Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

VIỆT NAM ĐÁNH TAN 20 SƯ ĐOÀN KHMER ĐỎ NHƯ THẾ NÀO?


Ưu thế vượt trội về trang bị vũ khí là một trong những yếu tố quyết định giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam phản công ‘thần tốc’ đánh bại hoàn toàn 20 sư đoàn quân chính quy Khmer Đỏ chỉ trong nửa tháng.
Sau một thời gian kìm chân, tiêu hao sinh lực địch quân Khmer Đỏ ở khu vực biên giới, ngày 23/12/1978, QĐND Việt Nam tung lực lượng lớn gồm nhiều sư đoàn tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận biên giới Tây Nam.
Chỉ trong vòng nửa tháng, quân ta đã giải phóng thủ đô Phnom Penh và nhiều TP lớn khác ở Campuchia. Đồng thời, chúng ta cũng đánh tan hàng vạn quân Khmer Đỏ, giải thoát cho hàng triệu người Campuchia trước sự tàn bạo của Pol Pot.
Việc có thể đánh bại 20 sư đoàn chính quy của Khmer Đỏ chỉ trong một thời gian ngắn như vậy đã khiến thế giới đặt ra nhiều câu hỏi tại sao chúng ta – QĐND Việt Nam có thể làm nên chiến thắng “thần tốc, kỳ diệu” tới vậy.
SỨC MẠNH VƯỢT TRỘI
Điều dễ thấy nhất đó là sự chênh lệch về sức mạnh quân sự giữa hai bên. Cuộc phản công ở biên giới Tây Nam là một chiến dịch quân sự được coi là có quy mô cao nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam, vượt hơn cả các chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức năm cánh quân tấn công vào Sài Gòn – Gia Định. Mỗi cánh quân có quy mô một quân đoàn với tổng số vũ khí trang bị cho chiến dịch này là 265 xe tăng, 127 xe thiết giáp, 241 pháo kéo cùng hơn 400 khẩu pháo cao xạ. Tuy nhiên trong chiến dịch phản quân ở biên giới Tây Nam, Việt Nam đã tung ra tổng cộng 3 quân đoàn và 3 quân khu.
3 quân đoàn bao gồm quân đoàn 2, 3, 4 và ba quân khu 5, 7 và 9. Mỗi quân khu, quân đoàn này có lực lượng gồm từ 2 đến 3 sư đoàn bộ binh và nhiều trung đoàn, lữ đoàn binh chủng khác.
Các vũ khí hạng nặng nhiều hơn hẳn chiến dịch Hồ Chí Minh, cụ thể, phía ta sử dụng tới 600 xe tăng và xe bọc thép, hơn 400 pháo cỡ lớn, 139 máy bay, 10.000 ô-tô và hàng trăm tàu thuyền các loại.
Sự khác biệt về vũ khí trang bị giữa hai chiến dịch không những dừng ở lượng mà còn khác hẳn về chất. Trong chiến dịch phản công biên giới Tây Nam, ta có không quân và hải quân hiệp đồng với lược lượng trên bộ.
Ở chiều hướng đối diện, quân Khmer Đỏ ước tính có quân số tương đương 23 sư đoàn, trong đó ngoài các sư đoàn bộ binh, còn có 1 sư đoàn thủy quân lục chiến, 1 sư đoàn hải quân và 1 sư đoàn không quân. Các sư đoàn bộ binh của Khmer Đỏ cũng được trang bị tốt với pháo và một lượng nhỏ xe tăng, thiết giáp. Tuy nhiên về không quân thì dù được Trung Quốc cung cấp 6 chiếc tiêm kích J-6 nhưng thực tế Khmer Đỏ không thể sử dụng.
Tuy số lượng sư đoàn là hơn 20 nhưng theo một số nguồn tin thì quân số của các sư đoàn Khmer Đỏ lại không được đầy đủ như trên lý thuyết mà biên chế của một sư đoàn Khmer Đỏ chỉ bằng 1/2 biên chế của một sư đoàn Việt Nam.
Ngoài ra, Việt Nam không chỉ có ưu thế khi so sánh từng cấp đơn vị tương đương mà còn có ưu thế về hiệp đồng binh chủng mà phía đối phương không có.
Ví dụ như trên các hướng chiến dịch, Việt Nam có xe tăng đột kích, có pháo các cỡ cấp quân đoàn, sư đoàn yểm trợ, có yểm trợ hỏa lực đường không với máy bay cường kích hoặc trực thăng vũ trang. Khi gặp vật cản địa hình tự nhiên, chúng ta cũng có lực lượng công binh với trang thiết bị hiện đại, trường hợp gặp sông lớn như sông Mê Kông thì đã có hải quân hỗ trợ chiếm đầu cầu.
Tính từ ngày 22/12/1978 tới 17/1/1979, Không quân Nhân dân Việt Nam đã hoạt động tổng cộng 54 đợt, đánh 99 trận, thực hiện 627 lần xuất kích trong đó có 352 lần trực tiếp xuất kích tham chiến. Không quân Việt Nam hoàn toàn kiểm soát vùng trời Campuchia cho toàn cuộc chiến.
BẬC THẦY CỦA CHIẾN TRANH DU KÍCH
Khmer Đỏ thực tế cũng có chiến lược chiến đấu khá đặc biệt, đối mặt với quân đội Việt Nam được trang bị mạnh, có kinh nghiệm chiến đấu qua nhiều năm kháng chiến chống Mỹ, chúng sử dụng chiến thuật du kích để đối phó với ta, tránh đối đầu trực diện.
Phương châm tác chiến của Khmer Đỏ tóm gọn là “Địch tiến, ta lùi; địch dừng, ta quấy; địch mệt, ta đánh; địch rút, ta truy” (địch ở đây ám chỉ quân Việt Nam).
Trong suốt thời kỳ đầu gây hấn xung đột, quân Khmer Đỏ tung lực lượng áp sát các vị trí phòng thủ của Việt Nam trên tuyến biên giới, dùng các thủ đoạn bắn tỉa, gài mìn, pháo kích gây tiêu hao lực lượng ta. Ngay khi bị ta phản công, Khmer Đỏ thường tháo chạy để bảo toàn lực lượng, và quay lại rất sớm để gây rối.
Tuy nhiên quân đội Việt Nam đã vận dụng chiến thuật du kích đến cao độ trong thời chống Mỹ và đã có những cách thích nghi cũng như khắc chế lối chiến đấu này của quân Khmer Đỏ.
Cụ thể, khi tiến công căn cứ nhất là những căn cứ nằm sâu trong hậu phương địch, có công sự sơ sài và vật cản giản đơn thì cần tạo yếu tố bất ngờ, sử dụng lực lượng đột kích chính diện với quân số vừa phải nhưng tăng lực lượng vu hồi, tấn công bên sườn và sau lực. Cần thiết thì có thể tạo thế bao vây nhiều lớp, không cho đối phương rút lui. Trong phòng ngự cũng phải thể hiện tư tưởng tiến công, sẵn sàng cơ động thoát ra ngoài trận địa, đánh hai bên sườn và phía sau đội hình địch.
Đặc biệt, yếu tố tiên quyết để chiến thắng toàn diện lực lượng Khmer Đỏ đó là phải bao vây, không cho đối phương rút lui tản mát để quay lại tiếp tục thực hiện lối đánh du kích.
ĐOÁN ĐÚNG VÀ ĐẬP TAN MƯU ĐỒ CỦA ĐỐI PHƯƠNG
Khmer Đỏ cũng mắc phải sai lầm lớn khi cho rằng Việt Nam không đủ sức và đặc biệt là không dám thực hiện tấn công toàn diện với sức mạnh tổng lực.
Giới lãnh đạo chóp bu Pol Pot cho rằng Việt Nam nếu có đánh tổng lực, cũng chỉ đánh tới bờ Đông sông Mê Kông để tạo vùng đệm với biên giới nước ta và lập căn cứ cho Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia thì lực lượng Việt Nam sẽ bị sa lầy.
Hiểu rõ được ý đồ này của địch, quân đội ta đã quyết tâm đánh lớn, đánh một trận tổng lực nhằm dành chiến thắng áp đảo trên mọi mặt trận, quét sạch tàn quân Campuchia ra khỏi quốc gia này.
Như vậy, có thể thấy bằng những chiến lược, chiến thuật hợp lý, sức mạnh tinh thần cao và trang thiết bị vượt trội kết hợp với lối đánh sáng tạo, khắc chế đối phương. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đè bẹp Pol Pot chỉ sau một thời gian ngắn dù cả ta với địch về lý thuyết là đều có quân số khá tương đồng.

"KHUYẾT TẬT TAY NHƯNG ĐỪNG KHUYẾT TẬT NÃO"


Trong review phim mới nhất về phim Em và Trịnh, nghệ sĩ Nguyễn Phúc Gia Huy (Dưa Leo) cho biết: "Em và Trịnh đã khắc họa thành công một khung cảnh miền Nam phát triển, giàu có, đẹp đẽ. Con người miền Nam rất là hào hoa, style, đặc sắc. Khung cảnh Sài Gòn rất thơ mộng, tuyệt trần. Người Sài Gòn cũng sống và hít thở bầu không khí tự do, ăn mặc đẹp đẽ và sang chảnh dữ dội. Nguyên nhân vì xã hội VNCH gắn chặt với Mỹ và thế giới chứ không bó hẹp như miền Bắc.
"Nếu Sài Gòn - Miền Nam cứ phát triển như thế này thì không phải là Hàn Quốc mà Sài Gòn - miền Nam mới phát triển và xuất khẩu đi khắp thế giới".
Đây không phải là lần đầu tiên Dưa leo tỏ thái độ tôn thờ chế độ Việt Nam Cộng hòa, cũng như đả kích xã hội Việt Nam đương đại. Dù sinh sau đẻ muộn, chưa được chứng kiến cuộc sống thực sự ở miền Nam Việt Nam trước 1975, nhưng trong mắt anh hài Dưa leo, tất cả như một viễn cảnh màu hồng và thậm chí còn tưởng tượng miền Nam Việt Nam thời điểm đó giống như Hàn Quốc hiện nay.
Nhưng nếu chịu khó tìm đọc các cuốn sách viết về Sài Gòn trước 1975 thay vì đi xuyên tạc chống phá chế độ, thì có lẽ Dưa leo hiểu được bản chất cuộc sống xa hoa mà anh ta nói tới. Đó là nền kinh tế hoàn toàn dựa vào sự viện trợ của Mỹ và sự giàu có hào nhoáng chỉ là vỏ bọc bên ngoài, che đi sự bất bình đẳng, nghèo khó của người dân lao động. Cái mà anh ta nhắc tới "thơ mộng, hào hoa" chỉ là cuộc sống của một số ít kẻ bám chân đế quốc Mỹ, làm tay sai cho chúng; còn đại đa số người dân vẫn phải chấp nhận bị bóc lột, mất hết nhân quyền.
Và ngay sau khi Mỹ rút, nền kinh tế của Sài Gòn nói riêng và miền Nam Việt Nam nhanh chóng rơi vào khủng hoảng và sụp đổ nhanh chóng, lộ rõ những yếu kém, khuyết điểm tồn tại bên trong nó.
Khuyết tật bẩm sinh là điều không ai muốn, nhưng mong anh nghệ sĩ Dưa leo chỉ khuyết tật tay thôi, đừng khuyết tật não!!!

Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'DƯA LEO: NHÌN VÀO EM VÀ TRỊNH CHÚNG TA cÓ THỂ THẤY SÀI GON VÀ MIỄN NAM PHÁT TRIÊN NHƯ THẾ NÀO. NẾU ĐƯỢC TỰ DO ĐÔC LẬP PHÁT TRIỂN, SÀI GÒN SẼ PHÁT TRIỂN HƠN HÀN QUỐC BÂY GIỜ'

54

Thích
Bình luận
Chia sẻ

VỀ LUẬN ĐIỆU "MUỐN CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ THÌ PHẢI THAY ĐỔI THỂ CHẾ"


"Không thể gọi là "đốt lò", "chống tham nhũng" nếu không chịu thay đổi thể chế" - Vị linh mục thuộc DCCT Việt Nam Đinh Hữu Thoại đã viết như thế trên facebook cá nhân sau khi dẫn về một stt khác của facebooker Thach Vu: "Hai sự thật không thể phủ nhận:
- CB tham nhũng từ phường xã cả nước đến UVBCT là sản phẩm trực tiếp của CƠ CHẾ hiện nay.
- Người "đốt lò vĩ đại" cũng là người nhất định duy trì CƠ CHẾ đó!".
Đây không phải lần đầu tiên vị linh mục Dòng chúa cứu thế này nói ra những điều như thế. Sự hằn học, bất đồng với chế độ khiến ông ta chỉ nhìn được có thể và trong mọi vấn đề phản ánh, ông ta luôn cố gắng thể hiện cho được cái ý đồ thường trực đó. Tuy nhiên, cái gọi là "muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải thay đổi chế độ" được nói đến thực chất chỉ là chiêu trò của những kẻ luôn muốn thay đổi chế độ nhưng "lực bất tòng tâm".
Từ cách gợi mở của linh mục này và facebooker Thach Vu, một câu hỏi được đặt ra là có phải thể chế hiện nay của Việt Nam đang đẻ ra tham nhũng? hay tham nhũng là hệ quả tất yếu của những cơ chế lỗi thời và những quy định không đủ sức kiểm tỏa, xử lý khi có tham nhũng xảy ra?
Các câu hỏi này có thể trả lời ngay luôn là không, bởi nếu tham nhũng là bệnh của một chế độ thì không có chuyện vấn nạn này đang hiện hữu, có mặt ở hầu hết các nước từ XHCN đến TBCN, từ nước giàu đến nước nghèo, bất chấp không có sự đồng nhất về mặt thể chế. Đến như các nước phương Tây Tư bản chủ nghĩa cũng đau đầu khi đối diện với nó. Và xin thưa một khi đã là bệnh chung, của thế giới thì việc cá thể hóa, gắn ghép cho một nước, một chế độ sẽ xem chừng là thiếu thuyết phục và điều không nên làm. Cái ý tưởng ""muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải thay đổi chế độ" vì thế cũng khó lòng thuyết phục được những người hiểu chuyện.
Xung quanh câu chuyện đang được nói đến không phải thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đang phải bó tay, không có những giải pháp hữu hiệu để phòng chống. Mà trên thực tế, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã thực sự thành công trong cách chống tham nhũng dựa trên nguyên tắc "đánh chuột không để vỡ bình".
Theo đó, nhận thức được tham nhũng đẻ ra từ cơ chế (không phải thể chế) và nhất là việc cơ chế cũ không đủ sức trói buộc, hướng lái những chủ thể có quyền thực hiện hành vi tham nhũng. Nên từ rất sớm, khi phát động cuộc chiến chống tham nhũng Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu vấn đề, khởi động cho việc thay đổi, đổi mới cơ chế quản lý, vận hành đất nước. Trên nền tảng cơ chế mới, hàng loạt giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung, chống tham nhũng nói riêng được hình thành. Và điều đáng nói là tất cả những giải pháp, hệ thống biện pháp đó đều quán xuyến, xây dựng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc xác lập trên nền tảng của chế độ và điều đó đang phát huy tác dụng.
Chỉ có điều với những sự lệch lạc trong ý nghĩ của bản thân cùng những ý đồ hướng đến mà vị linh mục DCCT Việt Nam này không thể nhìn thấy. Việc ông ta nhăm nhăm kêu gọi thay đổi chế độ vì thế là một chiêu trò nhưng xin thưa, nó chỉ lừa bịp được những kẻ hoặc có mặc cảm với chế độ hoặc những kẻ cùng quan điểm với ông ta.
Cần nhớ rằng, chế độ này do nhân dân Việt Nam lựa chọn và việc có để nó tồn tại được hay không phải là do số đông người dân quyết định. Nó mặc nhiên sẽ không bị thay thế bởi những chiêu trò rẻ tiền, ít chiều sâu kiểu này. Mong rằng, nếu tiếp tục những mưu đồ kiểu này thì linh mục Dòng chúa cứu thế Đinh Hữu Thoại cũng nên dụng công và đầu tư hơn. Có như thế ông mới có đất sống, chứ nếu không nó chỉ càng cho dư luận thấy rõ hơn cái bản mặt của ông hơn mà thôi. Thứ đến, đó cũng là nguyên cớ để lực lượng chức năng chú ý đến ông hơn và biết đâu đó có thể là sự khởi đầu cho những điều không hay của vị linh mục này...
Nguồn: An Chiến
Blog Việt Nam Mới
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'PEUMER சமயம Chiêu trò được linh mục Đinh Hữu Thoại, DCCT Việt Nam nêu lên (Nguồn: Ảnh chụp từ facebook).'
29
3 bình luận
11 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Làm chủ căn cứ Tân Cảnh

 

Chúng tôi có may mắn được gặp và trò chuyện với Thiếu tướng Phùng Bá Thường (1924-2021), nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần) lúc sinh thời.

‘Nghệ thuật hắc ám’ trong việc thao túng dư luận của phương Tây


Các tài liệu của Chính phủ Anh được giải mật gần đây đã tiết lộ hàng trăm hoạt động “tuyên truyền đen” quy mô và tốn kém, trong đó có các chiến dịch vận động chống Liên Xô trước đây. Dù những chiến dịch này đến nay được cho là đã kết thúc, song các chuyên gia nhận định nó có thể vẫn tiếp tục theo nhiều hình thức khác nhau.
Bất ngờ từ những tài liệu được giải mật
Theo đó, tài liệu giải mật cuối năm 2021 cho thấy London đã bí mật thực hiện truyền thông sai lệch trong hàng chục năm ở giai đoạn từ giữa những năm 50 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước, nhắm vào nhiều nước châu Phi, Trung Đông, châu Á và Liên Xô. Cách thức chính trong giai đoạn đó là phát tán các tờ rơi, bài báo hoặc báo cáo giả nhằm gây bất ổn, khuyến khích căng thẳng chủng tộc, gieo rắc hỗn loạn, kích động bạo lực…
Bài báo “Chiến dịch tuyên truyền đen bí mật của Anh nhằm chống kẻ thù trong Chiến tranh lạnh”, đăng ngày 15/5 trên tờ The Guardian (Anh) của tác giả Jason Burke đã viết rằng, chiến dịch này do một đơn vị đặc biệt thuộc Bộ Ngoại giao Anh triển khai, tập trung vào những đối thủ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh như Liên Xô, cũng như các nhóm giải phóng cánh tả và các nhân vật mà Anh cho là “mối đe dọa đối với lợi ích của mình”. Theo GS Rory Cormac (Đại học Nottingham, Anh): “Tài liệu giải mật này là những tiết lộ quan trọng nhất trong vòng 20 năm qua. Điều đó cho thấy rất rõ ràng rằng Anh tham gia các hoạt động ‘tuyên truyền đen’ nhiều hơn hết so các giả định trước đó của giới sử học…”.
GS Rory Cormac đã phân tích sâu các chi tiết tài liệu mới giải mật của Anh và công bố trong cuốn sách có tựa đề “How to stage a coup: And ten other lessons from the world of secret statecraft” (Tạm dịch “Cách tạo ra một cuộc đảo chính: 10 bài học khác từ thế giới của thủ đoạn ngoại giao bí mật”), xuất bản ngày 2/6/2022. Theo ông, hàng ngàn tài liệu đã được giải mật sau hơn 40 năm song vẫn mang lại cái nhìn sâu sắc về các hoạt động phát tán thông tin sai lệch để chống phá. Ông cho rằng: “Nước Anh chỉ là một trong số rất nhiều chủ thể phát tán số lượng tài liệu ‘tuyên truyền đen’. Họ chắc chắn có ý định đánh lừa công chúng để truyền tải thông điệp giả mạo”.
Trong lời tựa cho cuốn sách của tác giả Cormac trên Amazon có viết: “Thế giới ngày nay đang thay đổi. Sự cạnh tranh giữa các cường quốc đã trở lại trong chương trình nghị sự quốc tế và các chính phủ trên khắp thế giới đang chuyển sang sử dụng những quy chế bí mật, hay thậm chí ‘ném đá giấu tay’ để định hướng dư luận… Câu chuyện của Rory Cormac với các thí dụ thực tế, đã tiết lộ cách các hoạt động thủ đoạn như vậy đang định hình thế giới và giải thích tại sao các quốc gia ngày càng chú trọng sử dụng những nghệ thuật hắc ám này”.
“Nghệ thuật hắc ám”
Theo hãng thông tấn RIA Novosti của Nga, ở thời kỳ đỉnh điểm giữa những năm 60 của thế kỷ 20, Phòng Nghiên cứu thông tin (IRD) thuộc Bộ Ngoại giao Anh đã tuyển dụng 360 nhân sự. Tuy nhiên, chỉ có một vài người được giao nhiệm vụ đặc biệt bí mật là biên tập các tin tức “tuyên truyền đen”. Đơn vị có trụ sở ở Westminster đã sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để thao túng dư luận. Một trong số đó là soạn ra các báo cáo giả gửi đến các chính phủ hoặc phóng viên, nhà báo… để tuyên truyền về Liên Xô như một mối đe dọa nghiêm trọng.
Theo đó, cơ quan an ninh của Anh cung cấp thông tin tình báo cho IRD để đơn vị này soạn ra các báo cáo trích dẫn một vài dữ kiện và phân tích được lựa chọn cẩn thận có chủ đích nhằm bóp méo thông tin. IRD cũng thiết lập và điều hành một số tổ chức chống phá lấy danh nghĩa là hoạt động độc lập, song nhận tài trợ của Chính phủ Anh.
Một “nghệ thuật hắc ám” khác của cơ quan này là giả mạo tuyên bố của các tổ chức và cơ quan truyền thông ở các nước khác, nhằm tung tin thất thiệt hoặc tạo ra những thuyết âm mưu gây bất lợi cho đối thủ của nước Anh. Chẳng hạn, từ năm 1965 đến năm 1972, IRD đã giả mạo ít nhất 11 tuyên bố của hãng thông tấn nhà nước của Liên Xô, gây hiểu nhầm và xuyên tạc những quan điểm, chính sách của Liên Xô trong quan hệ quốc tế lúc bấy giờ. IRD cũng giả mạo tài liệu về Tổ chức Anh em Hồi giáo (MB) ở Trung Đông, cô lập những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Phi…
GS Cormac cho rằng không nghi ngờ gì khi các nhà hoạch định chính sách cấp cao của Anh đã biết rõ về công nghệ tuyên truyền của IRD. Năm 1964, Bộ trưởng Ngoại giao Anh khi đó là Patrick Gordon Walker đã khuyến khích Bộ Ngoại giao duy trì “tiềm năng ‘tuyên truyền đen’ và sản xuất tài liệu bí mật cho mục đích này”.
Mặc dù tác động của các chiến dịch của IRD thường khó đánh giá rõ rệt, song nhìn chung công chúng không có nhiều cơ hội để phân biệt các tin tức giả hay thông tin xuyên tạc, vì vậy dễ bị chi phối về mặt thông tin. Mỗi khi tin giả gây ra phản ứng giận dữ và kích hoạt dư luận theo định hướng của mình, đây được coi là một thành tựu lớn của IRD. Tài liệu giải mật cho thấy “quan chức Anh tỏ ra hài lòng” khi tài liệu giả được xuất bản trên các tờ báo ở các quốc gia mục tiêu, hoặc có khi các tờ báo phương Tây cũng vô tình sử dụng tài liệu từ IRD.
IRD đã ngừng hoạt động vào năm 1977, tuy nhiên các nhà nghiên cứu hiện đưa ra bằng chứng cho thấy những nỗ lực tuyên truyền đen tương tự kéo dài trong gần 10 năm sau đó và không loại trừ vẫn tiếp diễn với nhiều hình thức khác. Theo GS Cormac: “Đối với phần lớn thời kỳ Chiến tranh lạnh, Anh đã sử dụng nhiều phương tiện và thủ đoạn để giành ưu thế trong cuộc chiến thông tin. Sau đó, ‘tuyên truyền đen’ có thể đã tiếp diễn tinh vi hơn nhiều”. Ông cho rằng, khi một cuộc xung đột xảy ra, các bên liên quan thường có động thái tung hỏa mù, cảnh báo, phát biểu răn đe đối phương… song truyền thông phương Anh cũng như phương Tây đã chứng tỏ mình là nguồn tin tức thiếu tin cậy trong xung đột, thậm chí đã trong nhiều trường hợp gây mất lòng tin đối với công chúng.
Năm 2010, trong phiên điều trần về chính sách ngoại giao của Anh dẫn đến cuộc chiến Iraq vào năm 2003, Chủ tịch Ủy ban điều tra là Sir John Chilcot đã chủ trì phiên điều trần với nhiều quan chức tình báo và ngoại giao Anh. Theo đó, các quan chức này đã không chỉ ra được bằng chứng để kết luận rằng chính phủ của Tổng thống Iraq lúc đó là Saddam Hussein “sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD)”, song chính quyền Anh đã vin vào WMD làm cái cớ để cùng Mỹ phát động cuộc chiến xâm lược Iraq, với mục đích sau này được xác định là lợi ích kinh tế từ nguồn cung dầu mỏ.
Trước khi phát động một cuộc chiến thực địa, chiến tranh thông tin được áp dụng nhằm mục đích tạo nên môi trường thông tin hỗn loạn, bất lợi khiến đối thủ không thể biện minh cho cuộc chiến, từ đó hủy hoại uy tín của đối thủ trên trường quốc tế, còn phương Tây thì có cớ tập hợp sự ủng hộ mạnh mẽ để chống lại đối thủ. Ngày nay, với sự bùng nổ của các mạng xã hội như Facebook, Twitter… việc lan truyền tin giả, thông tin sai lệch lại càng gây khó khăn cho công chúng.
PL

Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa cho cán bộ, chiến sĩ

 

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân-Bộ đội vì dân.

Nhận diện hoạt động của một số tà đạo hiện nay

 Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.