Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. 

Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. 

Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. 

Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. 

Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. 

Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. 

Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.

Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. 

Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. 

Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân./.
Yêu nước ST.

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY NỀN DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM TA!

         Toàn bộ hoạt động của Đảng ta luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế, trên tất cả các lĩnh vực. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ bảo đảm quyền làm chủ thực tế của nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
     Quyền làm chủ thực tế của nhân dân lao động được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do nền tảng kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hóa xã hội chủ nghĩa quy định.
     Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Thực tiễn qua hơn 35 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Một trong những nguyên nhân hàng đầu làm nên những thắng lợi đó là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
     Nhận thức của Đảng ta về thực hành dân chủ ngày càng toàn diện và sâu sắc. Điều này thể hiện rõ hơn cả ở chỗ quyền công dân gắn với quyền con người được đề cao, tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, tích cực thực hiện các công ước quốc tế liên quan quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; coi trọng dân chủ ở cơ sở, coi trọng phản biện xã hội, đề cao thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Trải qua hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là mục tiêu và động lực của cách mạng. Đó cũng chính là bài học quý báu để Đảng ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
     Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch là mưu đồ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm xỏa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và “lái” nền dân chủ nước ta sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa. Cho nên, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị dân chủ ở Việt Nam. Đấu tranh với những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch và loại trừ chúng ra khỏi tiến trình xây dựng, phát triển đất nước ta./.




Môi trường ST.

Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay gắn chặt với nhiệm vụ phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Hiện nay, “các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, do đó, cuộc đấu tranh này ngày càng cam go, quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch không chỉ sử dụng internet, mạng xã hội, móc nối với các cá nhân, tổ chức trong nước, mà còn sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn mới, rất tinh vi nhằm kích động, lôi kéo sự tham gia của các phần tử chống đối, trong đó có cả một số cán bộ nguyên là lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu, từ đó hướng lái dư luận xã hội theo ý đồ của chúng, gây hoang mang và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với những chủ trương, đường lối của Đảng. Để tạo cơ sở cho công tác đấu tranh, đồng thời tránh sự chủ quan, xơ cứng, giáo điều, trì trệ và lạc hậu về lý luận, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu “tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại”.  Đây là một yêu cầu cấp bách của công tác lý luận hiện nay.

Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trên mọi mặt là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà trước hết là do đường lối lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng. Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, chúng ta không chỉ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và duy trì được tốc độ tăng trưởng nền kinh tế tương đối cao trong suốt 35 năm, với mức trung bình khoảng 7% mỗi năm, “kinh tế phát triển…, tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường”. Hầu hết các xã ở nông thôn đều có kết cấu hạ tầng tốt, có điện lưới quốc gia… Chúng ta hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020). Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704 (năm 2019), thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Đặc biệt, gần đây nhất, những kết quả đạt được trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, đã thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Những thành tựu đổi mới đó đã chứng tỏ rằng,“phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”(13). Con đường đi lên CNXH ở nước ta từng bước được hoàn thiện và hiện thực hóa. Những thành tựu đó không phải là một sự may mắn, ngẫu nhiên, mà là “sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”(14). Thành quả đó một lần nữa khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại” và “đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo”(15). Đó là sự thật không thể đảo ngược, là câu trả lời hết sức thuyết phục cho những ai còn nghi ngờ, thậm chí “sám hối” về con đường đi lên CNXH và phủ nhận đường lối đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo, là minh chứng sinh động, phản bác đanh thép, bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

Cho đến nay, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta vẫn đang tiếp tục diễn ra ngày càng cam go, phức tạp. Nhằm ngăn chặn những tư tưởng, nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, những phần tử bảo thủ, thoái hóa, biến chất; kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đòi hỏi chúng ta trước hết cần phải kiên định mục tiêu CNXH, giữ vững thành quả cách mạng, củng cố, tăng cường và phát huy sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Đồng thời, cần nghiên cứu thấu đáo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, củng cố lập trường giai cấp; trên cơ sở đó, soi rọi vào thực tiễn để đưa ra những hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, tránh rơi vào sai lầm, cực đoan hoặc xem nhẹ, bỏ trống trận địa đấu tranh dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác, rơi vào âm mưu “diễn biến hòa bình” của các lực lượng thù địch. Cuộc đấu tranh này còn diễn ra lâu dài và gian khổ, song dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta sẽ sớm trở thành hiện thực, đáp ứng được lòng mong mỏi, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân./.

Một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay là phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Tuy nhiên, đối với bất cứ một đảng cầm quyền nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... luôn hiện hữu. Do vậy, để giữ vững bản chất, uy tín và năng lực lãnh đạo, Đảng “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”. Cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần nêu gương, nâng cao trách nhiệm, kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa... Đây chính là “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hại, nếu không chống sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với việc chống giặc “nội xâm”, để bảo đảm “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tập trung xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”. Đây chính là cơ sở để giữ vững niềm tin và tạo sự ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền. Bởi vậy, từ thực tế “tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”, Tổng Bí thư Đảng ta nhấn mạnh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là “nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”./.

Đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay thực chất và trước hết là đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trong phần mở đầu bài viết, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đã đặt trở lại vấn đề: “Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa?”. Và ngay sau đó, câu hỏi đã được lý giải bằng nhận định từ tình hình thực tiễn trên phạm vi thế giới cũng như ở Việt Nam: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”. Thực tiễn cho thấy, mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ vào thập niên 90 của thế kỷ trước không chỉ làm cho các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị vui mừng mà còn là động cơ để chúng gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc, tấn công, phủ nhận con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Trong “hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội”; thậm chí, có người còn “phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản”. Điều này hết sức nguy hại, có tác động tiêu cực đến tâm lý chính trị của không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước thực trạng đó, chúng ta phải tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, kiên quyết bảo vệ con đường và mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn từ năm 1930, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Để đạt được những thành tựu như ngày hôm nay, biết bao thế hệ đã phải hy sinh mồ hôi, xương máu. Bởi vậy, càng khó khăn, gian khổ, chúng ta càng kiên định với mục tiêu đã chọn, đấu tranh không khoan nhượng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tiếp tục dẫn dắt dân tộc ta đến bến bờ vinh quang, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay./.

ÂM MƯU X.Ó.A BỎ LỊCH SỬ


          Không phải Mỹ và Phương Tây mới sử dụng gần đây mà sự thật họ đã tiến hành từ lúc nhà nước Xô Viết vừa mới hình thành. Phương Tây đã ra sức tuyên truyền đề cao công lao của họ trong 2 cuộc chiến tranh thế giới, đồng thời chối bỏ công sức của Nga và Hồng quân Liên Xô.

          Trước tình hình đó Lênin đã ký sắc lệnh “quốc hữu hóa" bộ phim nhiều tập đó là bộ phim “Chiến tranh và hòa bình” (5 tập), quy mô của bộ phim lớn tới mức Liên Xô phải huy động hơn 20 xí nghiệp chuyên chế tạo ra quần áo công cụ chiến tranh thời đệ I thế chiến, có tới 2.000 diễn viên vai phụ, riêng vai công chúa Louis thứ XVI rất hồn nhiên ở 16 tuổi không một diễn viên nào đóng đạt, đạo diễn phải nhờ một học sinh đóng thay. Thứ 2 là bộ phim do nhà nước liên Xô quốc hữu hóa “Giải phóng Châu Âu” (5 tập) nói về công lao của Hồng quân Liên Xô trong chiến tranh đệ II, trong đó quy mô nhất là trận đánh ngoại ô Moskva với 20 sư đoàn tăng và 100.000 khẩu pháo… ngày giờ diễn ra từng sự kiện được tái hiện một cách chính xác trung thực khách quan. Hai bộ phim đó đã làm cho Mỹ “tắt lửa”

          Để trả đủa Liên Xô, Hollywood (điện ảnh Mỹ) năm 1970 được lệnh khẩn trương cho ra đời bộ phim dài nhiều tập “Combat” để quảng bá quân đội Mỹ, bộ phim nói về 1 tiểu đội đặc nhiệm của Mỹ trong chiến tranh đệ nhị, với vai chính là Vismoro tiểu đội trưởng và Viszasol tiểu đội phó, bộ phim đã được công chiếu miễn phí ở rất nhiều nước trong đó có miền Nam Việt Nam.

          Ngày nay người Mỹ đã thành công trong việc xóa bỏ kiến thức lịch sử ở giới trẻ Châu Âu, cụ thể nhất là Ukcraine. Giới trẻ Ukcraine đã hiểu sai lịch sử, họ cho rằng Liên Xô trước kia chẳng có công cán gì trong trong vấn đề thành lập ra nhà nước Ukcraine, thậm chí ngược lại là cản trở và phá hoại đất nước họ, gieo vào đầu giới trẻ lòng căm thù Cộng sản Liên Xô, căm thù người Nga, đập phá những tượng đài anh hùng dân tộc có công tạo dựng bảo vệ đất nước. Sửa đổi sách giáo khoa xóa bỏ những chiến công của cha ông họ, hình sự hóa và phạt tù những ai đề cao Cộng sản hoặc Nga, bỏ trợ cấp đối với những cựu chiến binh thời Liên Xô cũ, ngược đãi với người Ukcraine gốc Nga… trong lần bỏ phiếu LHQ về việc lên án cũng như cấm tuyên truyền ủng hộ chủ nghĩa phát xít thì Mỹ và Ukcraine là 2 quốc gia duy nhất bỏ phiếu chống, họ công khai xâm lên người, treo cờ phát xít có huy hiệu chữ thập ngoặc nhọn.

          Hitle từng nói “lời nói dối được lặp lại nhiều lần sẽ trở thành lời nói thật”. Cố tổng thống Nelson Mandela cũng đã nói “không cần đem quân xâm lược một quốc gia, chỉ cần xóa bỏ lịch sử quốc gia đó là thành công”.

          Bác Hồ có nói “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Ngay những ngày đầu thành lập nước Việt Nam DCCH năm 1946, Bác đã phát biểu: “Việt Nam đã nhiều lần mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng, bởi mỗi làng xã Việt Nam đều có một truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa lâu đời. Một quốc gia mà mất đi nền văn hóa lịch sử của mình sớm muộn gì cũng bị quốc gia khác đồng hóa, thế giới có quá nhiều quốc gia bị đồng hóa rồi sát nhập vào một quốc gia khác. Bản sắc văn hóa và lịch sử của một dân tộc là tấm thẻ bài chứng nhận với thế giới rằng dân tộc đó còn tồn tại”.

          Thực trạng ở Việt Nam chúng ta qua nhiều năm không coi trọng môn học lịch sử, cách giảng dạy thiếu khoa học, quá khô khan làm cho học sinh không hứng thú khi học lịch sử. Đã có vài thăm dò xã hội cho thấy đa số lớp trẻ rất thiếu kiến thức về lịch sử, chúng trả lời rằng “Quang Trung là bạn của Nguyễn Huệ!”. Hoặc trong ngày kỷ niệm 30/4 vừa qua, trên mạng xã hội có một số bạn trẻ nói rằng “Việt Nam cách điệu làm lá cờ xanh đỏ sao vàng không đẹp!”. Quá nguy hiểm cho an ninh quốc gia !

          Âm mưu xóa bỏ lịch sử Việt Nam đã có từ đời Nhà Minh năm 1428, khi chúng xâm lược nước ta rồi cho đốt hết sách sử Việt Nam, bắt người Việt sống ăn mặc theo phong cách Hán, khuyến khích phụ nữ Việt lấy chồng Hán, bỏ tiếng Nôm, bắt viết chữ Hán… tội ác đó đã bị Nguyễn Trãi vạch trần trong “Bình ngô đại cáo”.

          Ngày nay lại nổi lên cái ý tưởng tồi tệ đề nghị lịch sử là môn học tự chọn, còn tiếng Anh thì bắt buộc! Gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ của người Việt Nam là nội chiến, là huynh đệ t.ư.ơng t.àn, là "chiến tranh Việt Nam";...

          Vậy hơn 650.000 quân Mỹ cộng với hơn 100.000 quân chư hầu tới Việt Nam để du lịch chắc? Chúng lái cả ngàn máy bay, có cả B52 bay, tự do bắn phá rải b.o.m, rải ch.ấ.t đ.ộ.c hóa học khắp đất nước Việt Nam để tham quan chắc ???

          Đúng là âm mưu vô cùng t.h.â.m đ.ộ.c !

                                                                                      st.Đa

NGẠI PHÊ BÌNH, GÓP Ý - BIỂU HIỆN SUY THOÁI

 

          Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa".

          Với mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm”, “dĩ hòa vi quý”. Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”…

          Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, giải pháp quan trọng nhất theo người là: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” . Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt chi bộ phải nghiêm túc”.

          “Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì khác nào có bệnh mà giấu bệnh, không giám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự giúp nhau tiến bộ.

          Có thể khẳng định rằng, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý, không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí mình đang mắc khuyết điểm mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tập thể và đồng chí mình. Điều này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán cả trong công việc và trong cuộc sống đời thường./.

                                                                                                st

“DÙ RẤT ĐAU SÓT NHƯNG CẮT MỘT VÀI CÀNH SÂU ĐỂ CỨU CẢ CÂY”

Chưa bao giờ Đảng ta lại quyết liệt chống tham nhũng như giai đoạn hiện nay. Chỉ riêng đại án Việt Á trong một thời gian ngắn đã có đến 70 người bị khởi tố để điều tra. Các cơ quan chức năng của các tỉnh, thành đã vào cuộc với phương châm “dọc ngang thông suốt, trên dưới đồng lòng”. Mới đây nhất, 2 ủy viên Trung ương là các ông Chu Ngọc Anh và Nguyễn Thanh Long đã bị bắt.

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

NHẬN DIỆN, BÁC BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP - GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù trong mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp có những biểu hiện khác nhau, nhưng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn là vấn đề tất yếu, có tính quy luật của phát triển xã hội. Vì vậy, kiên định với lập trường giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận diện khách quan những đặc điểm trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhận thức đúng về cuộc đấu tranh giai cấp trong tình hình hiện nay là cơ sở quan trọng để củng cố lập trường, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ quan điểm về  giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp.  

Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp thì đấu tranh giai cấp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là một tất yếu lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp thì không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Bởi sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp quy định mà do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp ấy tạo nên một cách khách quan. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Vì thế, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại là những kẻ áp bức và những người bị áp búc, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau”.

Theo C. Mác, đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển tới mức mâu thuẫn không thể giải quyết với quan hệ sản xuất đã lỗi thời trong lòng xã hội cũ. C.Mác gọi đây là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây”. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích nguyên nhân cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến để hình thành nên xã hội tư bản: “... chúng ta đã thấy rằng, những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở cho giai cấp tư sản hình thành, đã được tạo ra trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy, phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì... tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích. Phải đập tan những xiềng xích ấy... Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản”.

Như vậy, sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản là tất yếu khách quan và là bước tiến vĩ đại trong tiến trình phát triển lịch sử - xã hội. Mặc dù quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã giải phóng lực lượng sản xuất, thực ra đó chỉ là sự thay thế chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp địa chủ, bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thay thế phận làm thuê, làm mướn của người nông nô cho địa chủ bằng cuộc đời làm thuê của giai cấp công nhân cho giai cấp tư sản. Mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp tư sản và vô sản tiếp tục diễn ra trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này không thể giải quyết trong xã hội tư bản mà trở thành nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản. Chính vì vậy: “những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản” [1, tr.605 ]. Nghĩa là, lịch sử đã tạo ra chủ nghĩa tư bản hiện đại và đến lượt nó lại trở thành vật cản của văn minh nhân loại.  

Xét đến cùng, sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất để đáp ứng mọi nhu cầu của con người là nguyên nhân của thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ xã hội. Có thể nói, con người phát triển lực lượng sản xuất là động lực vĩnh cửu của lịch sử. Nhưng chế độ xã hội lỗi thời không tự nó tan rã, giai cấp thống trị không tự nguyện rút khỏi vũ đài, mặc dù nó đã hết vai trò lịch sử. Để phát triển, lịch sử cần đến một động lực khác nữa, động lực đó là đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Không có đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân thì chủ nghĩa tư bản, dù đã hết vai trò lịch sử, cũng không tự động chuyển biến thành chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là áp đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn. Chủ nghĩa Mác-Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta sẽ tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.

Thứ hai, có quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin coi bạo lực  cách mạng là “bà đỡ” cho sự ra đời xã hội mới, là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, không thể thúc đẩy xã hội phát triển.

Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng chỉ là một trong những phương thức để thể hiện sức mạnh của quần chúng, là “bà đỡ” để đưa xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) ra đời trong lòng xã hội cũ (chủ nghĩa tư bản). Còn xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản cầm quyền. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đề cập đến khả năng dùng biện pháp hòa bình nếu giai cấp tư sản cầm quyền tự nguyện rút lui khỏi vũ đài chính trị, nhưng khả năng này rất hiếm.

Nói đấu tranh giai cấp mà không nói đến bạo lực cách mạng là không đúng với thực tế lịch sử.  Ở thế kỷ XIX, nhân loại đã chứng kiến các điển hình về bạo lực cách mạng có tính giai cấp như vào các năm 1848,1870, giai cấp tư sản Pháp đã dìm hai cuộc khởi nghĩa của công nhân Pari trong biển máu. Giai cấp thống trị tư bản nhiều nước nắm những phương tiện bạo lực, sẵn sàng sử dụng chúng để đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp để giải phóng khỏi áp bức bóc lột của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động nếu diễn ra trong hòa bình mà không cần đến bạo lực cách mạng là điều rất khó xảy ra. Bởi vì, chỉ  có dùng bạo lực cách mạng thì giai cấp bị trị mới có thể thắng được bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị, song bạo lực cách mạng là phương án lựa chọn cuối cùng.

Thứ ba, có một số ý kiến cho rằng, vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, việc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới.

Trong điều kiện mới hiện nay, không được cường điệu cuộc đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác. Điều kiện quốc tế đã có nhiều thay đổi, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vận mệnh dân tộc đứng trước những thời cơ mới và thách thức mới. Điều kiện trong nước, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế bình đẳng không bị hạn chế về cơ hội phát triển, nhằm tạo điều kiện để mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội có thể phát huy hết tiềm năng của mình, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đã hình thành một cơ cấu xã hội - giai cấp mới đa dạng, phức tạp, gồm nhiều giai cấp, tầng lớp. Đáng chú ý là thành phần kinh tế tư bản tư nhân trở thành một thành phần kinh tế lớn mạnh, được khuyến khích phát triển, không giới hạn về ngành nghề, quy mô, tốc độ.

Đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là đấu tranh để chiến thắng những thế lực cản trở việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hình thức đấu tranh giai cấp và xử lý quan hệ xã hội - giai cấp đa dạng, phong phú. Trong đó nổi bật lên những mối liên hệ sau: trong mối quan hệ giữa trấn áp và tổ chức xây dựng thì bạo lực trấn áp là cần thiết, tất yếu, song tổ chức xây dựng là chính, là quyết định; quan hệ giữa cưỡng chế với thuyết phục, giáo dục thì thuyết phục, giáo dục được đặt lên hàng đầu; quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh thì đoàn kết là chính, đấu tranh là cần thiết, song không phải để làm tăng thêm sự khác biệt mà là để giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc; quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội cần xem cả hai đều là mục tiêu chiến lược.

Về đấu tranh giai cấp, Ðại hội IX của Ðảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðại hội IX của Ðảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”.

Tóm lại, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, đấu tranh giai cấp không những không mất đi mà còn diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng tư duy lý luận tốt, có khả năng phân tích, đánh giá tình hình nắm bắt quy luật vận động, củng cố lập trường giai cấp công nhân, có niềm tin khoa học, kiên quyết và sáng suốt đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Quan điểm về đấu tranh giai cấp trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh đúng quy luật khách quan và vẫn giữ nguyên giá trị. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp. Để bổ sung, phát triển một cách sáng tạo đúng đắn và khoa học quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi thế hệ kế tiếp nhau sẽ dùng phương pháp biện chứng duy vật để không ngừng phát triển nó lên một trình độ cao hơn, yêu cầu đặt ra là cần phải nghiên cứu cẩn thận, nghiêm túc những tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và quan điểm của Đảng ta, tránh rơi vào sai lầm khi xem thường, xóa nhòa đấu tranh giai cấp đi đến mơ hồ, mất cảnh giác, mắc vào âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực phản động trên thế giới đang tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cách tốt nhất để tăng cường sức sống và sức hấp dẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên đầy biến động và năng động hiện nay.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH NHIỆM VỤ BẢO VỆ NỀN TƯỞNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY MỘT CÁCH HIỆU QUẢ

Trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong tình hình hện nay

Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: 
- Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin;
- Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
- Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...
Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.
Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.
Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…

 

Phòng, chống sự xuyên tạc, bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam

Gần 8 thập kỷ xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam thực sự là một quân đội anh hùng, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; được Đảng và nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.

Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Nhiều luận điệu xuyên tạc cần phê phán, bác bỏ

Trong quá trình thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, nhất là xuyên tạc về lòng trung thành của quân đội với Đảng, với Nhà nước và nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của quân đội với những lời lẽ hết sức phản động, phản khoa học nhằm thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, hòng làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội, làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

 

Cảnh giác với suy diễn, xuyên tạc

Trên chuyến xe về quê, ông Thanh bất đắc dĩ phải nghe cuộc tranh luận của hai vị khách ở hàng ghế phía trước. Người trung tuổi nói với cậu thanh niên:

- Đấy chú xem, anh nói cấm có sai, huyện đã có quyết định kỷ luật rồi. Tại có đối thủ muốn giành cái ghế chủ tịch xã của ông ấy.

- Ông ấy sai phạm rõ ràng thì việc bị kỷ luật là đương nhiên mà anh.

 

Trò lố của những con rối lưu vong

       Ngắt câu, cắt ý, chẻ chữ, lên giọng giễu cợt, mỉa mai, ám chỉ, xuyên tạc, suy diễn, dạy đời... là những trò lố của một số đối tượng bất mãn, phản động lưu vong. Lên internet cóp nhặt thông tin, với mớ kiến thức lỗ mỗ, một số đối tượng cố làm ra vẻ hiểu biết, thực hiện những hình thức gọi là “bình luận”, “phân tích”, “hội luận”, “đánh giá”... tình hình chính trị của đất nước nhằm lòe bịp công chúng. Hành vi sai trái của họ đã bị công chúng yêu nước lật tẩy, lên án...

“Bình loạn” kiểu “ếch ngồi đáy giếng”

“Tôi thấy bạn nên xóa kênh và đi học lại, nhất là môn Giáo dục công dân đi bạn ơi!...”. Đó là dòng bình luận của tài khoản có tên “Tu Nguyen” ngay bên dưới một clip trên kênh YouTube của đối tượng Đường Văn Thái (còn gọi là Thái Văn Đường) khi đối tượng này “bình luận” việc người dân Việt Nam xuống đường ăn mừng đội tuyển bóng đá U.23 Việt Nam vô địch SEA Games 31. Lấy chuyện ăn mừng chiến thắng của đội U.23 Việt Nam để suy diễn, xuyên tạc tình hình chính trị của đất nước, luận điệu bất mãn của Đường Văn Thái bị công chúng yêu nước gọi là “bình loạn” kiểu “ếch ngồi đáy giếng”. 

 

Bài 2. Kiểm soát, định hướng phát huy vai trò kinh tế tư nhân cho mục tiêu chủ nghĩa xã hội

Tại Việt Nam, từng có ý kiến lo ngại rằng, kinh tế tư nhân (KTTN) lớn mạnh sẽ thao túng nền kinh tế, làm chệch hướng chủ nghĩa xã hội (CNXH), trong đó nhiều ông chủ tư nhân có quyền lực vô biên, đứng trên cả pháp luật.

(Tiếp theo và hết)

Thế nhưng, thực tiễn thời gian qua đã cho thấy, dù doanh nghiệp tư nhân có phát triển thế nào vẫn phải hành động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phục vụ mục tiêu đi lên CNXH, mọi vi phạm đều bị xử lý nghiêm.

Đóng góp quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

Trong hơn 35 năm của thời kỳ đổi mới, KTTN ở nước ta đã dần phát triển, thực sự trở thành lực lượng vật chất quan trọng trong nền kinh tế, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội. Sự phát triển của KTTN chính là góp phần để thực hiện các mục tiêu của thời kỳ quá độ đi lên CNXH.

 

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là từ bỏ mục tiêu 

chủ nghĩa xã hội

Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với nước ta. Từ tư duy phải xóa bỏ KTTN, đến nay Đảng ta khẳng định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là chủ trương khoa học, đúng đắn với thực tiễn vận động của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), mang lại thành tựu đột phá cho phát triển kinh tế đất nước, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn luôn đưa ra những luận điệu chống phá, xuyên tạc, bóp méo chủ trương phát triển KTTN, trong đó có luận điệu rất thâm độc: Phát triển KTTN là từ bỏ mục tiêu CNXH. Bằng lý luận và thực tiễn, chúng ta khẳng định: Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái.

Bài 1:  Một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 

Trước yêu cầu của thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất (LLSX), xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, Đảng ta chủ trương đột phá phát triển KTTN, coi nó là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Ngày 3-6-2017, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).