Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 22/6 :
Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...
Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia
đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có
khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín
ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ
Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn
2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO
công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5
loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du
nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.
Riêng trong lĩnh vực
tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ
chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt
động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6
ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1
triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo
80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư
sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh
lý đạo…).
Ở khắp mọi miền của
đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội,
Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh
hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.
Hoạt động của các
thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận
động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân
tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ
trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô
hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn
giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân
tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật
đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai
đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi
giáo… được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ
hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội
Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.
Đặc biệt lễ Phật đản
của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn
giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm
đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng
chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La
Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục
Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội
thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…
Theo Ban Tôn giáo
Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được
công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ
yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo
mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng
lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004
đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong
10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở
khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển
đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.
Việc Bộ Ngoại giao Hoa
Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn
bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với
Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm
chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là
bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt
tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế
“không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều
lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định
quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động
có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc
sách nhiễu”.
Với số lượng tín đồ,
chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của
các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ
quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động
sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho
những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở
Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực
hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho
rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo
hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.
Chẳng hạn, lâu nay tại
Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ
chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh
nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa
Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống
của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi
phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này,
lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định
pháp luật.
Quyền tự do tôn giáo, tín
ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam
Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù
hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn
giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động
bình thường trong khuôn khổ pháp luật.
Tháng 5/2022 vừa qua,
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó
có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các
góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi
nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm
qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của
người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”;
“hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo
cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa
ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và
không theo đạo.
Đấu tranh với những luận
điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Tự do, dân chủ, nhân
quyền luôn là khát vọng của con người. Lịch sử thế giới cho thấy không chỉ cuộc
đấu tranh cải thiện đời sống vật chất, chống đói nghèo, thất nghiệp mà cả cuộc đấu tranh cho dân chủ cũng lôi
cuốn hàng trăm, hàng ngàn triệu người.
Ngày nay, đối với
nhiều quốc gia, dân tộc, tự do, dân chủ, nhân quyền đang là một mục tiêu chính
trị và do đó trở thành một động lực quan trọng thôi thúc họ đấu tranh, gắn liền
với cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân và tiến bộ xã hội thực sự.
Gần đây trên các trang
mạng xã hội faceboock các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị tự xưng
là “đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền”, cái gọi là “Tổ chức theo dõi
nhân quyền Human Rights Watch” đã lợi dụng một số đối tượng vi phạm pháp luật
bị cơ quan chức năng xử lý để để tung ra những quan điểm, luận điệu sai trái,
xuyên tạc dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ vu cáo: “Việt Nam đàn áp các nhà
hoạt động nhân quyền”...
Họ trích dẫn một vài
sự việc ở đâu đó cho có vẻ khách quan, rồi khẳng định: “người dân Việt Nam chưa
bao giờ có tự do, dân chủ, nhân quyền”. Human Rights Watch viện dẫn một số vụ
việc gây rối ở một số nơi như Nghệ An, Hà Tĩnh,…bị cơ quan chức năng xử lý,
nhưng tổ chức này không hiểu gì về thực chất của vụ việc.
Bởi vì, thông tin mà
Human Rights Watch tung lên mạng xã hội xem ra có vẻ khách quan, dễ đánh lừa
vào lòng tin của nhân dân ta, song đằng sau những lời bình luận sai trái, thù
địch của họ lại không đúng sự thật và không thể tin được âm mưu thâm độc của
nó. Thực chất nội dung bài viết này là cố tình xuyên tạc tự do, dân chủ, nhân
quyền ở Việt Nam nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
xã hội, xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tán dương cổ súy nền dân
chủ tư sản phương Tây.
Tính chất nguy hiểm
của âm mưu, thủ đoạn này biểu hiện ở chỗ, nó dễ gây nên sự hoài nghi, ngộ nhận,
mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về giá trị tự do, dân chủ, dễ gây nên sự dao
động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhẹ dạ, tin
vào những thông tin mà tổ chức Human Rights Watch nêu ra. Họ thường lợi dụng tự
do tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm “tự do, dân
chủ”, “nhân quyền”, chống phá Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam. Để thực hiện
âm mưu, thủ đoạn đó họ không từ một thủ đoạn nào.
Với những luận điệu xuyên tạc sự thật về: “Tự
do, dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam của tổ chức Human Rights Watch
đưa ra một số đánh giá không khách quan, thông tin sai lệch. Họ xuyên tạc một
cách trắng trợn tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Như vậy, có
thể khẳng định, tất cả những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ
hội đều là xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối lãnh đạo của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước ta; nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan
hệ giữa Đảng với nhân dân và lực lực lượng vũ trang. Mục tiêu cuối cùng của họ
là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ; và đòi “đa nguyên, đa đảng đối lập”; họ muốn Đảng
Cộng sản Việt Nam thôi giữ vai trò lãnh đạo đối với giai cấp, dân tộc và xã
hội, họ yêu cầu đảng phải “đổi mới thể chế chính trị”, đòi nhường quyền lãnh
đạo dân tộc và xã hội cho một “lực lượng chính trị mới”.
Tuy nhiên dù họ có đòi
hỏi, “bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc” đến đâu thì họ cũng không thể phủ nhận một
thực tế rằng Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, dân
chủ, nhân quyền. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường
lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và
thực tiễn hoạt động tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Để hiểu rõ hơn về “Tự
do, dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, chúng tôi xin nêu một vài vấn đề để chúng
ta cùng nghiên cứu, suy ngẫm thực tế “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam như thế
nào.
Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa được thành lập - Nhà nước Công - Nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời,
toàn dân Việt Nam được đi bầu cử tự do năm 1946 với hình thức phổ thông đầu
phiếu, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, tôi tớ đã được hưởng quyền làm chủ thực
sự và ngày càng được phát huy trong quá trình xây dựng xã hội mới; chế độ dân
chủ đó “gấp triệu lần” hơn hẳn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử. Nhân
dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên
làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng đất nước.
Ngay sau ngày giành
được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương
xây dựng Hiến pháp, biểu hiện đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp
năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp với giai
đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta, là một mốc son quan trọng
đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, vì nhân
dân và do nhân dân làm chủ.
Điều 2 Hiến pháp năm
2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” đã thể hiện nhất quán quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến
pháp là bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền. Để thể chế hóa và nâng cao chất
lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, Nghị quyết
Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền lợi với
trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở
cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con
người, quyền và nghĩa vụ của công dân”[1].
Điều đó tiếp tục được
thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn và có sức thuyết phục. Biểu hiện ở
chỗ, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phản ánh đúng tâm tư,
nguyện vọng và vì lợi ích của nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ và được phát
huy cao độ tính tích cực, tự giác của mình, sức lao động được giải phóng, tạo
nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Thứ hai, ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ, người
dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo ngày càng cao, tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc
hội của Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng
thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn
trong các kỳ họp của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại, các cuộc tiếp xúc của
các đại biểu Quốc hội với cử tri … những điều này cho thấy Đảng, Nhà nước ta đã
tạo điều kiện tốt nhất để cho mỗi người dân thực hiện quyền làm chủ của mình
thông qua tự do, dân chủ học tập và dân chủ gián tiếp.
Điều đó thể hiện sâu
sắc bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ dân chủ ở Việt Nam, thể hiện rõ
mục tiêu, động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển đất nước.
Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định yêu cầu xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi
ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân” và “bảo đảm dân
chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”.
Đồng thời, Đảng cũng khẳng định việc “phát huy dân chủ phải đi liền với tăng
cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội;
phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những
hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an
ninh, trật tự, an toàn xã hội”.
Bản chất tốt đẹp và
tính chất ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của biết bao mồ
hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam, chúng ta phải
kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và phát huy trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, những nội dung đề cập của Tổ chức Human Rights Watch là
hoàn toàn sai với thực tế ở Việt Nam, đó là những luận điệu sai trái, bóp méo,
xuyên tạc sự thật vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Những luận điệu
mà Tổ chức Human Rights Watch đưa ra là bịa đặt, xuyên tạc nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
đối với xã hội và hòng xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, mỗi người
cần nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn
“diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam của các tổ chức, cá nhân thù
địch
TỘI ÁC
Có những tội ác không ồn ào trên truyền thông, không được dàn dựng sống sượng, không bịp bợm công phu, không có bọn cò mồi tung hứng, và đương nhiên không bao giờ được đem ra trước Hội Đồng Bảo An. Tội ác đó tồn tại ngang nhiên và người ta nhắm mắt coi như không có. Đó là tội cung cấp vũ khí cho quân khủng bố.
Theo 1 quan chức cấp cao của Mỹ thì số tên lửa chống tăng cung cấp cho Ucraina đã đủ để tiêu diệt toàn bộ xe tăng trên thế giới (kể cả xe tăng Mỹ và Phương Tây). Số tên lửa phòng không Stinger cũng vậy, đủ để bắn rơi toàn bộ số máy bay của thế giới, cả máy bay quân sự và dân dụng. Cũng theo quan chức này thì việc Ucraina suốt ngày kêu gào thiếu vũ khí là hết sức phi lý. Chẳng lẽ Nga đã phá hủy hết đống vũ khí này?
Điều mà ai cũng rùng mình là những thứ vũ khí giết người đó được các quan chức Ucraina đem bán cho quân khủng bố để lấy tiền nhét đầy túi tham. Phải biết rằng 1 mạng lưới buôn lậu vũ khí khổng lồ được hình thành ở Ucraina từ những năm 1990 và mang lại hàng tỉ USD lợi nhuận mỗi năm.
Một ngày nào đó, nếu chúng ta nhìn thấy 1 chiếc máy bay chở hàng trăm con người trúng tên lửa và đâm đầu xuống đất hay những chiếc xe bus tan xác vì ăn đạn chống tăng thì..../
THÔNG TIN GIẢ CÓ THỂ DẪN ĐẾN HẬU QUẢ KHÔN LƯỜNG
Khi hầu hết phương Tây ủng hộ Kiev trong cuộc xung đột với Nga, các cơ quan báo chí và mạng xã hội ở Mỹ và nhiều nơi khác ngập tràn câu chuyện ca ngợi Ukraine. Một vài trong số những bức ảnh được chia sẻ nhiều nhất sau đó hoá ra là không đúng sự thật, nhưng báo chí phương Tây với tư tưởng chống Nga rất ít hoài nghi về thông tin mà phía kia đưa ra, dẫn đến một làn sóng đưa tin theo kiểu tuyên truyền hơn là xác thực và phản ảnh khách quan.
Trong những ngày đầu xung đột, chuyện nhóm binh lính Ukraine liều chết để bảo vệ một hòn đảo nhỏ trên Biển Đen trước một tàu chiến Nga. Khi được yêu cầu qua radio về việc hạ vũ khí và đầu hàng, nhóm lính này đáp lại: “Tàu Nga, biến đi!”. Tuyên bố này là hành động dũng cảm trước khi binh lính trên Đảo Rắn bị tàu Nga tiêu diệt. Câu chuyện này giới chức Ukraine chia sẻ đã được báo chí phương Tây ca ngợi và đưa tin rộng rãi, khiến nó trở thành một chuyện gây sốt trên mạng, có thể dựng thành phim.
Nhưng chỉ vài ngày sau khi nhóm binh lính trên được giới chức Ukraine tiết lộ rằng họ vẫn còn sống và bị Nga bắt giữ.
Câu chuyện anh hùng của nhóm lính trên Đảo Rắn không phải là thông tin sai lệch duy nhất được đăng tải một cách thiếu kiểm chứng. Một video được chia sẻ rộng rãi về người lính Ukraine được mệnh danh là “Bóng ma Kiev” đã bắn rơi nhiều máy bay tiêm kích Nga hoá ra được lấy từ một game không chiến.
Khi định hình cuộc chiến ở Ukraine, nhiều báo chí phương Tây ca ngợi Tổng thống Volodymyr Zelensky là nhân vật có nhiều điểm hấp dẫn, cách đưa tin mang hơi hướng tôn thờ.
Khi ông Zelensky từ chối đề nghị của Mỹ về việc hỗ trợ để sơ tán khỏi Kiev, báo phương Tây nói ông đã tuyên bố “Tôi cần đạn dược, không cần đi nhờ”. Phát biểu đó được đăng trên hàng trăm trang báo, thậm chí trở thành một meme trên mạng xã hội. Nhưng nguồn gốc câu nói đó lại từ câu chuyện mà hãng tin AP viết dựa trên lời kể lại của “một quan chức tình báo Mỹ cấp cao giấu tên”, sau đó chuyện được đăng trên tài khoản mạng xã hội chính thức của chính phủ Ukraine để lan truyền phát biểu này rộng hơn nữa. Đây được đánh giá là thông điệp chính trị khéo léo…không có thật!
Khi cuộc xung đột ở Ukraine kéo dài, có được một bức tranh chính xác về tình hình thực địa là điều cần thiết, nhất là khi nguy cơ xảy ra đối đầu hạt nhân vẫn đang treo lơ lửng. Kiểu viết từ thông tin một phía và mặc định bên nào đáng hoặc không đáng tin, hay ai xứng đáng nhận được sự đồng cảm, có thể gây ra những hậu quả lớn trong những cuộc xung đột nghiêm trọng như thế này.
KHI ZÂN CHỦ VIÊN BÀY TỎ LÒNG YÊU NƯỚC
Trước tình hình biển Đông, trên đài RFI, Nguyễn Lân Thắng, một "dân chủ viên" có hạng đã bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền bằng "cao kiến": phải thay đổi Hiến pháp, xoá Điều 4, đa đảng, tách quân đội khỏi sự chỉ huy của Đảng Cộng sản, thả tất cả “tù nhân lương tâm" nhằm huy động sức mạnh của người dân.
Đúng là "cao kiến" thật, nhưng đó là cao kiến bán nước. Thử hỏi anh, ai là người đã đưa dân tộc Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách cai trị của ngoại bang, bảo vệ bờ cõi của dân tộc trước sự xâm lược của các đế quốc sừng sỏ như Pháp, Mỹ, Trung Quốc, để người dân ta được cuộc sống độc lập, hòa bình như hiện nay. Trong bối cảnh Trung Quốc đang rắp tâm lấn chiếm chủ quyền chúng ta ở biển Đông, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, liệu có làm chúng ta mạnh lên hay đẩy đất nước vào tình cảnh rối ren, chia bè kết cánh, tự làm suy yếu mình rồi để trở thành mồi ngon cho ngoại bang xâm chiếm.
Rồi anh lại yêu cầu phải trả tự do cho mấy thằng phản động, chuyên kích động biểu tình, phá hoại đất nước để.... "huy động sức dân". Thử hỏi, mấy kẻ đó thì có vị trí, vai trò gì để huy động sức dân hay chính chúng lại là những kẻ đưa đất nước vào cảnh loạn lạc, chia rẽ, giống như những gì đang xảy ra ở Trung Đông và Bắc Phi trong thời gian vừa qua.
Sao một dòng họ đầy trí thức, nhà khoa học lại sinh ra một kẻ tâm thần như anh Nguyễn Lân Thắng này nhỉ? Đúng là nghiệp chủng mà.
NATO HÃY DỪNG LẠI
Ngày 20/06, các công đoàn tại Bỉ cho biết đã có tới 80.000 người dân Bỉ đã xuống đường biểu tình phản đối chi phí giá sinh hoạt tăng cao. Hiện tại, lạm phát chạm mức 9% vào tháng 6 ở Bỉ, trong 10 năm gần đây, lạm phát chưa bao giờ quá mức 2%/1 năm tại quốc gia này.
Bên cạnh sự tức giận trước việc chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao, nhiều người biểu tình còn lên án liên minh quân sự NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) do Mỹ dẫn đầu và sự can dự của khối này vào cuộc xung đột Nga-Ukraine. “NATO hãy ngừng lại đi” - đoàn người biểu tình hô vang.
Và không chỉ tại Bỉ, tại nhiều nước Châu Âu và ngay tại Mỹ, các cuộc biểu tình phản đối giá sinh hoạt tăng cao, phản đối sự can dự của Mỹ và NATO vào cuộc chiến Nga và Ukraina đã bùng phát. Sau hàng chục năm, người ta mới ghi nhận sự thiếu thốn về những mặt hàng thiết yếu như bánh mì, sữa, khí đốt, điện và xăng như trong thời gian vừa qua.
Đúng là “chưa được vạ mà má đã sưng”. Mỹ và phương Tây ngỡ rằng các đòn trừng phạt kinh tế - vũ khí chiến lược mà họ áp dụng với các nước không thân thiện sẽ phát huy sức mạnh, tạo áp lực khủng khiếp với Nga. Nhưng trừng phạt một nước vừa là mỏ dầu, vừa là mỏ lương thực, kim loại và các các loại mỏ khác xem ra không ăn thua mà còn tác dụng ngược.
Nếu thất bại trong cuộc chiến này, có lẽ, nhận xét của Putin “Một trật tự thế giới mới đang hình thành” là hoàn toàn đúng và đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta. Trật tư đơn cực, cơ chế “Petro-dollar” do Mỹ và phương Tây đã dày công thiết kế đã sụp đổ không thể ngăn chặn.
CẢNH GIÁC THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI LỪA ĐẢO ĐI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆC NHẸ, LƯƠNG CAO
Ông Nguyễn Gia Liêm, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTBXH) cho biết, lợi dụng mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân không có chức năng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đã thông tin sai sự thật, lập trang web, nhóm trên Zalo tạo lòng tin để lừa đảo người lao động. Gần đây nhất là tình trạng lừa đảo người lao động sang Campuchia làm việc với chiêu bài “việc nhẹ lương cao”.
Tại buổi trao đổi với báo chí chiều 20/6, ông Nguyễn Gia Liêm cho biết, Việt Nam và Campuchia có thỏa thuận hợp tác về lao động, thỏa thuận đảm bảo pháp lý cho người lao động ở vùng biên và những người lao động đã đang ở lãnh thổ của từng nước.
Trong thời gian gần đây, Cục Quản lý lao động ngoài nước có nhận được thông tin từ các cơ quan báo chí phản ánh về việc nhiều lao động bị lừa đảo sang Campuchia làm việc với chiêu “việc nhẹ lương cao”. “Đây là những lao động không phải đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động của các doanh nghiệp được cấp phép trong nước mà đi đường bộ qua khu vực biên giới”, ông Liêm khẳng định.
Lãnh đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước cho hay, trong thời gian qua, cơ quan này cũng đã có những thông tin cảnh báo, khuyến nghị chung đối người lao động đi làm việc ở nước ngoài chứ chưa có cảnh báo riêng thị trường Campuchia.
Để tránh bị lừa đảo, về phía người lao động, ông Liêm khuyến cáo cần chủ động tìm hiểu thông tin về thị trường lao động ngoài nước, các điều kiện quy định xem mình có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không.
Ông Nguyễn Gia Liêm chia sẻ: “Có nhiều tổ chức, cá nhân đứng ra tuyển người lao động với lời quảng cáo “việc nhẹ lương cao, thu nhập tốt, điều kiện làm việc tốt nhưng thực tế không đúng như vậy. Người lao động cần liên hệ trực tiếp với các đơn vị có giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, danh sách các doanh nghiệp đều được đăng tải trên trang web của cục tại địa chỉ: www.Dolab.gov.vn, hoặc liên hệ với các cơ quan quản lý lao động tại địa phương nơi mình cư trú để được hướng dẫn thêm”.
Lãnh đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng đề nghị khi người lao động hoặc các cơ quan báo chí nhận được thông tin lừa đảo người lao động, cần cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý, qua đó Cục Quản lý lao động ngoài nước có thể đề nghị cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cơ sở vào cuộc kiểm tra và hướng dẫn người lao động xác minh. Nếu có tổ chức cá nhân vi phạm phải xử lý theo quy định của pháp luật.
Về chiêu thức lừa đảo người lao động, ông Nguyễn Gia Liêm cảnh báo: “Lợi dụng mạng xã hội, không ít tổ chức cá nhân không có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đưa thông tin sai sự thật, kể cả lập các trang web, nhóm trên Zalo tạo ra lòng tin của người lao động rất tinh vi. Ngoài ra, có những tổ chức cá nhân dùng cả hình ảnh của người lao động đang làm việc ở nước ngoài, làm giả trang web giống như trang web của doanh nghiệp uy tín, mở văn phòng, tổ chức sự kiện tại khách sạn nhằm gây lòng tin để lừa đảo người lao động”.
“Đấu đá nội bộ”?
Tham nhũng là “giặc nội xâm” tồn tại và phát triển ngay trong nội bộ. Người tham nhũng giữ chức vụ càng cao thì càng khó xử lý. Nếu nội bộ Đảng không thực sự đoàn kết, nhất trí thì chắc chắn sẽ không thể đưa những kẻ này ra xử lý. Vì vậy, việc Đảng xử lý 2 Ủy viên Trung ương Đảng là minh chứng trực tiếp nhất khẳng định nội bộ Đảng ta hoàn toàn đoàn kết, không hề có sự “tranh giành quyền lực”, “đấu đá nội bộ” như những gì các “nhà dân chủ” cố tình tô vẽ.
Việc xử lý kỷ luật đảng, kỷ luật chính quyền và xử lý hình sự đều được thực hiện trên nguyên tắc sai đến đâu xử lý đến đó, xử lý đúng người, đúng lỗi vi phạm, không có bao che, khoan nhượng, thỏa hiệp với sai phạm.
Phải khẳng định rõ, việc xử lý ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long là đúng người, đúng tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cũng chỉ rõ, ông Chu Ngọc Anh có hành vi vi phạm quy định pháp luật trong việc giao, quản lý, sử dụng đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia nghiên cứu, chế tạo kit xét nghiệm Covid-19, gây thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước, phạm vào tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, quy định tại khoản 3 Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong khi đó, ông Nguyễn Thanh Long có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định pháp luật trong việc cấp số đăng ký lưu hành, hiệp thương giá và kiểm tra giá hiệp thương kit xét nghiệm Covid-19, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng tài sản Nhà nước, đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, quy định tại khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Chẳng có sự “đấu đá nội bộ” nào ở đây, tất cả chỉ là những “thuyết âm mưu” được các đối tượng xấu vẽ ra để đánh lừa dư luận.
Tham nhũng không phải là bản chất của chế độ một đảng cầm quyền
Tham nhũng không phải là sản phẩm riêng của chế độ một đảng cầm quyền và càng không phải là sản phẩm riêng của Việt Nam. Tham nhũng là vấn nạn chung của cả thế giới. Ngay trong phần mở đầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 đã ghi nhận rõ: “Không còn là một vấn đề, tham nhũng là hiện tượng hiện đang vượt qua các biên giới quốc gia và ảnh hưởng đến mọi xã hội và nền kinh tế, nên hợp tác quốc tế nhằm ngăn ngừa và kiểm soát tham nhũng là yêu cầu cấp thiết”.
Bản chất của tham nhũng là sự tha hóa quyền lực. Vì vậy, tham nhũng có thể xuất hiện trong bất kỳ xã hội nào nếu quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ. Nên nhớ, năm 2017, Hàn Quốc (một quốc gia đa đảng) đã kết án cựu Tổng thống Park Geun-hye 22 năm tù vì tội tham nhũng, nhận hối lộ và lạm dụng quyền lực. Hồi tháng 7-2020, cựu Thủ tướng Malaysia Najib Razak cũng bị kết tội do tham nhũng liên quan đến quỹ nhà nước Malaysia 1MDB.
Rõ ràng, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên đa đảng” không phải là công thức chuẩn mực, điều kiện bắt buộc để một xã hội không có tham nhũng, tiêu cực như những gì đang được các đối tượng rêu rao. Việc phòng, chống tham nhũng thành công hay không phụ thuộc vào quyết tâm chính trị và các giải pháp, chính sách, pháp luật được lãnh đạo quốc gia thực hiện. Hiện nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đang đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế” thì Việt Nam cũng kiên quyết xử lý đối với những cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Việc xử lý thể hiện tính nghiêm minh, công bằng và đồng thời cũng có tác dụng răn đe với toàn xã hội.
Một thực tế không thể chối cãi là công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả không thể phủ nhận. Việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, nhất là cán bộ cấp cao đã góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước và củng cố niềm tin trong nhân dân.
Nhận diện các luận điệu “thổi lửa” chống phá
Tại cùng một thời điểm, liên quan đến cùng một vụ án, 2 Ủy viên Trung ương Đảng là ông Chu Ngọc Anh, Phó bí thư Thành ủy, Bí thư Ban cán sự Đảng, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, nguyên Bí thư Ban cán sự Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và ông Nguyễn Thanh Long, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế đã bị khai trừ ra khỏi Đảng. Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cũng đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với 2 ông này để điều tra, làm rõ hành vi phạm tội. Như vậy, chỉ trong 2 ngày, các bước xử lý về Đảng, xử lý về chính quyền và xử lý về hình sự đã được thực hiện. Điều này khẳng định rõ sự đồng bộ, quyết liệt, không khoan nhượng trong công tác đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực. Việc xử lý với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long nhận được sự đồng tình ủng hộ từ quần chúng, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, vụ việc này cũng nhanh chóng được các “nhà bình luận” lợi dụng để xuyên tạc, xỏ xiên, đánh lận bản chất nhằm tấn công Đảng, Nhà nước.
Trong một bài viết có tiêu đề “Phản hồi của dân chúng về vụ bắt giữ ba lãnh đạo cấp cao liên quan đến Việt Á” được đăng tải hôm 8-6, Đài Á châu tự do – RFA đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam như: “Việc bắt giữ chỉ là sự đấu đá trong hàng ngũ cấp cao của Đảng cộng sản”, “đến giờ mới xử lý là đã quá trễ, quá coi thường công lý”, “việc xử lý không thể làm thay đổi được bản chất hư hỏng của hệ thống cai trị đất nước vì đây chỉ là việc ném đá ao bèo”?!
Cùng ngày 8-6, BBC News tiếng Việt cũng rêu rao bài viết “Chiến dịch “đốt lò” của TBT Nguyễn Phú Trọng: Điều gì thực sự phía sau”. Trong đó, những luận điệu độc hại, sai trái, thể hiện tính vu khống trắng trợn theo đúng “kịch bản dân chủ” đã được đưa ra. Những kẻ này quy chụp tham nhũng là bản chất của chế độ một đảng lãnh đạo. Từ đó, chúng đánh lừa dư luận bằng cách đưa ra quan điểm cho rằng Việt Nam chỉ có thể chống tham nhũng khi thay đổi theo hướng chấp nhận “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự tự trị”, “báo chí độc lập”…?!
Những thông tin được các đối tượng nêu ra là vô căn cứ, phi lý, đi ngược sự thật. Mục đích mà những kẻ này hướng đến là làm loạn dư luận, kích động sự mâu thuẫn trong xã hội, phủ nhận những kết quả mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đích đến cuối cùng của chúng là tấn công chế độ, thay đổi thể chế chính trị của đất nước.
Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.
Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.
Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản.
Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản.
Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.
Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).
Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.
Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình.
Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.
Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH RA "LỜI KÊU GỌI GỬI NHÂN DÂN THẾ GIỚI"
Ngày 20-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới” nhân dịp nửa năm toàn quốc kháng chiến nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế. Trong lời gửi nhân dân Pháp, Người viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc. Vận mệnh của nhân dân Việt Nam và vận mệnh của nhân dân Pháp rất quan hệ với nhau... Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung, và tình nghĩa của hai dân tộc ta...”.
Với nhân dân châu Á, Người viết: “Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á. Tranh đấu cho tự do độc lập của Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á”.
Còn với “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”, Người kêu gọi: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hòa bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam!”.
Nguồn Báo QĐND ngày 20/6/2022
"KHI HOẠN NẠN KHÓ KHĂN MỚI BIẾT AI LÀ BẠN TỐT"
Thủ tướng Campuchia Hun Sen cho biết, ở thời điểm đó, nếu không có sự giúp đỡ của phía Việt Nam thì ông có thể đã mất tính mạng và chưa biết tương lai của đất nước Campuchia sẽ như thế nào.
Ông nhắc lại việc đặt chân lên đất Việt Nam lúc 2h sáng và tới chiều tối ngày 21/6, ông được ăn bữa cơm đầu tiên tại Việt Nam - một bữa ăn mà ông coi là "vô giá", một bữa ăn "bằng hàng ngàn, hàng vạn tấn gạo ngày nay".
"Xin gửi lời cảm ơn tới những người dân Việt Nam có mặt tại đây, tới những người không có mặt hôm nay và tới cả linh hồn những người đã hy sinh để cứu giúp tôi và giúp đỡ người dân Campuchia. Chúng ta quen biết nhau, giúp đỡ nhau từ lúc khó khăn, khi đó đã biết ai là bạn tốt".
Thủ tướng Hun Sen xúc động chia sẻ như trên khi nói chuyện với đại diện quần chúng nhân dân địa phương tỉnh Bình Phước.
Ông nhấn mạnh ý nghĩa của tình đoàn kết, hữu nghị gắn bó giữa nhân dân hai nước; đồng thời cảm ơn sự giúp đỡ của quân đội và nhân dân Việt Nam đối với ông và nhân dân Campuchia trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại tự do, hòa bình và hồi sinh đất nước Chùa Tháp.
Thủ tướng Hun Sen cho biết khi đó ông có 4 lựa chọn: Một là sử dụng lực lượng mà ông đang chỉ huy để khởi nghĩa vũ trang, nhưng nếu lựa chọn phương án này, lực lượng mà ông chỉ huy sẽ sớm bị tiêu diệt trong bể máu.
Lựa chọn thứ hai là sang Việt Nam; lựa chọn thứ ba là không làm gì, để mặc chế độ diệt chủng Pol Pot tiếp tục gây tội ác và lựa chọn thứ tư là tự sát. Thủ tướng Hun Sen từng kể lại rằng khi ấy "chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng và ngồi chờ cái chết".
Trong thời khắc gian nan đó, Thủ tướng Hun Sen đã cùng một số cán bộ yêu nước của Campuchia, đã quyết định sang Việt Nam bày tỏ ý nguyện của nhân dân Campuchia mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ Việt Nam. Như ông từng phát biểu, căn cứ vào tình hình chính trị trong nước và quốc tế lúc đó, không còn con đường nào khác.
Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh lịch sử đã chứng minh nếu không có "hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" bắt đầu vào ngày 20/6/1977 và những sự kiện tiếp theo thì Campuchia không thể có ngày hôm nay.
Ông khẳng định Tòa án đặc biệt Tư pháp Campuchia đã ra phán quyết lên án tội ác diệt chủng và điều này cũng chứng minh tính ĐÚNG ĐẮN của cuộc chiến CHÍNH NGHĨA chống bè lũ Pol Pot; chứng minh hành động của Việt Nam là hoàn toàn ĐÚNG ĐẮN; nhấn mạnh “khi hoạn nạn khó khăn mới biết ai là bạn tốt” khẳng định luôn ghi nhớ và cảm ơn nhân dân và các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu giúp Campuchia giải phóng đất nước, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot để hồi sinh và phát triển đất nước.
Thủ tướng Hun Sen cũng bày tỏ tự hào đã có nhiều đóng góp cho quan hệ 45 năm qua giữa Việt Nam và Campuchia.
Trong đó có việc cùng nhau từng bước hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới, đưa những vùng biên giới từng bị chiến tranh tàn phá thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác toàn diện.
Nguồn: thongtinchinhphu
Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội
Sau 4,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm cao, Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XV đã thành công và bế mạc vào tuần qua.
Thế nhưng một số đối tượng thù địch và những kẻ chống đối lại hậm hực trước kết quả của kỳ họp, đưa ra những chiêu trò xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò của QH, chia rẽ QH với Chính phủ...
Họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách
Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri trong những ngày đầu năm mới 2022 là Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.
Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ cho biết, trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của đất nước và công tác chuẩn bị, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức QH và các nghị quyết Kỳ họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhằm kịp thời xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế-xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ kịp thời cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.
Trước đó, tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên được tổ chức tại QH Việt Nam, Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Bùi Văn Cường khẳng định: Theo quy định của pháp luật, QH có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách. Trong đổi mới hoạt động QH, chúng ta phải xem cách thức vận hành và hoạt động của nghị viện các nước cũng thế. Khi cần phải họp để thông qua thì họ cũng đã có những hình thức như vậy.
Tổng thư ký QH cũng nêu quan điểm, QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách. Theo đó, khi có những việc cần thiết, cấp bách, cần giải quyết sớm thì QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường bên cạnh hai kỳ họp thường kỳ, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, phục vụ cho phát triển đất nước, bảo đảm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không bị ách tắc; thể hiện sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Thực tế, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH, nhiều vấn đề cấp bách của đất nước đã được cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân giải quyết.
Chăm chú theo dõi kỳ họp bất thường của QH, TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, đại biểu QH khóa IX, XII và XIII nhận xét: “Đây là kỳ họp với nhiều nội dung hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ cho năm 2022 mà cho cả giai đoạn 2021-2025, được cử tri, nhân dân và dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trên cả nước. Để góp phần khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hệ quả của đại dịch Covid-19, tại kỳ họp, QH đã có những quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư, phát triển. Tôi đánh giá cao việc QH thông qua "một luật sửa 9 luật" để giải quyết những vấn đề căn cơ, bất cập của luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội. Đây là sự tháo gỡ căn bản về thể chế.
Trên cơ sở đó, các văn bản pháp quy khác của Chính phủ sẽ điều chỉnh, tạo thuận lợi tốt hơn cho môi trường sản xuất, kinh doanh. Các nội dung cụ thể được sửa đổi, bổ sung lần này liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, công tác bảo vệ an ninh mạng, thi hành án dân sự, thực hiện chính sách xã hội hóa vào hệ thống truyền tải điện quốc gia, khuyến khích đầu tư sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường... Đáng lưu ý, luật đã tháo gỡ các thủ tục, điểm nghẽn trong hấp thụ nguồn vốn cũng như trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động kinh tế hiện nay”.
Thực tế của kỳ họp bất thường là vậy, cử tri và đồng bào cả nước đều có thể theo dõi các phiên họp qua những phương tiện thông tin đại chúng với rất nhiều kênh truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Vậy mà vẫn có một số người lại cố tình xuyên tạc nội dung, bản chất của kỳ họp. Họ rêu rao trên mạng xã hội, phát biểu trên một số phương tiện thông tin đại chúng của nước ngoài rằng: “QH họp bất thường để tạo cơ sở pháp lý cho việc tham nhũng chính sách”, “QH họp bất thường vì lợi ích nhóm”, “QH họp bất thường có bình thường không vào lúc này?”...
Quốc hội họp bất thường không vi hiến
Trên mạng xã hội, có người còn diễn giải rằng: “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật”... Họ không biết (hoặc cố tình không biết) trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 2 của Điều 83 đã hiến định: “QH họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”. Luật Tổ chức QH tại Điều 90 cũng quy định rõ: “QH họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”.
Như vậy, việc QH họp bất thường đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức QH. Không phải “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật” như lý lẽ của một số người.
Cũng có người cho rằng “QH họp bất thường nên không có thời gian chuẩn bị”, “Các đại biểu QH phụ thuộc hoàn toàn vào giải trình của ban soạn thảo khi quyết định bấm nút”... Thực tế không phải như vậy. Vào đúng ngày kết thúc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV (13-11-2021), trước những vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn, UBTVQH đã đề nghị Chính phủ trình hồ sơ 5 nội dung để có cơ sở xem xét, đề xuất việc tổ chức kỳ họp bất thường của Quốc hội (ban đầu dự kiến vào cuối tháng 12-2021).
Chiều 22-11-2021, UBTVQH cho ý kiến bước đầu về tổ chức kỳ họp này. Ngày 10-12-2021, tại phiên họp của UBTVQH, ông Bùi Văn Cường, Tổng thư ký QH đã báo cáo về 3 phương án tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH và đã được nhiều đại biểu cho ý kiến. Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh: “Thống nhất chủ trương có một kỳ họp bất thường, song các nội dung cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tránh trường hợp vừa phê duyệt, sửa đổi song phát sinh bất cập”. Chủ tịch QH yêu cầu tất cả các cơ quan liên quan phải sát sao, công khai, vô tư, khách quan, minh bạch, không được để sơ suất gì trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp này.
Chính vì phải chuẩn bị kỹ lưỡng nên kỳ họp mới lùi sang đầu năm 2022.
Tại kỳ họp bất thường, với tinh thần trách nhiệm cao trước đất nước, đồng bào và cử tri, trên cơ sở các tờ trình, báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của QH, với gần 1.100 lượt đại biểu phát biểu qua 3 phiên thảo luận tổ và 3 phiên họp toàn thể trực tuyến, các đại biểu QH đã tập trung nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp rất nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, chất lượng, có tính xây dựng. “Các cơ quan của QH, Chính phủ và cơ quan có liên quan đã nỗ lực tối đa, không quản ngày đêm trong việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ, nghiêm túc các ý kiến của đại biểu để QH xem xét, biểu quyết thông qua 1 luật và 4 nghị quyết với sự thống nhất rất cao, góp phần vào thành công thực chất của kỳ họp”, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp.
Dấu ấn từ những quyết sách chưa có tiền lệ
QH khóa XV mới có nửa năm hoạt động nhưng đã để lại dấu ấn với những quyết sách chưa từng có tiền lệ để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ nhiều lần khẳng định, QH sẽ không để xảy ra tình trạng "bắc nước sôi chờ gạo người", không chờ các dự án luật được các cơ quan soạn thảo trình sang xong mới cho ý kiến, mà QH sẽ giữ vai trò chủ động dẫn dắt công tác lập pháp, vào cuộc từ sớm, từ xa, thậm chí "đặt hàng" cho các cơ quan Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật.
Trên cơ sở đề xuất của Đảng đoàn QH, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ QH khóa XV, đây là cơ sở hết sức quan trọng để QH và các cơ quan chủ động hơn, vào cuộc từ sớm, từ xa, phối hợp chặt chẽ bảo đảm tiến độ, chất lượng công tác xây dựng pháp luật.
Trong kỳ họp đầu tiên, QH khóa XV đã ban hành 29 nghị quyết. Tại kỳ họp thứ 2, QH đã thông qua 2 luật, 12 nghị quyết, cho ý kiến 5 dự án luật và quyết định rất nhiều vấn đề quan trọng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.
Tại kỳ họp thứ nhất, QH đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15 trao quyền chủ động mạnh mẽ cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được quyết định và tổ chức thực hiện một số giải pháp cấp bách đặc biệt, đặc thù, đặc cách để ứng phó kịp thời với dịch Covid-19. Trường hợp cần thiết phải ban hành quy định về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật thì trong thời gian QH không họp, Chính phủ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn trước khi thực hiện. Nghị quyết đã thể hiện sự vào cuộc quyết liệt, quyết tâm của QH nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, được cử tri và dư luận cả nước đồng tình, đánh giá cao.
Để góp phần khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội, kỳ họp bất thường lần đầu tiên của QH đã được tổ chức, đưa ra quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư phát triển. Việc tổ chức kỳ họp đã cho thấy sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, sự phát triển của đất nước.
Là đại biểu QH nhiều khóa, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, nguyên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, QH khóa XV có rất nhiều đổi mới trong hoạt động. QH không chỉ song hành với Chính phủ mà trong một số hoạt động, QH còn đóng vai trò dẫn dắt, những đề án, dự án luật không chỉ từ cơ quan Chính phủ đề xuất mà các cơ quan của QH, UBTVQH còn đưa ra những đòi hỏi, định hướng, gợi ý, đề nghị đối với Chính phủ. “Hoạt động của QH đã bám sát được những động thái quan trọng nhất, những yêu cầu quan trọng nhất của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Với việc luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn, QH có thể có những kỳ họp bất thường vào bất cứ thời gian nào để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh, đáp ứng mong mỏi của cử tri cả nước. Đây cũng chính là phong cách làm việc mới của QH...”, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc chia sẻ.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng QH nhận xét: “Tôi thấy QH khóa này có vẻ dẫn dắt nhiều hơn. Ví dụ, diễn đàn kinh tế thường niên của QH đã bàn thẳng vào các vấn đề thuộc về chính sách phục hồi kinh tế, trong đó có chính sách tài khóa, tiền tệ. Thảo luận các vấn đề kỹ trị quan trọng như bơm tiền vào như thế nào và làm sao để rút ra mà không gây các tác động tiêu cực về vĩ mô. Rồi phục hồi du lịch ra sao trong hoàn cảnh dịch bệnh còn có thể kéo dài. Khuôn khổ tư duy, tầm nhìn, các ưu tiên được hình thành từ đây và vang lên ở kỳ họp QH...".
Ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, đông đảo cử tri và thực tế diễn ra là minh chứng, là lời phản bác đanh thép cho những chiêu trò xuyên tạc về Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.
