Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU “NẮN DÒNG DƯ LUẬN”

 

          Gần đây, trên không gian mạng, các đối tượng thù địch, phản động lại tập trung công kích, xuyên tạc lịch sử đất nước một cách trắng trợn. Âm mưu của chúng là nhằm “nắn dòng dư luận”, gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang, phá hoại tư tưởng trong Nhân dân.

          Trong khi dư luận trong nước đang tranh luận xem nên hay không nên để môn Lịch sử là môn học tự chọn cho cấp học THPT từ năm học 2022-2023 theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì bên kia “đại dương”, một số đối tượng có liên quan đến tổ chức khủng bố Việt Tân lại tranh thủ tiến hành xuất bản cuốn sách “ĐÔI DÒNG SỬ VIỆT”. Điều đáng nói là nhiều nội dung trong cuốn sách đã xuyên tạc trắng trợn vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ bảo vệ đất nước.

          Trên một số trang mạng xã hội như “Tiếng dân”, “Tivi tuần san”... thông qua các hình thức đăng tải video clip, bình luận theo chuyên đề, các đối tượng thù địch đã lộ rõ âm mưu “bắn đại bác vào quá khứ” với chiêu bài “mưa dầm thấm lâu”. Chúng lật lại những thông tin, sự kiện cũ rồi suy diễn, xuyên tạc bằng “cái nhìn mới” để kích thích, gây hoang mang cho người nghe, người xem, trong đó tập trung nhiều nhất là vào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

          Nói về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, những kẻ cơ hội chính trị này đã đánh tráo, cho rằng thành quả Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là sự ăn may. Việc xuyên tạc lịch sử của chúng thực chất là mưu đồ chính trị của những người bất mãn với chế độ chính trị, muốn phủ nhận ý nghĩa, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành quả của cuộc cách mạng. Cần phải khẳng định, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa. Cách mạng thành công đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, từ đây Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

          Tự thân mỗi người đều biết, quyền dân chủ không phải là một khái niệm vô hạn và không có quyền dân chủ nào được phép vu cáo, xuyên tạc, phỉ báng cả một dân tộc, xâm hại quyền, lợi ích của một đất nước, bởi vậy thực chất của những luận điệu trên chính là nhằm phá hoại về mặt tư tưởng, làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ. Mục tiêu việc làm này là nhằm hình thành một thế hệ có suy nghĩ đòi xét lại lịch sử, trong đó có nhiều thành phần “trở cờ”, nếu nhiều người trong chúng ta cả tin, chỉ biết tiếp nhận thông tin mà không có sự suy xét, đối chứng thì liệu lịch sử sẽ rất dễ dàng bị xuyên tạc, bóp méo.

          Mặc dù đã có không ít trường hợp vi phạm bị xử lý theo quy định pháp luật, nhưng dường như vẫn chưa thực sự đủ sức răn đe. Vì vậy, để đấu tranh hiệu quả với thủ đoạn, chiêu trò của các thế lực thù địch cần thiết phải xử lý nghiêm minh, xét xử công khai, có hình phạt thích đáng để làm gương. Mặt khác, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch.          Cần phải kiên trì xây dựng mỗi công dântrở thành một chiến sĩ trên mặt trận bảo đảm an ninh mạng, nhất là cần kiểm chứng thông tin và chia sẻ, lan toả thông tin tích cực./.

                                                                                                Đa22

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước liên quan vụ án nâng giá kit xét nghiệm tại Công ty Việt Á

 Ngày 07/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với ông Chu Ngọc Anh (nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ); ông Nguyễn Thanh Long (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế) và Phạm Công Tạc (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) do những sai phạm liên quan đến vụ án nâng giá kit xét nghiệm xảy ra tại Công ty Việt Á.

Việc xử lý các cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án Việt Á cho thấy sự quyết tâm không khoan nhượng với hành vi sai phạm trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; khẳng định quan điểm “diệt tận gốc, cắt tận ngọn”; thể hiện một nguyên tắc nhất quán “xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sức ép và sự can thiệp trái pháp luật nào”. Từ thời điểm xảy ra vụ án đến nay, hàng loạt quan chức, lãnh đạo đầu ngành các địa phương, một số bộ ngành đã bị khởi tố, bắt giam, “lò lửa” chống tham nhũng nóng hơn bao giờ hết; sự quyết liệt, triệt để, không khoan nhượng trong chỉ đạo và hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta, với phương châm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng và thượng tôn pháp luật hơn lúc nào hết được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, đạt hiệu quả.

          Vụ án Việt Á cho đến nay vẫn đang được các cơ quan chức năng Việt Nam tích cực mở rộng điều tra, lần lượt “đưa ra ánh sáng” những hành vi sai phạm. Điều tra làm rõ đến đâu, giải quyết, xử lý đến đó. Tuy nhiên, lợi dụng những bức xúc của dư luận quần chúng đối với vụ án, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như Việt Tân, RFA, RFI, BBC Tiếng Việt, VOA… liên tục đăng tải, bình luận, đưa ra những luận điệu để xuyên tạc bản chất vụ việc, cố tình làm sai lệch, tạo dư luận trái chiều công kích, phủ nhận công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta. Mới đây nhất hồi ngày 08/6/2022, trên trang thông tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài: “Phản hồi của dân chúng về vụ bắt giữ ba lãnh đạo cấp cao liên quan đến Việt Á”, đưa ra những luận điệu cho rằng “việc bắt giữ ba quan chức mới nhất chỉ là sự đấu đá trong hàng ngũ cấp cao nhất của Đảng Cộng sản và số phận của các lãnh đạo này được định đoạt sau khi cuộc đấu đá này ngã ngũ”. Các đối tượng thường xuyên dùng thủ đoạn phỏng vấn, tán phát các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để bóp méo, đả phá đối với sự việc, cho rằng “việc xem xét kỷ luật các quan chức này quá rề rà trong một thể chế độc đảng”, ca tụng chế độ dân chủ pháp quyền “thì những sai phạm kiểu này sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc từ lâu rồi”, quy chụp việc chống tham nhũng, chỉnh đốn đảng cũng “không thể làm thay đổi được bản chất hư hỏng hết thuốc chữa của hệ thống cai trị này”; đồng thời nghi ngờ sự lựa chọn nhân sự, những con người đang có sai phạm như trên vào lãnh đạo bộ máy chính quyền của Đảng; đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước.

  Những luận điệu thù địch thường đi đến kết luận “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; rồi quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Đưa từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng tiếp tục xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả nhằm hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tiến hành tố tụng; đổ lỗi do chế độ “độc Đảng, độc quyền”. Từ vụ việc, mục đích các đối tượng tung ra thông tin sai lệch nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội.

          Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, mà ở tất các quốc gia, dân tộc không phân biệt về thể chế chính trị đa đảng hay một đảng lãnh đạo, không phân biệt về trình độ phát triển xã hội giàu hay nghèo đều xuất hiện tham nhũng, tiêu cực. Chính vì vậy, không thể lấy vụ án tham nhũng tại Công ty Việt Á cũng như các vụ án tham nhũng, tiêu cực khác để gán ghép, suy diễn là do chế độ “độc đảng” như cái cách mà các thế lực thù địch đang tìm cách đổ lỗi, quy trách nhiệm, cố tình quy kết tình trạng tham nhũng, tiêu cực là do chế độ, do Đảng, Nhà nước.

  Vụ án Việt Á là một vụ án nghiêm trọng, xảy ra vào thời điểm “nhạy cảm” khi toàn xã hội đang gồng mình để đẩy lùi dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, một số cán bộ tha hóa, biến chất, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đã lợi dụng dịp “nước sôi lửa bỏng” để “thừa nước đục thả câu” ăn chia lợi nhuận theo kiểu “đục nước béo cò”. Đây rõ ràng là hành vi phải được xử lý và nghiêm trị thích đáng. Ngay khi vụ án xảy ra, các cơ quan chức năng đã vào cuộc với tinh thần quyết liệt để không bỏ lọt sai phạm. Tháng 12/2021, Bộ Công An khởi tố vụ án, bắt Phan Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty Việt Á và các phần tử liên quan về tội nâng giá bộ xét nghiệm Covid-19 và đưa nhận hối lộ. Chỉ trong thời gian ngắn, cơ quan chức năng đã khởi tố hàng loạt quan chức từ Trung ương đến địa phương, trong đó có các cán bộ cấp vụ của Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Giám đốc CDC 5 tỉnh Hải Dương, Nghệ An, Bình Dương, Bắc Giang, Thừa Thiên Huế. Và tất nhiên con số chưa dừng lại ở đó, chỉ trong hơn năm tháng (từ giữa tháng 12 năm 2021 đến nay), cơ quan chức năng đã khởi tố, bắt giam 58 người liên quan đến vụ án, trong đó có cán bộ cấp cao các bộ ngành và địa phương. Điều này thể hiện rất rõ quan điểm nhất quán trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”, quyết tâm đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong xã hội.

          Thực tế cho thấy, sai phạm ở vụ án Việt Á là sai phạm mang tính hệ thống, xảy ra trên diện rộng và liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương. Nhưng không thể đồng nhất với “lỗi hệ thống”, “lỗi của cả bộ máy”. Nguyên nhân căn bản là của sai phạm xảy ra do một số thủ tục trong quá trình đấu thầu được rút gọn để phục vụ công tác chống dịch, việc giám sát còn nhiều sơ hở, thiếu công khai, minh bạch dẫn đến khơi dậy lòng tham của những kẻ thoái hóa, biến chất. Do đó, không thể quy kết nguyên nhân gây ra vụ án là do bản chất và hậu quả của chế độ “độc đảng” và kêu gọi “cải cách thể chế chính trị” là điều phi lý, phi thực tế.  

          Qua vụ án Việt Á cho thấy cuộc chiến chống tham tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ trong nội bộ. Vì vậy, cần phải có những bước đi thận trọng, chuẩn xác để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch, phản động. Chính sự chỉ đạo, vào cuộc mạnh mẽ, đồng lòng, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị đã để lại dấu ấn nổi bật trong cộng đồng quốc tế, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và niềm tin yêu, mong đợi của nhân dân.

Xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước: Thực chất là các luận điệu 'mượn gió bẻ măng'

 Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng (PCTN) đang được Đảng và Nhà nước tiến hành mạnh mẽ; quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, không có vùng cấm; diễn ra ở mọi cấp, mọi ngành và đã đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận.

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh PCTN”. Với quan điểm xuyên suốt và nhất quán là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Chỉ tính riêng năm 2021, đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 so với năm 2020), trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Kết quả đó đã khẳng định công tác đấu tranh PCTN “không có vùng cấm”, tài sản bị tham nhũng được thu hồi, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng được thắt chặt để ngăn chặn hành vi tham nhũng. Nhân dân ta và dư luận quốc tế ngày càng tin tưởng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh PCTN tại Việt Nam.

Những thành tựu trong công tác PCTN những năm qua đã được khẳng định. Quyết tâm làm trong sạch Đảng, xã hội của Đảng được chứng minh mạnh mẽ. Vậy nhưng, các thế lực thù địch trong và ngoài nước với nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau ra sức xuyên tạc công tác PCTN của Đảng và Nhà nước. Các hãng truyền thông nước ngoài có chương trình phát sóng bằng tiếng Việt (BBC, VOA, RFA, RFI,...), các trang web của Việt Tân, Hội anh em dân chủ, Chân trời mới, các blogger cá nhân liên tục đăng tải, phát sóng các bài viết để chống phá, gây rối, xuyên tạc với tần suất ngày càng phổ biến với những luận điệu hết sức trắng trợn: “Chống tham nhũng thực chất để thanh trừng lẫn nhau!”, “Chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng”, “Chống tham nhũng biến thành thanh trừng chính trị”, “Có ai còn tin câu: Chống tham nhũng ở Việt Nam không có vùng cấm?”, “Chống tham nhũng ở Việt Nam là tự sát?”.

Chúng cho rằng, đấu tranh PCTN ở Việt Nam chỉ là sự “đấu đá” vì “lợi ích nhóm”, “thanh trừng nội bộ, triệt tiêu phe cánh”. Dù các vụ việc được xét xử công khai và thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng các thế lực thù địch vẫn cố tình cắt xén, nhào nặn rồi dựng nên câu chuyện về các “phe nhóm nội bộ”, các “nhóm lợi ích” hay phe cánh đang đấu đá lẫn nhau. Chúng triệt để khai thác đời tư cán bộ, thêu dệt, gán ghép, cắt ghép ảnh chụp những ngôi biệt thự, những siêu xe sang trọng và lấy đó làm “chứng cứ” quy chụp, bịa đặt tài sản tham nhũng của cán bộ các cấp.

Chúng lập ra các báo, tạp chí, trang web, sử dụng triệt để mạng xã hội để đăng tải tin, bài, video clip; xuất bản các ấn phẩm có nội dung xuyên tạc, bôi đen, dựng chuyện, tạo cảm giác tham nhũng đang xảy ra ở khắp các lĩnh vực các bộ, ngành cùng với những nhận định và kết luận hết sức hồ đồ: “Đó là cơn cớ vì sao mà nguyên cái hệ thống này người ta dễ tham nhũng và buộc phải tham nhũng đến thế”, “Sách lược chống tham nhũng của cụ Tổng nghe bên ngoài thì có vẻ quyết liệt vì dân, nhưng thực chất bên trong chỉ là thêm giấy, thêm họp hành, thêm chi phí cho những hiệu triệu chém gió”. Chúng cho rằng, “Tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam, bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, do xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công”, “Tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”, “Do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra,...”. Họ còn lớn tiếng “Cuộc đấu tranh PCTN của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công”, “Căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”,...

Những luận điệu nêu trên của các thế lực thù địch là vô căn cứ, quy chụp để bôi nhọ và chống phá Đảng, phủ định những kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển của nước ta, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như quyết tâm chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, các luận điệu “mượn gió bẻ măng”, từ chuyện tham nhũng bàn về Điều 4 Hiến pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, dẫn dắt dư luận hoài nghi, dao động, chống phá chế độ.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định quyết tâm tiếp tục phòng và đấu tranh chống tham nhũng: “Triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh PCTN”. Đi liền cùng đó là “khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ, có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp” để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh chống tham nhũng, góp phần làm trong sạch Đảng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Thực tiễn cho thấy, không thể xuyên tạc và bôi đen quyết tâm PCTN và những kết quả đã đạt về PCTN của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân cần chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go về công tác đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước./.

Chặn tham nhũng, tiêu cực - vững lòng dân, thế nước

 Những năm qua, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, đặc biệt là hoạt động của ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Qua đó, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, trong sạch và giữ vững nguyên tắc, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước, củng cố "thế trận lòng dân”...

Những kỳ họp thực chất

Điều rất dễ nhận thấy trong những năm gần đây là các kỳ họp của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và UBKT Trung ương được cán bộ, đảng viên và nhân dân đặc biệt quan tâm, bởi thông tin từ các kỳ họp luôn "nóng bỏng”, thể hiện rõ quyết tâm của Đảng ta trong việc quyết liệt, kiên trì đấu tranh với những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, nhằm giữ vững sự thanh sạch của Đảng.

Nếu như các kỳ họp của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thường xác định quyết tâm và đưa ra những định hướng lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực, thì các kỳ họp của UBKT Trung ương kết luận rõ tính chất, mức độ, hình thức xử lý kỷ luật hoặc đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan chức năng xử lý cụ thể đối với từng tổ chức đảng và cá nhân cán bộ, đảng viên có vi phạm. Kết quả kiểm tra, giám sát, xử lý các vụ việc được công bố rõ ràng, bảo đảm đúng phương châm của công tác kiểm tra là "công minh, chính xác, kịp thời".

Với quyết tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tiến hành một cách bài bản, từ trên xuống dưới, có trọng tâm, trọng điểm; kiên quyết xử lý kỷ luật theo đúng quan điểm "không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, không có hạ cánh an toàn”, mọi đảng viên đều bình đẳng khi xử lý kỷ luật và làm nghiêm từ trên xuống..., từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến hết năm 2021, cấp ủy và UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên (trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý...).

Đặc biệt, quán triệt quan điểm "Kỷ luật đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý hình sự theo pháp luật”, UBKT Trung ương đã tập trung kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc nổi cộm, gây bức xúc dư luận. Riêng năm 2021, UBKT Trung ương đã xử lý và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý nghiêm 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Theo thông tin tại cuộc họp của Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, được tổ chức ngày 27-4: Từ đầu năm 2022 đến nay, UBKT Trung ương đã khẩn trương kiểm tra, phát hiện, xử lý, kiến nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý.

Vừa qua, việc kiểm tra, làm rõ các sai phạm, xử lý và yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với nhiều tập thể, cá nhân sai phạm liên quan đến những vụ việc nổi cộm (như: Vi phạm trong việc quyết định giảm chấp hành hình phạt tù trước thời hạn cho Phan Sào Nam; những sai phạm trong mua sắm vật tư phục vụ phòng, chống dịch Covid-19, điển hình là vụ việc liên quan đến Công ty Việt Á; vi phạm trong việc tham mưu xây dựng thể chế, chính sách và thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước...) được dư luận rất hoan nghênh, bởi thấy rằng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng ngày càng hiệu quả. Nhất là, UBKT Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và kiến nghị xử lý được những vi phạm trong các lĩnh vực mới, khó và nhạy cảm, thể hiện rõ bản lĩnh, quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong những lực lượng, cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm, tội phạm. Vì thế, nhiều cán bộ, đảng viên và người dân đã chú tâm theo dõi, đặt niềm tin vào những kỳ họp của UBKT Trung ương.
iệu quả không chỉ là "bắt sâu”

Trên cơ sở rút kinh nghiệm những hạn chế, thiếu sót trước đây và quán triệt phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định, hơn một năm qua, nhất là sau khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã có sự chuyển biến rõ nét; các quy định, quy chế, quy trình nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện...

Chuyển biến rõ nhất là toàn Đảng đã từng bước khắc phục tình trạng "trên nóng, dưới lạnh”; tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm; chủ động dự báo những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong tình hình mới để kiểm tra trước và đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm, từ lúc còn manh nha... Thực tế thời gian qua, việc xử lý kịp thời, kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, bảo đảm thực sự không có "vùng cấm” đã góp phần giải tỏa được những bức xúc, bất bình của nhân dân và dư luận xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, giúp phòng ngừa vi phạm.

Lan tỏa tinh thần chủ động kiểm tra, tăng cường giám sát (không chỉ trong Đảng mà toàn hệ thống chính trị và trong nhân dân) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý vi phạm là điều mà cán bộ, đảng viên cùng người dân cảm nhận rất rõ. Nhiều người đã dùng câu ví "lò luôn nóng” để nói về điều này.

Tại Hội nghị toàn quốc giao ban công tác kiểm tra, giám sát quý I, triển khai nhiệm vụ quý II năm 2022 được tổ chức ngày 25-4 vừa qua, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UBKT Trung ương, cho biết: Trong 3 tháng đầu năm 2022, UBKT thuộc cấp ủy các địa phương, đơn vị đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 297 tổ chức đảng và 921 đảng viên. Hiện UBKT Trung ương đang có 20 đoàn kiểm tra dấu hiệu vi phạm (tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm 2021), đồng thời chỉ đạo cấp ủy và UBKT 63 tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với một số tổ chức đảng, đảng viên. Qua kiểm tra, đã xử lý và đề nghị xử lý kỷ luật nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Trong đó: Cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 32 tổ chức đảng và 1.953 đảng viên; Ban Bí thư thi hành kỷ luật 3 tổ chức đảng và 9 đảng viên; UBKT các cấp thi hành kỷ luật 26 tổ chức đảng, 1.017 đảng viên; UBKT Trung ương thi hành kỷ luật 5 tổ chức đảng và 21 đảng viên.

Thực tế đã cho thấy, hầu hết các tổ chức đảng và đảng viên sau khi được kiểm tra, giám sát đã nghiêm túc khắc phục, sửa chữa vi phạm, khuyết điểm và hậu quả gây ra; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa...

Trước việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 34-KL/TW ngày 18-4-2022 về Chiến lược kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, chúng tôi đã trao đổi với một số đồng chí lão thành cách mạng, cựu chiến binh, nhà khoa học... Các ý kiến đều cho rằng: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người luôn nêu cao quyết tâm làm thanh sạch Đảng, kiên quyết loại bỏ những "con sâu mọt” làm hại Đảng, hại nhân dân, đất nước. Vì thế, việc Bộ Chính trị ban hành Chiến lược kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030 nhằm không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là rất cần thiết; tiếp tục thực hiện quyết tâm "tuyên chiến” với những "con sâu làm rầu nồi canh” theo tinh thần "không có vùng cấm, không ai ngoại lệ” mà Trung ương, nhất là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định.

Việc thời gian qua Đảng, Nhà nước ta xử lý nghiêm tất cả những cán bộ, đảng viên có vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao, dù đang đương chức hay nghỉ hưu, càng củng cố niềm tin của nhân dân-giữ vững "thế trận lòng dân”. Đây là cái được lớn nhất mà công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã góp phần quan trọng. Mong rằng thời gian tới, với việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, Đảng tiếp tục "diệt sâu” kiên quyết và hiệu quả hơn nữa để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững, vượt qua mọi khó khăn, thách thức.

Nhân văn - nguồn sáng làm nên tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh

 Tính nhân văn dựa trên tính khoa học, gắn liền với tính cách mạng, kết hợp hài hòa, chặt chẽ trong một chỉnh thể thống nhất, làm nên bản chất, đặc điểm của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh: Khoa học-cách mạng và nhân văn.

Đó cũng là bản chất, đặc điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, được Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo, kết hợp hài hòa văn hóa phương Đông và phương Tây, đậm bản sắc tinh hoa văn hóa Việt Nam, truyền thống và hiện đại, dân tộc và thời đại.

Chất nhân văn Hồ Chí Minh xuất phát từ lòng nhân ái, đức khoan dung

Nhân văn tức là văn hóa, là hệ giá trị chân-thiện-mỹ, mà con người là giá trị cao nhất. Chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh kết tinh trí tuệ, tình cảm, đạo đức, lối sống của Người, từ nhận thức đến hành động, toát lên từ con người, cuộc đời, sự nghiệp của Người, thể hiện trong việc làm và ứng xử của Người qua các mối quan hệ, ở mọi nơi, mọi lúc, giữa mọi người, vô cùng phong phú, đa dạng, biểu cảm.

Người là hiện thân sinh động của chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn truyền thống Việt Nam mà giá trị cốt lõi là lòng yêu nước, thương người, là đạo lý-tình thương và lẽ phải, là vị tha, nhân ái, khoan dung. Người là nhà nhân văn chủ nghĩa trên lập trường cộng sản. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính hòa quyện làm một với chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn cộng sản mang tầm tư tưởng Hồ Chí Minh, vươn tới tầm thời đại và được soi sáng bởi tư tưởng thời đại, phấn đấu, hy sinh trọn đời cho sự nghiệp giải phóng giai cấp (giai cấp công nhân), giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để giải phóng con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thăng hoa những tinh hoa tư tưởng Việt Nam trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là tầm vóc vĩ đại, tạo nên sức thuyết phục, sự hấp dẫn lớn lao của Hồ Chí Minh-"nhà yêu nước trăm phần trăm và người cộng sản trăm phần trăm”(1).
Vậy tính nhân văn, chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ở con người và cuộc sống của Hồ Chí Minh được biểu hiện như thế nào, trong sự gắn liền giữa tư tưởng với đạo đức-phong cách (bao hàm cả phương pháp) của Người. Đó là văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, ở đó, nguồn sáng rực rỡ có sức lan tỏa rộng rãi và hiệu ứng sâu xa là lòng nhân ái và đức khoan dung.

Hãy bắt đầu từ quan niệm của Hồ Chí Minh về con người. Bác Hồ nói: "Chữ người” có nhiều nghĩa, nghĩa hẹp và trực tiếp nhất là những người ruột thịt, cùng máu mủ trong gia đình, họ hàng, dòng tộc thân thích. Nghĩa rộng hơn là đồng bào trong một nước, rộng nhất là nhân loại, là loài người trên quả đất”. Trên lập trường giai cấp công nhân và chủ nghĩa cộng sản, Người quan niệm "Quan sơn muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”. Tình hữu ái giai cấp và tình đoàn kết chiến đấu vì lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa đã đưa tới bước chuyển của Nguyễn Ái Quốc từ tinh thần yêu nước, dân tộc tới CNXH, chủ nghĩa quốc tế vô sản của người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc.

Một nét đặc sắc của tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh là hết lòng nâng niu giá trị con người, tự do và nhân phẩm con người, tin cậy vào những gì tốt đẹp của con người sẽ nảy nở và hoàn thiện thông qua giáo dục và tự giáo dục. Ở đời, con người là con người đời thường, không có ai là thần thánh cả. "Nhân vô thập toàn”, ai cũng có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu. Phải làm sao cho cái hay, cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu, cái dở sẽ mất dần đi. Phải thức tỉnh con người, có khát vọng sống, vươn tới cái tốt đẹp. Phải có sự cảm thông, chia sẻ, động viên, giúp đỡ, có lòng bao dung, độ lượng vĩ đại. Nghiêm với mình, rộng lòng khoan thứ với người, đó là thái độ nhân văn cao quý của Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, trong nhân sinh quan Hồ Chí Minh, Người phân biệt rạch ròi kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân với cá nhân-mỗi người là một cá nhân có lợi ích, sở trường, cá tính khác nhau. Chống chủ nghĩa cá nhân đến cùng vì nó là kẻ thù độc ác, nguy hiểm, vô hình, ẩn nấp trong lòng người, nó phá từ trong phá ra, làm hỏng nhân cách cán bộ, làm tiêu ma sự nghiệp cách mạng nhưng không bao giờ phủ nhận cá nhân, xem nhẹ cá nhân, không vùi dập cá nhân khi chống chủ nghĩa cá nhân như những người mang bệnh giáo điều thường mắc phải. Đây là chỗ sâu sắc, tỉnh táo, mẫn tiệp trong tư duy và hành động nhất quán của Hồ Chí Minh.

Quan tâm, yêu thương mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội

Tính nhân văn là cơ sở trong hoạch định kế hoạch giáo dục-đào tạo cán bộ, trong chính sách cán bộ, trong phép dùng người của Hồ Chí Minh. Suốt đời Người nêu cao và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để làm tròn bổn phận phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người nói, công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng. Phải giáo dục, đào tạo lớp cán bộ cách mạng công phu, tỉ mỉ như người làm vườn. Thương yêu cán bộ đi liền với uốn nắn, phê bình, kiểm soát và bảo vệ cán bộ. Đức là gốc, tài là quan trọng. Phải đủ cả 4 đức (cần, kiệm, liêm, chính) mới là người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Do đó phải suốt đời nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân(2). Phải chú trọng đào tạo cán bộ, các thế hệ kế tiếp nhau. Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ cũng là một cái cớ thất bại(3). Phải huấn luyện cán bộ trong nhà trường, trong cuộc sống thực tiễn, thử thách họ, nâng đỡ họ, tin cậy họ để có đội ngũ cán bộ tốt và giỏi, tận tụy và trách nhiệm, có năng lực sáng tạo và có bản lĩnh dám chịu trách nhiệm. Đó là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

Chất nhân văn Hồ Chí Minh còn biểu hiện đặc biệt cảm động trong tình thương yêu, chăm sóc của Người đối với sự trưởng thành của phụ nữ, đấu tranh bảo vệ nhân phẩm phụ nữ, quan tâm rất mực tới giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ và trọng dụng, cất nhắc cán bộ nữ.

Quy tụ những phẩm chất cao quý đó của tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh là thái độ đối với nhân dân, là quan điểm quần chúng, suốt đời gần dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân để tận tụy phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, đồng thời là lãnh tụ của dân tộc, của nhân dân. Người dạy cán bộ, chiến sĩ quân đội "Trung với Đảng, hiếu với dân”, "Trung với nước, hiếu với dân”, "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, từ tướng lĩnh tới binh sĩ phải hiểu nhân dân là nền tảng của quân đội, nhân dân là cha mẹ của bộ đội, quân và dân như cá với nước(4)... Với công an nhân dân, Người dạy "phải kính trọng lễ phép với nhân dân”, "Công an là bạn của dân, phục vụ và bảo vệ dân”(5). Tôn trọng và tin cậy nhân dân bởi Người thấu hiểu vai trò quan trọng, quyết định của dân trong sự nghiệp cách mạng, lại thấu cảm đời sống vất vả, thiếu thốn, đức hy sinh cao cả của dân, tâm trạng, nguyện vọng của dân. Hiếm có lãnh tụ nào đến với dân, hòa mình trong dân, thương mến nhân dân rất mực chân thành, tận tâm tận lực phục vụ nhân dân như Hồ Chí Minh. Cho đến phút chót của cuộc đời vẫn canh cánh bên lòng "không thể bỏ dân mà đi được”. Trong "Di chúc”, lời cuối cùng vẫn chỉ tiếc rằng "không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(6). Đó là một nhân cách cao thượng.

Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh

Chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát, vào lúc cuối đời, Người nói "Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”(7). Người đã thực hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. "Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon, không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.

Qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhân văn Hồ Chí Minh biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.

Ấy là lời cảm tạ đồng bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói "Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.

Ấy là tâm sự từ nỗi lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: "Mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi”.

Ấy là Người trả lời nhà báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: "Hồ Chí Minh là một phần không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ. Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.

Như vậy, lịch sử là sự thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết tinh trong các bảo vật quốc gia-5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.

Đúng như nữ Giáo sư Sử học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: "Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời đại”(8). Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân loại.

Những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.

Thế nên, những kẻ xuyên tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh - tầm nhìn, bản lĩnh và hành động

Trí tuệ khoa học, đạo đức cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân, kết hợp nhuần nhuyễn chiến lược với sách lược và phương pháp, thấm nhuần chủ nghĩa lạc quan cách mạng, nắm bắt và dự báo sáng suốt xu thế của lịch sử... là những phẩm chất và nhân tố làm nên đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Biểu đạt tư tưởng cách mạng đã chạm đến điểm cốt lõi của chân lý

Hồ Chí Minh khi còn là một thanh niên 21 tuổi với nhiệt huyết của tuổi trẻ nặng lòng yêu nước, thương dân đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Sự kiện Nguyễn Tất Thành rời Bến cảng Nhà Rồng ngày 5-6-1911 làm phụ bếp và thủy thủ trên con tàu Latouche Tréville, bắt đầu cuộc đời lao động "vô sản hóa”, đi khắp các châu lục, đại dương, qua hơn 30 nước và các vùng lãnh thổ khác nhau, lao động, học tập và tranh đấu trong 30 năm để tìm ra con đường cứu nước là con đường cách mạng đã mở đầu cho sự thay đổi số phận của dân tộc ta.

Từ mục đích và động cơ cao thượng tìm đường cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc với ý chí, nghị lực phi thường, với trí tuệ khoa học và tinh thần độc lập, sáng tạo, Người đã chọn đường, nhận đường và cuối cùng trở thành người dẫn đường cho Đảng ta và dân tộc ta trên "Đường Kách mệnh”. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất của một lãnh tụ cách mạng có tầm nhìn xa trông rộng, có bản lĩnh kiên định, vững vàng, nhất là bình tĩnh, sáng suốt vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo của hoàn cảnh, hành động sáng tạo, dũng cảm với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vô địch của nhân dân, vào chiến thắng của lực lượng cách mạng. Trí tuệ khoa học, đạo đức cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân, kết hợp nhuần nhuyễn chiến lược với sách lược và phương pháp, thấm nhuần chủ nghĩa lạc quan cách mạng, nắm bắt và dự báo sáng suốt xu thế của lịch sử... là những phẩm chất và nhân tố góp phần làm nên đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về cách mạng và cách mạng triệt để như những định nghĩa khoa học, hết sức giản dị mà "chạm” đến điểm cốt lõi của chân lý. Người biểu đạt tư tưởng cách mạng bằng ngôn ngữ dễ hiểu của đời sống, không hàn lâm, bác học mà vẫn mang tầm kinh điển, đủ sức vượt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành giá trị bền vững. Hồ Chí Minh viết: "Cách mệnh là gì? Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Đã làm cách mệnh thì phải cách mệnh đến nơi (tức là triệt để), theo tấm gương của cách mạng Nga do Lênin và Đảng kiểu mới của Người lãnh đạo. "... Cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(1). Đó là dự cảm sáng suốt của Người. Từ khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang trong mầm mống phôi thai, Người đã tiên liệu trước nguy cơ cách mạng bị suy thoái, quyền lực có thể bị tha hóa nếu không có sự kiểm soát quyền lực từ nhân dân.

 "Đường Kách mệnh” là tác phẩm lý luận, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nhưng Người lại đặt lên hàng đầu vấn đề tư cách của một người cách mệnh, với 23 tiêu chí, chuẩn mực, thấm vào các mối quan hệ cơ bản: Với tự mình, với người khác, với công việc và đoàn thể... Người đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu "giữ chủ nghĩa cho vững”, "ít lòng tham muốn về vật chất”(2). Đó là những đòi hỏi hết sức hệ trọng, tỏ rõ sự nhạy cảm của một bậc thiên tài. Lịch sử của những biến cố, thăng trầm, nhất là sự biến chính trị xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu làm đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản mất vai trò cầm quyền, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, cách mạng thoái trào (cho dù là tạm thời) cách đây đã 3 thập kỷ vẫn còn nguyên tính thời sự cảnh báo đối với mỗi chúng ta, với Đảng ta. Bài học phải trả giá đau đớn đó càng làm nổi bật giá trị, ý nghĩa và tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là những bảo đảm về lý luận tiên phong và đạo đức đối với chính trị, đối với Đảng Cộng sản cầm quyền.


Tính cách mạng thể hiện sâu sắc ở dũng khí tự phê phán và phê phán

Đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn nổi bật trên bình diện đạo đức. Người cách mạng, Đảng cách mạng phải suốt đời trau dồi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Đảng chân chính cách mạng phải tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức, văn hóa "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền, Người trù tính sâu xa phải đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, về văn hóa. Chỉ dẫn ấy của Hồ Chí Minh đang soi sáng cho Đảng và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện hiện nay.

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn biểu hiện đậm nét qua dũng khí tự phê phán và phê phán của người cách mạng và Đảng cách mạng về những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải, có thái độ khách quan khoa học trong phân tích, đánh giá thực trạng, xem xét kỹ lưỡng những nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm đó để kiên quyết sửa chữa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Đó là phẩm chất cao quý, can đảm của những người cách mạng và Đảng cách mạng chân chính. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng, tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất làm cho Đảng tiến bộ không ngừng, thành một Đảng chắc chắn, mạnh khỏe như người không có bệnh, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên giữ gìn và phát huy được tính cách mạng, tính tiền phong gương mẫu, được quần chúng tin tưởng và ủng hộ, giữ vững niềm tin với Đảng và thắt chặt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu, phương châm, phương pháp tự phê bình và phê bình và mấu chốt là phải có động cơ, mục đích đúng, phương pháp khéo léo, thận trọng, kiên quyết mà mềm mỏng, có lý có tình, thấu lý đạt tình. Mở đầu tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Người đặt vấn đề phê bình và sửa chữa, chỉ ra 3 căn bệnh nguy hiểm: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, thói ba hoa mà không ít cán bộ, đảng viên mắc phải, nhất là bệnh hẹp hòi trong dùng người, trong công tác cán bộ, gây nên lãng phí nhân tài, nhất là không chú trọng sử dụng nhân tài ngoài Đảng, cản trở đoàn kết trong Đảng, trong dân(3). Người tỏ thái độ kiên quyết phải tẩy sạch những chứng bệnh ấy, tẩy sạch quan liêu, tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân, đó là bệnh gốc, "bệnh mẹ”, đẻ ra trăm ngàn bệnh khác, những thói hư tật xấu khác, làm hư hỏng cán bộ, suy yếu tổ chức, dân tình chán nản, hoài nghi. Người cũng từng chỉ trích, phê phán những cán bộ, đảng viên mắc thói coi khinh lý luận, khinh dân vận(4). Không chấn chỉnh kịp thời và nghiêm khắc những lỗi lầm đó thì phong trào cách mạng sẽ không thể tiến triển. Trong bản Di chúc, Người căn dặn: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, phải giữ gìn đoàn kết, nhất trí, thống nhất tư tưởng và hành động như giữ gìn con ngươi của mắt mình(5).

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua dũng khí tự phê phán và phê phán mà Người chỉ dẫn là tính Đảng, là nhân tố và điều kiện quan trọng làm cho cách mạng có sức mạnh tự bảo vệ như Lênin nói. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cách mạng lấy sức mạnh trong lòng dân. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ thì muôn việc sẽ thành công.

Kiên định lập trường và giữ vững quan điểm cách mạng

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta phải thấm nhuần và kiên quyết bảo vệ còn chính là lòng trung thành vô hạn với lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa, biểu hiện trực tiếp ở sự kiên định lập trường, quan điểm cách mạng, kiên định con đường đi tới "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Việt Nam. Để đi đến cùng con đường đó, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, trước hết phải giữ vững và bảo vệ sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng, phải trung thành một cách sáng tạo, khắc phục những giáo điều xơ cứng, phải vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.

Hồ Chí Minh chỉ dẫn cho chúng ta dùng quan điểm, lập trường, phương pháp khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin để phân tích chính xác tình hình, đặc điểm của nước ta, độc lập, sáng tạo tìm ra cách giải quyết những vấn đề mà cách mạng đặt ra, bằng con đường nào, điều kiện nào, biện pháp nào để thực hiện mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, không máy móc sao chép, bắt chước, rập khuôn những kinh nghiệm từ bên ngoài, dù học tập, vận dụng những kinh nghiệm đó là cần thiết và quý giá. Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo giàu bản lĩnh của Hồ Chí Minh là thể hiện lòng trung thành với chủ nghĩa bằng sức mạnh của trí tuệ khoa học, của đạo đức cách mạng, của đường lối chính trị sáng suốt mà Đảng ta đang ra sức thực hiện theo chỉ dẫn của Người.

Lòng trung thành đó biểu hiện thành sự nhất quán trong tư tưởng, phương pháp, ý chí quyết tâm không gì lay chuyển và hành động kiên cường, dũng cảm, hy sinh để giành thắng lợi. Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Qua những thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh nêu cao ý chí, sức mạnh của toàn dân tộc. Vào những thời điểm bước ngoặt, Người đưa ra những thông điệp thiêng liêng, liên quan đến vận mệnh dân tộc, trọng trách của Đảng, đồng thời truyền đến mỗi người dân niềm tin mãnh liệt.

Điển hình là: "Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” (bên thềm Cách mạng Tháng Tám năm 1945); "Thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946); "Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước chống Mỹ, ngày 17-7-1966); "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (Thơ mừng Xuân Kỷ Dậu năm 1969); "Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn” (Di chúc)...

Tính cách mạng kiên quyết, triệt để trong cuộc đấu tranh giành lấy chính quyền về tay nhân dân còn phải được tiếp nối trong xây dựng chính thể, bảo vệ chế độ và mọi thành quả cách mạng, vì hạnh phúc và quyền làm chủ của nhân dân. Sáng suốt và kiên quyết trong nhận biết và xử lý những tình huống suy thoái khi quyền lực có nguy cơ bị biến dạng, không vì dân chủ của dân, lại biến thành "quan chủ”, không làm tròn bổn phận đầy tớ, công bộc của dân, lại lên mặt "quan cách mạng” ở một số cán bộ, công chức trong bộ máy, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Thanh tra Chính phủ, chọn người đủ đức, đủ tài, giao cho họ quyền hành và ràng buộc bằng chế tài trách nhiệm để xử nghiêm các trường hợp quan liêu, hống hách, trù dập dân chúng và nhận hối lộ, mắc tội tham ô, tham nhũng. Người lên án và yêu cầu phải trừng trị nghiêm khắc theo luật pháp tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu như trừng trị một tội ác.

Trên cương vị Chủ tịch Chính phủ, Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, từ những ngày đầu gây dựng chính thể cộng hòa, Người đã ban hành quốc lệnh, khen thưởng trọng đãi người có công và trừng phạt những kẻ có tội. Trong 12 điều trừng phạt, Người đều ghi rõ "tử hình”. Luật phải nghiêm, xử lý phải minh, nghiêm minh và quang minh chính đại để bảo vệ cái thiện lớn nhất là dân. Pháp trị đi liền với đức trị. Phải dày công giáo dục cho mọi người về lương tâm, trách nhiệm, trọng danh dự, trọng liêm sỉ, để giữ trọn vẹn lòng trong sạch. Đó là tính cách mạng triệt để của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền dân chủ và Nhà nước pháp quyền.

Đặc tính cơ bản, cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính khoa học

 Việc khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận đặc biệt cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam bởi trước hết xuất phát từ những giá trị khoa học sâu sắc được thể hiện trong những luận điệu đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Nhận thức thấu đáo, giải quyết sáng tạo tính phổ biến và tính đặc thù của cách mạng Việt Nam

Điểm xuất phát mà cũng là chỗ hướng đích của nhận thức để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là thực tiễn. Thực tiễn đó là hoàn cảnh lịch sử trong nước, trước tình cảnh nước mất nhà tan, cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ, phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đưa dân tộc từ vong quốc nô tới độc lập, tự do, thức tỉnh con người về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Thực tiễn đó là lao động vô sản hóa, gắn liền lao động, học tập và tranh đấu trong suốt cuộc hành trình đi tìm chân lý kéo dài 30 năm (1911-1941).

Người đi về phương Tây, đến tận sào huyệt của kẻ thù là nước Pháp để tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, tìm ra con đường đánh đổ nó để giải phóng dân tộc. Thực tiễn đó còn là khảo sát tình hình thế giới, nhận rõ bạn-thù, tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười và giác ngộ Chủ nghĩa Mác-Lênin, từng bước một, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm. Khảo sát mọi học thuyết để định hình bằng sự lựa chọn Chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Mác-Lênin, đạt tới bước ngoặt từ người yêu nước trở thành người chiến sĩ cộng sản. Trong cuộc hành trình tư tưởng ấy, Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc đã từ thực tiễn mà hình thành lý luận cách mạng, giác ngộ về lập trường, quan điểm giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp và dân tộc, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính độc lập tự chủ "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp Người tìm ra câu trả lời đúng đắn nhất khi tiếp cận tư tưởng thiên tài của Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc và phát hiện ra quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành sợi chỉ đỏ, bao trùm, xuyên suốt hệ thống tư tưởng của Người. Với Việt Nam, yêu cầu giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu trên lập trường giai cấp công nhân. Và CNXH Việt Nam là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tới CNXH, đó là một tất yếu lịch sử do thời đại quy định. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đó là đặc điểm to nhất của Việt Nam trên con đường tới CNXH. Hơn nữa, cách mạng trước hết phải có Đảng, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, như con tàu không có bàn chỉ nam. Chủ nghĩa ấy, Người đã lựa chọn là Chủ nghĩa Lênin, Mác-Lênin vì nó là chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất(1).

Nhờ quan điểm thực tiễn, thấm nhuần chỉ dẫn của Lênin "phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác” mà Hồ Chí Minh xác định đúng sự kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, trước hết ở trong quy luật thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam "kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam”. Đó là những phát kiến lý luận quan trọng của Người.

Cống hiến nhiều tư tưởng, quan điểm mới mẻ về Đảng

Là nhà tư tưởng, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam, Người xác định, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người chỉ dẫn cho chúng ta: "Thực hành sinh ra hiểu biết. Hiểu biết tiến lên lý luận. Lý luận lãnh đạo thực hành”(2).

Đó là một tư tưởng lớn, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, là cơ sở khoa học để "lý luận liên hệ với thực tiễn”, "học đi đôi với hành”, "nói đi đôi với làm” như Người thường xuyên căn dặn chúng ta.

Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ ở quan điểm phát triển, quan điểm đổi mới gắn liền với hội nhập quốc tế. Người có tư tưởng đổi mới, hội nhập từ rất sớm. Người đưa ra thông điệp với quốc tế và thế giới: "Việt Nam mong muốn là bạn của các nước dân chủ, Việt Nam quyết không thù oán với một ai”, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế, thêm bạn bớt thù, kiến tạo môi trường hòa bình để phát triển. Vào năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trở lại, ở Việt Bắc, tại an toàn khu (ATK), Người viết hai tác phẩm quan trọng "Đời sống mới” (tháng 3-1947, lấy bút danh là Tân Sinh) và "Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10-1947, với bút danh là X.Y.Z). "Đời sống mới” giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa cái cũ và cái mới, nêu cao đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính trong đời sống hằng ngày của mỗi người, xây dựng lối sống mới, văn hóa mới...

"Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm đầu tiên đặt vấn đề đổi mới khi Đảng đã cầm quyền và trước hết phải đổi mới Đảng để thúc đẩy đổi mới xã hội, chọn mắt khâu xung yếu, đột phá là "phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”, tức là đổi mới phương pháp, phương thức, phong cách lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Người nêu ra 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng. Chỉ với 456 từ, 12 điều ấy đã định hình một chủ thuyết, học thuyết xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam "vừa kháng chiến vừa kiến quốc”.

Tác phẩm của Người nổi bật một tư tưởng lớn "dựa vào dân mà xây dựng Đảng”, nhấn mạnh đặc biệt tới chất lượng đội ngũ cán bộ, cách lãnh đạo, cách dùng người, kể cả trọng dụng nhân tài ngoài Đảng, có tính thời sự và hiện đại tới ngày nay đối với Đảng ta. Người còn viết "Lời kêu gọi thi đua ái quốc” (1948), "Dân vận” (1949) cũng thấm nhuần tư tưởng đổi mới trên những định hướng khoa học-nhân văn và dân chủ. Đó là những chỉ dẫn quan trọng có tầm chiến lược để tạo động lực phát triển, củng cố mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân, để toàn Đảng, toàn dân nỗ lực vượt bậc làm cho "kháng chiến tất thắng”, "kiến quốc tất thành”, bằng sức mạnh "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”(3).

Vấn đề quyết định là Đảng phải thật trong sạch, thật vững mạnh, sự lãnh đạo của Đảng phải đúng đắn, sáng suốt, lãnh đạo một cách khoa học, một cách dân chủ, lãnh đạo bằng sự gương mẫu, nêu gương và trách nhiệm nêu gương, nhất là của cơ quan lãnh đạo và người lãnh đạo. Giá trị khoa học này trong tư tưởng Hồ Chí Minh đang soi sáng cho Đảng ta hiện nay trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thấm nhuần lời dạy của Người: "Đảng là đạo đức, là văn minh”(4), "một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”, một cách thực tiễn và dung dị "đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính khoa học đặc biệt nổi bật khi Người nói về "xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, về "thực hành dân chủ, xây dựng nhà nước dân chủ-pháp quyền-nhân nghĩa” của dân, do dân, vì dân, thực hiện và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân; về công tác mặt trận, thực hành đại đoàn kết, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí, tham ô. Vào những năm 60 của thế kỷ 20, khi Người chỉ đạo cuộc vận động "3 xây, 3 chống”, Người coi đây thực sự là một cuộc cách mạng nội bộ, Người đặc biệt nhấn mạnh tới trách nhiệm và đạo đức gương mẫu của cán bộ, đảng viên(5).

Chống chủ nghĩa cá nhân như chống "giặc nội xâm”, kẻ thù nguy hiểm nhất, phải ra sức "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là một trong những tác phẩm cuối đời của Người, cũng là chủ đề thường trực mà Người quan tâm suốt đời, kết tinh trong bản "Di chúc" thiêng liêng "trước hết nói về Đảng” và "đầu tiên là công việc với con người”.

Giá trị lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh còn đem lại những kiến giải khoa học sâu sắc về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam. Người đặt nền móng cho lý luận CNXH khoa học và xây dựng CNXH trong tính đặc thù Việt Nam, ở Việt Nam, đem lại câu trả lời sáng tỏ nhất cho những câu hỏi lớn nhất: CNXH là gì? Vì sao lại lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa như một tất yếu và xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Bằng những biện pháp, phương pháp nào? với những điều kiện và bước đi cụ thể ra sao? Tính dân tộc, tính nhân dân, tính sáng tạo và đổi mới được thể hiện đậm nét trong lý luận Hồ Chí Minh về CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, CNXH là "dân giàu, nước mạnh”, là "dân chủ và công bằng”, là hạnh phúc của người dân từ cơm ăn, áo mặc, học hành đến quyền dân chủ và làm chủ. Người chủ trương "làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân”, "không làm gì trái ý dân”, "ra sức giải phóng sức dân, phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân”. Cách làm tốt nhất để có CNXH là "đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân”. Phải thấy rõ "CNXH cộng với khoa học là nguồn sức mạnh vô tận”, phải chú trọng đồng bộ từ củng cố chế độ chính trị đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, vì lợi ích của người dân, trước mắt và lâu dài. Phải kết hợp toàn diện các mặt, các lĩnh vực, gắn liền xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng sức mạnh đối nội, đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Phải học tập, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm và bài học từ các nước anh em chứ không máy móc, giáo điều, chủ quan, biệt phái.

Có thể nói, tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng của Người về CNXH và xây dựng CNXH nổi bật các yêu cầu "đúng quy luật, thuận lòng dân, hợp thời đại”, sao cho "đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ”(6). Đó là quan điểm phát triển mà nhà tư tưởng mác-xít lỗi lạc, nhà biện chứng thực hành xuất sắc Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn và tự mình thực hành để nêu gương cho chúng ta noi theo.

55 năm vun đắp và gìn giữ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia

 Cách đây 55 năm (ngày 24/6/1967), Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và ngày này đã đi vào lịch sử hai nước như một sự kiện trọng đại, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước, gắn bó vận mệnh của hai dân tộc láng giềng.

Dù gặp những thăng trầm của lịch sử và những biến cố của thời đại, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn ngày càng trở nên khăng khít, bền chặt, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, gìn giữ, trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc.