Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Phản bác những luận điệu xuyên tạc vấn đề dân chủ ở Việt Nam

 Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, dân chủ là vấn đề được các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị coi là một “mũi nhọn” tập trung xuyên tạc, chống phá. Vì vậy, đấu tranh, phản bác thủ đoạn này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.

Vấn đề dân chủ không đứng riêng một cách biệt lập, mà được các thế lực thù địch xuyên xoáy, xen lồng trong các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tự do tín ngưỡng, tôn giáo,… tạo “hợp lực” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những luận điệu xuyên tạc dân chủ được chúng thực hiện trên tất cả các lĩnh vực; trong đó, xuyên tạc dân chủ trên lĩnh vực chính trị là trọng điểm, mang tính bao trùm, được triển khai trên hai “mảng miếng”, hai hướng chính: thứ nhất, bóp méo, xuyên tạc những biểu hiện dân chủ trong đời sống hiện thực; thứ hai, xuyên tạc bản chất, căn nguyên của tình trạng “mất dân chủ”, “không có dân chủ” ở nước ta. Các luận điệu xuyên tạc được thực hiện với nhiều hình thức, biện pháp rất xảo quyệt và tinh vi, tạo nên “ma trận”, dàn “hợp xướng” tiến công ta từ nhiều phía. Chúng kết hợp bên trong và bên ngoài với nhiều lực lượng; kết hợp dùng “lý luận cao siêu” với kiểu “hàng tôm hàng cá”; kết hợp chống quan điểm với trực tiếp tiến công vào con người, tổ chức. Chúng ra sức lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của ta; khai thác các thông tin trong nước và quốc tế liên quan để lồng ghép các luận điệu xuyên tạc. Các luận điệu họ đưa ra đều cố tỏ vẻ khách quan, khoa học, tâm huyết với vận mệnh quốc gia, dân tộc; khoác cái áo “nhà dân chủ”, “yêu nước” để chống phá, xuyên tạc. Họ triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các nền tảng mạng xã hội để móc nối, tập hợp, huấn luyện các đối tượng, lập các trang, nhóm, tài khoản có số người theo dõi lớn nhằm lan truyền những luận điệu xuyên tạc.

Những luận điệu xuyên tạc về dân chủ là đặc biệt nguy hiểm, dễ gây nên sự hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và bản chất, tính ưu việt của chế độ dân chủ nước ta. Vì vậy, cần phải chủ động đấu tranh, phản bác trên một số khía cạnh sau.

Không thể bóp méo, phủ nhận những thành tựu về dân chủ và bản chất chế độ dân chủ nước ta; không thể vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, “vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”. Thực tiễn cho thấy, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến nay, nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức và xây dựng xã hội mới, chăm lo cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của chính mình; bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động, cụ thể trong cuộc sống của nhân dân. Người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, dân chủ, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ thế nào là dân chủ. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”1. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng, của nền dân chủ nước ta. Chỉ cần có cái nhìn khách quan, thiện chí thì sẽ hiểu được những thành tựu dân chủ mà nhân dân ta với bao mồ hôi, công sức và cả máu xương mới có được, thấu hiểu được xã hội Việt Nam là thực sự dân chủ.

Những ai cố tình vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, “vi phạm dân chủ” cần thấy rằng: sau hơn 35 năm đổi mới, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2; quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng thể hiện sinh động trong đời sống hiện thực trên tất cả các lĩnh vực. Đời sống cả về vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nếu như năm 1989, quy mô nền kinh tế đất nước chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, xếp thứ 37 thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và nằm trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Thu nhập bình quân đầu người những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Mọi công dân đều “có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Hệ thống báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ với đội ngũ “khoảng 50.000 người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí; gần 1.000 cơ quan báo chí thuộc 04 loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử, trong đó có 165 cơ quan báo, 663 tạp chí, 23 cơ quan báo điện tử độc lập, 02 đài phát thanh - truyền hình quốc gia, 64 đài địa phương, 05 kênh truyền hình3. Ở Việt Nam, có hơn 70% dân số dùng mạng xã hội với nhiều mạng xã hội lớn phổ biến như Facebook, YouTube, Lotus, Zalo, Twitter, Instagram, v.v. Những con số trên chưa phải là đầy đủ, nhưng nó đã khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ và sự thụ hưởng nền dân chủ nước ta.

Không thể cho rằng, bầu cử ở Việt Nam “không dân chủ”?! Bởi, ở Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bầu cử, có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước và cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng nhiều. Việc thực hiện nguyên tắc dân chủ trong bầu cử đã tập hợp, phát huy trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ và chăm lo đến dân. Nhân dân là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kỳ bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Hiến pháp, các luật,... đã thực sự tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và gián tiếp, thực thi quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình.

Rõ ràng, chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”4; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,...; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Những ai ra rả kêu gọi hãy “mở rộng dân chủ” hơn nữa cần phải thấy rõ rằng: dân chủ bao giờ cũng gắn liền với chuyên chính, với pháp luật, kỷ luật. Bất cứ nền dân chủ nào cũng vậy, đó không phải là thứ vô nguyên tắc, càng không thể là vô chính phủ, mà phải “gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”5. Họ cũng cần phải thấy rằng: không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ và ngược lại. “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”6. Mọi sự lợi dụng dân chủ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, làm tổn hại tới lợi ích quốc gia và cuộc sống bình yên của nhân dân là không thể chấp nhận, là trái với dân chủ, đều phải bị nghiêm trị. Thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc là trái với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” mà các thế lực thù địch tung ra như là một “tiền đề” và “yêu cầu” của thứ dân chủ mị dân, thực chất là nhằm tước bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa của nền dân chủ nước ta.

Những yêu sách đòi Việt Nam phải “khuôn” theo “mẫu hình” dân chủ tư sản phương Tây là không thể chấp nhận. Chúng ta không phủ nhận nhiều giá trị của dân chủ tư sản, nhưng nền dân chủ ấy, dù có được tô vẽ như thế nào, thì vẫn là dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động.

Không thể xuyên tạc: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là căn nguyên của tình trạng mất dân chủ, không có dân chủ. Với sự lựa chọn của lịch sử và bằng kiểm nghiệm thực tế, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và trao cho Đảng Cộng sản Việt Nam quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước ta không phải là tạo ra vị thế đó, mà đó là sự ghi nhận, khẳng định một thực tiễn chính trị - xã hội đã xác lập trong thực tế, không có lý do nào buộc chúng ta phải từ bỏ Điều 4 Hiến pháp.

Đảng ta “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”7; “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích nào khác”8. Đảng độc tôn lãnh đạo, cầm quyền chính là vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”. Vì thế, vấn đề “then chốt của chế độ dân chủ” nước ta không phải là từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng, mà là khẳng định, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo ấy trong thực tiễn. Từ bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thực hiện đa đảng không những sẽ không dân chủ hơn mà còn dẫn tới đất nước mất ổn định, xã hội hỗn loạn, có thể rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước.

PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HƯỞNG

Nhận thức đúng về công tác cán bộ của Đảng ta

 

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng ta xác định tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đồng thời, kiên quyết, kiên trì rà soát, sàng lọc đưa những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng và bộ máy chính trị các cấp, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tuy nhiên, có một số cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu chưa thấu đáo vấn đề này, trong khi đó, các thế lực thù địch đang sử dụng nhiều thủ đoạn xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, gây nên tâm lý hoài nghi trong một bộ phận nhân dân. Bởi thế, nhận thức đúng công tác cán bộ của Đảng là một yêu cầu, biện pháp quan trọng trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay.

Thấu suốt việc “then chốt” không thể bị “gài chốt”

 Hiện tượng một bộ phận dư luận hoài nghi về các chủ trương, biện pháp trong tiến hành công tác cán bộ của Đảng có nhiều nguyên nhân. Đó có thể là những người (có cả cán bộ, đảng viên) bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, dao động trước các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Đó có thể là những người không có thông tin và bị các thế lực thù địch dẫn dắt bằng những thông tin thiếu cơ sở...

Để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng ta, xin được minh chứng bằng một việc cụ thể. Những người am hiểu về công tác cán bộ của Đảng đều biết rõ, Đại hội lần thứ XIII là kỳ đại hội dành rất nhiều tâm huyết, trí tuệ của Đảng để làm tốt nhất công tác cán bộ, bởi Đảng ta luôn xác định, đó là việc “then chốt của then chốt”. Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch; giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy định, phát huy trách nhiệm, dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong đánh giá, giới thiệu, lựa chọn nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ tới. Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc”.

Để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIII, Đảng ta đã làm rất bài bản. Tiểu ban Nhân sự chuẩn bị Đại hội XIII được thành lập sớm từ Hội nghị Trung ương 8 khóa XII (tháng 10-2018). Tiếp đó, ngày 30-5-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW xác định rõ, việc chuẩn bị nhân sự đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bộ Chính trị xác định cần tập trung lãnh đạo xây dựng quy hoạch cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026 theo phương châm “làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó” với lộ trình cụ thể. Quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch cán bộ ở Trung ương thực hiện theo 5 bước với khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí rõ ràng, chặt chẽ. Dù công tác cán bộ được làm chặt chẽ, quy trình rõ ràng như vậy, nhưng những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về công tác nhân sự đại hội vẫn “như nấm sau mưa”. Một số cán bộ, đảng viên và người dân thiếu thông tin, thiếu hiểu biết đã bị dư luận xấu dẫn dắt, có khi tiếp tay tán phát những thông tin sai trái đó.

Những nhận thức sai trái, thiếu thông tin của cán bộ, đảng viên, quần chúng và sự xuyên tạc công tác cán bộ của các thế lực thù địch thường tập trung vào các vấn đề sau:

Trước hết, nắm bắt được nhu cầu thông tin của nhân dân về công tác chuẩn bị nhân sự trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, hoặc trước khi Đảng, Quốc hội kiện toàn nhân sự, một số cá nhân, đặc biệt là các thế lực thù địch đưa ra những “nhận định”, “dự báo” thiếu thông tin, không chính xác về nhân sự một số vị trí quan trọng. Và, nếu như công tác nhân sự của một số vị trí lãnh đạo đúng như “dự báo” đó thì họ lại vỗ ngực về khả năng tiên đoán, từ đó hướng lái, xuyên tạc những chiều hướng tiếp theo để lôi kéo, dẫn dắt dư luận xã hội theo mục đích của họ. Ngược lại, nếu như những “dự báo” đó không chính xác, họ lại đưa ra luận điệu của cái gọi là “do phe cánh đấu đá nhau” nên người này, người kia bị hạ bệ để đưa người khác lên. Từ đó, họ tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm gây mất đoàn kết trong nội bộ, gây tâm lý hoài nghi của nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng và phẩm chất, năng lực của một số cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất lại xuyên tạc, suy diễn cho rằng: Đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” vì “lợi ích nhóm”. Hoặc, lấy hiện tượng một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, pháp luật của Nhà nước bởi những hành vi tham nhũng, tiêu cực để đưa ra luận điệu của cái gọi là: Tham nhũng là do độc đảng lãnh đạo... quy chụp mọi khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội là do công tác cán bộ của Đảng...

Bên cạnh đó, lợi dụng chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, một số cá nhân cùng với các thế lực thù địch tung ra nhiều thông tin sai sự thật. Họ phản ánh xuyên tạc về mục đích luân chuyển; rằng việc Đảng luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương hoặc từ địa phương này đến địa phương khác là vì thiếu tin tưởng vào phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ sở tại, hoặc là để “thanh trừng”, “bóp nghẹt” cán bộ địa phương nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở địa phương thiếu tin tưởng vào cán bộ được luân chuyển, gây mất đoàn kết trong nội bộ. Đích đến cuối cùng của họ là làm cho “then chốt của then chốt” bị “gài chốt”.

Xây dựng bản lĩnh, làm chủ thông tin

 Đảng ta xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng và vận mệnh của chế độ. Vì vậy, Đảng luôn đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân; đồng thời, kiên quyết, kiên trì đấu tranh loại bỏ những cán bộ thoái hóa, biến chất khỏi Đảng và bộ máy lãnh đạo, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị các cấp tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Từ mục đích lớn lao đó, mỗi chúng ta cũng cần nhận thức đúng các vấn đề trong công tác cán bộ, cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.

Thứ nhất, Đảng lãnh đạo công tác cán bộ là bất di bất dịch

Trong hơn 93 năm qua, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Nhờ phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Đảng ta luôn thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, qua đó Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, việc nhận thức chưa đúng, cũng như mọi luận điệu phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo cán bộ và công tác cán bộ là phi thực tế.

Thứ hai, “mục tiêu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước”

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ những hành vi tham nhũng, lãng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí”(1). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhiều lần khẳng định quan điểm mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu. Cuộc đấu tranh này để làm cho Đảng ta mạnh hơn, nước ta mạnh hơn, xây dựng được đội ngũ cán bộ có đức, có tài, có tâm, có tầm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Hiện tượng một số cán bộ bị xử lý, cho ra khỏi Đảng và bộ máy nhà nước do hành vi tham nhũng, tiêu cực thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đó hoàn toàn không phải là “đấu đá quyền lực”, “lợi ích nhóm” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Thứ ba, công tác luân chuyển cán bộ nhằm mục tiêu đào tạo, rèn luyện đội ngũ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Luân chuyển cán bộ là một chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng nhằm tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo toàn diện của đội ngũ cán bộ. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong diện quy hoạch được rèn luyện, thử thách; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết; khắc phục tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, khép kín trong từng ngành, từng địa phương và từng đơn vị. Công tác luân chuyển cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược luôn là chủ trương lớn của Đảng, chủ trương này tiếp tục được thực hiện theo Quy định số 65-QĐ/TW ngày 28-4-2022 của Bộ Chính trị “về luân chuyển cán bộ”.

Công tác luân chuyển cán bộ thời gian qua được kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện chủ trương bố trí người đứng đầu không là người địa phương và đạt được kết quả rất tích cực, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Qua đó, góp phần đào tạo, rèn luyện cán bộ và chủ động chuẩn bị nguồn cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, tạo sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Đồng thời, đây cũng là minh chứng để phản bác các quan điểm sai trái, nhận thức chưa đúng mục tiêu công tác luân chuyển cán bộ của Đảng hiện nay.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác cán bộ đã đạt được những kết quả rất quan trọng: Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì lợi ích chung”... Điều đó khẳng định chủ trương, cách làm đúng đắn, nhất quán của Đảng, đồng thời là động lực để mỗi cán bộ nỗ lực phấn đấu, vươn lên, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Đại tá, TS VŨ PHÚ DŨNG - Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam

Không để đứt gãy tinh thần “xây” và “chống”

 

Các cơ quan, đơn vị, địa phương vừa tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra là phải tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh, làm sâu sắc thêm tinh thần, nhiệt huyết “xây” và “chống”...

Không thể tư duy kiểu “hớt váng”

Sau 2 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW (gọi tắt là Kết luận 01), trong quá trình tổ chức hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm, thực tiễn ở nhiều cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị các cấp ghi nhận không ít ý kiến băn khoăn. Một trong những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm đặt ra là: Tại sao Đảng ta càng đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì số lượng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật càng nhiều? Tại sao ở một số bộ, ngành, địa phương, mặc dù người đứng đầu mỗi lần đăng đàn phát biểu trong các hội nghị liên quan đều hô hào phải đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực, suy thoái, nhưng chỉ mới “dăm bữa nửa tháng” đã vướng vòng lao lý?

Một số cán bộ vừa mới hôm qua lên diễn đàn thuyết giảng đạo lý, hôm sau đã phải tra tay vào còng? Phải chăng, thực trạng đó chứng minh, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ là hình thức, kém hiệu quả, trước hết là ở ngay trong hệ thống chính trị, ngay trong hàng ngũ cán bộ cấp cao? Phải chăng cán bộ càng được học cao, vi phạm càng nhiều...

Những vấn đề được một bộ phận dư luận xã hội đặt ra như trên một phần xuất phát từ những thông tin do các thế lực thù địch xuyên tạc, lèo lái. Thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp luôn là đề tài được các đối tượng cực đoan, bất mãn có tư tưởng thù địch khai thác, thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Họ bám vào các vụ việc tiêu cực, các cán bộ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống bị xử lý kỷ luật đảng, truy tố trước pháp luật để suy diễn, xuyên tạc, phủ nhận thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; bóp méo, bôi đen tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thông tin sai trái, xấu độc trên không gian mạng đã tác động đến tâm lý, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng, dẫn đến kiểu tư duy “hớt váng”, thấy hiện tượng mà không hiểu bản chất; thấy cây mà không thấy rừng...

Để hiểu rõ những chuyển biến tích cực và kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện Kết luận 01 cũng như thành quả nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện. Trước hết, đó là tinh thần, phương châm chỉ đạo kết hợp “xây” và “chống”.

Kết luận 01 nêu rõ nhiệm vụ: “Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn”.

Quá trình quán triệt, tiếp tục triển khai thực hiện Kết luận 01 cần thấy rõ: Đảng ta đã đặt ra yêu cầu vừa khái quát, vừa cụ thể về việc phải gắn chặt, kết hợp việc học tập, làm theo Bác với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp; trong đó có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái trong nội bộ. Như vậy, kết quả học tập, làm theo Bác cần phải được thể hiện cụ thể thông qua hành động, việc làm, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Nói cách khác, nó phải được lượng hóa cụ thể trên thực tế.

Trong các hội nghị chuyên đề và quá trình tiếp xúc cử tri, rất nhiều lần các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta đã lưu ý, việc có nhiều cán bộ suy thoái, tham nhũng bị điều tra, xử lý không phải là “càng chống càng sai”, “càng học càng kém”... mà bản chất của vấn đề là do càng ngày chúng ta càng làm mạnh, làm quyết liệt việc đấu tranh, chỉnh đốn đội ngũ theo tinh thần không có vùng cấm. Trước đây, ít có vụ việc bị xử lý không phải là không có tham nhũng, tiêu cực, mà bởi lúc đó công tác đấu tranh chưa quyết liệt như hiện nay nên việc phát hiện, xử lý tiêu cực chưa hiệu quả.

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “trị một người để cứu muôn người” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh, chúng ta cần thấy rõ, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái là những biểu hiện vô cùng tinh vi, vô cùng khó khăn để có thể lôi ra ánh sáng công lý. Chủ nghĩa cá nhân như sâu mọt đục khoét bên trong thân cây.

Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tiêu cực gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo Bác với tinh thần “lấy xây để chống” thời gian qua đã lôi ra được hàng loạt cán bộ suy thoái trong nội bộ Đảng. Đó là thành tựu của cuộc đấu tranh đầy cam go, phức tạp và không ít “hy sinh”. Thành tựu đó đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, ngày càng đạo đức, văn minh để xứng đáng với niềm tin và sự gửi gắm của nhân dân.

Sự phát triển của tư duy và đòi hỏi gắt gao từ thực tiễn

Việc học tập, làm theo Bác không phải đến bây giờ Đảng ta mới đặt ra, mà đó là một hành trình mang tính hệ thống, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng và những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ. Ngay sau khi Bác mất, trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969 đã thể hiện sắt son lời thề: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người...”.

Từ đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới đã ghi nhớ khát vọng “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Trải qua mỗi giai đoạn lịch sử, cách mạng dân tộc đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới, việc học tập, làm theo Bác cũng đòi hỏi có sự phát triển, bổ sung những nội dung, yêu cầu mới. Đó là sự phát triển tất yếu của tư duy biện chứng.

Trong 17 năm qua, kể từ khi Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay, việc học tập và làm theo Bác không ngừng được điều chỉnh, bổ sung nội dung, hình thức, giải pháp thực hiện. Đảng ta đã cụ thể hóa sự phát triển tư duy lý luận và đáp ứng yêu cầu gắt gao từ thực tiễn của đất nước bằng các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... Đặc biệt, trong những năm gần đây, việc ban hành, triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận 01 đã thể hiện yêu cầu ngày càng cao đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Kết luận 01 chỉ rõ: Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Bác, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật. Việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các khâu đột phá, các vấn đề cấp bách, bức xúc còn lúng túng, hiệu quả chưa cao...

Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi...

Với phương châm kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, sắp tới chắc chắn sẽ còn nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong hệ thống chính trị bị xử lý kỷ luật, lôi ra trước ánh sáng công lý. Đặc biệt là hiện nay, khi hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh tiếp tục được củng cố, đẩy mạnh, số lượng cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng bị kiểm tra, điều tra, xử lý ở các cấp chắc chắn sẽ còn nhiều thêm.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ tiếp tục diễn ra cam go, phức tạp, nhưng với tinh thần kiên trì, quyết liệt, không có vùng cấm, “lấy xây để chống”, chúng ta có niềm tin son sắt vào thắng lợi của Đảng.

Vấn đề cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị các cấp cần có là sự nhận thức thấu đáo, đầy đủ, sâu sắc bản chất của vấn đề bằng phép tư duy biện chứng. Tuyệt đối không tư duy kiểu “hớt váng” dẫn đến nghe theo, hùa theo, làm theo những luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội. Cán bộ, đảng viên có nhận thức thấu đáo, đầy đủ thì mới có cơ sở vững chắc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện ngày càng sâu rộng, hiệu quả việc học tập và làm theo Bác. Tinh thần “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được củng cố, tiếp lửa thường xuyên, liên tục bằng “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”... không để đứt gãy vì bất cứ lý do gì, bất cứ hoàn cảnh nào.

Thực hiện đồng bộ giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. "Xây" là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. "Chống" là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... (trích Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị)

PHAN TÙNG SƠN

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

 

Một thực tế đó là, mỗi khi có đồng chí cán bộ nào bị xử lý sai phạm thì xuất hiện tâm lý hả hê ở một bộ phận dư luận. Phần đa ý kiến không đồng tình với tâm lý hả hê đó, nhưng điều này cần được nhìn nhận thấu đáo để hiểu rõ vì sao? Một trong những nguyên nhân gây nên tâm lý đó chính là “bệnh xa dân” của cán bộ khiến dư luận đã có cái nhìn tiêu cực, thiếu cảm thông mỗi khi có vụ việc.

1. Mới đây, khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Căn biệt thự của gia đình ông cựu Bí thư Tỉnh ủy nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất của TP Lào Cai từ lâu đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Cũng theo kết luận của cơ quan chức năng, ông Nguyễn Văn Vịnh có tới 7 lô đất đều nằm ở các vị trí đắc địa của TP Lào Cai, chưa kể những tài sản khác. Hình ảnh người cán bộ như vậy đã khiến người dân không có cảm tình. 

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc “bệnh xa dân” khá phổ biến. Có những nơi đã hình thành khu ở của người giàu, của một số “quan chức”, hoặc vợ con họ sống xa xỉ, hưởng lạc. Đó là những khu phố luôn kín cổng cao tường, xa cách với nhân dân lao động. Ngay tại TP Lào Cai, ngày 24-5-2017, Báo Tuổi trẻ đã đăng tải bài điều tra “Đấu giá đất biệt thự “đắc địa” Lào Cai: Toàn quan chức trúng”. Theo bài báo, cả 6 lô biệt thự ở vị trí đắc địa bậc nhất Lào Cai sau đấu giá đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình quan chức tỉnh này, trong đó có ông Nguyễn Văn Vịnh, khi đó đang đương chức Bí thư Tỉnh ủy.

Chuyện cán bộ mắc “bệnh xa dân” ngày nay thể hiện muôn hình vạn trạng, đó là cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gì gặp được họ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Luật pháp có quy định, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đều phải thực hiện tiếp công dân. Người đứng đầu phải định kỳ tiếp công dân theo quy định của luật. Mục đích của việc tiếp công dân chính là sự gần dân, là để nắm bắt tâm tư nguyện vọng, tiếp nhận ý kiến của công dân để giải quyết, để ban hành chủ trương, chính sách sát thực tiễn. Tuy vậy, kết quả nội dung thanh tra trách nhiệm của các địa phương trong thực hiện việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo những năm qua cho thấy một tình trạng phổ biến đó là việc tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu không đầy đủ, không nền nếp, ủy quyền cho người khác tiếp công dân, nhiều người đứng đầu nhiều năm không tiếp công dân. Chính vì người đứng đầu, có thẩm quyền giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân lại không tiếp dân khiến bức xúc của người dân không những không được giải quyết mà còn bị đẩy lên cao, trở thành điểm nóng.

Ở một góc độ khác, chính vì mắc “bệnh xa dân” nên có những cán bộ chỉ nắm được tình hình qua báo cáo. Mà chất lượng báo cáo thì không phải ở đâu, chỗ nào cũng đúng, cũng thực chất. Tình trạng “tô hồng” báo cáo là một “trọng bệnh” với đa số ưu điểm, thành tích mà lảng tránh khuyết điểm, yếu kém.  

2. Trở lại với nguyên lý gốc về người cán bộ và nhân dân thì mối quan hệ này như thế nào trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hay cụ thể nhất là Nhà nước ta? Cán bộ thực chất là những thủ lĩnh của nhân dân trong mối quan hệ công nhân-nông dân-trí thức và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước bền chặt. Nguyên nghĩa đó là những hạt nhân tinh túy trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các giai tầng khác để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp.

Vì là những hạt nhân tinh túy nhất nên dĩ nhiên họ xuất phát từ chính những người dân, từ nhân dân mà ra, qua quá trình lăn lộn trong đấu tranh, lao động mà trưởng thành. Đắm mình trong thực tiễn, họ đã xuất sắc hơn so với đại đa số quần chúng, cả về tài năng, trí tuệ và đặc biệt là phẩm chất đạo đức tốt đẹp (đạo đức cách mạng). Họ trở thành thủ lĩnh để dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng. Nhưng mục đích lớn nhất đó là dẫn dắt quần chúng làm cách mạng, phục vụ cách mạng chứ không phải là những người làm quan phát tài, ăn trên ngồi trốc. Cần thiết phải nói rõ ngọn nguồn như vậy để hiểu sâu sắc người cán bộ là ai, họ đứng ở vị trí nào và phải làm gì cho nhân dân.

Soi điều đó vào thực tiễn, trong suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã có biết bao thế hệ cán bộ thực sự là của nhân dân, vì nhân dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng. Họ lớn lên trong cách mạng, vào sống ra chết vì cách mạng, vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chính nhân dân đã rèn luyện, đào tạo cán bộ, từ phẩm chất, bản lĩnh đến ý chí, hành động. Trong suốt quá trình thực tiễn lịch sử đất nước càng thấm thía điều đó. Ai từng một lần đặt chân đến di tích Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo hay nhiều nhà tù khác mới hiểu hết tấm lòng kiên trung vì nước, vì dân của những chiến sĩ cách mạng trong sự nghiệp cao cả của dân tộc. Họ là những cán bộ, đảng viên của dân tộc, của nhân dân. Trong số hàng vạn chiến sĩ cách mạng ấy, đã có nhiều người sau này trở thành cán bộ chủ chốt, giữ các cương vị cấp cao của đất nước nhưng họ vẫn giữ mãi những phẩm chất cao quý, thanh liêm đó. Họ đã được dân tin, dân quý, dân chở che, bảo vệ.

Ngày nay, trên thực tế, rất nhiều cán bộ, từ Trung ương đến cơ sở vẫn nỗ lực để lo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp, nhất là lo cho người dân trong thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội. Hình ảnh những cán bộ luôn hết lòng vì dân, từ suy nghĩ đến việc làm rất đáng trân trọng. Những mô hình như “ngày cuối tuần cùng dân” khởi đầu từ huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) qua thực tiễn 4 năm, giờ đã được nhiều địa phương hưởng ứng bởi tính hiệu quả gần dân của nó. Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt kể về việc cán bộ gần dân, vì dân, giúp dân, dân giúp, xuất hiện thường xuyên trên mặt báo thật đáng quý.

Người cán bộ khi đó không chỉ tạo sự gần gũi, gắn kết giữa người dân với chính quyền, với tổ chức mà điều quan trọng nhất là việc này đã giúp đội ngũ cán bộ được nghe, tiếp nhận được thông tin đúc rút từ thực tiễn để tham mưu, ban hành các chủ trương, chính sách đúng, tháo gỡ được vướng mắc, khó khăn từ cơ sở. Suy cho cùng, việc cán bộ phải vì dân vẫn luôn là bài học lớn và rất sâu sắc, đúng như tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

3. Đã có rất nhiều cảnh báo, phân tích về hệ lụy ghê gớm của “bệnh xa dân”, một biểu hiện rõ nét nhất của tệ quan liêu nếu mỗi cán bộ, đảng viên không thực tâm rèn luyện. Chính vì xa dân, không được nghe và không chịu nghe những ý kiến từ đời sống khiến cán bộ mắc thói quan liêu, cửa quyền. Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người cũng lớn lên từ đó, là căn nguyên khiến cán bộ hư hỏng.

Lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và nhân dân thế giới V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Toàn bộ công việc của tất cả cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết vì bệnh quan liêu. Nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng, giáo dục cán bộ công quyền phải trọng dân, gần dân, vì dân mới làm được cách mạng và đó mới là mục đích của cách mạng. Ngay từ những ngày đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cách mạng, Bác đã nhiều lần nhấn mạnh: “Có dân là có tất cả”. Trong cuộc đời mình, Người đã dành nhiều thời gian đi cơ sở, thăm nhân dân, cán bộ, công nhân, người lao động. Trong những lần đến, Bác rất chú ý thăm đồng bãi, công trường, nhà ăn, nơi ngủ nghỉ của công nhân, người lao động. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 10 năm, từ năm 1955 đến 1965, Bác đã về địa phương, cơ sở, đến với nhân dân hơn 700 lần. Những chuyến đi của Bác thường không được báo trước, gọn nhẹ, không gây tốn kém, lãng phí cho cơ sở. Nhiều lần Người còn mang cơm nắm đi, ăn cùng cảnh vệ cho đỡ phiền phức địa phương và đặc biệt là tác phong giản dị, không bao giờ quan cách.

Để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng và hành động, đặc biệt chống thái độ thờ ơ, vô cảm, quan liêu, “bệnh xa dân”, cùng với từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp của cả hệ thống chính trị, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị trong vấn đề này. Điển hình là Quy định số 11-QĐi/TW “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân” được Bộ Chính trị khóa XII ban hành. Quy định này đã yêu cầu đội ngũ bí thư, cấp ủy và rộng hơn là mỗi cán bộ phải khắc phục biểu hiện thiếu sâu sát thực tế cơ sở, xa dân; cần coi việc gần dân, công tác tiếp dân, giải quyết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên. Trung ương chỉ rõ 1 trong 27 biểu hiện suy thoái đó là “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Nhìn nhận từ lý luận gốc đến thực tiễn sự vận động phát triển trong xã hội ngày nay, càng thấy vấn đề “gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân” là cốt tử của mỗi người cán bộ, đảng viên trong cơ quan công quyền. Cán bộ mà quan liêu, xa dân thì chỉ có hại cho dân, cho nước và hại cho chính họ. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

NGUYỄN HÀ MY

“Bệnh xa rời thực tiễn” của cán bộ, đảng viên

 Biểu hiện của “căn bệnh xa rời thực tiễn"

Trước hết, đó là bệnh lười học tập để nâng cao năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn luôn vận động không ngừng, trong khi một bộ phận cán bộ, đảng viên lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin, hiểu biết mới; không có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập, công tác. Những biểu hiện chính của bệnh lười học tập lý luận chính trị là: Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Thứ hai, không xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ, đảng viên: Phải nghiên cứu thực tế, kinh nghiệm thực tiễn, để qua đó “tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo”, có nghĩa là mọi suy nghĩ, hành động phải xuất phát, hình thành từ yêu cầu của thực tiễn, qua quá trình quan sát, lắng nghe, suy nghĩ, hành động thực tế để có được nhận thức, tư duy lý luận, từ đó định hướng hành động thực tiễn của người tổ chức, lãnh đạo, quản lý. Thực tế hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên rất “máy móc” trong cả lời nói lẫn việc làm, đi đến đâu cũng chỉ một “bài phát biểu” gần như thuộc lòng mà không để ý đến thực tế địa phương, cơ quan, đơn vị đó như thế nào, có đặc điểm gì... Từ đó, nói toàn những lời “sáo rỗng”, nói kiểu “trên trời”, không ăn nhập gì với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn.

Thứ ba, bệnh giáo điều lý luận. Nó xuất hiện dưới dạng “hàn lâm”, “kinh viện”, coi trọng sách vở (đến mức lạm dụng, sùng bái) sách vở, “kinh điển”. Đọc quá nhiều sách nhưng không “tiêu hóa” được sách hoặc đọc không đến nơi đến chốn... dẫn đến một hình thức cực đoan trong tư duy, trích dẫn thay thế cho suy nghĩ, cho lập luận logic, làm cho lý luận biến thành “màu xám”, không có sức sống, xa rời thực tiễn, không giúp ích gì trong việc lý giải, chỉ đạo thực tiễn. Từ đó, xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.

Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Như đồng chí giám đốc trung tâm chia sẻ: Thực tế, có giảng viên khi lên lớp giảng bài, học viên không biết giảng viên đang trình bày vấn đề đó nhằm mục đích gì cho bài giảng. Toàn những câu trích “kinh điển” mà nhiều khi không liên quan đến bài giảng, không phản ánh gì thực tiễn cuộc sống.

Nguyên nhân của “căn bệnh xa rời thực tiễn”

Bệnh xa rời thực tiễn bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là từ chính cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên.

Về khách quan: Công tác cán bộ ở một số địa phương, ban, ngành, cơ quan, đơn vị còn những bất cập nhất định; chủ trương, chính sách đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, sử dụng, luân chuyển cán bộ còn hạn chế... dẫn đến việc bổ nhiệm người không đúng, không tương xứng, không phù hợp về trình độ, năng lực, sở trường với cương vị, chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm...; việc quy định một số tiêu chí cán bộ chưa phù hợp, nặng về hình thức, chưa có sự nhất quán trong tổ chức triển khai thực hiện; quản lý chưa chặt chẽ, nhiều “kẽ hở” để cán bộ, đảng viên có thể lách qua hoặc trì hoãn nhiệm vụ. Việc giải quyết hài hòa giữa luân chuyển cán bộ với đào tạo, sử dụng nguồn cán bộ tại chỗ và gắn với chức danh quy hoạch còn bất cập, hiệu quả chưa cao.

Về chủ quan: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa lý luận. Một bộ phận, trong quá trình công tác lười quan sát, ít lắng nghe, thiếu sự phân tích, đánh giá thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, từ đó không nâng cao được trình độ lý luận, không đổi mới tư duy, rơi vào giáo điều, lý thuyết suông, lý luận không gắn với thực tiễn, nếu có cũng chỉ là những kinh nghiệm vụn vặt; một bộ phận cán bộ, đảng viên lười đi thâm nhập thực tế, sợ luân chuyển. Nếu phải đi thì có tư tưởng “cầu an”, thiếu ý chí phấn đấu, ngại va chạm... vì nghĩ rằng đi thực tế chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”, đi luân chuyển để được đề bạt lên chức vụ cao hơn nên thiếu sâu sát thực tiễn, thiếu quyết liệt trong công tác, cố “giữ mình” để “chờ ngày về”. Vì vậy, chất lượng cán bộ sau khi đi thực tế, luân chuyển không đạt được yêu cầu như kỳ vọng...

Khắc phục “căn bệnh xa rời thực tiễn” bằng cách nào?

Để khắc phục “căn bệnh xa rời thực tiễn” của cán bộ, đảng viên hiện nay cần quán triệt, học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Hồ Chí Minh một cách quyết liệt, hiệu quả.

Trước hết, cán bộ, đảng viên cần thay đổi nhận thức về việc giảng dạy, học tập lý luận; tăng tính thực tiễn trong giảng dạy, học tập lý luận. Công tác giảng dạy lý luận phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, không phải dạy cái giảng viên có mà dạy cái xã hội, con người, đời sống đang cần, Đảng cần, Nhà nước cần, nhân dân cần. Nghĩa là phải tăng tính thực tiễn trong từng bài giảng, giờ giảng và trong cả quá trình truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn đến người học. Ngược lại, người học phải hết sức nghiêm túc trong học tập, tiếp thu kiến thức lý luận trên cơ sở hiểu biết và bám sát thực tiễn.

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để “đủ tiêu chí”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo thực tiễn bằng lý luận.

Học tập lý luận cần chú trọng lý luận chính trị, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, không phải kiểu học thuộc lòng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán đó là cách học sách vở Mác-Lênin nhưng không học tinh thần Mác-Lênin. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin là phải học tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng giải quyết tốt những vấn đề trong thực tế học tập, công tác, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh xa rời thực tiễn.

Thứ hai, vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác. Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, lý giải thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác đặt ra, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ rơi vào giáo điều lý luận.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác: Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tích thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Thứ tư, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác luân chuyển cán bộ, đưa cán bộ, đảng viên thâm nhập, khảo sát thực tế địa phương, cơ sở. Đây được xem như là công đoạn tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thực tế; thông qua đó giúp cán bộ có điều kiện, môi trường rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành, phát triển nhanh và toàn diện hơn. Đây cũng là một bước tiến mang tính đột phát trong công tác cán bộ của Đảng nhằm thử thách và đào tạo ra những cán bộ nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm gắn với thực tiễn ở cơ sở. Việc sâu sát, gắn bó, lăn lộn với cơ sở sẽ giúp cán bộ tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cũng như tổng kết thực tiễn để nâng tầm thành lý luận trong xây dựng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để phát triển một địa phương, một cơ quan, đơn vị... sát, đúng yêu cầu của thực tiễn.

“Xa rời thực tiễn” là “căn bệnh” rất nguy hiểm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Không khó để nhận biết, nhưng để khắc phục triệt để căn bệnh này không phải là việc đơn giản, ngày một ngày hai mà phải trải qua một quá trình với sự vào cuộc của nhiều chủ thể, lực lượng, tổ chức và chính ý thức chủ quan mỗi cán bộ, đảng viên.

NGÂN HOA


Không thể, không dám, không cần... tham nhũng

 Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách phòng, chống tham nhũng, đặc biệt chú trọng cơ chế phòng ngừa theo phương châm "không thể, không dám, không cần... tham nhũng", tiếp thu ý kiến phản biện, xây dựng của báo chí và của các tầng lớp nhân dân về vấn đề này thông qua báo chí. Nhà báo Hồ Quang Lợi, Phó chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nêu kiến nghị trên tại Hội thảo khoa học “Báo chí, dư luận xã hội và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay” do Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức sáng 22-6.


Phản bác luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

 

Tham nhũng xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham nhũng là căn bệnh phức tạp, hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở các quốc gia với các chế độ xã hội khác nhau. Vì lẽ đó, đấu tranh chống tham nhũng được nhiều nước quan tâm, thực hiện quyết liệt với các hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt. Song, đây cũng là quá trình khó khăn, lâu dài và gian nan, không thể nôn nóng. Từ thực trạng tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới; sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, khẳng định rõ Việt Nam đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển đất nước, vừa là cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

Một quyết tâm chính trị không thể phủ nhận, xuyên tạc
Công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở. Phương châm PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Quyết tâm đấu tranh PCTN, tiêu cực được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Muốn vậy cần “triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN... Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”. Và yêu cầu phải “nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị-xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh PCTN... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã có hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, 300 bộ luật và hơn 2.000 văn bản từ Chính phủ đề cập tới chống tham nhũng.Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh PCTN, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới đã chỉ rõ: Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII)... Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ngày 19-6-2023, tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục chỉ rõ: Đây là một hội nghị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và quyết tâm cao của chúng ta trong công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương. Những kết quả bước đầu sau một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh cho thấy quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh PCTN, tiêu cực không phải như lời lẽ suy diễn, đầy hằn học, mưu toan chống phá của các thế lực thù địch.

Sự chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp 

 Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với những nhận định và kết luận vô căn cứ mang tính xuyên tạc, kích động, gây tâm lý bất ổn trong nhân dân; sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, tiêu cực nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chúng dẫn dắt dư luận, gây tâm lý hoài nghi, dao động, tạo cớ, kích động và tạo sự đối lập, bất ổn từ bên trong và xa hơn là phá hoại, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (XHCN) ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch tung ra luận điệu, tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”; một đảng không thể chống được tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra, rồi đi đến quy chụp tham nhũng là “do chế độ độc đảng cầm quyền”. Chúng suy diễn rằng, còn Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo thì còn tham nhũng và ngày càng táo tợn, trầm trọng hơn. Rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; là sự phân chia quyền lực, là các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền...

Chúng còn lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là mị dân; càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng gia tăng vì không có dân chủ; căn nguyên của tham nhũng là do Đảng đứng trên pháp luật... Từ đó, chúng kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải thực hiện “xã hội dân sự”.

Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã thảo luận Đề án thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về PCTN, tiêu cực. Đề án cũng được triển khai lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực. “Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh”(1). Sau một năm đi vào hoạt động đã khẳng định chủ trương đúng và tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là giả tạo và không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân. Rằng, thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực cho thấy sự kém hiệu quả của công tác chống tham nhũng. Những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, sự bịa đặt thiển cận và gán ghép, quy chụp trên nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng của nhân dân ta; phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo và quyết tâm PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp

 Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Đại tá, PGS, TS  HOÀNG VĂN PHAI, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự, Học viện Chính trị