Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

TIẾP TỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC, CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ MỚI 🇻🇳

 TIẾP TỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC, CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG, CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ MỚI

🇻🇳
Đại tướng LƯƠNG CƯỜNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là sự kế thừa truyền thống giữ nước của dân tộc, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Ngày 25-10-2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đây là nghị quyết đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy mới của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Chương trình hành động, các ban, bộ, ngành ở Trung ương cụ thể hóa bằng các chiến lược chuyên ngành, chương trình, đề án. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng và trình Bộ Chính trị ban hành Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự,...; đồng thời, xây dựng các kế hoạch, đề án và làm nòng cốt trong triển khai thực hiện. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội tổ chức quán triệt, nắm vững các quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để đưa nội dung các chiến lược vào hoạt động thực tiễn, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, triển khai Chiến lược quốc phòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Qua đó, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). Các chiến lược đã đánh dấu bước phát triển mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song, tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, phát triển. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế toàn cầu tuy phục hồi sau đại dịch COVID-19 nhưng chưa thực sự vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực; tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia trên thế giới. Xung đột cục bộ có thể diễn ra ở nhiều nơi; cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tập hợp lực lượng diễn biến phức tạp, gay gắt hơn; nhiều nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực quân sự; đặc biệt, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược... Bối cảnh này đặt ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trên thế giới và ở khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược trọng điểm của các nước lớn, tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn sẽ tác động sâu sắc, toàn diện tới Việt Nam.
Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đại dịch COVID-19 và các thách thức an ninh phi truyền thống; bốn nguy cơ được Đảng ta xác định qua các kỳ đại hội vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra động lực, thời cơ và thách thức trong xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời tác động lớn đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân, hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(2). Theo đó, chúng ta cần phát huy kết quả đã đạt được; đồng thời, phải nắm vững các quan điểm chỉ đạo và tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
🇻🇳
Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Đây là quan điểm chỉ đạo, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu, cơ bản, xuyên suốt trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện toàn diện, có hiệu quả các chiến lược; nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; tiếp tục thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng bằng hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trong lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược. Quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp; thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác quân sự, quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế về quốc phòng; quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương, bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường công tác quản lý, thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng bằng pháp luật.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; bảo đảm để Đảng nắm chắc lực lượng vũ trang trong mọi tình huống, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(3), thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
🇻🇳
Thứ hai, nắm vững mối quan hệ giữa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tiếp tục cụ thể hóa trong quá trình triển khai thực hiện.
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng là những chiến lược quốc gia. Chiến lược quân sự là chiến lược chuyên ngành, có mối quan hệ, tác động hữu cơ nhưng không đồng nhất với hai chiến lược đó. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược cơ bản, quan trọng hàng đầu; là những chiến lược quốc gia bao trùm, nền tảng mang tính chỉ đạo chiến lược đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược chuyên ngành. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc là mưu lược, kế sách quốc gia nhằm xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chiến lược quốc phòng là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm”, “từ xa”, từ khi nước chưa nguy, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Đây là chiến lược mang tính chất hòa bình, tự vệ, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa trên đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Chiến lược quốc phòng là bộ phận chủ đạo, cụ thể hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, cùng với các chiến lược khác thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chiến lược quân sự là nội dung nòng cốt, cụ thể hóa Chiến lược quốc phòng, là cơ sở để xây dựng, hoàn chỉnh phương án tác chiến, thế trận, tổ chức quân đội, bảo đảm trang bị, đào tạo nguồn lực, huấn luyện,... sẵn sàng đối phó với các hình thái chiến tranh hiện đại. Do đó, quá trình thực hiện các chiến lược đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nắm vững mối quan hệ, các quan điểm chỉ đạo và nội dung của từng chiến lược để tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.
Trên cơ sở các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bổ sung, cụ thể hóa những nội dung mới bằng các chương trình, đề án, kế hoạch. Trong đó, cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với tình hình theo chức năng, nhiệm vụ của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm sát với yêu cầu thực hiện các chiến lược trong thời kỳ mới. Việc triển khai toàn diện, đồng bộ cần phải thống nhất theo lộ trình tổng thể thực hiện nhiệm vụ chính trị của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, các lực lượng vũ trang. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc ở mỗi cấp, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức.
🇻🇳
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác dự báo, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Đây là một giải pháp rất quan trọng trong hoạch định và triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự. Chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược cần được nâng cao toàn diện về tổ chức, cơ chế, năng lực, tham mưu đề xuất các chủ trương, đối sách, giải pháp sát, đúng, kịp thời, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phục vụ nghiên cứu phát triển lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng theo quy định.
Công tác nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; kết hợp với các văn bản có tính pháp quy của cơ quan có thẩm quyền, tạo cơ sở pháp lý tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Theo đó, cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chỉ đạo, điều hành, phối hợp nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng. Xác định nội dung, xây dựng chương trình nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng 5 năm, 10 năm, phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo dài hạn với ngắn hạn và đột xuất. Tập trung xây dựng và triển khai chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo và tham mưu Chiến lược quốc phòng giai đoạn 2020 - 2025 và những năm tiếp theo.
Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, ứng dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu dự báo, tham mưu. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo chiến lược lĩnh vực quốc phòng, quân sự với nghiên cứu khoa học. Xây dựng, chuẩn hóa hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đồng bộ, ngày càng hiện đại, bảo đảm thuận tiện trong chia sẻ, liên kết giữa các cơ quan thông tin, tư liệu nhằm cung cấp thông tin đa chiều, khách quan, tin cậy từ các nguồn khác nhau.
Xây dựng, củng cố các cơ quan nghiên cứu Chiến lược quốc phòng theo hướng tập trung, chuyên sâu, đúng chức năng, xây dựng cơ chế phối hợp, bảo đảm,... đáp ứng nhu cầu nghiên cứu dự báo chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ học vấn cao với số lượng hợp lý, chất lượng cao. Quan tâm chế độ, chính sách hoạt động nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Đẩy mạnh công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu dự báo chiến lược. Nâng cao hiệu quả hợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược của các ban, bộ, ngành trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược.
🇻🇳
Thứ tư, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.
Nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng, kế sách giữ nước “từ sớm”, “từ xa”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Tăng cường vị thế quốc tế và độc lập, tự chủ của đất nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Quán triệt và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Tăng cường công tác đối ngoại quốc phòng cùng với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tăng cường lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”. Thực hiện hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển quan hệ đối ngoại cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo thế chiến lược mới. Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc phòng tin cậy với các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, với các nước lớn, nước láng giềng, bạn bè truyền thống; tập trung vào những lĩnh vực các bên có thế mạnh; xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược.
Tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Mở rộng quy mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa; hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chú trọng tăng cường hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới với các nước có chung đường biên giới, như hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... Củng cố tổ chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng. Đổi mới nội dung, hình thức hợp tác tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn tập chung. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và dư luận quốc tế về chính sách quốc phòng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của Việt Nam. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp với các cơ quan đối ngoại; gắn kết, thu hút sự tham gia, đóng góp về tinh thần và vật chất của các tổ chức, cá nhân, nhất là đội ngũ trí thức người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
🇻🇳
Thứ năm, chú trọng sơ kết, tổng kết, bổ sung các chiến lược đã ban hành; nghiên cứu các chiến lược chuyên ngành mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Quá trình triển khai thực hiện các chiến lược, theo từng giai đoạn có những thay đổi, phát triển mới của tình hình trong thời gian 5 năm, từ 10 đến 20 năm..., cần chú trọng sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược, cần đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện, sâu sắc, nghiêm túc; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, yêu cầu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá cho giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần chủ động nâng cao chất lượng tổng kết 40 năm đổi mới về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (2013 - 2023); sơ kết 5 năm thực hiện các chiến lược chuyên ngành đã ban hành; hoàn thiện lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Tiếp tục nghiên cứu tham mưu xây dựng các chiến lược chuyên ngành khác, như Chiến lược phòng thủ dân sự; chuyển đổi số trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội... Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược để bổ sung, điều chỉnh các chiến lược đã ban hành và nghiên cứu đề xuất các chiến lược chuyên ngành mới thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Nắm vững quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả, toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa” là một yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang. Với những thành tựu, kết quả đã đạt được, cần tiếp tục tiến hành nhiều nội dung, giải pháp nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự đồng thuận trong xã hội, thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả các chiến lược trong thời gian tới. Đề cao tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, của cả hệ thống chính trị và toàn quân theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực trong tổ chức thực hiện nhằm cụ thể hóa các chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
--------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 104
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 160
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 158

“PHẢI CÓ QUYẾT TÂM CAO ĐỂ VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN LÀM TRÒN NHIỆM VỤ"

 

Trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ.
Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”... Lời dạy của Người là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ cũng như toàn quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích trong kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn đã chứng minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy vũ khí, trang bị của Quân đội ta còn thua kém địch gấp nhiều lần, nhưng nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, gian khổ, phấn đấu rèn luyện, bộ đội ta vừa chiến đấu, lấy vũ khí của địch đánh địch, vừa tự nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí mới. Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, quân đội của một nước nhỏ, trang bị thô sơ, chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, đã đánh bại đội quân nhà nghề, được trang bị hiện đại của một cường quốc thực dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như: Ấp Bắc, Vạn Tường, Ba Gia, Plây Me, Đường 9-Nam Lào... Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển vũ khí, lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam. Nhờ vậy, bộ đội ta càng đánh càng mạnh, dũng mãnh tiến công địch rộng khắp ở cả vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, vượt mọi khó khăn, gian khổ để nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ). Từ thực tiễn huấn luyện, SSCĐ và công tác, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được phát huy, lan tỏa, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Các đơn vị trong toàn quân luôn chủ động nâng cao chất lượng huấn luyện với tư duy đổi mới, sáng tạo, làm sao cho bộ đội nắm chắc, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị được biên chế, hiểu và vận dụng các hình thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu, giỏi tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với các điều kiện và quy mô khác nhau... góp phần nâng cao khả năng SSCĐ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tại Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2021 vừa qua, Đoàn QĐND Việt Nam đã nêu cao tinh thần và ý chí quyết tâm phấn đấu, rèn luyện, thể hiện năng lực, tư duy chỉ huy, tham mưu, tư duy chiến thuật và khai thác sử dụng trang bị khí tài hiện có. Qua hội thao giúp chúng ta học hỏi thêm về phương pháp tổ chức huấn luyện, SSCĐ của quân đội các nước bạn, từ đó bổ sung những nội dung phù hợp, vận dụng hiệu quả vào chương trình huấn luyện sát với tình hình thực tiễn, phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh của bộ đội ta.
Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế-xã hội; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; xây dựng đời sống văn hóa mới trong các khu dân cư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng và các hoạt động an sinh xã hội...
Bằng sự chủ động, sáng tạo, kết hợp huấn luyện với thực hiện Phong trào thi đua “dân vận khéo”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp triển khai hiệu quả các chương trình, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, hành trình “Quân đội chung tay vì người nghèo-không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, “Con nuôi đồn biên phòng”, “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển"... Các binh đoàn, đoàn kinh tế-quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng-an ninh, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới trên các địa bàn chiến lược; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Không chỉ thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, quân đội còn nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác. Đặc biệt, trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quân đội đã triển khai hàng trăm điểm cách ly, tổ chức cách ly cho hàng trăm nghìn người dân. Để canh giữ biên cương, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ không quản nguy hiểm đến tính mạng, tổ chức hàng nghìn chốt chặn giữa rừng sâu để ngăn chặn dịch tràn vào đất nước. Các đơn vị phối hợp với địa phương phong tỏa, cách ly, tiêu độc, khử trùng, dập dịch; thành lập các tổ, đội cơ động phòng, chống dịch tại các đơn vị, lập các bệnh viện dã chiến, sẵn sàng tiếp nhận, điều trị..., được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Trong cuộc chiến phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ-cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, quân đội luôn xung kích đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Với tinh thần “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong năm 2021, nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội không quản gian khổ, hy sinh có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy, giúp dân phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả mưa lũ, tìm kiếm cứu nạn. Càng trong gian khó, hiểm nguy, trong mất mát, đau thương thì tình quân dân lại càng thêm ngời sáng. Không ai có thể quên được những trận bão lũ lịch sử tại miền Trung xảy ra vào tháng 10 và tháng 11-2020. Các địa danh như: Rào Trăng (Thừa Thiên Huế), Trà Leng, Phước Sơn (Quảng Nam) đều in dấu chân Bộ đội Cụ Hồ. Ngay tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3, trong mưa gió, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cần mẫn đào từng mét đất, mò tìm dọc triền sông, suối tìm kiếm người dân mất tích. Để có được cuộc sống bình yên cho nhân dân, biết bao người lính đã ra đi không trở về...
Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam cần tiếp tục học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác, tiếp tục phát huy truyền thống vượt khó, không ngừng học tập và rèn luyện, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, xây dựng động cơ, quyết tâm cao, rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trên từng cương vị công tác, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt chức trách được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ, bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong điều kiện các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần, đồng thời lợi dụng các vụ việc vi phạm kỷ luật của một số cán bộ, chiến sĩ để đưa ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, do đó cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về tầm quan trọng của việc phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ với các chuẩn mực: Kiên định vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, hành động đẹp, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt; dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết, tôn trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Muốn vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác; tỉnh táo, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Nhất là phát huy tinh thần trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp. Chính sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy và chỉ huy các cấp có vai trò, tác động rất lớn, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó mà không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị và xây dựng quân đội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, ý chí quyết tâm và ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quân đội sẽ quyết định chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội càng phải gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; luôn gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống bộ đội, tạo điều kiện để họ phấn đấu, rèn luyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
ST

THỦ TƯỚNG HUN SEN: BỮA CƠM ĐẦU TIÊN NGƯỜI VIỆT CHO TÔI BẰNG CẢ TRĂM CẢ NGÀN TẤN GẠO HÔM NAY!

         Các câu chuyện về sự gian khổ trong những ngày đầu tìm đường cứu nước và sự giúp đỡ của Việt Nam đã được Thủ tướng Hun Sen ôn lại trong các cuộc gặp với lãnh đạo, nhân dân Việt Nam sáng 20-6.

Trong cuộc nói chuyện với đại diện nhân dân tỉnh Bình Phước, nơi ông Hun Sen đã đặt chân đến khi rời khỏi Campuchia sang nhờ Việt Nam đánh đuổi Pol Pot, ông thổ lộ bữa cơm đầu tiên mà người dân Việt Nam nấu cho ông và đồng đội 45 năm trước "bằng cả trăm cả ngàn tấn gạo của hôm nay".

Cuộc nói chuyện là một phần trong các hoạt động kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Hun Sen diễn ra sáng 20-6, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam phát cùng ngày.

Nhà lãnh đạo Campuchia đã bày tỏ lời tri ân đối với nhân dân địa phương và nhấn mạnh nếu không có sự giúp đỡ này, tính mạng ông sẽ gặp nguy hiểm và không biết đất nước Campuchia sẽ đi về đâu.

Thủ tướng Hun Sen cũng chân thành cảm ơn Đảng và Nhà nước Việt Nam đã giúp ông xây dựng lực lượng, cảm ơn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Cũng trong sáng 20-6, Thủ tướng Hun Sen đã chủ trì lễ đón Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang dự các hoạt động kỷ niệm bên phía Campuchia.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên của mình và đồng đội trong hành trình sang Việt Nam tìm đường cứu nước.

Ông nhấn mạnh lịch sử đã chứng minh nếu không có "hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" bắt đầu vào ngày 20-6-1977 và những sự kiện tiếp theo thì Campuchia không thể có ngày hôm nay.

Ông khẳng định Tòa án đặc biệt Tư pháp Campuchia đã ra phán quyết lên án tội ác diệt chủng và điều này cũng chứng minh tính đúng đắn của cuộc chiến chính nghĩa chống bè lũ Pol Pot và hành động của Việt Nam.

Nhà lãnh đạo Campuchia nhấn mạnh "khi hoạn nạn khó khăn mới biết ai là bạn tốt", khẳng định luôn ghi nhớ và cảm ơn nhân dân và các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu giúp Campuchia giải phóng đất nước, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot./.
Yêu nước ST.

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI


Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.
Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.
Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.
Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.
Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.
Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.
Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

Theo dấu chân Người!!!


- Ngày 21-6-1925, tuần Báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tờ báo còn trở thành hạt nhân tổ chức và huấn luyện đội ngũ những nhà hoạt động cách mạng. Tờ báo hoạt động đến tháng 4-1927, ra được tổng cộng 88 số báo. Ngày 21-6 trở thành Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.
- Ngày 21-6-1946, Báo Cứu Quốc tiếp tục đăng bài “Vấn đề quân nhu và lương thực” trong loạt bài về Binh pháp Tôn Tử của Bác đề cập tới một lĩnh vực quan trọng bảo đảm thắng lợi trong chiến tranh: “Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được...”
- Ngày 21-6-1948, Bác gửi điện tới Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ khen đồng bào xã Giới Xuân tỉnh Gia Định về thành tích đã thanh toán xong nạn mù chữ, mong nhiều địa phương “bắt chước xã Giới Xuân” và nêu rõ: “Chúng ta cần phải đánh tan giặc dốt, cũng như đánh tan giặc ngoại xâm”.
- Ngày 21-6-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Hộ pháp Phạm Công Tắc, thủ lĩnh của đạo Cao Đài đang sống tại Campuchia nêu rõ quan điểm: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, toàn dân ta từ Bắc chí Nam, trong nước và ngoài nước đều đang kiên quyết và bền bỉ đấu tranh để thực hiện nguyện vọng tha thiết của dân tộc, là làm cho nước Việt Nam ta được hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

‘GIẢI MÃ’ CÁCH TIẾP CẬN MỚI CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ VỚI TRUNG QUỐC


Ngày 26/5/2022, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đưa ra Tuyên bố về cách tiếp cận mới của Mỹ với Trung Quốc. Có gì đặc biệt trong Tuyên bố này?
“Ba không hai có”
Trước hết, đây là lần đầu chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden công bố một chính sách riêng về Trung Quốc, hệ thống hóa nội dung về cường quốc châu Á từ tuyên bố và văn bản trước.
Cụ thể, văn bản bao gồm tuyên bố tháng 2/2021 của ông Biden và tháng 3/2021 của ông Blinken về đối ngoại, Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AĐD-TBD) mới, bản định hướng Chiến lược An ninh Quốc gia hay bản tóm tắt Chiến lược An ninh Quốc phòng.
Tuyên bố trên nhắc đến 3 cơ sở hoạch định chính sách.
Thứ nhất, tình hình thế giới thay đổi nhiều trong 2 năm qua. Đại dịch COVID-19, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu và các xung đột, đặc biệt là “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine, làm xói mòn trật tự quốc tế. Các thay đổi này đặt ra nhu cầu hợp tác và đặt ngoại giao làm trung tâm chính sách đối ngoại của Mỹ, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.
Thứ hai, với Mỹ, Trung Quốc được coi như “thách thức” bởi nước này có đủ năng lực và mục tiêu tái định hình trật tự quốc tế.
Thứ ba, về cơ hội, Trung Quốc là nước “tối quan trọng” với kinh tế toàn cầu, giúp giải quyết các thách thức an ninh chung, đặc biệt là an ninh phi truyền thống.
Trên cơ sở đó, Washington theo đuổi “ba không và hai có” trong “thập kỷ mang tính quyết định”. Mỹ sẽ không: i) theo đuổi xung đột hay Chiến tranh Lạnh với Trung Quốc; ii) không ngăn chặn Trung Quốc phát triển và iii) không thay đổi bộ máy chính trị Trung Quốc.
Mỹ sẽ không theo đuổi xung đột hay Chiến tranh Lạnh với Trung Quốc, không ngăn chặn Trung Quốc phát triển và không thay đổi bộ máy chính trị Trung Quốc.
Tuy nhiên, Washington sẽ: i) cải cách trật tự và định hình môi trường chiến lược xung quanh Bắc Kinh và để nước này tự thay đổi; ii) đặt ngoại giao lên hàng đầu và sẵn sàng đối thoại với Trung Quốc.
Theo đó, Mỹ sẽ triển khai chính sách theo 3 hướng: đầu tư, liên kết và cạnh tranh; mở rộng đầu tư vào thế mạnh kinh tế, công nghệ; nghiên cứu và phát triển và dân chủ.
Về liên kết, Mỹ sẽ phối hợp với đồng minh và đối tác để thúc đẩy tầm nhìn chung về AĐD-TBD, Sáng kiến Khuôn khổ Kinh tế AĐD-TBD (IPEF), quan hệ với ASEAN, Bộ tứ, thỏa thuận an ninh AUKUS và châu Âu tại khu vực… Ông Blinken nhấn mạnh hợp tác của Mỹ là bình đẳng và tôn trọng lợi ích các bên, không kèm điều kiện chính trị và không ép ai lựa chọn.
Về cạnh tranh, Mỹ sẽ không để Trung Quốc tiếp cận công nghệ hay dữ liệu nhạy cảm, thương mại “có đi có lại”… Trong khía cạnh an ninh-quân sự, Mỹ sẽ theo đuổi “răn đe chiến lược”, đầu tư vào hệ thống quân sự bất đối xứng, đa dạng hóa lực lượng, chống lại yêu sách phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông và Hoa Đông, tiếp tục hỗ trợ Đài Loan (Trung Quốc) phòng thủ…
Điểm khác biệt
Chính sách mới có nhiều nét tương đồng văn bản tương tự thời ông Donald Trump như nhấn mạnh thách thức mang tính hệ thống từ Trung Quốc và nhìn nhận nước này ở góc độ phạm vi toàn cầu thay vì khu vực. Washington không còn hy vọng Bắc Kinh thay đổi như thời ông George Bush hay Barack Obama. Thay vào đó, Mỹ đề cập đến những hành động “ngầm” để gây sức ép của Trung Quốc, khái niệm nhiều học giả coi là “quyền lực sắc nhọn”…
Không loại trừ khả năng ông Biden đã “học tập” ông Trump khi gắn chính sách đối ngoại với người lao động Mỹ để thu hút nhóm ủng hộ “nước Mỹ trước tiên”.
Tuy nhiên, những điểm khác biệt lại đáng chú ý hơn cả.
Thứ nhất, cơ sở chính sách mới của nước Mỹ dưới thời ông Biden cập nhật và cân bằng hơn khi: đề cập đến dịch đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu (điều ông Trump bỏ qua) và chiến sự Ukraine; cân bằng thách thức và cơ hội từ Trung Quốc nhưng không hòa dịu hơn với Bắc Kinh (Ông Trump tập trung vào thách thức hơn với gần 1/3 văn bản, không có phần nào riêng về cơ hội và không nhắc đến “chung sống hòa bình”).
Tuy nhiên, Tuyên bố không nhắc tới nhiều yếu tố có thể góp phần định hình chính sách mới, bao gồm tương quan Mỹ-Trung, ảnh hưởng của các đồng minh, đối tác Mỹ hay tác động từ cá nhân lãnh đạo, nhóm lợi ích, Quốc hội và truyền thông nội bộ Mỹ…
Không loại trừ khả năng ông Biden đã “học tập” ông Trump khi gắn chính sách đối ngoại với người lao động Mỹ để thu hút nhóm ủng hộ “nước Mỹ trước tiên”.
Thứ hai, về định hướng, ông Trump không đặt ngoại giao lên hàng đầu như ông Biden. Trong chiến lược thời ông Trump, từ “ngoại giao” chỉ được nhắc đến hai lần, gắn liền với các nỗ lực ngoại giao không thành công. Còn chính sách mới thời ông Biden lại coi ngoại giao là công cụ đầu tiên.
Thứ ba, về triển khai, ông Trump đưa ra 4 nhóm triển khai trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia 2017, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực quân sự và cuộc chiến thương mại. Chính sách mới toàn diện hơn khi có trụ cột kinh tế mới IPEF, mở rộng cạnh tranh sang ngoại giao, nhấn mạnh vai trò của đối tác thay vì của riêng Mỹ.
Chính sách mới cũng không mang màu sắc thực dụng “một đổi một” thời ông Trump mà khéo léo hơn, không để gây ra tổn hại ngoài ý muốn cho đối tác hay ép doanh nghiệp Mỹ phải quay về sản xuất trong nước.
Ông Blinken cũng liên tục “lấy lòng” người Trung Quốc khi: khen ngợi người dân và doanh nghiệp Trung Quốc là động lực phát triển; phê phán bạo lực nhằm vào người gốc Hoa tại Mỹ; nhấn mạnh tầm quan trọng của hàng triệu sinh viên Trung Quốc tại Mỹ.
Những vấn đề bỏ ngỏ
Về tổng thể, dù tập trung vào đối tác khu vực nhiều hơn, câu hỏi: “chính sách của Mỹ với Trung Quốc định hình chính sách của Mỹ với khu vực hay ngược lại” vẫn chưa có câu trả lời.
Mỹ cũng chưa giải thích vì sao chính sách mới gắn liền với mốc thời gian 10 năm (theo “thập kỷ mang tính quyết định”). Liệu Washington có kỳ vọng biến chuyển xảy ra trong những năm 2030 – thời điểm Trung Quốc được dự đoán sẽ vượt Mỹ về quy mô kinh tế?
Về triển khai, dù ông Blinken nhấn mạnh Mỹ vẫn tìm kiếm hợp tác với Trung Quốc, các lĩnh vực được đưa ra (chống biến đổi khí hậu, COVID-19 và phổ biến hạt nhân, Iran và Bắc Triều Tiên…) lại chưa mang tính đột phá.
Giới quan sát khu vực có lẽ quan tâm đến hợp tác kinh tế hai nước, nhất là khi quan chức chính quyền của ông Biden vẫn còn mâu thuẫn về việc áp thuế lên Trung Quốc (Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen kêu gọi bỏ thuế, trái với quan điểm của Đại diện Thương mại Katherine Tai).
Ngoài ra, mặc dù quan hệ nhân dân được nhấn mạnh, song ông Blinken không đề cập tới khởi động lại các chương trình trao đổi văn hóa-học thuật bị hoãn từ thời ông Trump.
Cuối cùng, Washington cũng tự mâu thuẫn với chính mình khi nước này từng nhiều lần khẳng định các nhóm như Bộ tứ hay IPEF không nhằm chống lại Bắc Kinh. Tuy nhiên, chính sách mới lại liệt kê những nhóm này trong phần “liên kết”, khẳng định các triển khai trong phần này nhằm mục đích “cạnh tranh” với Trung Quốc. Điều này có thể ảnh hưởng đến thông điệp mà Mỹ muốn gửi tới khu vực.
Chính sách mới về Trung Quốc của Mỹ lại liệt kê (các nhóm như Bộ tứ hay IPEF) trong phần “liên kết”, sau đó khẳng định các triển khai trong phần này nhằm mục đích “cạnh tranh” với Trung Quốc. Điều này có thể ảnh hưởng đến thông điệp Mỹ muốn gửi tới khu vực.
Giai đoạn mới
Có lẽ, không phải ngẫu nhiên tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken về cách tiếp cận Trung Quốc được đưa ra vào năm 2022, đúng 50 năm sau khi cố Tổng thống Richard Nixon thăm Bắc Kinh.
Nếu như chuyến công du lịch sử ấy đã mở cửa cho quan hệ song phương thì giờ đây, tuyên bố của ông Blinken có thể đánh dấu một giai đoạn mới, khi Mỹ theo đuổi cạnh tranh với Trung Quốc toàn diện hơn.
Thời gian tới, nhiều khả năng Mỹ sẽ tiếp tục theo đuổi các biện pháp để lấp đầy các khoảng trống, xóa bỏ nghi ngại từ đồng minh-đối tác và biến các nội dung chính sách trong Tuyên bố này thành hiện thực.
TG&VN

MÁU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ ĐỔ XUỐNG ĐỂ CHO "CÂY ĐỜI" CAMPUCHIA ĐƯỢC HỒI SINH! KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP QUÊN!

 


Sáng nay, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Campuchia Hun Sen đến thăm bia đá lưu niệm tại khu vực X16 thuộc xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước - điểm dừng chân đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam của Thủ tướng Hun Sen và đồng đội đúng ngày này cách đây 45 năm. Hai Thủ tướng đã cùng trồng cây lưu niệm tại địa danh lịch sử X16, là một trong các địa danh như Thủ tướng Hun Sen từng nói "là đáng nhớ nhất trong cuộc đời mình và góp phần thay đổi đất nước Campuchia sau này".
45 năm trước, ông Hun Sen và một số cộng sự của mình vượt vòng lửa đạn của quân Pôn Pốt, sang Việt Nam tìm đường cứu nước. Bằng tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả của mình, Đảng, nhà nước và quân đội nhân dân Việt Nam đã cưu mang Hun Sen; sau đó đại quân ta Tây chinh, giúp nhân dân Campuchia thoát hoạ diệt chủng; khai tử tập đoàn Pôn Pốt tàn bạo và khát máu do người Trung Quốc nuôi dưỡng, giật dây. Cứu nhân dân Campuchia khỏi cảnh tàn sát, chết chóc. Quân đội nhà Phật cứu rỗi một Campuchia hoang tàn và đổ nát mà xây dựng nên một đất nước giàu mạnh như hôm nay.
Thủ tướng Hun Sen sau này luôn luôn ca ngợi tình đoàn kết, hữu nghị gắn bó giữa nhân dân hai nước, đặc biệt là sự giúp đỡ vô tư, trong sáng, đầy tình đồng chí, anh em và chủ nghĩa nhân văn cao cả của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot, hồi sinh mạnh mẽ và xây dựng một xã hội tốt đẹp, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Campuchia.
Tuy nhiên, quan hệ Việt Nam và Campuchia chưa phải là "mặt hồ phẳng lặng" kiểu như ta và Lào anh em, luôn thủy chung, son sắt. Việt Nam - Campuchia có dấu hiệu căng thẳng kể từ 2012. Căng thẳng này có thể là kết quả của thay đổi chiến lược, cũng như các vấn đề nhạy cảm về biên giới và người gốc Việt ở Campuchia. Về mặt chiến lược, Campuchia và Việt Nam gần đây có tiếp cận rất khác nhau trước môi trường an ninh thay đổi của châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam chủ động sử dụng mối quan hệ hợp tác đa phương trong khu vực, như Asean, trong chiến lược cân bằng trước Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đa dạng hóa, đa phương hóa trong các mối quan hệ.
Ngược lại, Campuchia ngày càng phụ thuộc Trung Quốc về kinh tế và quốc phòng. Xung đột biên giới Campuchia - Thái Lan từ 2008 tới 2011 đẩy Campuchia thành lập quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, do Phnom Penh nhìn nhận có đe dọa trở lại từ Thái Lan. Đáng chú ý, Campuchia và Việt Nam có tiếp cận rất khác nhau về tranh chấp trên Biển Đông. Campuchia, là nước không có tranh chấp, không muốn vấn đề này chi phối ngoại giao đa phương khu vực mà có thể làm phật lòng Bắc Kinh, gây hại cho quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và Campuchia. Vì thế, Campuchia thỉnh thoảng lại từ chối cùng Việt Nam và một vài nước Asean trong vấn đề Biển Đông. Tại hội nghị ngoại trưởng Asean ở Phnom Penh tháng 7/2012, tranh chấp biển đảo gây ra bế tắc, khiến các nước không thể ra thông cáo chung là ví dụ điển hình.
Ngày 8/6/2022, lãnh đạo Campuchia và Trung Quốc đã động thổ dự án cải tạo căn cứ hải quân Ream thuộc tỉnh Sihanoukville. Mỹ và nhiều quốc gia khác có lợi ích cốt lõi ở biển Đông lo ngại căn cứ này được cải tạo để dành cho quân đội Trung Quốc sử dụng độc quyền. Tất nhiên, lợi ích quốc gia là mãi mãi trường tồn. Tuy nhiên, nếu chơi theo kiểu nước đôi thì rõ ràng là rất nguy hiểm cho quan hệ hai nước. Chưa kể là người Việt ở Campuchia luôn bị phân biệt đối xử. Máu người Việt Nam đã đổ để "cây đời" Campuchia được tái sinh. Vẫn tin tưởng là Campuchia không quên ơn, phụ nghĩa, luôn giữ mối quan hệ hàng xóm, láng giềng hữu hảo. Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây luôn tương trợ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 21/6


“Cầu đường là mạch máu của một nước”.
Là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài: “Công tác cầu đường”, đăng trên Báo Nhân dân, số 119, từ ngày 21 - 25 tháng 6 năm 1953. Đây là thời kỳ mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo bước vào giai đoạn quyết định, quan trọng, rất cần phải huy động nguồn nhân vật lực lớn cho chiến dịch.
Lời Bác Hồ dạy, có ý nghĩa thiết thực, khẳng định vai trò hết sức quan trọng của hệ thống cầu đường, của giao thông vận tải; được Bác ví như mạch máu của một đất nước, của một quốc gia dân tộc. Trên thực tế, nếu cầu đường mà tốt thì nó tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm cho thắng lợi của kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời, lời dạy của Bác còn thể hiện sự quan tâm, đông viên, khích lệ, đánh giá cao vai trò, trách nhiệm của những người làm cầu đường. Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giao thông vận tải đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm hăng say lao động làm cầu, mở đường đảm bảo cho hệ thống giao thông thông suốt, phục vụ đắc lực công cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới; tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, lời dạy của Bác có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là tư tưởng chỉ đạo trong phát triển ngành giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng, Nhà nước.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tích cực tham gia phối hợp cùng ngành giao thông vận tải và nhân dân củng cố, nâng cao chất lượng, tăng cường khả năng bảo đảm cầu đường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu trong những năm tháng đất nước có chiến tranh và phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Đường Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại gắn với hình ảnh những người lính Binh đoàn Trường Sơn không sợ mưa bom, bão đạn mở đường cho xe ta ra trận giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội phá đá, khoét núi mở đường, bắc cầu trên vành đai biên giới, xóa cầu khỉ, cầu tạm, làm đường dân sinh cùng chung sức xây dựng nông thôn mới… đã trực tiếp làm cho mạch máu quốc gia được thông suốt, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

MỘT BÀI HỌC LỊCH SỬ VỀ SỰ THỰC, MỘT BÀI HỌC CẦN ĐƯỢC GHI NHỚ!


Người phụ nữ bé nhỏ ấy là To Thi Nau (có thể là Tô Thị Nâu), một liên lạc viên quân Giải phóng, đã hỗ trợ đưa một tiểu đội quân Giải phóng thoát đi an toàn nhưng cô ấy không di tản thành công và bị bắt lại. Còn những người đi bên cạnh là các binh lính thuộc lực lượng SAS - lực lượng đặc nhiệm khét tiếng thế giới, thuộc quân đội Úc. Nếu ai từng chơi các các game bắn súng, chắc là biết đến SAS rồi.
Người phụ nữ ấy phải chịu đựng những gì?
Hai người lính đặc nhiệm SAS bắt cô ấy, trói cô ấy ra giật cánh khuỷu, ép cô ấy ngửa mặt lên trời và phủ một chiếc khăn ướt lên mặt cô ấy. Và khi cô ấy hít vào, chiếc khăn ướt đó bịt đường thở của cô ấy, khi thở ra, chiếc khăn mắc nghẹn khiến cô ấy thở rất khó nhọc. Đau đớn hơn, mỗi khi cô ấy tìm cách thở ra, họ lại xối nước cô ấy từ trên cao, khiến cô ấy mắc nghẹn và ho sằng sặc.
Đám lính ấy cứ làm như vậy trong nửa giờ đồng hồ. Một tiểu đội lính Úc thay phiên nhau làm như vậy và chúng cười phá lên giữa rừng núi. Cô ấy im lặng và chỉ cố tìm cách để thở.
Rồi, đám lính này nói với thông dịch viên rằng: “Hãy khai ra nếu móng tay của mày sẽ bị rút hết, tụi tao sẽ bịt lại các lỗ trên người mày - bao gồm mũi, tai và vùng kín. Và tụi tao sẵn sàng làm những thứ hơn cả những gì mày có tưởng tượng ra”.
Và những chi tiết trên bị Chính phủ Úc và quân đội Úc che giấu suốt bao nhiêu năm. Bao nhiêu cuộc điều tra, bao nhiêu phiên điều trần đều phủ nhận tội ác với cô gái To Thi Nau ấy. Thủ tướng Úc John Gorton cho rằng cô gái To Thi Nau đã diễn cảnh “tra tấn”, quần áo ướt cũng là diễn (?), nghị trường nước cười nhạo cô gái này và phủ nhận mọi cáo buộc.
Cho đến một ngày ở tháng 4/2010, Peter Barham - cựu lính SAS, thông dịch viên và người có mặt trực tiếp vào hôm cô gái To Thi Nau bị tra tấn ấy, quyết định đưa toàn bộ diễn biến buổi tra tấn hôm đó ra với truyền thông.
Peter Barham: “Tôi đã bị gương mặt cô ấy ám ảnh trong 44 năm. Đã đến lúc sự thực trở về với sự thực”. Trước đó, Chính phủ Úc, Bộ Quốc phòng Úc đã gây sức ép bắt buộc Peter Barham phải im lặng, đổi lại Peter Barham được trở về úc, phục vụ trong quân đội, có một vị trí tốt. Nhưng sau đó, do quá ám ảnh, ông đã từ chức và trở thành một người nghiện rượu trong những thập kỷ tiếp theo…
Chuẩn tướng Oliver Jackson, người chịu trách nhiệm tại Núi Đất (Bà Rịa - Vũng Tàu) của quân đội Úc đã ra lệnh điều tra vụ tra tấn này xem có thực hay không. Nhưng quyết định nhanh chóng bị lãng quên vì VNCH khi ấy không phê duyệt Công ước Genève về đối xử nhân đạo với tù binh nên VNCH có quyền “hạ sát bất cứ ai nếu thấy cần thiết”... Điều tra cũng không giải quyết được gì cả và cũng không cần thiết. Vì mọi tội ác đều sẽ được coi như chưa từng tồn tại…
“Chiến tranh bóp chết những người đàn ông trẻ tuổi. Và ăn mòn linh hồn của những người còn sống như tôi" - Peter Barham
Peter Barham đã tìm kiếm thông tin về cô gái này trong suốt 4 tháng sau đó khi anh này vẫn còn ở Núi Đất và trong 44 năm sau, ông ấy vẫn khao khát tìm kiếm thông tin về To Thi Nau - nhưng chưa bao giờ được hồi đáp.
Lịch sử là những thứ tồn tại và không tồn tại. Có biết bao nhiêu điều mà sách giáo khoa, báo chí, truyền thông… không bao giờ ghi lại, nói đến hoặc bàn tán. Lịch sử ở trong những người còn sống và nhiều khi, có những sự thực lịch sử đã tan biến theo những con người ấy…
Rồi sẽ đến một ngày, những câu chuyện lịch sử ấy dần nhạt phai, dần nhẹ đi...
Xin mượn tâm sự của Peter Barham để kết thúc: "Tôi đã rất vui vì đã đưa ra sự thực. Tôi dường như đã không sống trong 44 năm qua” - Peter Barham.
Còn chúng ta, những thế hệ sau mấy chục năm chiến tranh ấy, nghĩ gì về những gì mà thế hệ trước đã trải qua?
tifosi
Từ liệu tham khảo từ Couriermail News, Bộ Quốc phòng Úc.

NHÌN UKRAINE ĐỂ BIẾT THẾ NÀO LÀ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, DỰA VÀO SỨC MÌNH LÀ CHÍNH!


Theo hãng tin RT và Baha News, phát biểu trên truyền hình quốc gia tối 19/6, ông Kuleba nói: "Nếu chúng tôi không có vũ khí, cũng không sao. Sau đó, chúng tôi sẽ chiến đấu bằng xẻng". Ông Kuleba hờn dỗi khi Mỹ và phương Tây chậm chuyển vũ khí cho Ukraine, trong bối cảnh Nga đẩy mạnh tấn công và kiểm soát gần như toàn bộ Dobass.
Cụ Hồ dạy người Việt Nam "Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Ukraine sau khi tách khỏi Liên Xô năm 1991, họ kế thừa và sở hữu kho vũ khí hạt nhân thứ 3 thế giới, vũ khí, khí tài hiện đại hơn cả Nga. Nguyên nhân là Liên Xô đặt trọng tâm công nghiệp ở Ukraine. Sau khi Liên Xô tan rã, Ukraine đã kế thừa rất nhiều đơn vị, vũ khí trang bị tiên tiến và vật tư dự trữ chiến lược của Liên Xô cũ, trong đó bao gồm 780.000 quân hiện có, 6.500 xe tăng, 7.150 xe bọc thép, 1.500 máy bay, 350 tàu chiến, 1.272 đầu đạn hạt nhân sử dụng cho tên lửa xuyên lục địa, 2.500 vũ khí hạt nhân chiến thuật...
Ukraine chiếm độc quyền trong không gian hậu Xô Viết về sản xuất các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và tên lửa vũ trụ sử dụng nhiên liệu lỏng hạng năng, tàu sân bay, các máy bay vận tải quân sự hạng nặng, động cơ máy bay lên thẳng. Sau khi chia tách, Ukraine mạnh như long hổ, tiềm lực kinh tế và quân sự là rất vượt trội so với các nước Đông Âu.
Thế nhưng Ukraine đã thiếu tiền để duy trì, trang bị kỹ thuật quân sự, để hư hỏng, hết hạn sử dụng, hoặc được bán cho nước ngoài. Trong giai đoạn từ năm 1992 đến 2012, Ukraine nằm trong danh sách những nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới! Với chủ trương bán sạch, Ukraine hiện nay chẳng có gì. Khi cuộc chiến xảy ra, họ nhanh chóng cạn vũ khí và phải dựa vào Mỹ và phương Tây. Các loại vũ khí của NATO khác biệt so với Liên Xô và quân đội Ukraine lâm trận mới bắt đầu học võ.
Nhìn Ukraine bây giờ thật thê thảm, chẳng khác quân đội ngụy Sài Gòn trước 1975. VNCH xưa như đứa trẻ sơ sinh, phải nhờ Mỹ bú mớm thì mới sống sót. Mỹ rút quân chưa đến 2 năm thì bọn chỉ quen ký sinh vào cơ thể khác nhanh chóng bị khai tử. Ukraine nhỏ hơn, yếu hơn và không thể tự lo cho vận mệnh đất nước nhưng luôn hô hào chống Nga. Bài học xương máu cho các quốc gia về chung sống hoà bình với lân bang. Bài học về ý chí tự lực tự cường, dựa vào sức mạnh nội sinh là chính. Không thể trông chờ ai đến cứu mình khi tự bản thân mình không chịu cố gắng vươn lên, làm chủ vận mệnh của chính mình./.