Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

 Nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là khâu quan trọng, là tiền đề để nghị quyết được triển khai, trở thành hành động nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Chính vì thế, đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

1- Nghị quyết của Đảng là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, được xây dựng trên cơ sở yêu cầu phát triển của cách mạng trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “cần nghiên cứu sâu để thấm nhuần tinh thần Nghị quyết; nghiên cứu càng sâu thì càng thêm phấn khởi, hoàn thành nhiệm vụ càng tốt. Nhưng cán bộ thấm nhuần chưa đủ. Phải làm cho tinh thần Nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người thấy hết thắng lợi, khả năng và khó khăn của ta, thấy rõ khả năng của ta to lớn hơn khó khăn nhiều, làm sao cho mọi người vui vẻ, hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì khi nhân dân vui vẻ, hăng hái thì mọi khó khăn sẽ vượt được”(1). Người cũng chỉ ra rằng khi đã có nghị quyết, phải lập tức đốc thúc thực hành nghị quyết ấy; phải nắm rõ tình hình sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân của từng địa phương; có như thế, mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó khăn để sửa đổi khuyết điểm và tìm ra cách vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực hiện nghị quyết.

Để nghị quyết đi vào cuộc sống một cách nhanh nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc “khai hội với các đảng viên, khai hội với dân chúng (hoặc binh sĩ), phái người đến báo cáo, giải thích.

- Các cấp dưới, đảng viên và dân chúng (hoặc binh sĩ) phải thảo luận những mệnh lệnh và nghị quyết đó cho rõ ràng, hiểu thấu ý nghĩa của nó và định cách thi hành cho đúng”(2). Tuy nhiên, Người cũng chỉ ra hiện tượng ở nhiều nơi, cán bộ lãnh đạo chỉ lo “khai hội” và “thảo nghị quyết”, “đánh điện và gửi chỉ thị”, nhưng không biết những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn, trở ngại gì, dân chúng có nhiệt tình tham gia hay không. Họ quên mất khâu vô cùng quan trọng là kiểm tra việc thực hiện. Chính vì thế, mặc dù “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” nhưng công việc vẫn không chạy. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(3).

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Thành công của Đại hội không phải là thông qua được Nghị quyết, bầu Ban Chấp hành mới, quan trọng hơn, sắp tới phải đưa Nghị quyết vào cuộc sống thế nào, biến nó thành hiện thực thế nào”(4).

Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới có nhiều biến đổi, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh và mạnh như vũ bão, tạo ra những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, thì đòi hỏi chúng ta càng phải nhanh nhạy bắt kịp xu thế thời đại, nắm bắt cơ hội phát triển, khắc phục kịp thời những khó khăn, khuyết điểm, hạn chế. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(5). Muốn vậy, tinh thần, mục tiêu, Nghị quyết của Đại hội XIII phải được thấm sâu và nhanh chóng được hiện thực hóa trong mọi mặt đời sống của đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh tới yêu cầu cần tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng; trong đó, phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm “khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược, đi vào nền nếp, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở sao cho phù hợp với từng đối tượng; chú trọng chất lượng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm thiết thực, hiệu quả.

Với tinh thần đó, ngay sau Đại hội, các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung làm tốt việc phổ biến, tuyên truyền sâu rộng nghị quyết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nghị quyết và các văn kiện đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động; phát động phong trào thi đua yêu nước trên tinh thần đổi mới sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống.

2- Xác định nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ hàng đầu của công tác chính trị, tư tưởng; thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã nhanh chóng, kịp thời triển khai nghị quyết đến từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, tạo nên những chuyển biến rõ rệt về chất và lượng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu.

Việc xây dựng kế hoạch, chuẩn bị tài liệu phục vụ tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết được triển khai một cách bài bản và khoa học(6). Cấp ủy các cấp bám sát quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của nghị quyết trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả của chương trình, kế hoạch hành động. Công tác tổ chức hội nghị nghiên cứu, học tập, quản lý người học được chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ. Hình thức nghiên cứu, học tập được đổi mới, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương, cơ sở, như học tập trực tuyến, thu âm, thu hình phát lại, tọa đàm chuyên đề cho cán bộ, đảng viên trao đổi, thảo luận nội dung nghị quyết, xây dựng chương trình hành động... Báo cáo viên hội nghị được cấp ủy các cấp chọn lọc kỹ lưỡng, có nhiều kinh nghiệm, am hiểu lý luận và thực tiễn, có phương pháp sư phạm, kỹ năng truyền đạt tốt. Cùng với đó, các cơ quan truyền thông, báo chí từ Trung ương đến địa phương cũng mở các chuyên trang, chuyên mục, thường xuyên đưa tin, đăng bài về những nội dung cơ bản, cốt lõi, những điểm mới của nghị quyết, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân có điều kiện tiếp cận nghiên cứu, học tập nghị quyết bằng nhiều cách thức, phương tiện.

Thông qua nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, các cấp ủy đã triển khai xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, thực hiện một cách hiệu quả các nhiệm vụ trọng yếu, những khâu đột phá, giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách tại cơ quan, đơn vị; đại đa số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động đã tiếp thu, nắm vững các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, yếu kém như: 1- Một số cấp ủy chưa nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của việc học tập nghị quyết, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng, hiệu quả của việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng; 2- Công tác tổ chức học tập nghị quyết còn mang nặng tính khuôn mẫu, hình thức, chưa linh hoạt, sáng tạo; 3- Một số báo cáo viên còn chưa thực sự chuyên sâu trong truyền tải kiến thức, bài nói, bài viết chưa có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng, lĩnh vực, ngành, nghề; 4- Việc quán triệt nghị quyết chủ yếu mới dừng lại ở khâu báo cáo, ít thời gian tiến hành trao đổi, đặt ra các câu hỏi để thảo luận, tương tác, giải đáp thắc mắc; 5- Tinh thần, thái độ học tập của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự nghiêm túc, vẫn còn tình trạng học đối phó cho xong, việc điểm danh tiến hành qua loa, chiếu lệ; 6- Cơ sở vật chất phục vụ cho học tập nghị quyết ở một số nơi còn khó khăn, thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu; 7- Công tác kiểm tra, đánh giá việc nghiên cứu, học tập, quán triệt ở một số nơi vẫn chưa được coi trọng đúng mức; 8- Hình thức nghiên cứu, học tập, quán triệt trực tuyến hiện đang phổ biến, nhưng cũng bộc lộ nhiều điểm yếu, như việc trao đổi, tương tác giữa báo cáo viên và đại biểu ở các điểm cầu ít, công tác kỹ thuật chưa bảo đảm, ảnh hưởng đến tín hiệu đường truyền (âm thanh kém, đường truyền bị đứt đoạn)...

Những hạn chế nêu trên đặt ra đòi hỏi cần tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả học tập theo hướng thiết thực, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hành; từ đó, tạo tiền đề thúc đẩy việc đưa nghị quyết vào cuộc sống, biến nghị quyết thành những thành tựu kinh tế - xã hội cụ thể, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

3- Trên tinh thần đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết từ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đến các cán bộ, đảng viên. Chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu và xác định rõ việc học tập nghị quyết là nhu cầu tự thân, vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân. Đây được xem là giải pháp cơ bản, lâu dài góp phần khắc phục có hiệu quả biểu hiện “lười học” nghị quyết của Đảng, theo đúng tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai nghị quyết. Sự lãnh đạo, chỉ đạo cần sát sao, quyết liệt, đồng bộ, có sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên; phát huy tinh thần chủ động, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong việc xây dựng, thực hiện có hiệu quả các chương trình hành động nhằm cụ thể hóa nghị quyết. Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, coi đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của tập thể và cá nhân người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, cân nhắc, lựa chọn hình thức lớp học phù hợp với từng đối tượng, đổi mới cách thức tổ chức lớp học, cách học với các hình thức đa dạng, như tổ chức hội nghị chung, lớp học chuyên đề; thông qua sinh hoạt chi bộ; qua việc tự nghiên cứu tài liệu; đảng viên thuộc lĩnh vực nào thì tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu ở lĩnh vực đó.

Tiếp tục mở rộng việc tổ chức hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, coi đây là hình thức cơ bản; phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, nền tảng kỹ thuật số, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19. Đây là hình thức không chỉ mang tính thời sự cao, mà còn cho phép tổ chức với quy mô lớn, tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên, cần chú ý phân bổ thời gian cho việc trao đổi, giải đáp, tương tác giữa báo cáo viên và đại biểu ở các điểm cầu; đầu tư nâng cấp thiết bị, bảo đảm chất lượng đường truyền trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết. Tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, cần linh hoạt kết hợp hình thức trực tuyến với nghiên cứu, học tập, quán triệt trực tiếp.

Bên cạnh việc tổ chức các lớp học, các cấp ủy cần quan tâm chú ý đến việc hướng dẫn tự nghiên cứu, tra cứu khai thác tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm cung cấp đầy đủ tài liệu cho cán bộ, đảng viên, phát huy tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường kiểm tra đánh giá nhận thức đối với cán bộ, đảng viên; chú trọng công tác sơ kết, tổng kết việc học tập, quán triệt, tuyên truyền nghị quyết của Đảng.

Bốn là, lựa chọn, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống; có trình độ chuyên sâu về lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu truyền đạt có hiệu quả nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt. Báo cáo viên ngoài việc làm rõ các quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong nghị quyết, cần phải am hiểu sâu sắc, biết vận dụng một cách phù hợp nội dung của nghị quyết ở từng cấp, từng ngành, cơ quan, đơn vị; gia tăng tính đối thoại, thảo luận dân chủ đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng trong quá trình truyền đạt nghị quyết.

Năm là, nghiên cứu xây dựng các tài liệu theo hướng chuyên sâu, phù hợp với từng nhóm đối tượng, cấp phát tới từng chi bộ để cán bộ, đảng viên dễ dàng học tập, nghiên cứu và tuyên truyền. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, ứng dụng sách học tập nghị quyết điện tử, cập nhật kiến thức lý luận chính trị trên các báo, tạp chí lớn của Trung ương, qua internet, mạng xã hội, tạo điều kiện cho người học tiếp cận tài liệu nghiên cứu, học tập một cách thuận tiện, nhanh chóng, mọi lúc, mọi nơi.

Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo, bằng nhiều phương tiện, như sử dụng các kênh thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương (cổng thông tin điện tử, báo, tạp chí...), mạng xã hội, hoạt động sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, các hội thi tìm hiểu, thi báo cáo viên giỏi... Trong quá trình tuyên truyền, cần chú ý nắm bắt, lắng nghe tâm tư, thắc mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung nghị quyết để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, nâng cao hiệu quả định hướng, tạo sự đồng thuận trong nhận thức của toàn xã hội; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nghị quyết.

Bảy là, chú trọng xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Đảng một cách rõ ràng, thiết thực, khắc phục tối đa những hạn chế mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế; năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”(7). Cần bảo đảm tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện nghị quyết theo phương châm “kế hoạch 10 phần thì biện pháp phải 20 phần và quyết tâm 30 phần”(8), bởi những kết quả đạt được trên thực tế chính là thước đo chính xác nhất cho việc triển khai, đưa nghị quyết vào cuộc sống.

Tám là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng. Kết quả nghiên cứu, học tập và thực hiện chương trình hành động phải được coi là cơ sở quan trọng để kiểm điểm, đánh giá tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên hằng năm và cả nhiệm kỳ. Sau mỗi đợt nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần chú ý chỉ đạo thực hiện công tác sơ kết, rút kinh nghiệm; từ đó, đề ra biện pháp khắc phục triệt để “bệnh hình thức”, qua loa, đại khái; đồng thời, kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả của các tập thể, cá nhân.

Với vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị đất nước, các nghị quyết của Đảng khi được hiện thực hóa tạo ra sự chuyển biến căn bản của đất nước trong từng giai đoạn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết phải luôn được đổi mới để tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất trong ý chí và hành động; từ đó, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.

HAI LẦN GẶP CHA Ở CHIẾN TRƯỜNG

Đồng Hới, tháng Tư, năm 1975. Chiếc MiG vừa hạ cánh chạy dúi dụi trong bụi mù mịt thì một chiếc xe com-măng-ca phủ đầy bụi chạy ngược lại cũng bỏ lại một đám bụi phía sau, hai đám bụi ấy hòa vào nhau trong mưa dầm làm đường băng chả còn nhìn thấy gì nữa. Vừa lúc ấy, lại một chiếc máy bay cánh quạt chui từ mây ra chạm đất, lại bụi nữa... Cảnh ấy gợi lên hình ảnh tấp nập của chiến trường ở đầu cầu hàng không của hậu phương miền Bắc với Đà Nẵng mới giải  phóng... Rồi từ đuôi chiếc máy bay vận tải, đoàn cán bộ lại rảo bước đến chiếc trực thăng Mi8 đang nổ máy chờ, bụi, bụi lại bốc lên...

Đại đội phó Đại đội 4, phi công Từ Đễ bước xuống thang máy bay MiG sau chuyến bay tuần tra gần Huế, mũ xách tay, mặt nạ dưỡng khí vắt vai, mồ hôi nhễ nhại lúi húi ký vào sổ nhật ký kỹ thuật của máy bay. Anh nói lớn do ù tai: "Lốp mòn rồi, mấy ông thay hộ ngay cho chuyến tiếp bảo vệ cho các cụ sắp bay vào". Vừa nói xong, anh quay ra toan đi vào thì gặp một người mặc quân phục không đeo quân hàm bước tới: "Ôi, bố! Sao bố lại biết con ở đây mà tìm?".

Cha Từ Đễ là ông Từ Giấy, một cán bộ Cục Quân nhu, tươi cười: "Bố đi đôn đốc hỗ trợ hậu cần cho mặt trận, các chú quân y, quân nhu, xăng dầu, vận tải cùng đi đang chờ ngoài kia. Bên quân chủng nói con trong này đang hỗ trợ cầu hàng không Đồng Hới nên bố vào thăm trước khi vào trong kia". Ông Từ Giấy lôi ra một gói quà nhỏ: "Cháu Thảo gửi cho con hình vẽ máy bay và nói: Ba Đễ bay như chim nhé, bao giờ ba về hái hồng xiêm cho con?". Từ Đễ mở gói quà nhỏ của con gái có bức tranh vẽ máy bay xanh đỏ và 10 quả hồng xiêm cảm động: "Chà, quà của hai mẹ con đây". Anh nhớ tới cây hồng xiêm bố trồng nhân dịp cháu nội ra đời nay đã bói quả, nhớ tới con gái nhỏ bé: "Bao giờ gặp lại con gái đây?". Hai cha con Từ Giấy-Từ Đễ cùng các chú cán bộ chạy ra căng-tin sân bay ăn bún Đồng Hới. "Cháu bảo đảm bún Đồng Hới toàn mùi tôm bé xíu - con ruốc đỏ au ngọt lừ", Từ Đễ khẳng định. Cậu lái xe chạy đi chặt cây ngụy trang cho xe nói to: "Cụ ông bắt ngụy trang cho đúng quy định. Ngụy nó chạy tám hoánh rồi còn đâu máy bay mà lo". Ông Từ Giấy nói vọng ra: "Cứ làm cho đúng, biết đâu thằng Mỹ nó quay trở lại rồi lại bị như hồi 72 ấy, cậu còn nhớ chứ?"...

Từ Đễ đưa một gói kẹo mè xửng: "Bố mang đi ăn đường cho ngọt xe, an toàn. Chắc con cũng vào theo mặt trận thôi". Hai bố con bắt tay nhau: "Nếu vào thì nhớ mang màn kẻo muỗi. Bố đi trước nhé, hồi năm 45, bố tới Ninh Thuận thì quay ra, kỳ này chắc vào tới Sài Gòn". Đúng là anh chưa hiểu hết bố mình, ông có một ước mơ từ thuở nhỏ là đi khắp đất nước chỉ để tìm cách nào đó cho con người đỡ khổ vì thiếu học, để họ biết sống khoa học và ăn sạch. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng là hội viên hội nhà báo cứu quốc được lên chúc thọ cụ Hồ tròn 60 tuổi cùng với cụ Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu. Rồi ông còn làm chủ bút báo Vui sống nổi tiếng với số phát hành trên ba vạn bản. Rồi ông tham gia bảo vệ sức khỏe cho bộ đội tại mặt trận Điện Biên, giặc Pháp hàng, ông lại đi tẩy rửa cánh đồng Mường Thanh... Anh không biết chuyện ông Từ Giấy mang về Cục Quân y một ba lô chiến lợi phẩm đặc biệt: Các thư từ của binh lính Pháp bỏ lại trong các hầm, bệnh xá dã chiến, hy vọng một ngày nào đó tìm gửi trả lại cho chủ nhân các bức thư đó! Rồi anh cũng không biết khi còn học tại Trường Chu Văn An ông đã từng là chủ bút một tờ báo "Văn", đỗ tú tài toán và ghi danh vào trường y... Cái đất học Thường Tín (có nhiều tiến sĩ được ghi danh tại Văn Miếu), là nơi gần như duy nhất tại Việt Nam có khu Văn chỉ (dạng văn miếu địa phương) đã nổi tiếng từ lâu ....

Mặt trận càng xa về phía Nam, Đại đội 4 lại rút về căn cứ đóng quân của Trung đoàn không quân 923. Ở đây, họ đã tính toán về khả năng vào Nam chi viện cho mặt trận, nhưng MiG 17 không thể tham gia vì cự ly hoạt động ngắn và công tác đảm bảo rất khó khăn. Hy vọng ta chiếm được máy bay A37 thì may ra... Thế rồi ngày 17-4-1975, có tin trên xuống: “Đã chiếm được sân bay Thành Sơn (Phan Rang). Bắt sống Tư lệnh Sư 6 Phạm Ngọc Sang!". Cả trung đoàn bàn tán xôn xao: "Mấy cha bộ binh giỏi thật, bắt hai con chuột to mà không vỡ  bình!". Anh đã chuẩn bị lên đường vì biết mình có khả năng làm những việc khó khăn nhất.

Thế rồi có lệnh cho đại đội lên máy bay vào Đà Nẵng. Khi ghé qua nhà tại phố Lý Nam Đế, anh gặp lại con gái bé nhỏ ríu rít bên chân khoe đôi giày đẹp - bé tý đã biết làm đẹp. Hôm sau, khi ra sân bay Gia Lâm bay vào Đà Nẵng, vợ anh đưa cho con gái một bông hoa loa kèn kêu mang đến tặng cho ba: "Ba đi nhớ con gái bên bông hoa loa kèn nhé, chóng về với con!".

Đại đội anh bay máy bay A37, di chuyển đi Phù Cát, Phan Rang và ngày 28-4-1975, bí mật ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, gây chấn động và đập tan ý chí của chính quyền ngụy, tiêu diệt lực lượng máy bay cuối cùng của không lực Sài Gòn. Cha anh lại từ Tây Nguyên tiến vào theo hướng Quân đoàn 3. Khi nghe tin anh đánh sân bay, cụ Đinh Đức Thiện sai liên lạc chạy đi các hướng tìm cho được ông Từ Giấy. Hai tiếng sau, ông Từ Giấy mới tới sở chỉ huy chỉ để nghe ông Thiện thông báo một câu: "Thằng Đễ vừa đánh sân bay Tân Sơn Nhất xong, nó về an toàn, chúc mừng hai bố con!". Ông Đinh Đức Thiện lại nói vui: "Thằng Đễ nhà anh cũng hay, khi chỉ huy mặt đất ngụy nó hỏi máy bay của phi đoàn nào thì nó trả lời dõng dạc: Máy bay A-mê-ri-cơn đây. Con giống cha quá!". Cha anh lặng đi vì tự hào về con. Ông lập tức điện ra Hà Nội, ra lệnh chuẩn bị vải may ngay lễ phục duyệt binh mừng chiến thắng! Cái cảm nhận chiến thắng sẽ đến ngay ngày mai chắc nó đã nằm đâu đó trong tim người lính già từ lâu lắm rồi.

Ngày 2-5-1975, anh cùng "Phi đội Quyết Thắng" bay vào căn cứ Biên Hòa, bố anh lại từ sân bay Tân Sơn Nhất chạy xe sang đón anh tại sân bay, y hệt như lần hai cha con gặp nhau tại Đồng Hới, chỉ khác là lần này ngập trong nắng vàng và niềm vui chiến thắng. Chả có từ ngữ nào diễn tả được niềm sung sướng của hai cha con giữa thành phố Sài Gòn vừa giải phóng. Ông Từ Giấy bảo: "Bố con ta cùng đi và bố con ta sẽ cùng trở về Hà Nội mãi mãi!".   



TỐ NGÂN - Báo QĐND

Phi công Từ Đễ (trái) và cha mình-GS Từ Giấy tại Sài Gòn sau ngày giải phóng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

HÀNG CHỤC NGÀN NGƯỜI BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI NATO Ở "THỦ ĐÔ" CỦA EU!

Những người biểu tình tức giận trước việc chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao và lên án sự can dự của khối quân sự NATO vào cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine.
Theo đài RT, một cuộc biểu tình lớn do công đoàn tổ chức, với sự tham gia của 70.000 đến 80.000 người, đã xảy ra trên nhiều đường phố ở Brussels, Bỉ vào ngày 20-6.
Bên cạnh sự tức giận trước việc chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao, nhiều người biểu tình còn lên án liên minh quân sự NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương) do Mỹ dẫn đầu và sự can dự của khối này vào cuộc xung đột Nga-Ukraine.
“NATO hãy ngừng lại đi” - đoàn người biểu tình hô vang.
Theo những người biểu tình, tình hình kinh tế khó khăn ở thời điểm hiện tại là do các lệnh trừng phạt của EU (Liên minh châu Âu) nhắm vào Nga cũng như do việc NATO viện trợ vũ khí cho Ukraine./.
Yêu nước ST.

 TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC


✅ “Lấy dân làm gốc” là một trong những triết lý sâu sắc trong kho tàng tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta qua nhiều thời kỳ.


✅ Tại Đại hội XIII, tư tưởng lấy dân làm gốc đã được đúc kết thành bài học, với những nguyên tắc cơ bản, định hướng mọi chủ trương, sách lược của Đảng trong giai đoạn mới “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm lấy “dân làm gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.


✅ Điểm mới trong Nghị quyết Đại hội Đảng XIII so với Nghị quyết Đại hội Đảng XII về tư tưởng “lấy dân làm gốc” chính là “dân thụ hưởng”. “Dân thụ hưởng” nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới; khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn những lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân hăng hái cống hiến và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước; thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng và Nhà nước đến đời sống của nhân dân; là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực để Đảng ta hoàn thiện các chủ trưởng, đường lối trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước. 


✅ Qua các giai đoạn cách mạng, tư tưởng “lấy dân làm gốc” không ngừng được bổ sung, phát triển. Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm quan điểm lấy dân làm gốc. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. 


✅ Dân làm gốc chính là phải phát huy và bảo đảm tốt hơn, thực chất hơn quyền làm chủ của nhân dân. Để chủ trương “lấy dân làm gốc” của Đảng ta đi vào cuộc sống thì Đảng, Nhà nước cần quan tâm, chăm lo, đặt lợi ích của nhân dân lên trước hết và trên hết trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách. Nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Bài học “lấy dân làm gốc” sẽ trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn khi chủ trương này được thực thi một cách hiệu quả.

 

NHẬN DIỆN VỀ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

 

 Là một hiện tượng xã hội, cơ hội về chính trị xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại. Tuy tính chất, mức độ và biểu hiện khác nhau nhưng ở giai đoạn nào, thời kỳ nào cũng có. Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, một bộ phận trong các giai tầng xã hội vì lợi ích cá nhân mà sẵn sàng thay đổi lập trường, quan điểm chính trị. Trong xã hội phong kiến, bên cạnh những minh quân và các vị quan thanh liêm, chính trực, thường xuất hiện những kẻ bên ngoài thì tỏ ra người trung quân, ái quốc, nhưng bên trong lại phản nước, hại dân. Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã bị chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn và chống phá. Năm 1895, sau khi Ph.Ăngghen mất, những người đứng đầu Quốc tế II và các đảng dân chủ - xã hội ở Tây Âu đã từ bỏ những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác, chủ trương đưa phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân trong khuôn khổ những cải cách cục bộ, không nhằm mục tiêu lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Họ đã biến Quốc tế II và các đảng dân chủ - xã hội thành những đảng cải lương, xa rời bản chất giai cấp công nhân và mất tính chiến đấu của một Đảng chân chính cách mạng.

          Ở nước ta, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, ở những giai đoạn có tính bước ngoặt lịch sử, thường xuất hiện tư tưởng cơ hội về chính trị dưới nhiều màu sắc và ở những mức độ khác nhau. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cuộc chiến tranh bước vào thời kỳ cam go, quyết liệt, do khiếp sợ trước sức mạnh của vũ khí và sự tàn bạo của kẻ thù, một số người đã có tư tưởng muốn từ bỏ đường lối đấu tranh vũ trang để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nuôi ảo tưởng về con đường thỏa hiệp, chung sống hòa bình. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, mất phương hướng chính trị, đòi từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn đưa đất nước ta đi theo con đường khác.

Lợi dụng bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng Internet, mạng xã hội và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các vi phạm của cán bộ đảng viên, các đối tượng cơ hội về chính trị gia tăng các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ.

PHAO

Tuyên truyền làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 

Hiện nay, phòng, chống và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đòi hỏi phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, sáng suốt trong nhận diện, phân tích, thấy rõ âm mưu, thủ đoạn lừa bịp của các thế lực thù địch, từ đó tạo sự “miễn dịch”, tăng cường sức đề kháng, tạo sức mạnh đấu tranh chống lại sự nguy hiểm, thâm độc, sảo quyệt của kẻ thù.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục để cán bộ đảng viên và nhân dân hiểu rõ, hiểu tường tận “địch từ đâu tới”; “chúng cần gì ở chúng ta”; thấy rõ sở trường, sở đoản, quy mô, lực lượng, phương tiện; cơ sở tư tưởng, nguồn gốc phát sinh, phát triển của những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị sử dụng; mục đích cụ thể, mục đích lâu dài của chúng nhằm đạt được; “vạch mặt, chỉ tên” những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng “té nước theo mưa”, “vào hùa” tuyên truyền sai sự thật đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.. Kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, củng cố niềm tin, ý chí chiến đấu, quyết tâm bảo vệ Đảng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những nội dung trên cần được tiến hành bằng các hình thức sáng tạo thông qua hệ thống truyền thông, báo, đài, mạng xã hội, internet, các thiết chế văn hoá ở cơ sở; bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị, thủ đoạn, âm mưu của các thế lực thù địch để xác định hình thức, biện pháp tuyên truyền phù hợp để cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc, nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện, nhận diện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Phát huy đầy đủ vai trò các cơ quan chức năng, nhất là các Ban chỉ đạo 94 trong nắm, đánh giá, dự báo tình hình; tham mưu kịp thời với cấp uỷ đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị nội dung, biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cung cấp thông tin; định hướng tư tưởng, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm diễn ra trong đời sống xã hội.

PHAO

Nâng tầm tư duy của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Xây dựng chủ nghĩa xã hội là vấn đề lớn, nhiều vấn đề mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cần làm sáng rõ, điều đó, đòi hỏi Đảng ta phải nâng tầm trí tuệ để lý giải thuyết phục, tạo niềm tin trong Đảng và xã hội. Hơn nữa sự phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc vào sự phát triển tư duy lý luận của Đảng. Không tập trung nâng cao và phát huy được trí tuệ để phát triển lý luận về những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới thì sẽ khó có sự thống nhất cao về ý chí và hành động, sẽ không tạo được “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, và thậm trí, có thể dẫn đến hành động “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đó sẽ là kẽ hở để các luận điểm sai trái, phản động len lách vào, tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, vấn đề nâng tầm trí tuệ của Đảng trong bối cảnh hiện nay có ý đặc biệt quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Muốn vậy, Đảng tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Tập trung nghiên cứu sâu, bài bản, toàn diện, có trọng tâm các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách, đúc rút kinh nghiệm làm phong phú hơn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó khẳng định bản chất cách mạng, tính khoa học và giá trị vĩnh cửu của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới.

Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì: trí tuệ của Đảng là do trí tuệ của đảng viên tạo thành, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực chất nhằm tăng cường sức chiến đấu của Đảng, chống các thế lực thù địch, không để và không phạm những khuyết điểm, sai lầm để các thế lực thù địch lợi dụng những khuyết điểm của cán bộ, đảng viên để tấn công, phá hoại Đảng. Muốn vậy, phải thường xuyên làm tốt quản lý, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, định hướng sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược. Coi trọng kiểm tra, giám sát thực hiện nền nếp, chế độ và các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong tranh luận, thảo luận; giữ vững dân chủ, kỷ luật của tổ chức, nâng tầm trí tuệ của Đảng.

PHAO

Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.[1]. Muốn vậy, cần tuyên truyền sâu rộng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu, thấy rõ tính khoa học, vượt thời đại, qua đó khẳng định sức sống mãnh liệt, trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, để chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội và các tầng lớp nhân dân, cần chú trọng “đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”[2]. Tập trung luận giải cặn kẽ, có căn cứ khoa học và tính thuyết phục những lĩnh vực, những góc cạnh của đời sống xã hội, những vấn đề mới, “nóng” mà dư luận xã hội quan tâm trên cơ sở lý luận mác xít. Trong tuyên truyền cần chú ý lấy đối tượng được tuyên truyền, giáo dục làm mục tiêu để xây dựng nội dung, chương trình phù hợp. Cùng với đó, nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư tưỏng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội.

PHAO

[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quôc lần thư XIII,Sđd, tập 1, tr.228.

 [2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quôc lần thư XIII, Sđd, tr.228.

 

Các thế lực thù địch thực hiện quyết liệt “chiến lược” chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

         Hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện quyết liệt “chiến lược” chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên tất cả mọi phương diện, tập trung trên một số vấn đề sau:

Một là, xuyên tạc bản chất cách mạng khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội mác xít.

Các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc tính tất yếu của sự vận động, thay thế giữa các hình thái kinh tế - xã hội mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu chỉ ra. Đáng lưu ý, chúng tăng cường cổ súy, khuếch trương cho cách tiếp cận theo hướng tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, sự phát triển của các nền văn minh, phủ nhận vai trò quyết định và mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội. Thực chất quan điểm này là phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa mác xít về sự vận động phát triển tự nhiên của lịch sử loài người với mưu đồ “che đậy” và duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản phục vụ mưu đồ đen tối của chúng. Đây là “chiêu trò” “thò tay” “khuấy sâu”, trong chiến dịch leo thang chống chủ nghĩa xã hội.

Hai là, ca ngợi, cổ súy chủ nghĩa tư bản. Lợi dụng sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, những biến đổi trong giai cấp công nhân, các thế lực thù địch “được thời”, lớn tiếng xuyên tạc, lập luận rằng: Những gì giai cấp công nhân đang có không đủ “điều kiện, tư cách” thực hiện sứ mệnh lịch sử là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”. Rằng, nếu giai cấp công nhân có sứ mệnh như vậy thì tại sao hiện nay ở những nước tư bản phát triển, có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của mình?. Cùng với đó, chúng đề cao vai trò đội ngũ tri thức trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển, cho rằng đội ngũ này mới có khả năng lãnh đạo cách mạng theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực chất quan điểm này là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản nhằm khẳng định sự tồn tại ‘vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận địa vị lịch sử của giai cấp công nhân.

Ba là, công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh. Với các chiêu thức mới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không tiếc lời “rêu rao” rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “ảo tưởng”, “vay mượn”, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng tạo ra tư tưởng hoài nghi, phân tâm, hướng dư luận xã hội vào xu thế đối lập, kích động “làn sóng” phản đối tư tưởng Hồ Chí Minh. Không những thế, các thế lực thù địch còn tuyên truyền, hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn giá trị trên thực tế, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. Mới đọc có vẻ như hợp lý, nhưng thực chất đây là kiểu “đường vòng”, gián tiếp chống phá, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính chất nguy hiểm của “kiểu trò” này là làm cho mọi người lầm tưởng đó là sự đánh giá đúng tư tưởng Hồ Chí Minh mà không thấy hết mưu toan của chúng là muốn cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh, gieo rắc sự hoài nghi, dao động về nền tảng tư tưởng của chúng ta, tạo nên “khoảng chống” về tư tưởng, ý thức hệ để chúng dễ bề truyền bá các quan điểm, tư tưởng phi vô sản vào đời sống tinh thần của xã hội ta; tạo ra sự “diễn biến” bên trong, nhất là diễn biến về tư tưởng, từ đó dẫn đến “tự diễn biến” về những mặt khác của xã hội.

Bốn là, tuyên truyền kêu gọi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Các thủ đoạn chúng thường dùng là sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông hiện đại công khai cùng với việc lén lút lưu hành tài liệu phản động và các kiểu thông tin truyền miệng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội; tán dương chế độ tư bản; cổ vũ thuyết "đa nguyên, đa đảng", tuyên truyền cho "chủ nghĩa xã hội dân chủ", đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội của chúng ta hiện nay. Theo chúng, chỉ có xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội mới hòng chuyển hóa con đường cách mạng ở Việt Nam. Tính độc hại, nguy hiểm của thủ đoạn này là núp dưới chiêu bài “tự do, dân chủ, nhân quyền” để “du ngủ” người dân, tạo sự ngộ nhận, lẫn lộn về nhận thức, cho dù không thực hiện được mục đích cuối cùng thì cũng tạo được sự hoài nghi, thiếu niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc, tạo mâu thuẫn trong xã hội.

PHAO

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TA!

         Trong quan hệ đa phương, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (tháng 7/1995); tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996; gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Đồng thời, trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và duy trì là thành viên tích cực của Cộng đồng Pháp ngữ và Phong trào không liên kết. Trong đó, đã hai lần đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của tổ chức này, năm 2010 và 2020.

    Ở phạm vi toàn cầu, Việt Nam đã chủ động tham gia các cơ chế của Liên hợp quốc, như Hội đồng Bảo an, Ủy ban nhân quyền, Hội đồng kinh tế – xã hội của Liên hợp quốc… Đặc biệt, Việt Nam đã hai lần trúng cử là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 và 2020 – 2021; trúng cử thành viên Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc (2007 và 2022).. Năm 2020, Việt Nam lần đầu tiên đề xuất và bảo vệ thành công Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế phòng chống dịch. Việc tăng cường hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương ở mọi cấp độ đã nâng cao được vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề có lợi ích không chỉ với Việt Nam mà còn cho khu vực và trên thế giới.

     Như vậy, những thành tựu của Việt Nam cũng như trên thế giới đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá CM Việt Nam./.





Yêu nước ST.

Hà Nội biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu

 

Hà Nội biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu

Nhân kỷ niệm 21 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001-28/6/2022), ngày 22/6, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức gặp mặt các gia đình văn hóa tiêu biểu năm 2022.

Cuộc gặp mặt nhằm biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu, gương mẫu trong gìn giữ văn hóa gia đình, có thành tích trong các lĩnh vực hoạt động văn hóa xã hội, phát triển kinh tế, hoạt động nhân đạo từ thiện… trên địa bàn thành phố.

Những năm qua, thành phố đã có nhiều thành tựu trong xây dựng các mô hình văn hóa. Trong đó, mô hình Gia đình văn hóa là hạt nhân, nền tảng của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Hằng năm, việc đăng ký, bình xét danh hiệu “Gia đình văn hóa” được tiến hành theo đúng quy định, số lượng các gia đình đăng ký xây dựng danh hiệu “Gia đình văn hóa” đều đạt hơn 90%. Đến nay, tỷ lệ gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu Gia đình văn hóa trên địa bàn thành phố đạt 88%.

Từ việc triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trọng tâm là xây dựng gia đình văn hóa gắn với phòng, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới, triển khai thực hiện Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình…, trên địa bàn thành phố đã xuất hiện nhiều gia đình văn hóa tiêu biểu trên các lĩnh vực, như: Gia đình không bạo lực, gia đình không vi phạm pháp luật, gia đình không tệ nạn xã hội, gia đình không trẻ em suy dinh dưỡng, gia đình hiếu học, gia đình làm kinh tế giỏi…

Nhân dịp này, ngành văn hóa Thủ đô đã biểu dương 30 gia đình văn hóa tiêu biểu, ở 30 quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố. Đây là các gia đình có thành tích nổi bật trong các lĩnh vực văn hóa-xã hội, phát triển kinh tế, hoạt động nhân đạo từ thiện…, đồng thời là gương sáng trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở Hà Nội.

 

THẮM TÌNH QUÂN DÂN TRONG MƯA LŨ

 Đến tìm hiểu về công tác quân sự địa phương tại huyện Quốc Oai (Hà Nội), chúng tôi được nhiều cán bộ và người dân kể về chuyện bộ đội và dân quân giúp nhân dân trong đợt mưa lũ vừa qua.

Đó là những ngày cuối tháng 5, mưa lớn trên diện rộng và kéo dài ở miền Bắc khiến nước sông Tích dâng cao. Trên địa bàn huyện Quốc Oai xảy ra ngập lụt tại 7 xã ven sông, nguy cơ gây thiệt hại lớn hoa màu của nhân dân. Trước tình hình đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân trong huyện đã không quản ngại vất vả giúp bà con nông dân thu hoạch lúa, đắp bờ bao ngăn nước lũ tràn qua đê.
Bà Kiều Thị Thế (67 tuổi) ở thôn Cấn Hạ, xã Cấn Hữu, cho biết: “Nhà tôi làm 6 sào ruộng. Các thửa ruộng trồng lúa đã chín đều nằm sát bờ sông, khi nước lũ bất ngờ tràn về khiến gia đình không kịp trở tay, vì ở nhà chỉ có vợ chồng già chúng tôi. Rất may là nhà tôi được các chú bộ đội, dân quân gặt giúp, kịp thời đưa lúa về, nếu không thì đành mất trắng”.
Người dân thôn Cấn Hạ kể rằng, đợt lũ vừa qua, hầu hết diện tích lúa trên cánh đồng Vôi của thôn đã đến thời điểm thu hoạch đều bị ngập nước và ngã đổ. Cán bộ, nhân viên Ban CHQS huyện Quốc Oai và lực lượng dân quân của xã Cấn Hữu chia thành từng tốp giúp các gia đình gặt lúa ở những ruộng bị ngập sâu, nhất là các gia đình neo đơn, đưa lúa về tận nhà. Qua đó, giúp bà con không bị mất thành quả lao động.
Đồng chí Hoàng Tiến Oanh, Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Cấn Hữu chia sẻ: "Trước tình hình mưa lớn, nước lũ dâng cao, địa phương đã chủ động báo cáo cấp trên và chúng tôi nhanh chóng triển khai lực lượng gặt lúa giúp bà con, đồng thời tham gia đắp những đoạn đê có nguy cơ bị tràn, vỡ. Cả bộ đội và dân quân đều cố gắng hết sức giúp nhân dân, dù phải dầm mình trong nước lũ khá vất vả".
Còn tại xã Đông Yên, trong đợt lũ vừa qua, có hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) đã cùng với dân quân địa phương và người dân tiến hành gia cố gần 1.000m đê xung yếu có nguy cơ bị tràn, bảo vệ hơn 100ha lúa của nhân dân xã Đông Yên và Cấn Hữu. Theo Trung tá Phạm Văn Lên, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 102, khi nhận được đề nghị của UBND huyện Quốc Oai và chỉ đạo của chỉ huy Sư đoàn 308, trung đoàn đã khẩn trương điều động lực lượng, phương tiện, vật chất đến giúp nhân dân gia cố đê, phòng, chống lũ lụt. Đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, LLVT địa phương để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, ở xã Phú Mãn, mưa to làm sạt lở đất sườn núi với khối lượng khoảng 100m3. Đê bao sông Tích cũng bị tràn, gây ngập vùng trồng lúa và hoa màu trên địa bàn các xã: Phú Cát, Liệp Tuyết, Tuyết Nghĩa, Cấn Hữu, Đông Yên, Hòa Thạch với diện tích khoảng 110ha. Ban CHQS huyện Quốc Oai đã kịp thời tham mưu với Ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai-Tìm kiếm cứu nạn huyện Quốc Oai huy động lực lượng, phương tiện tiến hành khắc phục các sự cố và giúp dân thu hoạch hoa màu tại những "điểm nóng" này.
Thượng tá Nguyễn Đỗ Tùng, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Quốc Oai kể: “Vào thời điểm đó, Ban CHQS huyện Quốc Oai đang tổ chức huấn luyện cho Đại đội xung kích phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn của huyện năm 2022. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ tham gia giúp dân ứng phó với thiên tai được huấn luyện bằng tình huống đúng thực tế nên rất hiệu quả. Ban CHQS huyện đã cử 25 đồng chí bộ đội thường trực và huy động 150 cán bộ, chiến sĩ dân quân cơ động và dân quân tại chỗ của các xã tham gia làm nhiệm vụ khắc phục hậu quả mưa lũ. Xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của quân đội nên anh em đều nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, cùng các lực lượng khẩn trương giúp nhân dân ổn định cuộc sống”.
Đợt mưa lũ vừa qua, bộ đội và dân quân huyện Quốc Oai đã phối hợp với các lực lượng thu hoạch được khoảng 50ha lúa và hoa màu của người dân bị ngập úng; đắp khoảng 5km con trạch trên các tuyến đê bao (xấp xỉ 1.500m3 đất) để giữ cho 247ha lúa chưa đến kỳ thu hoạch; xử lý hai cống bị bục vỡ trên tuyến đê sông Tích... Hình ảnh bộ đội, dân quân nỗ lực giúp dân đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng cán bộ và nhân dân địa phương.
Theo báo QĐND

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRUYỀN THÔNG SỐ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ

 Hiện nay, phương thức truyền tải thông điệp đến công chúng thông qua các kênh truyền thông số đã trở thành phổ biến. Các cơ quan, bộ, ngành sử dụng các nền tảng mạng xã hội để cập nhật, phổ biến các văn bản, cung cấp thông tin trực tiếp đến công chúng đồng thời quảng bá về hoạt động minh bạch, hiệu quả trong ban hành và thực thi chính sách… Điều này cho thấy mạng xã hội đã và đang thực thi vai trò là kênh truyền tải thông tin hữu hiệu. Lan tỏa thông tin chính thống trên các kênh truyền thông số là xu hướng của các cơ quan báo chí trong thời đại công nghệ số hiện nay.

Trong bối cảnh đó, nhà báo Vũ Việt Trang, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), chia sẻ những nhận định về xu hướng truyền thông thời đại số và hướng đi của TTXVN để giữ vững vị thế là dòng thông tin chủ lưu trên không gian mạng.

NƠI LƯU GIỮ KÝ ỨC CỦA CÁC NHÀ BÁO

 Với mỗi nhà báo, từng hiện vật, mỗi bức ảnh…đều ghi dấu hành trình tác nghiệp trên con đường cầm bút của mình. Để rồi, khi đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của một nhà báo thì mỗi kỷ vật đó được gửi lại, lưu giữ ở Bảo tàng Báo chí Việt Nam, để thế hệ làm báo sau này có thể hiểu hơn về các nhà báo lão thành năm xưa.

Những xúc cảm đặc biệt
Đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào đúng dịp kỷ niệm 97 năm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925/21-6-2022). Bước chân vào không gian trưng bày theo từng chủ đề và tiến trình phát triển của nền báo chí cách mạng Việt Nam, được “thực mục sở thị” hiện vật, xem kỹ từng chú thích ảnh, lời ghi chú của mỗi bức hình, tập tài liệu… gắn với từng nhà báo, chắn chắn rằng, trong lòng mỗi du khách sẽ trào dâng niềm xúc động và thán phục thế hệ những người làm báo đi trước.
Trong số những tài liệu, hiện vật đang được trưng bày ở đây có những bức ảnh thấm đẫm màu khói lửa chiến tranh dù đã nhuốm màu thời gian nhưng vô cùng quý giá bởi gắn bó với những năm tháng chiến đấu, tác nghiệp dưới làn đạn quân thù của những nhà báo chiến trường,
Theo báo cáo của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, tính đến nay, Bảo tàng đã đón 15.000 lượt khách tham quan. Hiện, kho cơ sở của Bảo tàng hiện đang lưu giữ, bảo quản hơn 30.000 hiện vật, tư liệu. Trong đó, phần lớn là tài liệu hiện vật giấy được khai thác trực tiếp từ 63 tỉnh, thành trong cả nước.
Đọc hàng trăm dòng cảm xúc của các nhà báo, sinh viên, du khách khi đến tham quan Bảo tàng, chúng tôi hiểu rằng, để có được thành công đó là nhờ sự cố gắng không ngừng nghỉ của cán bộ, nhân viên Bảo tàng.
Bên cạnh các khu vực trưng bày thường xuyên, khu vực trải nghiệm các loại hình báo chí và các khu chức năng khác, Bảo tàng Báo chí Việt Nam còn dành riêng không gian để khách tham quan đọc sách báo, tra cứu tài liệu. Trước khi rời đi, các vị khách có thể ghi lại cảm tưởng của mình và ký tên lưu niệm trên vách.
Với số lượng khách tham quan tăng lên từng ngày, Bảo tàng Báo chí Việt Nam liên tục bổ sung các cuốn sổ ghi cảm tưởng mới và tăng thêm không gian để các du khách có thể lưu lại chữ ký của mình ở nơi đây.
Nhà báo Trần Thị Kim Hoa (Giám đốc Bảo tàng Báo chí Việt Nam) cho biết: Dịp 21-6 năm nay rất đặc biệt đối với Bảo tàng Báo chí Việt Nam bởi cũng là dịp tròn 2 năm Bảo tàng khánh thành không gian trưng bày thường xuyên và mở cửa đón khách tham quan. Đó là 2 năm quan trọng mở đầu chặng đường khẳng định tên tuổi, vị trí của một bảo tàng non trẻ trong hệ thống bảo tàng quốc gia nước ta, trên hành trình trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong một lần đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đồng chí Lê Quốc Minh khi đó là Phó tổng giám đốc TTXVN (hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam) đã ghi trong cuốn sổ cảm tưởng rằng: Thật tự hào về những cống hiến của thế hệ nhà báo đi trước, những hy sinh không gì bù đắp nổi nhưng rất đỗi vinh quang. Đó sẽ là động lực để thế hệ sau nỗ lực hơn nữa vì một nền báo chí chuyên nghiệp, chất lượng cao, luôn phụng sự Tổ quốc và độc giả, khán thính giả.
Sinh viên Nguyễn Văn Hòa (Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) bày tỏ: "Đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Các không gian trưng bày mỗi thời kỳ báo chí ở đây đều mang màu sắc riêng. Tôi rất ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy những tờ báo đầu tiên của Việt Nam. Những tờ báo từ thuở ban đầu tuy giản dị nhưng chứa đựng biết bao tâm huyết, trách nhiệm của người cầm bút".
Thay mặt đoàn cựu chiến binh cơ quan Hội Nhà báo Việt Nam, ông Bùi Đình Khôi khi đến thăm Bảo tàng chia sẻ: Việc trưng bày rất khoa học và phong phú, giúp người xem biết được sự ra đời, hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam.
Với những người làm báo thì khi đến thăm bảo tàng đều để lại cảm xúc đặc biệt, chị Nguyễn Hồng Hạnh, Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ TTXVN cảm nhận: "Chúng tôi rất xúc động khi được tận mắt chứng kiến quá trình phát triển của báo chí Việt Nam qua những hình ảnh, hiện vật, tư liệu quý mà bảo tàng đã dày công sưu tầm và thể hiện trong một không gian trưng bày hiện đại, sống động. Chúng tôi hy vọng, với những tâm huyết của những người làm công tác truyền thống báo chí, Bảo tàng sẽ tiếp tục trở thành địa chỉ cho những thế hệ làm báo sau này nghiên cứu, học tập, phát huy truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam".
Lăng kính của những người làm báo
Trưng bày "100 năm Báo Le Paria" được bảo tàng tổ chức từ cuối tháng 3-2022, và giới thiệu tại Hội báo toàn quốc giữa tháng 4-2022. Trưng bày đã đến với sinh viên Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông tháng 5-2022 và ngày 17-6 vừa qua, triển lãm cũng được giới thiệu với công chúng ở thành phố mang tên Bác. Hiện nay, bảo tàng đang xây dựng kế hoạch tiếp tục giới thiệu, triển lãm tiếp về di sản quý giá tròn 100 năm và gắn liền với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cần Thơ trong tháng 7 tới.
Được tận mắt nhìn thấy hình ảnh Báo Le Paria - tờ báo do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập và từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và những hiện vật trưng bày tại bảo tàng, ông Lương Tất Đạt, nguyên giáo viên Trường THPT Chuyên Hà Nội – Amsterdam, vị khách đã ngoài 80 tuổi bước đi chậm rãi, ngắm nhìn từng vách, xem kỹ từng hiện vật trưng bày và bày tỏ xúc động khi thấy toàn bộ tiến trình lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam được tái hiện một cách sinh động và dễ nhớ.
Ông Lương Tất Đạt chia sẻ: “Tôi rất vui được đến tham quan Bảo tàng Báo chí Việt Nam. Bảo tàng đã sưu tầm được những hiện vật rất quý giá, đó là những tờ báo đầu tiên của nền báo chí Việt Nam, như những tờ: Gia Định Báo, Thanh niên… rồi trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến thời kỳ hiện nay là thời kỳ nở rộ của nhiều loại hình báo chí: Báo giấy, báo nói, báo hình, báo điện tử…".
“Tôi đặc biệt xúc động được thăm nơi trưng bày về tờ báo Le Paria, tờ báo do Bác Hồ tham gia sáng lập và vận hành, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ra đời tờ báo này. Xem những bản in của tờ báo càng thấm thía tâm huyết và tài năng của Người, một nhà báo lớn của chúng ta trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn (về tài chính, về việc bị cấm đoán…) mà vẫn cho ra đời và vận hành được một tờ báo như vậy, quả là vô cùng đáng khâm phục. Tôi tuy không thuộc giới báo chí, nhưng qua việc đi tham quan bảo tàng này, tôi cũng đã thấy được công phu và tâm huyết của những người làm bảo tàng của chúng ta, mang lại những hiểu biết rất quý giá cho người đến xem. Tôi mong muốn bảo tàng sẽ liên tục phát triển và sẽ có ngày càng nhiều cuộc trưng bày thú vị, thu hút người xem để thế hệ sau biết nhiều hơn về lịch sử dân tộc qua một lăng kính khác, đó là "lăng kính của những người làm báo”, ông Lương Tất Đạt cho biết.
Nói về trưng bày "100 năm Báo Le Paria", nhà báo Trần Kim Hoa nhấn mạnh: “Tờ báo Le Paria là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động báo chí của nhà báo Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, đây cũng là tờ báo có vị trí quan trọng, không thể thiếu khi nghiên cứu, tìm hiểu về nền báo chí cách mạng Việt Nam cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh".
PGS, TS Đặng Thị Thu Hương (Phó hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện trưởng Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) đánh giá cao ý nghĩa của hoạt động trưng bày: “Với vai trò, vị trí đặc biệt của tờ báo Le Paria trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, trưng bày lần này không chỉ là một hoạt động quan trọng giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức về lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam mà còn là dịp để tăng cường giáo dục lý tưởng cho sinh viên nhà trường”.
Sinh viên Phạm Anh Văn, K64 Báo chí (Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) rất hứng thú với triển lãm này: “Những kiến thức về báo Le Paria chúng em đã được học trong môn học Lịch sử Báo chí Việt Nam và thế giới. Nhưng lần này được trực tiếp nhìn thấy các bản báo gốc, đọc được những bài báo cụ thể của tờ Le Paria, chúng em được hình dung lại kiến thức về môn học một cách cụ thể, trực quan và thú vị hơn rất nhiều”.
“Bảo tàng Báo chí Việt Nam độc đáo với những câu chuyện được kể một cách hiệu quả và cuốn hút”, đó là nhận xét của nhiều khách quốc tế khi đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam.
Bà Hanneke, quốc tịch Hà Lan trong một lần tới bảo tàng đã chia sẻ: “Các không gian trưng bày rất thú vị với nội dung phong phú. Ít có nơi nào trên thế giới có được bảo tàng riêng về báo chí như vậy”.
Tạp chí Vietnam Sketch (Vietnam Sketch Travel & Life Guidebook), một ấn phẩm tiếng Nhật chuyên cung cấp các thông tin đời sống, văn hóa, du lịch... cho khách du lịch Nhật Bản cũng như cộng đồng người Nhật quan tâm đến Việt Nam cũng đã đăng tải bài viết giới thiệu về Bảo tàng Báo chí Việt Nam là địa chỉ hấp dẫn để du khách lựa chọn khi đến thăm Việt Nam.
“Tôi cảm thấy vui được đến tham quan một bảo tàng hiện đại, đẹp, cách trưng bày phong phú”, Tery Thammalungsee, sinh viên Lào tại Đại học Văn hóa Hà Nội bộc bạch.
Những hình ảnh, hiện vật trưng bày ở bảo tàng đã thu hút sự quan tâm, tham quan, tìm hiểu của đông đảo các tầng lớp nhân dân; góp phần truyền bá tư tưởng, lịch sử cách mạng; giúp người xem có thêm những trải nghiệm phong phú về nghề báo. Qua đó, bồi đắp ý tưởng, nhiệt huyết, khát vọng và quyết tâm cống hiến, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp cho sự nghiệp báo chí nước nhà, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo báo QĐND

“Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”.

 Đây là nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời câu hỏi phỏng vấn của một phóng viên nước ngoài: “Sau khi chiến tranh kết liễu thì chương trình kiến thiết của Việt Nam sẽ thế nào? Địa vị người tri thức Việt Nam sẽ thế nào”, vào ngày 22 tháng 6 năm 1947.

Câu nói “Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và vai trò của trí thức đối việc củng cố và bảo vệ chính quyền; đồng thời, còn thể hiện tư tưởng chỉ đạo, phát huy vai trò quan trọng, địa vị và sự đóng góp cần thiết của đội ngũ trí thức với công cuộc kiến thiết nước nhà. Thực hiện tư tưởng của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức nước ta đã có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kiến quốc, giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo thành khối liên minh bền vững giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày nay, thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; lời Bác dạy có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tiếp tục được Đảng, nhà nước ta nghiên cứu vận dụng sáng tạo làm cơ sở cho xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt. Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, giỏi về chuyên môn, giàu về năng lực, hiểu biết sâu sắc trên từng lĩnh vực đời sống xã hội, đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, tiếp nhận nhanh và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học kỹ thuật quân sự, để tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng, an ninh; phát triển đội ngũ trí thức quân đội cả về số lượng và chất lượng, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội

 

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội

Cùng dự hội nghị có các ông: Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phó Thủ tướng Lê Văn Thành; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cùng hơn 34.000 đại biểu tham dự tại các điểm cầu.

Xác định mục tiêu Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu

Trình bày những nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng nêu rõ: Nghị quyết đã nêu rõ 4 quan điểm, 2 mục tiêu lớn đối với từng giai đoạn với nhiều điểm mới để lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội trong trung và dài hạn.

Nghị quyết tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô toàn diện, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế; Kết hợp hài hoà phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa giữ gìn bản sắc văn hoá với phát triển kinh tế và giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, trong đó văn hoá, con người vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng, nguồn lực, động lực để phát triển Thủ đô.

Điểm mới của thời gian thực hiện Nghị quyết lần này là xác định mục tiêu phát triển Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (là thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập nước). Các Nghị quyết trước đây chỉ xác định phạm vi thời gian trong 10 năm.

Về mục tiêu đến năm 2030: Thủ đô Hà Nội là Thành phố "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại"; Trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; Hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới, phấn đấu phát triển ngang tầm Thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước; GRDP giai đoạn 2026 - 2030 tăng 8,0 - 8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000 - 13.000 USD.

Về mục tiêu đến năm 2045: Thủ đô Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao, với GRDP/người đạt trên 36.000 USD; Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển toàn diện, đặc sắc và hài hoà, tiêu biểu cho cả nước; Có trình độ phát triển ngang tâm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới...

Phải tập trung, quyết liệt, sáng tạo trong thực hiện nghị quyết

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng khẳng định, Nghị quyết 15 đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trên cơ sở ý kiến của các Bộ ngành địa phương tham luận tại hội nghị, ông Võ Văn Thưởng đề nghị Đảng bộ, thành phố Hà Nội phải tổ chức cho cán bộ đảng viên và nhân dân nghiên cứu học tập, quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết, đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông với nhiều hình thức phong phú, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong tuyên truyền nội dung nghị quyết và kết quả thực hiện, qua đó nâng cao và thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng yêu cầu nhiệm vụ phát triển Hà Nội trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Thành phố cũng cần huy động sức mạnh tổng hợp khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của thủ đô kết hợp với nguồn lực của cả nước và nguồn lực quốc tế xây dựng và phát triển thủ đô văn minh, xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị hành chính quốc gia, trái tim của cả nước, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, hội nhập quốc tế, tạo động lực có tính dẫn dắt lan tỏa đối với vùng thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới phấn đầu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh: Cấp ủy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, đặc biệt là Hà Nội phải hết sức coi trọng, tập trung, quyết liệt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Ngay sau Hội nghị hôm nay phải tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án với nội dung cụ thể phân công trách nhiệm rõ ràng và lộ trình để thực hiện Nghị quyết, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đã đề ra, tạo bước chuyển biến rõ rệt về sự phát triển của thủ đô, định kỳ hàng năm kiểm tra việc thực hiện, kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư./.

 

PHÁP LUẬT VIỆT NAM NGHIÊM MINH VÌ MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC!

         Ban hành pháp luật không phải mục đích cuối cùng của đất nước. Pháp luật được ban hành là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trật tự, củng cố và phát triển chúng theo những định hướng mong muốn nhằm đạt được những kết quả, mục tiêu nhất định, trong đó có mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ các mức hình phạt trong từng khung hình phạt cho tất cả đối tượng phạm tội và các tội danh. Việc áp dụng các hình phạt phải bảo đảm đúng người, đúng tội, trên tinh thần mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Dù là cán bộ cấp cao hay một người dân bình thường, khi có sai phạm đều được xét xử công bằng trước pháp luật. Việt Nam không có thứ pháp luật riêng dành cho những người có chức, có quyền, có địa vị. Đã là công dân Việt Nam thì không được đòi hỏi pháp luật dành quyền ưu tiên riêng cho mình. Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm mọi công dân đều phải chịu hình phạt theo chế tài chung, bản án chung mà pháp luật quy định. Những vụ án đã được xét xử (kể cả những vụ án mà Phạm Đình Trọng đã viện dẫn làm ví dụ cho thủ đoạn bôi nhọ pháp luật Việt Nam), đều đã được xét xử một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng tội danh. 
Từ những vấn đề đó cho thấy, mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức cảnh giác, đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch mượn cớ bôi nhọ pháp luật, hạ thấp uy tính lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây bất ổn trong nhân dân./.




Môi trường ST.

Khai mạc Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022

 

Sáng 21/6, tại Trung tâm Huấn luyện quân sự quốc gia 4 (Miếu Môn, Chương Mỹ, Hà Nội), Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng tổ chức Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022, chào mừng kỷ niệm 21 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2022); hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em; Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và thực hiện Cuộc vân động “Toàn quân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam dự và chỉ đạo khai mạc. Dự khai mạc có đồng chí Lê Thị Hoàng Yến, Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Thể dục thể thao, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng các đại biểu là Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; các đồng chí ủy viên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng; đại biểu các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần; đại biểu lãnh đạo Vụ Bình đẳng giới/Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Ban Tuyên giáo Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Bộ Công an và đại biểu của 42 đoàn vận động viên không chuyên thuộc các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu phát biểu khai mạc

Phát biểu tại buổi Lễ, Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu chào mừng các vận động viên nữ trong toàn quân tham gia Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khẳng định: trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp, công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ, công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong Quân đội đã có bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả tốt, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của Phụ nữ Quân đội trên mọi lĩnh vực công tác. Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022 là lần đầu tiên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng tổ chức. Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích nhằm nâng cao sức khỏe cho quân nhân nói chung và hội viên phụ nữ toàn quân nói riêng; qua đó, cán bộ, hội viên phụ nữ được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hay trong tổ chức, luyện tập thể dục, thể thao, thắt chặt tình đoàn kết; cổ vũ, động viên, khuyến khích Phụ nữ Quân đội tích cực, chủ động luyện tập, rèn luyện sức khỏe để nâng cao thể lực, góp phần xây dựng người Phụ nữ Quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và sức khỏe tốt; thực hiện thiên chức của người phụ nữ trong xây dựng gia đình “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực trong sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.  

Tại Lễ khai mạc, Đại tá Phùng Thị Phú, Trưởng ban Phụ nữ Quân đội, Ủy viên Thường trực Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban Tổ chức Liên hoan công bố Quyết định Thành lập Ban tổ chức, Tổ trọng tài, Ban Giám khảo, Tổ Thư ký và ban hành Quy chế Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022. Thay mặt Tổ trọng tài, Ban Giám khảo, Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, Huấn luyên viên Bóng chuyền, Trung tâm Thể dục thể thao Quân đội, Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu và đại diện hội viên phụ nữ Nhà máy Z 173, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng phát biểu hứa hẹn quyết tâm thi đấu công tâm, khách quan, đạt kết quả cao trong Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022.

Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022 tổ chức 02 nội dung thi đấu: thi đấu bóng chuyền hơi nữ có 24 đội tại nhà thi đấu của Trung tâm huấn luyện quân sự quốc gia 4; thi nhảy dân vũ có 02 hình thức: 28 đội thi trực tiếp tại Hội trường Trung tâm Huấn luyện quân sự quốc gia 4 (đối với các đơn vị khu vực phía Bắc); 09 đội thi gián tiếp qua video clip (đối với các đơn vị khu vực phía Nam, từ Quân khu 4 trở vào). Thời gian diễn ra từ ngày 21/6 đến ngày 23/6; chiều ngày 24/6 bế mạc Liên hoan và trao giải Cuộc thi clip tuyên truyền về “Chăm sóc, bảo vệ trẻ em và phòng, chống bạo lực gia đình” năm 2022.

Tin, ảnh: LINH THẮM       (Tạp chí QPTD)