Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023
CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THỂ HIỆN TẦM NHÌN CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO SUỐT ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ DÂN, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC!
QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀO THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY!
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh
Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển KTTT đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.
Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền KTTT, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng. Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(2).
Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:
Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.
Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.
Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.
Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTTT, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ(3); đồng thời, nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.
Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp. Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp. Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.
Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh - Từ góc độ quản lý nhà nước
Từ yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đạt được những kết quả khá toàn diện.
Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.
Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).
Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”(1), tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.
Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.
Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh./.
Tác động qua lại của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh
Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:
Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.
Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.
Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:
Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.
Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình./.
Tính đặc thù của lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một là, tính đặc thù của lý luận về đặc trưng của CNXH ở Việt Nam
Nếu hiểu tính đặc thù là những đặc tính, đặc điểm nổi bật tạo ra sự phân biệt giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác, thì tính đặc thù của lý luận về CNXH ở Việt Nam khu biệt với các lý luận này ở các nước khác ở chỗ: nó là sự vận dụng những lý luận phổ quát để giải quyết những nhu cầu thực tiễn đặc thù trong tiến trình đổi mới tư duy về CNXH và biện pháp xây dựng CNXH trong đổi mới.
Mô hình CNXH của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với sự bổ sung những đặc trưng riêng có, phù hợp với bối cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và định hướng XHCN ở Việt Nam. Nó khắc phục những rập khuôn, máy móc của mô hình CNXH trước đây vốn mang những dáng dấp của mô hình CNXH kiểu cũ hoặc mô hình Liên Xô. Nó cũng tiếp cận với những nhận thức khoa học mới về một số lĩnh vực như kinh tế (vận dụng kinh tế thị trường, công nghiệp hóa kiểu mới...), chính trị (xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển dân chủ...). Nó cũng hội nhập với một số xu thế thời đại như toàn cầu hóa, phát triển bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng...
Điểm qua một số lĩnh vực nhận thức như trên để thấy, lý luận về đặc trưng mô hình CNXH ở Việt Nam có tính đặc thù là do sự quy định của mảnh đất hiện thực Việt Nam, tuy không phải là đặc hữu, duy nhất, dị biệt...
Hai là, đặc thù trong nhận thức về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là xử lý dần từng bước quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù
Quá trình này thể hiện ở ba bước sau:
Bước thứ nhất: cái đặc thù dần được nhận thức rõ, được chú trọng và khi phát huy tác dụng thì làm rõ cái phổ biến; ở mức độ nhất định, cái đặc thù đang dần thể hiện cái đặc trưng của cái phổ biến
Có thể thông qua nhận thức về kinh tế thị trường ở Việt Nam để thấy điều này. Ở đầu thời kỳ đổi mới, nó còn được coi như một trường hợp đặc thù trong xây dựng XHCN (trường hợp Nam Tư trong những năm 1947 - 1991). Qua sự kiểm chứng của thực tiễn (dần xóa bỏ bao cấp, thực hiện cơ chế khoán trong nông nghiệp...) và đổi mới tư duy (điển hình là các nhận thức: thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại, CNXH có thể vận dụng kinh tế thị trường và có thể định hướng, điều tiết nó...), kinh tế thị trường đã được nhận thức lại và hiện đang trở thành quy luật phổ biến ở nhiều nước dưới các khái niệm “kinh tế thị trường XHCN” ở Trung Quốc hoặc “kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: “Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Với quan niệm này, kinh tế thị trường đã trở thành một trong những công cụ để xây dựng CNXH.
Như vậy, ở Việt Nam, cái đặc thù qua đổi mới tư duy kinh tế về kinh tế thị trường đã tiếp hợp được với cái phổ biến (trong thời kỳ quá độ lên CNXH, kinh tế thị trường là quy luật vận hành của nền kinh tế có nhiều trình độ về lực lượng sản xuất và nhiều thành phần kinh tế). Nó cũng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác thông qua phúc lợi xã hội; tách chức năng quản lý hành chính của nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp...
Bước thứ hai: cái phổ biến thể hiện ra qua các trường hợp đặc thù. Nó có xu hướng sinh động hóa về biểu hiện, nhưng luôn tự khẳng định vai trò quy luật, nguyên lý của mình khi bị vi phạm
So với trước khi tiến hành đổi mới, cái phổ biến đã sinh động hơn về sắc thái và lĩnh vực biểu hiện, song nhìn xa và sâu hơn nữa thì chính những sắc thái ấy lại chính là sự trở lại và vận dụng sáng tạo những nguyên lý gốc. Chúng ta đã từng tự phê phán quan điểm xơ cứng, tách rời một cách siêu hình sự phát triển và tác động qua lại giữa CNTB và CNXH. Đổi mới đã từng bước khắc phục những lệch lạc trên. Điển hình là quan điểm về bỏ qua những gì và tiếp thu những gì của CNTB mà Đại hội IX của Đảng đã nêu, trong đó có những nguyên lý mà V.I.Lênin đã nêu từ chính sách kinh tế mới (NEP). Người đã từng nhấn mạnh tới việc người cộng sản phải biết học tập cách quản lý các tơrớt của Mỹ, đường sắt của Đức - Phổ; rằng, người cộng sản cũng phải biết học buôn bán và phải rèn luyện bản lĩnh của một thương nhân thông minh và có học... Cái phổ biến ở đây chính là tính hướng đích XHCN, là những tính chất XHCN của các hiện tượng cụ thể.
Bước thứ ba: gắn bó cái phổ biến và cái đặc thù làm cho chúng tham gia và chuyển hóa, thâm nhập vào nhau trong quá trình đổi mới
Trong thứ tự ưu tiên dường như có sự phân biệt nhất định, song thực ra, cái phổ biến và cái đặc thù luôn gắn bó với nhau. Thời kỳ đầu của tìm tòi đổi mới, cơ sở lý luận vẫn là những nguyên lý của CNXH khoa học, nhưng cái đặc thù của thực tiễn Việt Nam được nhấn mạnh như một sự khẳng định quyết tâm vượt thoát khỏi nếp tư duy bị ảnh hưởng bởi tư tưởng bảo thủ và giáo điều.
Tình thế và bối cảnh thế giới vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX vừa đặt vấn đề buộc phải cách mạng, tức là phát huy tối đa nội lực, khả năng sáng tạo trên mảnh đất hiện thực Việt Nam. Nó khuyến khích những nguồn năng lượng mới từ sáng tạo, “bung ra”, “đột phá”. Đó chính là điều kiện thuận lợi và cũng là tiền đề khách quan để nhận thức đúng cái đặc thù của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Khi đổi mới đã qua một chặng đường và dần đi vào chiều sâu thì tư duy của Đảng ta theo đúng quy luật, làm rõ hơn nữa những câu hỏi cơ bản nhất: CNXH ở Việt Nam là gì (biểu hiện của cái đặc thù), nó có mối liên hệ nào với nhận thức mới về CNXH khoa học (cái phổ biến)?... Có nghĩa là, cái phổ biến, tính quy luật và tính nguyên lý chưa bao giờ tách rời khỏi những trường hợp đặc thù. Chỉ khi xác định rõ và đúng cái phổ biến ấy thì những tìm tòi, đổi mới hay việc xác định những con đường, cách thức đặc thù đi lên CNXH mới mang đủ ý nghĩa khoa học, sáng tạo của nó.
Do đó, khi nhìn lại từng chặng của đổi mới, vào những thời điểm quan trọng, tư duy lý luận của Đảng ta cùng với trí tuệ cả dân tộc lại hướng quan tâm về những đặc trưng của CNXH ở Việt Nam. Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 ra đời ở những thời điểm như vậy.
Xét về quá trình phát triển tư duy, lý luận về CNXH ở Việt Nam đã vận động từ cái phổ biến (chủ nghĩa Mác - Lênin) để dần hình thành những nhận thức mới về cái đặc thù của Việt Nam khi thực hiện những quy luật chung.
Trong quá trình tìm những cách thức, lối đi phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, từng bước Đảng ta lại thấy sự trở lại thông qua khẳng định cái phổ biến, những quy luật chung của nhân loại, của CNXH khoa học. Đó là sự trở lại trên cơ sở thấu hiểu sâu sắc hơn tư tưởng của V.I.Lênin: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”./.
Những luận điệu lạc lõng, sai trái cần bác bỏ
Đi ngược lại tâm nguyện, niềm vui, sự phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, các thế lực thù địch, phản động và “những kẻ theo đuôi” chúng, nhất là những phần tử cơ hội, bất mãn, bất đồng chính kiến, thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quốc hội Việt Nam đã trắng trợn xuyên tạc sự kiện chính trị trọng đại này. Chúng đã tỏ rõ thái độ, hành vi sai trái, phản cảm là vào hùa với nhau, phát ngôn, viết tin, bài, dàn dựng các video clip có nội dung xấu, độc, tung lên mạng xã hội và tán phát các tài liệu phản động để xuyên tạc sự thật, làm xấu xí xã hội Việt Nam trước, trong và sau Tết Quý Mão 2023, đặc biệt là thời điểm diễn ra phiên họp bất thường lần thứ tư của Quốc hội khóa XV ngày 2-3-2023, tô vẽ thành một bức tranh đầy gam màu xám, cốt để bôi đen tình hình chính trị – xã hội Việt Nam. Cùng với đó, là công kích, xuyên tạc bản chất một số hội nghị bất thường của Đảng, của Quốc hội về miễn nhiệm và bầu Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như một số nhân sự có liên quan. Đằng sau các việc làm sai trái này là hướng tới sự chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Thái độ và những hành vi lợi dụng các sự kiện chính trị của đất nước như việc Quốc hội họp phiên bất thường để kiện toàn công tác nhân sự là trò chơi “không bình thường” của những kẻ thiếu trách nhiệm, gây hại cho nước, cho dân. Chúng đã chà đạp lên dư luận xã hội, bất chấp đạo lý, pháp lý; đã nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; cố tình chia rẽ Đảng với Nhà nước và Quốc hội; Đảng, Nhà nước, Quốc hội với Nhân dân. Việc làm sai trái ấy là đáng lên án, phải cực lực phản đối, vạch trần bộ mặt “giả nhân giả nghĩa” của chúng, những người “ném đá giấu tay”, chơi trò “chọc gậy bánh xe”, gây rối loạn môi trường chính trị Việt Nam…
Những luận điệu lừa bịp, xảo trá của chúng không chỉ làm phức tạp thêm tình hình đất nước, mà còn chà đạp thô bạo lên uy tín, phẩm giá, danh dự của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. Đáng buồn cho những kẻ “thay mặt đổi lòng”, “cõng rắn cắn gà nhà”, luôn hằn học, bực tức khi chứng kiến những thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Nhân dân ta.
Người có lương tri, danh dự không bao giờ chấp nhận các luận điệu sai trái đang gieo rắc trong lòng xã hội ta, đã biến “trắng thành đen”, “phải thành trái”, “thật thành giả”, “đúng thành sai”, khi chúng phát tán tài liệu, tung ra tin giả, các bài viết có quan điểm ngang ngược, sặc mùi phản động, thể hiện sự thù địch và cuồng vọng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Chúng ta cần vạch trần các luận điểm sai trái; đó là: “Bầu Chủ tịch nước chỉ là “màn kịch dân chủ giả tạo” do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn”, “Bầu cử Chủ tịch nước của Quốc hội Việt Nam chỉ là hình thức”, “cả bảy phiên họp bất thường, gồm bốn phiên họp Quốc hội, ba phiên họp Trung ương Đảng diễn ra trong một thời gian ngắn là hết sức phi lý, có “một không hai” trong lịch sử Việt Nam vì nó tiêu tốn quá nhiều tiền thuế của dân, làm lãng phí thời gian, công sức, gây rối loạn xã hội”.
Chúng cáo buộc rằng” “Đảng và Quốc hội Việt Nam phải họp các hội nghị bất thường là vì thượng tầng kiến trúc Việt Nam đang rất bất thường”, “chứng tỏ xã hội Việt Nam bất ổn về chính trị”, “nội bộ lục đục”. Hơn thế, chúng còn võ đoán rằng, “các phe cánh trong Đảng, Nhà nước tranh giành quyền lực”, “đấu đá, thanh trừng lẫn nhau”, “chia ghế ngồi của giới chóp bu cộng sản không công bằng nên nảy sinh chuyện”, v.v..
Cùng với đó, chúng tung tin rằng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng còn quá trẻ, lại “chưa có công cán gì”, “chưa từng trải qua các cương vị quản lý nhà nước”, “chỉ làm công tác Đảng”, “dân lý luận suông”; còn ít kinh nghiệm để đảm đương chức vụ Chủ tịch nước – một vị trí quan trọng trong “tứ trụ”. Đó là nỗi lo của dân tộc! Hơn thế, chúng còn cho rằng, đồng chí Võ Văn Thưởng giữ chức Chủ tịch nước là “gỡ thế bí cho Đảng”, là cách “chia nhau lợi ích giữa các phe phái miền Bắc, miền Trung và miền Nam”. Giọng điệu của chúng lố bịch hết chỗ nói!
Nhân dân ta đều đã rõ: Đồng chí Võ Văn Thưởng 53 tuổi đời, đã trải qua nhiều cương vị công tác. Là công dân Việt Nam biết chữ, chỉ cần xem bản lý lịch của đồng chí Võ Văn Thưởng sẽ rõ ngọn ngành. Nếu không có đủ phẩm chất và năng lực thì làm sao đồng chí được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết lúc 36 tuổi; Ủy viên Trung ương Đảng ba khóa liên tiếp từ khóa XI đến khóa XIII; đại biểu Quốc hội ba khóa XII, XIV, XV; Ủy viên Bộ Chính trị hai khóa XII, XIII; được phân công tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, giữ chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; sau đó là Thường trực Ban Bí thư khóa XIII. Đó là sự thật, tự nó đủ sức bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền sai trái về đồng chí Tân Chủ tịch nước. Ai đó “lộng ngôn”, “sang mồn” phán xét, “nói cho sướng miệng” khi tung ra lời lẽ khiếm nhã, như đồng chí Võ Văn Thưởng “còn non” và “còn xanh”; không đủ sức gách vác trọng trách Chủ tịch nước là nhảm nhí. Chẳng nhẽ, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta lựa chọn nhầm lẫn, giao phó cho người thiếu tin tưởng?
Chúng ta cực lực phản đối sự cáo buộc vô lý của chúng, rằng “đặc sản của Việt Nam là chơi trò vừa thiết kế, vừa dàn dựng, vừa thực hiện kịch bản đảng cử – dân bầu”. Ở Việt Nam: “họp Quốc hội chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử” theo kiểu “một mình một chợ”, “một mình một bàn cờ”…
Sự phao tin đồn nhảm của chúng là hết sức phi lý, khi chúng cho rằng, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn đó, vẫn lãnh đạo các cuộc bầu cử”; “Cuộc bầu cử hay miễn nhiệm của Quốc hội Việt Nam chỉ là hình thức quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe cánh” của Đảng “chia chác’, “sắp đặt sẵn”, đã “thỏa hiệp” nên “an bài”, “không thể đảo ngược”, v.v..
Tệ hơn, chúng còn xuyên tạc lời chúc, điện mừng; phủ nhận thiện chí, lòng tốt của bè bạn quốc tế; đã cáo buộc rằng, Tổng thống Nga Pu tin là một trong những nguyên thủ quốc gia đầu tiên trên thế giới gửi điện chúc “đồng chí Võ Văn Thưởng” được bầu làm Chủ tịch nước với danh xưng “đồng chí”… Từ đó, chúng trắng trợn xuyên tạc: “Việt Nam theo phe Nga”; ủng hộ “cuộc xung đột quân sự của Nga chống Ucraina”. Các câu chuyện hoang đường cũng từ sự thâm thù của chúng đã xuất hiện để kích bác Đảng ta “ủng hộ Nga xâm lược Ucraina”. Đó là sự điên rồ, thật phi lý, đầy ác ý; không thể chấp nhận.
xt st
QUÁN TRIỆT SÂU SẮC TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG: "TRỊ TẬN GỐC THAM NHŨNG, TIÊU CỰC"!
Những giá trị lý luận mang tính phổ biến về chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam tìm tòi, đóng góp từ công cuộc đổi mới
Một là, giá trị lý luận mang tính phổ biến từ nhận thức về đặc trưng của CNXH ở Việt Nam
Thông qua thực tiễn đổi mới của Việt Nam và xu thế chung của thế giới, soi chiếu với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể nhận thấy: quan niệm của Đảng ta về đặc trưng của CNXH ở Việt Nam hiện nay đã đóng góp nhiều giá trị lý luận mang tính phổ biến và được nhiều đảng cầm quyền thừa nhận. Các giá trị đó được phản ánh trong các văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, tập trung nhất ở Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và gần đây là tác phẩm mang tính tổng kết lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Nhìn một cách khái quát nhất, các giá trị lý luận mang tính phổ biến về đặc trưng của CNXH ở Việt Nam bao gồm:
Thứ nhất, những giá trị gắn liền với khát vọng của nhân loại về một kiểu tổ chức xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh”. Hiển nhiên, trình độ và chất lượng cũng như cách thức triển khai các giá trị này có mang những tính chất của quốc gia dân tộc và gắn liền với những điều kiện lịch sử của thời đại và đất nước, nhưng những giá trị này rõ ràng mang tính phổ quát, tính xuyên suốt trong lịch sử nhân loại và hiện nay chúng là mục tiêu phấn đấu của mọi nền chính trị.
Thứ hai, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Đây cũng là bài học kinh nghiệm hàng đầu trong quá trình tổng kết sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã đúc kết.
Thứ ba, quan niệm về những giá trị đích thực của CNXH trong phát triển hiện nay, như cách diễn đạt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.
Nhìn chung, có thể thấy, có nhiều nét tương đồng trong quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về các giá trị cơ bản của CNXH ở một số nước hiện nay. Mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc là: đến giữa thế kỷ này hoàn thành xây dựng cường quốc XHCN hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp. Mục tiêu của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào là: CNXH ở Lào được hiểu là xã hội dân giàu, hạnh phúc, đất nước cường mạnh, xã hội đoàn kết hòa thuận, dân chủ, công bằng và văn minh. Đảng Cộng sản Cuba khẳng định mục tiêu: xây dựng một xã hội lành mạnh, bình đẳng, công bằng; một xã hội mà con người là trung tâm, mọi tầng lớp, đối tượng đều được quan tâm; không được xa rời lý tưởng về công bằng và bình đẳng của cuộc cách mạng, cũng không được làm suy yếu khối đoàn kết toàn dân chung quanh Đảng, với nguyên tắc nhất quán rằng Cuba sẽ không bao giờ cho phép áp dụng các biện pháp gây tổn hại đến tầng lớp nhân dân yếu thế nhất hay để một ai bị bỏ lại trong tình trạng không nơi nương tựa.
Hai là, giá trị lý luận mang tính phổ biến về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
Qua những khái quát lý luận về chủ thể, lực lượng, động lực, biện pháp, nhiệm vụ... xây dựng CNXH và các định hướng lớn về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại được phản ánh trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 cùng những phân tích của Tổng Bí thư về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, có thể thấy được các giá trị phổ biến và tiêu biểu sau:
Chủ thể và các động lực trong xây dựng CNXH ở Việt Nam có tính đồng dạng, phổ biến trên nhiều phương diện. Tiêu biểu là các nhận thức: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”. Các giai tầng cơ bản cấu thành nên phạm trù “nhân dân” ở đây là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân..., những công dân trong nền pháp quyền XHCN Việt Nam. Động lực thúc đẩy họ hành động là các lợi ích của cá nhân, của tập thể, của xã hội; định hướng cho hệ động lực ấy là xử lý hài hòa các lợi ích đó để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân.
Về biện pháp xây dựng CNXH, tiếp thu những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản một cách “có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Theo đó, Việt Nam đã vận dụng những công cụ phổ biến mà nhân loại đã sử dụng để xây dựng xã hội văn minh hiện đại như công nghiệp hóa, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền...
Về lĩnh vực và nhiệm vụ, xây dựng CNXH ở Việt Nam là xây dựng một mô hình xã hội tổng thể trong một hình thái kinh tế - xã hội, bao gồm quá trình cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Tính chất XHCN và định hướng XHCN trong khi thực hiện các nhiệm vụ này không đối lập, “biệt phái” với những giá trị của lịch sử, mà đặt ra nhiệm vụ vừa kế thừa, vừa sáng tạo. Với cách nhìn như vậy, xây dựng CNXH trên thế giới và xây dựng CNXH ở Việt Nam đều nằm trong dòng chảy của văn minh nhân loại.
Tóm lại, tính phổ biến trong quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là một giá trị mới mà nhận thức lý luận đạt được trong hơn 35 năm qua. Nó phản ánh nỗ lực vượt qua những quan niệm có phần “ấu trĩ” và “biệt phái” mắc phải trước đây. Nó thể hiện những nhận thức khoa học, phù hợp xu thế thời đại và cũng là một đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam vào lý luận của CNXH hiện nay./.





