Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa

 


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định vị trí và vai trò to lớn của văn hóa trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta chủ trương phát huy đến mức cao nhất vai trò và tác dụng của văn hóa, của đội ngũ những người hoạt động văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với sự đổi mới về mặt tư duy, nhất là tư duy kinh tế, trong những năm gần đây, Đảng ta đã có những tìm tòi, đổi mới sâu sắc trong tư duy về văn hóa, khẳng định sâu sắc hơn nữa vai trò và tác dụng của văn hóa trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới đã xác định văn hóa là “bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là động lực mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Kế thừa những quan điểm của Đại hội VI, Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã nhấn mạnh cần coi trọng động lực kinh tế và động lực tinh thần của sự phát triển: Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống cách mạng và kháng chiến, ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng đất nước, tạo ra phong trào quần chúng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1993) nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) tiếp tục khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội... Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”.

Không dừng lại ở việc nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2004) đã xác lập vị trí của văn hóa là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững, toàn diện của đất nước: Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”.

Các đại hội lần thứ X, XI, XII, XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Như vậy, văn hóa không đứng ngoài phát triển. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; văn hóa là nhân tố nội sinh, sức mạnh mềm quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước.


Lời Bác dạy Ngày 06/7/1953

 

“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 7 năm 1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời Bác dạy Ngày 05/7/1951

 

 “Thi đua ái quốc nhằm ba mục đích chính: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức là làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”, đăng trên Báo Nhân dân, số 15, ngày 05 tháng 7 năm 1951. Đây là giai đoạn đầu thực hiện đường lối trường kỳ kháng chiến do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II xác định. Với phương châm: đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh biện pháp thi đua yêu nước, khơi dậy, huy động sức dân tham gia cuộc kháng chiến kiến quốc mau giành thắng lợi.  

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ba mục đích cụ thể của thi đua ái quốc là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Tức thi đua ái quốc làm cho nhân dân no, ấm, biết chữ, làm cho Tổ quốc độc lập, tự do. Theo Người, thi đua ái quốc phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của dân, bám sát mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng thời kỳ cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thúc đẩy các phong trào thi đua ái quốc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược phát triển rộng khắp, động viên, cổ vũ toàn quân và thu hút mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết tham gia. Tiêu biểu như các phong trào “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… Qua đó đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xoá nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc vẫn còn nguyên giá trị, đã cổ vũ, khích lệ quân và dân ta thi đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của nhân dân, đảm bảo tốt an sinh xã hội; tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh; nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, phong trào thi đua yêu nước được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị cụ thể hóa thành phong trào thi đua Quyết thắng phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội đã  được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt, với các nội dung, chỉ tiêu thi đua thiết thực, được cán bộ, chiến sĩ tích cực hưởng ứng thực hiện với quyết tâm cao. Phong trào thi đua Quyết thắng được gắn kết chặt chẽ với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, các cuộc vận động của các cấp, các ngành đã góp phần quan trọng vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Lời Bác dạy Ngày 04/7/1959

                         

 “Nếu mọi người học tập thấm nhuần tinh thần anh dũng và chí khí kiên cường, học được ở Viện bảo tàng, mà quyết tâm làm đúng chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong mọi việc”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Xem Viện bảo tàng cách mạng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 1936, ngày 04 tháng 7 năm 1959. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Qua đây, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở mọi người về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và trách nhiệm phải phát huy truyền thống đó trong điều kiện mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Mỗi người phải thấm nhuần được tinh thần anh dũng, chí khí kiên cường của dân tộc, của con người Việt Nam được kết tinh trong những hiện vật ở bảo tàng và biết vận dụng tạo nguồn lực tinh thần, nỗ lực thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, không sợ gian khổ, hi sinh, đoàn kết, đồng lòng, anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và giành được những thành tựu bước đầu quan trọng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong quân đội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống, xây dựng cho bộ đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tinh thần đoàn kết nội bộ, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết máu thịt quân - dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả... Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội có trách nhiệm giữ gìn, vun đắp, tô thắm truyền thống của dân tộc, của quân đội và đơn vị, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lời Bác dạy Ngày 03/7/1964

 

 “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cực kỳ vẻ vang, nhưng phải lâu dài và gian khổ. Nhân dân ta cần phải có tinh thần phấn đấu bền bỉ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, để giành lấy những thắng lợi mới rực rỡ hơn nữa”.

Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong:“Lời phát biểu tại lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa III”, ngày 03 tháng 7 năm 1964, đăng trên Báo Nhân dân, số 3748, ngày 04 tháng 7 năm 1964.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận rõ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cực kỳ vẻ vang nhưng cũng nhiều khó khăn, gian khổ và lâu dài. Do đó, cần sự đồng thuận, phấn đấu kiên trì, bền bỉ với một quyết tâm cao độ mới có thể đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, phải kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý trí.

Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính chất của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng để Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã giao phó; tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Lời Bác dạy Ngày 02/7/1958

 

“Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài:“Vệ sinh yêu nước” (Phong trào diệt ruồi, muỗi), đăng trên Báo Nhân dân, số 1572, ngày 02 tháng 7 năm 1958. Đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bắt đầu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, yêu nước không thể tách rời thương yêu nhân dân, yêu nước không phải là cái gì chung chung, trừu tượng, mà nó được bắt đầu từ những việc nhỏ nhất và thể hiện ở việc làm cụ thể của mỗi người trong đời sống hằng ngày. Người có tinh thần yêu nước sẽ luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân và dù khó khăn, gian khổ thế nào cũng ra sức làm cho kỳ được, còn việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức trừ cho kỳ hết. Người cho rằng, ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác bảo vệ sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân mẫu mực của một người chiến sĩ cách mạng đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang và cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Quán triệt và thực hiện lời dạy trên của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, chấp hành nghiêm 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Tích cực làm công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,…. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh. 

Lời Bác dạy: Ngày 01/7/1942


“Ong kia yêu giống, yêu nòi,

 Đồng tâm, hợp lực đuổi loài cáo đi.

 Bây giờ ta thử so bì,

Ong còn đoàn kết, huống chi là người!”

Khổ thơ trên của Hồ Chí Minh được trích trong bài thơ:“Con cáo và tổ ong”, đăng trên Báo Việt Nam độc lập, số 130, ngày 01 tháng 7 năm 1942. Đây là thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn ác liệt, ở Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật, cơ hội giải phóng dân tộc đã xuất hiện, cần phải nhanh chóng tổ chức đoàn kết tập hợp toàn dân đứng lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Thông qua những câu thơ trên, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở mọi người về tình yêu thương giống nòi và sức mạnh của sự đoàn kết trong đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đây là tư tưởng bắt nguồn từ truyền thống "lấy nhỏ chống mạnh", nhưng được nâng lên thành phương pháp hành động và tư tưởng chỉ đạo cách mạng. Thực hiện lời dạy của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh tiến hành cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng Tám giành chính quyền về tay nhân dân. Tư tưởng của Người được Đảng ta vận dụng thành công trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc để giành được những thắng lợi vẻ vang.

Đã gần 80 năm trôi qua, lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, kêu gọi mọi người dân hợp sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày nay xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự cạnh tranh lợi ích giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng gay gắt đang đặt ra cho dân tộc ta cả thời cơ và thách thức to lớn. Thực tế đó đòi hỏi hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để có thể phát huy nội lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Thấu triệt lời Bác dạy, hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn coi trọng xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế để tạo nên sức mạnh hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của quân đội đã trở thành lời thề danh dự của mỗi cán bộ, chiến sĩ, trực tiếp góp phần xây dựng nên truyền thống vẻ vang và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải biết quý trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

 

Báo chí tham gia quản lý và giải tỏa xung đột xã hội (Kinh nghiệm từ phòng, chống đại dịch Covid-19 ở Việt Nam)

(LLCT) - Dưới góc nhìn của lý thuyết xung đột xã hội, báo chí là một phương tiện quan trọng trong việc ngăn ngừa và giải tỏa các xung đột. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, báo chí Việt Nam đã tham gia tích cực vào việc ngăn chặn và giải quyết các xung đột xã hội, góp phần tạo sự ổn định về chính trị, tư tưởng của đất nước. Từ thực tế đó, bài viết rút ra một số kinh nghiệm bước đầu trong ứng phó với các tình huống xung đột xã hội ở Việt Nam. 


Xung đột xã hội đã được thế giới nghiên cứu từ lâu và trở thành một ngành khoa học có tên tiếng Anh là Conflictology với nhiều trường phái khác nhau. Lý thuyết này đã được các nhà khoa học Việt Nam tập hợp trong cuốn “Lý thuyết về xung đột xã hội và quản lý, giải tỏa xung đột xã hội ở Việt Nam” xuất bản năm 2014. Lý thuyết về xung đột xã hội có tính thực tiễn rất cao, nhất là trong bối cảnh xu hướng gia tăng các xung đột xã hội ở nhiều quốc gia. 

1. Vai trò của báo chí trong tham gia quản lý, giải tỏa xung đột xã hội

Có ý kiến cho rằng, “Xung đột xã hội là mâu thuẫn, đối lập, bất đồng, xung khắc về lợi ích, ý kiến, quan điểm.., dẫn đến sự đấu tranh với các hình thức, quy mô và mức độ khác nhau, từ các phía trong các quan hệ xã hội nào đó”(1).  Xung đột xã hội là một hiện tượng bao trùm toàn bộ các quan hệ của con người từ cá nhân, thế hệ, các lực lượng xã hội, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nền văn hóa... Xung đột cũng diễn ra trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quân sự... với quy mô, mức độ khác nhau, những xung đột ở mức độ cao được gọi là “điểm nóng” chính trị - xã hội. Ý kiến này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động báo chí, bởi các sự việc, hiện tượng không bình thường luôn là đối tượng phản ánh của báo chí. Nhận thức được vấn đề này, người làm truyền thông, báo chí sẽ có thái độ bình tĩnh, khách quan với các xung đột xã hội mà không bị các cảm xúc nhất thời chi phối.

Con người thường có cách nhìn tiêu cực về xung đột xã hội, nhưng trên phương diện khoa học, xung đột xã hội có tính hai mặt, cả tích cực và tiêu cực. Xung đột đóng vai trò giải tỏa sự căng thẳng thái quá, thúc đẩy sự thay đổi các chuẩn mực cũ, hình thành những chuẩn mực mới và có thể đem lại những kết quả có lợi cho sự thay đổi tiến bộ. Với ý nghĩa đó, xung đột tạo ra động lực và áp lực để giải quyết những vấn đề không thể trì hoãn, buộc giới cầm quyền phải chú ý và khắc phục những bất ổn xã hội. 

Tuy nhiên, xung đột xã hội có thể leo thang thành xung đột chính trị, quân sự, thậm chí dẫn đến nội chiến, cách mạng và nhiều hiện tượng bất thường khác vượt qua tầm kiểm soát của nhà nước. Do hiệu ứng tâm lý đám đông, bất kỳ ai cũng có thể bị cuốn vào xung đột. Hậu quả tâm lý mà xung đột để lại có thể là sự tổn thương về tình cảm và sự chia rẽ sâu sắc giữa các bên xung đột và nghiêm trọng hơn là sự thù hận âm ỉ nếu xung đột đó được giải quyết trên sự mất cân bằng về lực lượng và nguồn lực. Xung đột dù có mang lại lợi ích thì cũng gây ra những thiệt hại nhất định về kinh tế và xã hội, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của mỗi quốc gia.  

Tính hai mặt của xung đột xã hội đòi hỏi người làm báo phải có một cách nhìn khách quan, phản ánh đúng đắn, toàn diện cả mặt tích cực và tiêu cực của xung đột xã hội kể cả trong những tình huống bất lợi rõ ràng.

Nguyên nhân sâu xa của xung đột là do bất bình đẳng xã hội, sự thiếu thống nhất trong nhận thức các giá trị của các nhóm người, sự cách biệt giữa nhu cầu, nguyện vọng, dự định với thực tế; những thói hư, tật xấu, hạn chế của con người, hàng rào ngôn ngữ cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới xung đột. Đặc biệt, xung đột có thể bắt nguồn từ chất lượng thông tin và xuyên tạc thông tin. Như vậy, với chức năng thông tin, giáo dục của mình, báo chí phải góp phần định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, chia sẻ, cảm thông, phê phán những thói hư, tật xấu, góp phần khắc phục các nguyên nhân dẫn tới xung đột xã hội.

Lý thuyết xung đột xã hội cho rằng, thông tin báo chí đóng một vai trò quan trọng trong quản lý và giải tỏa xung đột. Nó có thể trấn an dư luận, giúp xã hội bình tĩnh cùng nhìn nhận các khía cạnh của vấn đề để tìm ra giải pháp quản lý xung đột. Với ý nghĩa đó, báo chí là một phương tiện tham gia quản lý xung đột. Khi báo chí định hướng, dự báo và đưa tin kịp thời, toàn diện, làm rõ những vấn đề liên quan, có thể giúp các bên hiểu được bản chất sự việc, giúp chính quyền có hướng quản lý xung đột hiệu quả. Quản lý và giải tỏa xung đột xã hội phải dựa trên các nguyên tắc: Phân tích toàn diện tình huống xung đột; điều khiển, quản lý; có thái độ khách quan đối với xung đột; lựa chọn phương án đôi bên cùng có lợi trong các xung đột nội bộ; bảo đảm bình đẳng giữa các bên theo pháp luật và nguyện vọng... Với tư cách là một lực lượng tham gia vào quá trình quản lý, giải tỏa xung đột, báo chí cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc nêu trên. 

2. Đại dịch Covid-19 và truyền thông xã hội là tác nhân làm gia tăng các xung đột xã hội

Đại dịch Covid-19 bắt đầu diễn ra ở Việt Nam từ ngày 22-01-2020 khi phát hiện ca nhiễm đầu tiên đến từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Qua hơn hai năm hoành hành ở Việt Nam với những giai đoạn bùng phát khác nhau, đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và cuộc sống của người dân. Tiêu điểm là đợt bùng phát dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 kéo dài đến cuối năm 2021. Đây là đợt dịch gây ra hậu quả nghiệm trọng nhất bởi số người tử vong lên tới gần 20.000 người.

Hiện nay, Việt Nam đã có độ bao phủ vắcxin cao, vượt mức mà Tổ chức Y tế thế giới đề ra, vì vậy, tuy số người bị nhiễm Covid-19 vẫn cao, nhưng tỷ lệ bệnh nhân nhập viện và số ca tử vong thấp. Mặc dù đại dịch còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng hiện nay các hoạt động của xã hội đang dần trở lại trạng thái bình thường.  

Đại dịch Covid-19 là một thực tiễn mới, diễn biến phức tạp, khó lường làm cho cuộc sống của người dân bị đảo lộn; việc lúng túng, sai sót, chậm trễ trong phòng, chống dịch của các cấp chính quyền là khó tránh khỏi, những điều này là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các xung đột xã hội. Đến nay, chưa có một nghiên cứu chính thức nào về mối liên quan giữa dịch Covid-19 với các xung đột xã hội nhưng thông qua các phương tiện truyền thông và xem xét dưới góc nhìn lý thuyết xung đột xã hội có thể thấy, đại dịch Covid-19 đã, đang và sẽ gây nên nhiều xung đột xã hội ở các quy mô, tính chất, mức độ khác nhau. 

Thứ nhất, xung đột trong nội bộ cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền các cấp. Thực chất đây là những bất đồng trong nhận thức và hành động trong quá trình phòng, chống dịch giữa Trung ương và địa phương, các ban, bộ, ngành và giữa các địa phương với nhau. Các hiện tượng: “trên nóng, dưới lạnh”, nơi làm nghiêm, nơi lỏng lẻo, giữa mục tiêu bảo đảm sức khỏe người dân với phát triển kinh tế - xã hội... diễn ra khá phổ biến. Trong nội bộ cơ quan quản lý cũng nảy sinh các bất đồng về cách hiểu, giải thích chính sách của Chính phủ. Điển hình là bất đồng giữa Bộ Giao thông vận tải với chính quyền thành phố Cần Thơ về cách thức cho phương tiện vận tải lưu thông qua địa bàn thành phố hồi cuối tháng 8-2021. Phong tỏa lâu dài hay khởi động lại nền kinh tế, xóa bỏ triệt để F0 hay chấp nhận sống chung với đại dịch... cũng gây ra nhiều ý kiến khác biệt trong giới chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý... Những vấn đề này được phản ánh “trần trụi” trên các phương tiện truyền thông xã hội càng làm gia tăng số lượng và tính chất của các xung đột xã hội.

Thứ hai, xung đột giữa một bộ phận nhân dân với chính quyền nơi xảy ra đại dịch. Mâu thuẫn này nảy sinh do chính quyền mong muốn và yêu cầu người dân thực hiện nghiêm quy định về phòng, chống dịch. Trong khi đó, một bộ phận người dân thiếu ý thức, không chấp hành, thậm chí có hành vi tấn công lực lượng chức năng, được báo chí phản ánh khá nhiều.

Có một loại xung đột âm thầm, khó phát hiện nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn xã hội, đó là mong muốn của đại đa số người dân được sớm trở lại cuộc sống bình thường trong khi các biện pháp giãn cách, phong tỏa quá lâu nhưng không ngăn chặn được làn sóng lây lan của dịch bệnh. Sự bức xúc, không hài lòng trước tình trạng thiếu thốn các nguồn nhân lực và dịch vụ trước nhu cầu khám, chữa bệnh, lương thực, thực phẩm thiết yếu của nhân dân. Đây là những xung đột ở giai đoạn ngầm nhưng có nguy cơ biến thành xung đột chính trị - xã hội nếu được tiếp sức bởi “truyền thông đen”, sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch và hạn chế của các cấp chính quyền trong quản lý và giải tỏa xung đột.

Thứ ba, xung đột giữa các nhóm xã hội. Đây là các xung đột có thể gây bất ổn xã hội vì hiệu ứng tâm lý đám đông có chung lợi ích bị ảnh hưởng. Điển hình là xung đột trong mối quan hệ giữa người lao động và giới chủ doanh nghiệp. Đại dịch làm cho một số lượng lớn công nhân bị mất việc làm hoặc giảm lương, thưởng, cường độ lao động tăng lên, nơi ăn ở, sinh hoạt chật chội, thiếu thốn do thực hiện “ba tại chỗ”. Trong khi đó giới chủ doanh nghiệp cũng căng thẳng không kém vì bị đứt chuỗi cung ứng nguyên, vật liệu sản xuất, vi phạm hợp đồng, thị trường thu hẹp, sản xuất đình đốn, làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất. Nếu không có sự cảm thông, chia sẻ thì rất dễ nảy sinh xung đột. 

Mâu thuẫn giữa các nhóm trên mạng xã hội cũng liên tục xảy ra với các quy mô, tính chất khác nhau. Do bị cách ly, giãn cách nên người dân có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn và hình thành nhiều nhóm ảo trên không gian mạng. Đời tư, phát ngôn, làm từ thiện của các nhân vật nổi tiếng được đưa ra mổ xẻ, trở thành chủ đề bàn tán sôi nổi và được dẫn dắt bởi các KOL (Key opinion leader - hay còn gọi là người có sức ảnh hưởng), Youtuber, Streamer. Các cuộc tranh luận này gây tổn thương sâu sắc đến tâm lý xã hội, lôi kéo cư dân mạng theo đuổi những giá trị ảo, tạo thành trào lưu, gây chia rẽ giữa các nhóm xã hội, nhất là các nhóm fan và antifan của người nổi tiếng. 

Ở một quy mô nhỏ hơn nhưng lại khá phổ biến là xung đột xã hội đe dọa sự bình yên của từng gia đình - “tế bào” của xã hội. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho rằng, thời gian cách ly, giãn cách xã hội kéo dài làm gia tăng bạo lực gia đình. Các mâu thuẫn giữa bố mẹ, con cái do bất đồng quan điểm giữa các thế hệ cộng thêm sự thiếu thốn về kinh tế, tâm trạng lo âu, buồn chán làm cho tình trạng đó trở nên trầm trọng hơn. Hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên, sống trong phong tỏa hoặc phong tỏa một phần, trường học đóng cửa đã bị ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức cảm xúc của các em. Sự mất kết nối với xã hội ở người cao tuổi làm tăng tỷ lệ trầm cảm và lo âu. Mặc dù không có bằng chứng toàn diện để kết luận nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra một mức tăng đột biến về bạo lực gia đình kể từ khi Covid-19 xuất hiện. 

Đại dịch Covid-19 đã làm nảy sinh nhiều xung đột xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng cơ hội này để chống phá càng làm gia tăng về số lượng, tính chất, cường độ các xung đột. Điểm chung của hoạt động chống phá này là bác bỏ, phủ nhận các chủ trương, chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời, cố tình “bôi đen” hình ảnh các lực lượng đang ngày đêm quên mình chống dịch, như: y tế, công an, quân đội; kích động tâm trạng bức xúc của dân chúng... Bên cạnh đó là những thông tin sai sự thật của những người cố tình hay vô ý đăng tải, phát tán trên mạng xã hội cũng làm nảy sinh thêm xung đột ở các lĩnh vực, trong các mối quan hệ vốn không có xung đột như Quân đội với nhân dân, vùng miền, biến các xung đột xã hội đơn thuần thành các xung đột chính trị - xã hội, tức là khởi tạo mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền các cấp. 

Các xung đột nêu trên diễn ra theo các giai đoạn khác nhau từ thấp đến cao. Từ sự không hài lòng của người dân với hiện tại, nếu không được giải tỏa sẽ phát triển lên mức độ cao hơn là công khai trên các phương tiện truyền thông xã hội hoặc đơn từ, khiếu nại gửi đến các cấp chính quyền; cao hơn nữa là có mục tiêu, kế hoạch rõ ràng như lôi kéo, tập hợp lực lượng chống đối, từ đó hình thành các “điểm nóng xã hội”, “điểm nóng chính trị - xã hội” gây tổn thất nặng nề cho các bên và  bất ổn xã hội.

Nhận thức sâu sắc vai trò của báo chí, truyền thông trong tham gia quản lý, giải tỏa xung đột xã hội, năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập Tiểu ban truyền thông thuộc Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19. Tiểu ban có nhiệm vụ: chỉ đạo và hướng dẫn việc cung cấp thông tin bảo đảm  thống nhất, kịp thời, chính xác; chỉ đạo các cơ quan truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các biện pháp phòng, chống dịch; tuyên truyền, truyền cảm hứng, nêu gương người tốt, việc tốt, cách làm hay, mô hình hiệu quả, đồng thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, thông tin sai sự thật về phòng, chống đại dịch Covid-19; phát huy hiệu quả các công cụ công nghệ thông tin để phục vụ công tác phòng, chống dịch.

Nhờ đó, trong hơn hai năm diễn ra đại dịch, báo chí đã tham gia tích cực, có hiệu quả không chỉ trong phòng, chống dịch mà còn góp phần quan trọng vào quản lý và giải quyết xung đột xã hội, giải tỏa căng thẳng, hạ nhiệt các “điểm nóng”, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận xã hội, tạo sự ổn định của đất nước để tiếp tục phòng, chống dịch và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

3. Một số kinh nghiệm về phát huy vai trò của báo chí tham gia quản lý, giải tỏa xung đột xã hội trong đại dịch Covid-19

Một là, các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí và đội ngũ người làm báo phải nhận thức đầy đủ về bản chất, quy luật và nguyên tắc xử lý xung đột xã hội

Một trong những đối tượng tác nghiệp của báo chí chính là các tình huống, hiện tượng, sự việc bất thường trong xã hội, trong đó xung đột xã hội chính là một hiện tượng không bình thường. Nếu người làm báo không nhận thức được xung đột xã hội là một thuộc tính của xã hội trong điều kiện bình thường và càng gia tăng trong điều kiện không bình thường thì sẽ dẫn đến thái độ bi quan, bức xúc khi chứng kiến sự gia tăng của xung đột xã hội trong bối cảnh đại dịch bùng phát và kéo dài. Khi nhận thức rõ nguyên nhân, tính chất của xung đột xã hội, báo chí sẽ biết đưa tin với liều lượng phù hợp để không thiên lệch, kích động, khơi nguồn cho các xung đột xã hội. Nắm chắc các nguyên tắc quản lý và giải tỏa xung đột sẽ giúp người làm báo có thái độ đúng đắn đối với các xung đột nội bộ. Nguyên tắc cùng thắng (win - win) trong giải quyết xung đột nội bộ không cho phép đưa tin quá nhiều về các khuyết điểm, sai phạm của cơ quan công quyền và công chức, viên chức nhà nước. Đây không phải là giấu giếm thông tin mà để tránh kích động sự không hài lòng của công chúng, làm gia tăng cường độ của các mâu thuẫn vốn tồn tại tất yếu khi xảy ra đại dịch như đã phân tích ở trên. Với các xung đột mang tính thù địch thì phải có thái độ kiên quyết, không khoan nhượng v,v..

Hai là, đưa tin một cách khách quan, toàn diện, cụ thể; nhận thức rõ tính hai mặt của các xung đột xã hội để định hướng dư luận xã hội kịp thời, đúng đắn 

Xung đột xã hội là đối tượng phản ánh của báo chí trong nước và cả các phương tiện truyền thông khác. Trong khi các thế lực thù địch tập trung khai thác mặt tiêu cực của xung đột xã hội thì các cơ quan báo chí phải tập trung khai thác mặt tích cực của xung đột, hướng các bên đến sự chia sẻ, cảm thông, đặt sự việc trong hoàn cảnh cụ thể để có thái độ và cách hành xử đúng đắn. Nếu người làm báo có định kiến tiêu cực về xung đột xã hội thì mọi thông tin sẽ khai thác theo hướng tiêu cực, không nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm”. 

Một số tờ báo đưa tin như với tư cách là người kiểm soát dịch bệnh, phản ánh quá chi tiết, cụ thể các con số đã gây thêm lo lắng, hoang mang, bức xúc trong xã hội. Trong chiến tranh, để tiếp thêm sức mạnh cho tinh thần chiến đấu, người ta không thể đưa tin quá nhiều về thương vong, tổn thất của ta, sự gian khổ, vất vả, ác liệt trên chiến trường, số người đào ngũ, đầu hàng do không chịu đựng được gian khổ, hy sinh... Việc một tờ báo liên tục đưa tin về hiện tượng chống đối ở các chốt kiểm dịch lúc đầu có thể làm cho công chúng căm phẫn, lên án nhưng thông tin vấn đề này quá nhiều sẽ làm công chúng cảm thấy bi quan, lo lắng hoặc cho điều đó là bình thường, thậm chí có biểu hiện cảm thông, chia sẻ với người vi phạm, đổ lỗi cho đại dịch. 

Cách đưa tin theo kiểu ngầm phê phán một số trường hợp chính quyền bất lực, tắc trách, yếu kém... sẽ vô tình gây tâm lý bi quan, oán trách, bất mãn trong công chúng, làm gia tăng cường độ của xung đột. 

Tuy nhiên, nếu đưa tin theo kiểu giấu dịch, né tránh con số người bị nhiễm, bị tử vong lại có thể gây ra tâm lý chủ quan, tự mãn trong phòng, chống dịch. Mỗi một giai đoạn phòng, chống dịch có tiêu chí khác nhau, vì vậy không thể so sánh hoặc phê phán để rồi phán xét một cách chủ quan cách điều hành của Chính phủ và Bộ Y tế trong chỉ đạo các biện pháp phòng, chống dịch.

Ba là, bám sát thực tiễn sớm để phát hiện dấu hiệu, mầm mống nhằm cảnh báo xung đột xã hội ở giai đoạn sơ khai 

Các xung đột xã hội luôn diễn ra theo các mức độ từ thấp đến cao. Ban đầu là sự không hài lòng, tiếp đến là công khai, căng thẳng và dẫn tới “điểm nóng” xã hội. Để xung đột xã hội không trở thành “điểm nóng”, các cơ quan báo chí phải phát hiện sớm những mâu thuẫn nảy sinh để cảnh báo từ sớm, từ xa, hạn chế hậu quả, tổn thất cho xã hội. 

Việc kịp thời đưa tin về nhận thức mới của thế giới về phòng, chống dịch, các khó khăn, ách tắc trong giao thông, tình trạng giấy phép con trong vận tải, những khó khăn khi chứng nhận là F0 mua thuốc chữa Covid-19, đưa trẻ em đến trường quá sớm... đã giúp các cơ quan chức năng sớm điều chỉnh các biện pháp quản lý xã hội, góp phần “hạ nhiệt”, giải tỏa nhanh các xung đột xã hội. 

Để phát huy tốt kinh nghiệm này, báo chí phải bám sát cuộc sống người dân, doanh nghiệp và lực lượng chống dịch, luôn lắng nghe, đặt mình vào cương vị của chủ thể, đồng cảm, chia sẻ với họ thì sẽ sớm nhận ra mầm mống của xung đột xã hội để cảnh báo tới các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. 

Bốn là, tích cực tham gia hòa giải các xung đột nội bộ

Đối với các xung đột có mâu thuẫn đối kháng, khi giải quyết phải thực hiện nguyên tắc ta thắng, địch thua nhưng với các xung đột nội bộ phải được giải quyết theo nguyên tắc cùng thắng. Khi xảy ra các xung đột nội bộ, báo chí phải làm vai trò trung gian hòa giải, thông tin cần làm rõ xung đột đó mang lại lợi ích, thiệt hại gì cho chính quyền và người dân. Báo chí phải tự đặt mình vào vị trí của từng bên để cảm thông, chia sẻ với họ, không đứng về bên này để phê phán, đổ lỗi cho bên kia. Không hiếm trường hợp có những cán bộ mẫn cán, quên mình trong đại dịch nhưng do ứng xử chưa đúng mực, không kiểm soát được cảm xúc, có hành động, phát ngôn không phù hợp đã trở thành đối tượng bị chỉ trích trên báo chí. Nhiều nghệ sỹ chân chính tham gia hoạt động từ thiện bị tấn công, khủng bố tinh thần trên mạng xã hội nhưng không được báo chí bênh vực kịp thời. Trong khi đó, có trường hợp người vi phạm trong phòng, chống dịch lại được tung hô, giúp đỡ như là anh hùng. 

Như trên đã đề cập, đại dịch làm bùng phát nhiều xung đột, có xung đột nguy hiểm, có xung đột ở quy mô, mức độ thấp hơn. Để góp phần quản lý và giải tỏa xung đột, báo chí có thể nêu vấn đề, gợi ý để hướng dư luận vào các xung đột mang tính dân sự, ít nguy hiểm hơn, dễ giải quyết hơn để không biến các xung đột xã hội thành điểm nóng chính trị - xã hội.

Năm là, phát huy tốt vai trò là vũ khí sắc bén của cuộc đấu tranh tư tưởng trong phòng, chống đại dịch Covid-19

Lợi dụng những khó khăn, phức tạp của tình hình, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ráo riết đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, sai sự thật về công tác phòng, chống dịch Covid-19 của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Hoạt động của chúng làm gia tăng số lượng, tần suất, quy mô, tính chất phức tạp của các xung đột xã hội. Trong hoàn cảnh đó, báo chí trở thành chiến sĩ xung kích trên mặt trận thông tin, tư tưởng; vạch trần các quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch. Báo chí cần kịp thời chỉ ra, cảnh báo, hối thúc các cơ quan chức năng sớm vào cuộc xử lý và chủ động dẫn dắt dư luận lên án những hiện tượng lệch lạc đó.

Bên cạnh đó, báo chí cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, đầy đủ, chính xác chủ trương, chính sách,  quy định về phòng, chống dịch đến từng cấp, ngành và nhân dân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng về những khó khăn, diễn biến phức tạp của dịch bệnh, tích cực đưa nhiều thông tin về những tấm gương điển hình, những mô hình hay, cách làm tốt, làm cho thông tin tích cực trở thành “dòng chủ lưu” trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Xung đột là một hiện tượng không thể tránh khỏi trong đời sống xã hội, nhất là khi có những biến cố ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân. Với tư cách là một lực lượng nòng cốt trong quản lý và giải tỏa xung đột, báo chí phải chủ động vào cuộc, trên tinh thần nhận thức đúng bản chất và quy luật của xung đột xã hội, làm tốt nhiệm vụ đưa tin, định hướng, cảnh báo, trung gian hòa giải trong các xung đột nội bộ và kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

__________________

(1) Phan Xuân Sơn: Lý thuyết về xung đột xã hội và quản lý, giải tỏa xung đột xã hội ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014, tr.46.

Nguồn: TS LƯƠNG NGỌC VĨNH

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Lời Bác dạy Ngày 30/6/1947


    “Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Điện văn gửi Ban chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam, ngày 30 tháng 6 năm 1947. Đây là thời điểm, sau khi nước nhà mới giành độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp lại dã tâm quay lại xâm lược nước ta.

Lời dạy “Mỗi đồng chí phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào” có ý nghĩa thiết thực, không chỉ là yêu cầu đối với các đồng chí trong Đảng Dân chủ, mà còn suy rộng ra tất cả các đồng chí cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, mỗi người phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào. Phải luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân; phải gương mẫu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng, tiếp tục đưa đất nước phát triển tiến lên. Thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, tích cực, tự giác trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, góp phần cùng toàn Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị, không những là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động mà còn là yêu cầu đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đề cao trách nhiệm, phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, gương mẫu đi đầu trong thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thật sự là những cán bộ có tâm, có tầm, vì nước, vì dân, là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân học tập và làm theo.

Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mỗi cán bộ, chiến sĩ càng phải ra sức học tập và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác. Trên từng cương vị, chức trách được giao, mỗi quân nhân phải nâng cao nhận thức, kiên định lập trường cách mạng; không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua khó khăn, gian khổ; ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Càng trong khó khăn, gian khổ bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải được khẳng định, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

 

 

Thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững

(LLCT) - Đại hội XIII của Đảng xác định “bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ… tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững”(1). Đây là quan điểm đúng đắn, sáng tạo, kịp thời của Đảng ta nhằm khơi dậy mạnh mẽ ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước; đồng thời tạo hành lang pháp lý để thu hút, trọng dụng nhân tài vào tất cả các ngành, lĩnh vực, góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. 


1. Trọng dụng nhân tài, một giá trị truyền thống của dân tộc

Lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta cho thấy, trong mọi giai đoạn, đất nước luôn xuất hiện nhân tài đứng ra đảm đương, gánh vác sứ mệnh lịch sử. Trong Bình Ngô Đại cáo (năm 1428), một trong những bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Nguyễn Trãi - chiến lược gia chính trị, quân sự của dân tộc từng nói: Đất nước Đại Việt “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. 

Trong lịch sử, các triều đại phong kiến rất quan tâm, chú trọng “chiêu hiền đãi sĩ”, tìm kiếm, chiêu mộ những người tài, giỏi, có phẩm chất vào làm việc trong triều đình, phò vua, giúp nước. Việc tuyển chọn, sử dụng nhân tài được thực hiện có hệ thống quy củ từ thời nhà Lý. Việc lựa chọn người hiền tài được tổ chức bài bản, chặt chẽ qua các khoa thi. Nhà vua trực tiếp ra đề và chấm thi. Những nhân tài dưới thời nhà Lý được gọi là tầng lớp tinh hoa (tầng lớp trí thức Nho học). Đến thời nhà Lê, việc lựa chọn nhân tài được tổ chức thành những kỳ thi, mỗi sĩ tử trải qua ba đến bốn kỳ thi. 

Trong văn bia “Đề danh tiến sĩ, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (năm 1442)”, Thân Nhân Trung viết: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết”... Thông điệp này được khắc trên bia tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn miếu Quốc Tử Giám và vẫn có tính thời sự hiện nay trong xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp đối với việc trọng dụng nhân tài.

Kế thừa tư tưởng về trọng dụng nhân tài của ông cha trong lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều quyết sách đúng đắn, hợp lý để chiêu dùng người tài vào sự nghiệp cách mạng. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 20-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu quốc số 411. Người nêu rõ “Nhà nước cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức”(2)

Với những chính sách, biện pháp trọng dụng nhân tài đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phải làm thường xuyên, liên tục như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải tùy tài mà dùng người, ai có năng lực việc gì, ta dùng vào việc ấy… Người đã thu hút được nhiều nhân tài cho đất nước, như: Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng… Qua đó cho thấy tài năng và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng chính quyền cách mạng, kháng chiến, kiến quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài được Đảng ta vận dụng trong sự nghiệp đổi mới đất nước. 

2. Thu hút, trọng dụng nhân tài theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thực hiện nhiều cơ chế, chính sách để khuyến khích, động viên, thu hút người tài vào làm việc ở mọi ngành, lĩnh vực. Những năm đầu đổi mới, Đảng ta đề ra chủ trương, biện pháp phát triển giáo dục, đào tạo với mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (năm 1998) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhấn mạnh: Đặc biệt chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. 

Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt người trong Đảng hay ngoài Đảng. 

Đại hội XI khẳng định: Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước; hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài. 

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài; tạo bước chuyển căn bản trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài; xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài; coi đó là giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược cán bộ, lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu, có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài. 

Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đề án về cán bộ, trong đó có nội dung về thu hút, trọng dụng nhân tài, như: Nghị quyết số 27-NQTW ngày 6-8-2008 Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Qua đó đã góp phần quan trọng vào việc khơi dậy những phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, nâng cao vị thế, uy tín, tiềm lực của đất nước. 

Đến Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”(3). Quán triệt tinh thần Đại hội XIII về trọng dụng nhân tài, trên cơ sở kế thừa truyền thống của ông cha và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này, bài viết đề xuất một số phương hướng, biện pháp cơ bản sau. 

Một làcó cơ chế, chính sách đúng đắn, hợp lý để thu hút nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước và các cơ quan, ban ngành đã có nhiều chính sách thiết thực, cụ thể về trọng dụng, thu hút nhân tài phục vụ phát triển đất nước như: thực hiện chế độ tiền lương, bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý, xây dựng các trung tâm nghiên cứu, tổ chức hội nghị để lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học trong hiến kế, tháo gỡ những “nút thắt” còn vướng mắc về mặt cơ chế, chính sách… Tuy nhiên các hoạt động còn thiếu tính hệ thống và không mang tính chuyên ngành. Do đó, những cơ chế, chính sách trọng dụng nhân tài cần kịp thời, minh bạch, dân chủ; phát huy được năng lực, sở trường, thế mạnh của các đối tượng. 

Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương trong thu hút, trọng dụng nhân tài, phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Người đứng đầu cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Đó chính là cánh cửa mở ra để nhân tài cống hiến tài năng, sở trường, thế mạnh của mình cho ngành, lĩnh vực mà mình có đam mê, nhiệt huyết, theo đuổi.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương công tâm, khách quan trong thu hút, sử dụng, đãi ngộ nhân tài. Cần cónhững tiêu chí cụ thể trong thực hiện tuyển chọn người tài. Trong đánh giá hiệu quả công việc của nhân tài, cần có sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Việc tôn vinh nhân tài (qua các giải thưởng, danh hiệu) cũng cần đúng thực chất, tránh những hiện tượng tiêu cực, bệnh hình thức.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là ở bậc đại học

Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”(4). Ở các bậc học, nhất là bậc học trung học phổ thông, giáo viên và phụ huynh học sinh phải định hướng tương lai cho con em mình trong việc chọn lựa ngành nghề phù hợp với năng lực, thế mạnh của bản thân, từ đó tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về một ngành, lĩnh vực để có đầy đủ kiến thức, kỹ năng sau khi hoàn thành khóa học. Các trường cao đẳng, đại học cần làm tốt công tác xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với trình độ nhận thức của người học, đáp ứng nhu cầu của xã hội, của quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức. 

Theo đó, cần tiến hành rà soát chương trình đào tạo đại học để có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp; tăng cường thời gian thực hành, giảm thời gian học lý thuyết; gắn quá trình đào tạo với hoạt động thực tập; đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các trường, các chuyên ngành đào tạo với nhau và với doanh nghiệp; tuyển học sinh vào đào tạo phải bảo đảm chất lượng. Các cơ sở giáo dục cần phát triển hơn nữa vào các ngành nghề chất lượng cao, như: lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng, vật liệu mới, công nghệ sinh học... 

Ba là, tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác tuyển chọn, sử dụng nhân tài

Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách đãi ngộ, sử dụng nhân tài, do đó, Nhà nước cần phân cấp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, ban, ngành tiến hành quản lý, sử dụng một cách hiệu quả, không để xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”; xây dựng cơ chế, ban hành quy định yêu cầu nhân tài phải đề cao lợi ích của quốc gia, dân tộc, toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước. Có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách trọng dụng nhân tài và hiệu quả làm việc của nhân tài, nếu không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì sắp xếp, bố trí ở những vị trí khác. 

Nhà nước cần xây dựng cơ chế tạo sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng nguồn lao động chất lượng cao. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường các biện pháp để thu nhận thông tin phản hồi về mức độ hài lòng của các tổ chức sử dụng lao động đối với “sản phẩm” đầu ra của các cơ sở đào tạo. 

__________________

(1), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.324-325, 115.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.115.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.115.

nguồn: TS BÙI XUÂN DŨNG

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh

Lời Bác dạy Ngày 29/6/1963

 

    Nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân lương thiện trên thế giới ai cũng muốn hòa bình. Nhưng phải đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thực dân thì mới giành được hòa bình thật sự”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Hòa bình kiểu Mỹ tức là binh họa”, với bút danh “Chiến sĩ”, đăng trên báo Nhân dân, số 3380, ngày 29 tháng 6 năm 1963.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lên khát vọng, mong muốn được hòa bình của nhân dân lương thiện thế giới nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng; đồng thời, là lời kêu gọi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới phải đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thực dân thì mới giành được hòa bình thật sự.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, hi sinh để giành độc lập, thống nhất đất nước, nhân dân được sống trong hòa bình và đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Song lời Bác Hồ dạy năm xưa vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn, được Đảng ta cụ thể hóa trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Lời Bác dạy Ngày 28/6/1966


    “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn.

Là nội dung huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục, họp tháng 6 năm 1957.

Theo Bác, trong giáo dục cần làm cho học sinh biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ cho học sinh luôn được vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, trẻ trung của tuổi thơ, được hưởng quyền dân chủ, được vui chơi và học hành tiến bộ, mang lại cho trẻ em niềm hạnh phúc khi được sống cùng cha mẹ. Để làm được điều đó, giáo dục gia đình giữ vai trò rất quan trọng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về tầm quan trọng của gia đình, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước, luôn xác định gia đình là tế bào của xã hội. Ngày 28 tháng 6 năm 2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg, chọn ngày 28 tháng 6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Ngày Gia đình Việt Nam là dấu mốc quan trọng để những con người đất Việt hướng về cội nguồn, về những người thân yêu, qua đó nuôi dưỡng tình cảm đẹp, những giá trị văn hóa cao quý của dân tộc. Cho dù có đi đâu, làm gì, gia đình vẫn là nơi để nhớ, để yêu thương và để quay về.

Hoạt động của Quân đội là loại hình lao động đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ cơ bản sống xa gia đình, gắn bó với đơn vị; do vậy, với mỗi người lính gia đình luôn có vị trí đặc biệt trong tâm tư, tình cảm và trách nhiệm của mỗi người. Để xây dựng được tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, gắn bó giữa bộ đội với cơ quan, đơn vị, các mô hình: “Đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”…đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân triển khai thực hiện đạt hiệu quả thiết thực đã góp phần quan trọng xây dựng tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân và sự gắn bó của bộ đội với cơ quan, đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.