Một là, tính đặc thù của lý luận về đặc trưng của CNXH ở Việt Nam
Nếu hiểu tính đặc thù là những đặc tính, đặc điểm nổi bật tạo ra sự phân biệt giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác, thì tính đặc thù của lý luận về CNXH ở Việt Nam khu biệt với các lý luận này ở các nước khác ở chỗ: nó là sự vận dụng những lý luận phổ quát để giải quyết những nhu cầu thực tiễn đặc thù trong tiến trình đổi mới tư duy về CNXH và biện pháp xây dựng CNXH trong đổi mới.
Mô hình CNXH của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với sự bổ sung những đặc trưng riêng có, phù hợp với bối cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và định hướng XHCN ở Việt Nam. Nó khắc phục những rập khuôn, máy móc của mô hình CNXH trước đây vốn mang những dáng dấp của mô hình CNXH kiểu cũ hoặc mô hình Liên Xô. Nó cũng tiếp cận với những nhận thức khoa học mới về một số lĩnh vực như kinh tế (vận dụng kinh tế thị trường, công nghiệp hóa kiểu mới...), chính trị (xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển dân chủ...). Nó cũng hội nhập với một số xu thế thời đại như toàn cầu hóa, phát triển bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng...
Điểm qua một số lĩnh vực nhận thức như trên để thấy, lý luận về đặc trưng mô hình CNXH ở Việt Nam có tính đặc thù là do sự quy định của mảnh đất hiện thực Việt Nam, tuy không phải là đặc hữu, duy nhất, dị biệt...
Hai là, đặc thù trong nhận thức về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là xử lý dần từng bước quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù
Quá trình này thể hiện ở ba bước sau:
Bước thứ nhất: cái đặc thù dần được nhận thức rõ, được chú trọng và khi phát huy tác dụng thì làm rõ cái phổ biến; ở mức độ nhất định, cái đặc thù đang dần thể hiện cái đặc trưng của cái phổ biến
Có thể thông qua nhận thức về kinh tế thị trường ở Việt Nam để thấy điều này. Ở đầu thời kỳ đổi mới, nó còn được coi như một trường hợp đặc thù trong xây dựng XHCN (trường hợp Nam Tư trong những năm 1947 - 1991). Qua sự kiểm chứng của thực tiễn (dần xóa bỏ bao cấp, thực hiện cơ chế khoán trong nông nghiệp...) và đổi mới tư duy (điển hình là các nhận thức: thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại, CNXH có thể vận dụng kinh tế thị trường và có thể định hướng, điều tiết nó...), kinh tế thị trường đã được nhận thức lại và hiện đang trở thành quy luật phổ biến ở nhiều nước dưới các khái niệm “kinh tế thị trường XHCN” ở Trung Quốc hoặc “kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: “Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Với quan niệm này, kinh tế thị trường đã trở thành một trong những công cụ để xây dựng CNXH.
Như vậy, ở Việt Nam, cái đặc thù qua đổi mới tư duy kinh tế về kinh tế thị trường đã tiếp hợp được với cái phổ biến (trong thời kỳ quá độ lên CNXH, kinh tế thị trường là quy luật vận hành của nền kinh tế có nhiều trình độ về lực lượng sản xuất và nhiều thành phần kinh tế). Nó cũng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác thông qua phúc lợi xã hội; tách chức năng quản lý hành chính của nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp...
Bước thứ hai: cái phổ biến thể hiện ra qua các trường hợp đặc thù. Nó có xu hướng sinh động hóa về biểu hiện, nhưng luôn tự khẳng định vai trò quy luật, nguyên lý của mình khi bị vi phạm
So với trước khi tiến hành đổi mới, cái phổ biến đã sinh động hơn về sắc thái và lĩnh vực biểu hiện, song nhìn xa và sâu hơn nữa thì chính những sắc thái ấy lại chính là sự trở lại và vận dụng sáng tạo những nguyên lý gốc. Chúng ta đã từng tự phê phán quan điểm xơ cứng, tách rời một cách siêu hình sự phát triển và tác động qua lại giữa CNTB và CNXH. Đổi mới đã từng bước khắc phục những lệch lạc trên. Điển hình là quan điểm về bỏ qua những gì và tiếp thu những gì của CNTB mà Đại hội IX của Đảng đã nêu, trong đó có những nguyên lý mà V.I.Lênin đã nêu từ chính sách kinh tế mới (NEP). Người đã từng nhấn mạnh tới việc người cộng sản phải biết học tập cách quản lý các tơrớt của Mỹ, đường sắt của Đức - Phổ; rằng, người cộng sản cũng phải biết học buôn bán và phải rèn luyện bản lĩnh của một thương nhân thông minh và có học... Cái phổ biến ở đây chính là tính hướng đích XHCN, là những tính chất XHCN của các hiện tượng cụ thể.
Bước thứ ba: gắn bó cái phổ biến và cái đặc thù làm cho chúng tham gia và chuyển hóa, thâm nhập vào nhau trong quá trình đổi mới
Trong thứ tự ưu tiên dường như có sự phân biệt nhất định, song thực ra, cái phổ biến và cái đặc thù luôn gắn bó với nhau. Thời kỳ đầu của tìm tòi đổi mới, cơ sở lý luận vẫn là những nguyên lý của CNXH khoa học, nhưng cái đặc thù của thực tiễn Việt Nam được nhấn mạnh như một sự khẳng định quyết tâm vượt thoát khỏi nếp tư duy bị ảnh hưởng bởi tư tưởng bảo thủ và giáo điều.
Tình thế và bối cảnh thế giới vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX vừa đặt vấn đề buộc phải cách mạng, tức là phát huy tối đa nội lực, khả năng sáng tạo trên mảnh đất hiện thực Việt Nam. Nó khuyến khích những nguồn năng lượng mới từ sáng tạo, “bung ra”, “đột phá”. Đó chính là điều kiện thuận lợi và cũng là tiền đề khách quan để nhận thức đúng cái đặc thù của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Khi đổi mới đã qua một chặng đường và dần đi vào chiều sâu thì tư duy của Đảng ta theo đúng quy luật, làm rõ hơn nữa những câu hỏi cơ bản nhất: CNXH ở Việt Nam là gì (biểu hiện của cái đặc thù), nó có mối liên hệ nào với nhận thức mới về CNXH khoa học (cái phổ biến)?... Có nghĩa là, cái phổ biến, tính quy luật và tính nguyên lý chưa bao giờ tách rời khỏi những trường hợp đặc thù. Chỉ khi xác định rõ và đúng cái phổ biến ấy thì những tìm tòi, đổi mới hay việc xác định những con đường, cách thức đặc thù đi lên CNXH mới mang đủ ý nghĩa khoa học, sáng tạo của nó.
Do đó, khi nhìn lại từng chặng của đổi mới, vào những thời điểm quan trọng, tư duy lý luận của Đảng ta cùng với trí tuệ cả dân tộc lại hướng quan tâm về những đặc trưng của CNXH ở Việt Nam. Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 ra đời ở những thời điểm như vậy.
Xét về quá trình phát triển tư duy, lý luận về CNXH ở Việt Nam đã vận động từ cái phổ biến (chủ nghĩa Mác - Lênin) để dần hình thành những nhận thức mới về cái đặc thù của Việt Nam khi thực hiện những quy luật chung.
Trong quá trình tìm những cách thức, lối đi phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, từng bước Đảng ta lại thấy sự trở lại thông qua khẳng định cái phổ biến, những quy luật chung của nhân loại, của CNXH khoa học. Đó là sự trở lại trên cơ sở thấu hiểu sâu sắc hơn tư tưởng của V.I.Lênin: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét