo dã tâm của chúng và cho rằng đây là cuộc “đấu đá
nội bộ” hay “thanh trừng phe cánh”. Âm mưu của các thế lực thù địch là rất tàn
độc, để đạt được mục đích, chúng thay đổi luận điệu để đánh vào tâm lý, lòng
tin của quần chúng nhân dân làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với
Đảng và Nhà nước ta.
Mục đích của chúng là
chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, làm
giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng từ đó tạo điều kiện để chúng
thực hiện mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng ; phủ
định giá trị lịch sử và thành quả cách mạng của dân tộc ta…
Cần phải khẳng định
rằng: Tham nhũng không chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh
đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng
là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó,
“phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân
lập”. Đồng thời, việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công
tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện
nay là tính tất yếu, khách quan dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng,
đầy đủ. Bởi lẽ, nếu Đảng không kiểm soát được quyền lực thì sẽ dẫn đến hậu quả
hết sức khôn lường, tình trạng “tha hóa quyền lực” và lạm dụng quyền lực sẽ là
nguồn cơn của vấn đề tham nhũng. Nếu để tình trạng này xảy ra sẽ tạo ra một đội
ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục rỗng hệ thống chính trị, về lâu dài nó
sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Trong những năm qua,
công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta được thực hiện rất quyết tâm, mạnh
mẽ để làm trong sạch Đảng ta. Điều này thể hiện rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII:
“Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng;
“kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm
chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Các quan
điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng
còn được đề cập trong các Văn kiện và được cụ thể hóa trong: Cương lĩnh, Nghị
quyết, Chỉ thị, Kết luận… đây là cơ sở chính trị trong công tác phòng chống
tham nhũng.
Điều này được thể hiện
ngay trong đạo luật cơ bản của chúng ta. Cụ thể: Khoản 2, Điều 8 Hiến pháp 2013
đã nêu rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải…kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa
quyền”. Không những thế, Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của
Đảng thành Luật, Nghị định, Thông tư… tạo thành hành lang pháp lý vững chắc và
chế tài nghiêm khắc để “không thể tham nhũng”, cơ chế răn đe để “không giám
tham nhũng” và cơ chế để “không cần tham nhũng”.
Công tác phòng, chống
tham nhũng hiện nay là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc
quyền” đối với bất kỳ ai. Do đó, với quan điểm trên, luận điệu xuyên tạc:
“Phòng chống tham nhũng là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không
thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”… là hoàn toàn vô căn cứ.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO SỰ THẬT VỀ NGÀY CHIẾN THẮNG 9/5
Đối với những người Nga và các dân tộc thuộc Liên Xô, ngày 9-5 vẫn là một trong những ngày kỷ niệm quan trọng, tượng trưng cho sự đóng góp chung vào cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít.
Thật đáng tiếc, trong
những năm gần đây, ở một số quốc gia, vì lợi ích của tình hình chính trị mà người
ta nghi ngờ về sự đóng góp quyết định của Liên Xô nhằm giải phóng thế giới khỏi
“bệnh dịch hạch nâu”. Họ kiên trì theo đuổi luận điểm về trách nhiệm ngang nhau
của Liên Xô và Đức Quốc xã vì đã khơi mào cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và
những hậu quả khủng khiếp của nó.
Tất nhiên, những khẳng
định như vậy có thể minh chứng cho sự thiếu hiểu biết các sự thật lịch sử, hoặc
ý định bóp méo chúng. Vì vậy, câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Đức, một quốc gia
châu Âu có quy mô trung bình lại liều lĩnh tấn công Liên Xô - quốc gia vượt xa
họ về lãnh thổ và dân số? Đâu là nguyên nhân trong quyết định tương ứng của
giới lãnh đạo phát xít Đức?
Điều quan trọng cần hiểu
là vào năm 1941, quân đội Đức Quốc xã đã kiểm soát hầu như toàn bộ lục địa châu
Âu và trong khuôn khổ khái niệm “mở rộng không gian sống cho quốc gia Đức”,
giới lãnh đạo Đệ tam Đế chế đã ấp ủ kế hoạch bành trướng hơn nữa.
Tiềm lực công nghiệp
đáng kể của các quốc gia bị chiếm đóng đã được huy động cho nhu cầu của quân
đội. Vào thời điểm đó, quân đội Đức Quốc xã (Wehrmacht) có lẽ là đội quân
tốt nhất, có kinh nghiệm tác chiến và đội ngũ chỉ huy chuyên nghiệp cao. Trong
xã hội Đức, tư tưởng phục thù trỗi dậy rất mạnh mẽ sau thất bại trong Chiến
tranh thế giới thứ nhất và sự ủng hộ những ý định xâm lược của giới lãnh đạo
Đức Quốc xã.
Về phần mình, Liên Xô
trên thực tế chỉ mới bắt đầu vào con đường phát triển công nghiệp. Đất nước
buộc phải khắc phục hậu quả tàn khốc của cuộc nội chiến, kéo theo đó là những
thiệt hại về vật chất và con người, thiếu hụt nhân lực có trình độ và năng lực
sản xuất. Về mặt công nghệ, các quốc gia thuộc thế giới phương Tây đã đi trước
rất xa. Ở một số lĩnh vực, Liên Xô tụt hậu ước tính tới 50 năm và cần rút ngắn
khoảng cách này trong thời gian ngắn.
Với
mục đích đó, Liên Xô đã triển khai xây dựng quy mô lớn các nhà máy và xí
nghiệp, đường sắt và đường bộ, thăm dò và phát triển các mỏ khoáng sản, mua và
triển khai các thiết bị hiện đại, đào tạo hàng loạt kỹ sư và chuyên gia kỹ
thuật. Nhận thấy nguy cơ xảy ra va chạm với Đức, Ban lãnh đạo Liên Xô đã nhanh
chóng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hy vọng có thể tránh được chiến
tranh bằng cách thực hiện các bước đi mạnh mẽ trên mặt trận chính sách đối
ngoại. Tuy nhiên, những nỗ lực thành lập liên minh chống Adolf Hitler trong
giai đoạn trước chiến tranh đã không thành công vì ngoại giao phương Tây đã làm
mọi cách để hướng nguyện vọng quân sự của Adolf Hitler sang phương Đông.
Ngày 22-6-1941, quân
đội Đức Quốc xã đã xâm lược lãnh thổ Liên Xô. Kế hoạch “Ost” được
phát triển ở Berlin, dự tính đánh bại nhanh chóng Hồng quân, hủy hoại vật chất,
phần lớn dân cư và biến những người còn lại thành nô lệ để phục vụ nhu cầu của
“quốc gia Đức vĩ đại”. Nhân dân Liên Xô không thể lường trước được hậu quả
khủng khiếp của cuộc chiến nếu nó được tiến hành. Nhưng vấn đề thực tế khi ấy
là sự sống còn. Đó là lý do tại sao tất cả nguồn lực có thể đã được huy động
cho cuộc chiến dưới khẩu hiệu nổi tiếng: “Tất cả cho mặt trận, tất cả cho chiến
thắng!”.
Trong 3 năm dài, Liên Xô
đã đơn độc chống lại cỗ máy chiến tranh khổng lồ của Wehrmacht. Và chỉ khi có
triển vọng về thất bại không thể tránh khỏi của Đức Quốc xã mới thúc đẩy các
đồng minh phương Tây mở mặt trận thứ hai. Sau đó là chiến thắng năm 1945 và sự
sụp đổ của hệ thống thuộc địa thế giới ở châu Á và châu Phi, dẫn đến sự xuất
hiện của các quốc gia độc lập mới trên bản đồ thế giới và mở ra một trang mới
trong lịch sử nhân loại.
77 năm đã trôi qua kể từ
khi hệ tư tưởng của chủ nghĩa quốc xã bị lật đổ, nhưng nó không biến mất. Các
biểu hiện của nó ngày càng trở nên dễ nhận thấy ở một số quốc gia. Điều này
được thể hiện qua việc cố ý viết lại lịch sử, bóp méo sự thật về các sự kiện
trong những năm trước đây, xúc phạm và phá hủy các tượng đài kỷ niệm những
người lính Xô viết đã hy sinh trong các trận chiến giải phóng châu Âu, đồng
thời tôn vinh các cựu binh SS (cựu binh của Đức Quốc xã) và những người đã cộng
tác với Đức Quốc xã. Đây là những điều tuyệt đối không thể chấp nhận được, cho
dù đó là lý lẽ biện minh nào đi chăng nữa.
Nước Nga dự định tiếp
tục lưu giữ ký ức về chiến công của nhân dân Liên Xô, về đóng góp quyết định
của họ trong cuộc chiến chống “bệnh dịch hạch nâu” và những hy sinh to lớn mà
Liên Xô phải gánh chịu trong cuộc chiến này.
Điều quan trọng là không
cho phép lặp lại các tình huống dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai và cố gắng
tránh những thảm kịch tương tự trong tương lai. Chừng nào ký ức về chiến thắng
năm 1945 còn sống, nhân loại còn có hy vọng không lặp lại những sai lầm của quá
khứ.
NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM “ĐẢNG KHÔNG NÊN LÃNH ĐẠO KINH TẾ”
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.
Từ lúc chuẩn bị Đại hội
XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh
đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong
phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...
Hai năm gần đây, do ảnh
hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản
Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các
mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc
hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh
tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản
lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi
dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.
Thực tiễn đã khẳng định
kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và
chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào
không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện
tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.
Kinh tế quyết định chính
trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế,
mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát
triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát
triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.
Các đảng lớn của các
nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã
hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có
đường lối phát triển kinh tế.
Thực tiễn tại Việt Nam
trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân
tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh
vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh
đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông
lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.
Nhờ chú trọng lãnh đạo
kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo
kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành
công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35
năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo.
Thực tiễn đã trả lời rõ
ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực
tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo
kinh tế” là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu
tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.
NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC
Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc và phủ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Bên cạnh các tài liệu, văn bản phát tán trái phép, họ đã tận dụng triệt để sự phát triển của công nghệ số mà điển hình là dùng Internet để chống phá. Thông qua một số website, các mạng xã hội, các ứng dụng (app) chạy trên nền tảng điện thoại thông minh…, các thế lực thù địch đã tăng cường xuyên tạc, bóp méo về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam.
Có
thể nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái xuyên tạc và phủ nhận về hòa
hợp dân tộc qua các nhóm vấn đề sau:
Thứ
nhất, các thế lực chống đối và
thù địch cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự vì xã
hội Việt Nam luôn có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc người với
nhau, đặc biệt là mâu thuẫn giữa người Kinh và các dân tộc thiểu
số, giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc...
Đặc
điểm chung của các bài viết này là đưa ra những những
nhận định, những quan điểm hồ đồ và hết sức phiến diện, kiểu như “Chúng ta cần
hòa giải giữa các sắc tộc thiểu số và người Kinh. Chúng ta cần hòa giải giữa
người Nam và người Bắc. Chúng ta cần hòa giải giữa người Công giáo và phần còn
lại của dân tộc, nhất là với Phật giáo. Chúng ta cần hòa giải giữa cộng đồng
người Việt hải ngoại với đất nước...”; “vấn đề hoà giải, hoà hợp vẫn còn
nhức nhối”, “có lẽ dân tộc Việt Nam sẽ cần đến 50 năm nữa mới có thể chữa
lành”; “hòa giải và hòa hợp dân tộc vẫn chưa thực hiện được tại Việt Nam”…
Thứ
hai, họ cho rằng các chính sách,
luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”,
“con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không có thiện chí trong quá
trình hòa hợp dân tộc.
Với quan điểm này, họ đưa ra những bài viết cực đoan
để phủ nhận chính sách, pháp luật về hòa giải, hòa hợp dân tộc cũng
như luôn nghi ngờ về thiện chí của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta. Ngụy biện hơn, họ rêu rao rằng: “đa số người dân cả trong
và ngoài nước đều cho rằng không thể có hòa hợp, hòa giải với chính sách hiện
nay của chính phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản...”.
Thứ
ba, họ tự nhận mình là “người đại
diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền đề xuất cho cái gọi là
“phương cách hòa hợp”.
Để
cổ súy cho luận điệu này, trên một số website hải ngoại, với những bài
viết công kích, xuyên tạc, các thế lực chống đối và thù địch cho rằng chỉ có họ
mới có thể đưa ra cách hiểu đúng cho hòa giải, hòa hợp dân tộc: “Hòa
giải và hòa hợp dân tộc cũng là một trong ba lập trường căn bản của tập
hợp dân chủ đa nguyên” và vu khống: “có sự thiếu tin tưởng vào thực tâm và
thiện chí muốn hòa giải của các bên”... Những người này cũng tự huyễn
hoặc cho mình cái quyền “đại diện” để đề ra “phương cách song phương và
đơn phương” để tiến hành hòa giải hòa hợp. Theo đó, “phương cách song phương” là “đại diện
hai bên Việt Nam và Việt Quốc ngồi lại với nhau để cùng giải quyết mâu thuẫn
căn bản”; còn “Phương cách đơn phương” là yêu cầu đảng và nhà cầm
quyền Việt Nam hiện nay phải “thực tâm, có thiện chí” ...
Thứ tư,
lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, dễ truy cập của mạng Internet, các thế lực
chống đối và thù địch đã thường xuyên dẫn lại, cố tình chỉnh
sửa các thông tin một cách bừa bãi mà không có và không cần
nguồn kiểm chứng nhằm phá hoại, xuyên tạc. Theo số liệu thống kê, các
thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ
báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66
nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam…”
Thứ
năm, họ cho rằng Đảng và
Nhà nước Việt Nam vẫn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn
hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Vì thế vẫn chưa có sự
hòa giải, hòa hợp dân tộc.
Để
minh họa cho luận điệu trên, các thế lực chống đối và thù địch cố tình căn cứ
vào một số quy định mà Đảng và Nhà nước ta ban hành trong giai đoạn 1975-1985
và chủ ý lờ đi những đổi mới trong lý luận và thực tiễn, cũng như những thành
tựu từ 1986 đến nay, từ đó khẳng định: hiện nay Việt Nam vẫn cấm đoán và hạn
chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn
1954-1975...
Khép
lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp là quan điểm hòa hợp, hòa giải
nhân văn của bất cứ quốc gia tiến bộ nào trên thế giới. Với tư cách là một quốc
gia có độc lập chủ quyền, có luật pháp và có vị thế quan trọng trên
chính trường quốc tế, Việt Nam đã và đang làm tốt công tác hòa hợp dân tộc, góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, hòa hợp không đồng nghĩa
với xuyên tạc lịch sử, với vi phạm pháp luật. Chúng ta dang rộng vòng tay
chào đón mọi người con Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới trở về trong hòa
bình, trở về với tâm thế xây dựng đất nước... nhưng chúng ta cũng cương
quyết không chào đón, thậm chí phải loại bỏ những kẻ cơ hội, trở về nhằm mục
đích chia rẽ, phạm pháp và phá hoại đoàn kết dân tộc./.
NHẬN DIỆN NHỮNG ÂM MƯU NHẰM CHIA RẼ MỐI QUAN HỆ GẮN BÓ MẬT THIẾT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN
Trải qua 92 năm xây dựng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là phương châm hành động, là nhiệm vụ trọng yếu và là bài học kinh nghiệm mang lại sức mạnh vô địch cho Đảng, cội nguồn mọi thắng lợi của cách mạng. Song cũng từ đây, mối quan hệ này luôn bị các lực lượng thù địch tấn công phá hoại, chia rẽ, với nhiều thủ đoạn, trong đó có việc tung tin, lan truyền các quan điểm sai trái, thù địch. Có thể nhận diện ở 3 nhóm cơ bản sau:
Một là, nhóm những
kẻ đang đại diện cho tư tưởng tư sản, cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chúng là những kẻ từng thất bại thảm hại trong chiến tranh với
Việt Nam, song không từ bỏ âm mưu phá hoại sự nghiệp cách mạng XHCN của nhân
dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân là tách người lãnh đạo với lực lượng
cách mạng, là phương thức nhằm vô hiệu hóa vai trò của Đảng, làm tê liệt sức mạnh
quần chúng. Âm mưu, thủ đoạn của chúng được thể hiện trong Chiến lược “Diễn
biến hòa bình”, từng chỉ là một kế hoạch nhằm chống lại những
người đứng đầu và những quốc gia chống Mỹ hoặc không theo Mỹ sau Chiến tranh
thế giới thứ II. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, với những “thành công” của kế
hoạch ấy, “diễn biến hòa bình” được nâng tầm chiến lược, tấn công
vào mọi thể chế chính trị trên thế giới, trên tất cả các lĩnh vực, với mục tiêu
đánh đổ các thể chế cộng sản, dập tắt ý chí, sức mạnh của các lực lượng yêu
chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định vị thế độc tôn, cường quốc, trên hết
của nước Mỹ... Trên lĩnh vực tư tưởng, “Diễn biến hòa bình” khoét sâu mâu thuẫn
giữa đảng cầm quyền, bộ máy nhà nước, cá nhân những người đứng đầu đảng, chính
phủ với nhân dân trong các nước có tư tưởng chống Mỹ. Và chúng đã thành công ở
nhiều nơi, gây sụp đổ hệ thống các nước XHCN ở Liên Xô, Đông Âu và bất ổn chính
trị triền miên ở rất nhiều quốc gia đang phát triển... Nhưng chúng đã và đang
thất bại ở Việt Nam. Vì lẽ đó, tiếp tục tập trung, bằng mọi thủ đoạn, để phá vỡ
mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện là mũi tấn
công mạnh mẽ mà các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện.
Hai là, nhóm những
kẻ lựa chọn con đường đi ngược lại với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chúng là người Việt Nam, nhưng lại chọn “ôm chân đế quốc”; trong
chiến tranh thì cầm súng chống lại đồng bào, trong hòa bình thì làm công cụ đắc
lực cho “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ... Một bộ phận từng làm việc
trong bộ máy chính quyền ngụy Sài Gòn, được người Mỹ nuôi dưỡng để phục vụ
chiến tranh Việt Nam, sau ngày 30/4/1975 thì bỏ Tổ quốc ra đi. Trong đó, một số
vì nuối tiếc lợi ích ngày xưa mà “uất hận”, muốn “phục quốc”. Một số nhận thức
hạn chế, thiếu thức thời, bị bọn mưu “phục quốc” lừa gạt tham gia vào các tổ
chức phản động, hoặc ủng hộ tiền của cho chúng.
Những kẻ mưu “phục quốc”
được hưởng lợi rất nhiều từ nguồn lực tài chính của Chiến lược “Diễn biến hòa
bình” để lập ra các tổ chức chính trị phản động. Chúng hoạt động ở nước ngoài,
với danh nghĩa là các tổ chức dân sự, lồng mục tiêu chính trị vào các tổ chức
văn hóa, giáo dục, kinh tế phi chính phủ (NGO). Chúng bí mật tổ chức đưa người
về Việt Nam, thực hiện các hoạt động xây dựng lực lượng, lôi kéo, kích động
quần chúng gây bất ổn xã hội, rồi tung tin Đảng, chính quyền đàn áp những người
dân đang “nói lên tiếng nói đòi quyền lợi của mình”. Chúng tham gia vào một số
dự án nhân đạo, dân sinh của NGO tại Việt Nam, tạo nên “tình cảm biết ơn” của
một bộ phận dân chúng, mà “công đầu” thuộc về các tổ chức phản động ấy
Ba là, nhóm những
kẻ trong chiến tranh thì hèn nhát, trong hòa bình thì lười biếng, có điều kiện
thì bán mình đổi lấy tiền tài, có cơ hội thì chui sâu, leo cao vào bộ máy Đảng,
Nhà nước để trục lợi. Khi
cơ chế thị trường được xác lập, chúng không nỗ lực lao động mà lợi dụng “mặt
trái”, “sân sau”, sẵn sàng “đi đêm” để mưu toan lợi ích.
Chúng còn là “một bộ
phận không nhỏ” trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước; có người từng vào sinh ra
tử, là anh hùng trong chiến đấu, lao động sản xuất, là cán bộ lãnh đạo, quản lý
các cấp, là nhà khoa học, chuyên gia có uy tín... Song vì nhiều lý do, chủ yếu
là bị chủ nghĩa cá nhân chi phối dẫn đến tha hóa, biến chất, rồi sa ngã, bị mua
chuộc, khống chế, lôi kéo... chống Đảng, Nhà nước, biểu hiện ra bên ngoài là
thái độ bất mãn với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đòi “lật lại”,
“xét lại” lịch sử dân tộc từ khi có Đảng...
Sự tồn tại của các lực lượng thù địch khi ẩn mình, lúc công khai, song tuyên
truyền để chống phá mối quan hệ Đảng - Dân trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội là mục tiêu thống nhất. Phương thức tuyên truyền khi theo chương
trình, kế hoạch, với các luận điểm bài bản, lúc theo lối xuyên tạc, “nói lấy
được”, phủ nhận sạch trơn, kích động, xúi giục gây hoang mang, nghi ngờ, mất
niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ mà Đảng đang lãnh đạo nhân
dân xây dựng. Khi hành động ra vẻ “trí thức góp ý cho Đảng” để “vì quyền lợi
của dân chúng”, lúc hô hào, kích động người dân bạo loạn, tấn công, đập phá trụ
sở, bắt giữ, thậm chí ra tay khủng bố, giết hại người của cơ quan công quyền;
khi núp sau lưng các chính trị gia trên diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam vi
phạm nhân quyền, lúc dàn hàng ngang một vài chục kẻ cầm cờ ba que, dương khẩu
hiệu chống cộng...
Nhận diện các thế lực
thù địch và các thủ đoạn chống phá, xây dựng luận cứ khoa học và thực hiện đồng
bộ các giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái chia rẽ, phá hoại
mối quan hệ mật thiết của Đảng với Nhân dân là trách nhiệm của toàn Đảng, của
cả hệ thống chính trị, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên và mỗi một
người dân.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ NÚP DƯỚI DẠNG KIẾN NGHỊ, ĐÒI HỎI PHẢI “ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Lịch sử diễn ra tại Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh
rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay
lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô
còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với
Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn
trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất
yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên
Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối
lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về chủ nghĩa xã hội (CNXH) không tưởng, không bao giờ thực hiện được.
Chúng cho rằng sự sụp đổ
của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo
chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù
hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và
cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc
Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là
nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm
đất nước nghèo nàn, lạc hậu…
Vị trí, vai trò lãnh
đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về
đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng
cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho
nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của
chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của
Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị
thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng
định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch
sử như các luận điệu chống phá.
ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU BẺ CONG LỊCH SỬ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Gần 50 năm trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tới nay vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ cố tình khoét sâu những vết thương chiến tranh, chia rẽ dân tộc, đưa ra các luận điệu bẻ cong lịch sử bởi những động cơ, ý đồ xấu, những mưu đồ lợi ích của bản thân và các nhóm chống đối. Hành động này không chỉ là việc xét lại lịch sử mà còn là sự phá hoại tương lai
Mỗi
dịp tháng tư về, một số cá nhân, nhóm người Việt Nam ở nước ngoài lại đưa ra
những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm như “tháng tư
là tháng “vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận - tháng tư đen”, hoặc đòi vinh
danh chế độ tay sai “Việt Nam Cộng hòa”, thậm chí là đòi chia đôi lại đất nước
giống như trước 1975. Một số đối tượng đưa lên mạng xã hội những quan điểm sai
trái, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta “thực chất chỉ là
nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng
tự hào”.
Đáng nói, một số người
dù đã được nhân dân nuôi dưỡng, trải qua những năm tháng chiến tranh, giờ đây
khi đã nghỉ hưu thì tự cho mình là người có quan điểm “cấp tiến”, tùy tiện phán
xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.
Tất cả những việc làm đó
hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, đối tượng hướng đến là giới trẻ, những
người sinh ra sau ngày 30/4/1975 vốn không phải trải qua những năm tháng chiến
tranh đau thương, mất mát để thấu hiểu ý nghĩa của độc lập, thống nhất và hòa
bình.
Ý đồ những luận điệu sai
trái này nhằm mang đến cách nhìn lệch lạc, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 và sự
nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá
đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển đất nước. Từ
đó, các đối tượng hướng lái vấn đề, quy trách nhiệm cho Đảng ta, con đường mà
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ
nhận chiến thắng của Nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân
tộc và CNXH mà Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng. Cách nhìn
của các đối tượng xấu muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa
mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
Thực tế lịch sử đã chỉ
rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam
cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng
chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế
quốc.
Chiến thắng 30/4/1975 là
sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông.
Khát vọng thống nhất non sông, bảo vệ chủ quyền đất nước là một sức mạnh vô
song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công
hiển hách, vĩ đại.
Quá khứ phải lùi lại,
lịch sử sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi
xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại,
càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như
vậy.
Gần
50 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống
nhất, thời gian càng lùi xa, chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam càng
nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy
đủ, sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này.
Nhân dân Việt Nam luôn
thiết tha, yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc, không
bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc,
cũng như nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà Nhân dân ta, cả hai
miền Nam - Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Bao thế hệ ông cha đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do, để hôm nay chúng
ta được sống trong hòa bình, tự do, mưu cầu hạnh phúc, bạn bè quốc tế đến làm ăn,
sinh sống, thăm thú trong thanh bình, cùng chung tay xây dựng một đất nước ngày
càng thể hiện cơ đồ, vị thế trên trường quốc tế.
Ai đó, vì bất cứ lý do
gì, có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết
toàn dân tộc là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và
chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
