Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

BỔ SUNG, HOÀN THIỆN CÁC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHÙ HỢP VỚI GIAI ĐOẠN MỚI

 Đạo đức nói chung là một phẩm chất cao quý nhất của con người, nói rộng ra là của xã hội loài người, kể từ thời cộng sản nguyên thủy, thời nô lệ, đến thời phong kiến, thời tư bản chủ nghĩa và thời xã hội chủ nghĩa ngày nay. Tất nhiên, nội hàm của chuẩn mực đạo đức qua các thời kỳ tuy có điểm tương đồng, nhưng không phải không có nhiều khác biệt.

Trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn đặc biệt coi trọng việc xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “sống, chiến đấu cho lý tưởng cộng sản là phẩm chất cách mạng hàng đầu của người cộng sản; tiếp theo là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết quốc tế, đấu tranh đến cùng cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản". “Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã xác định 10 chuẩn mực đạo đức cách mạng cơ bản của cán bộ, đảng viên, trong đó, 3 chuẩn mực đầu tiên là: (1) Tuyệt đối trung thành với Đảng, hy sinh quên mình vì chủ nghĩa xã hội; (2) Giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và đoàn kết quốc tế; (3) Tận tụy, hết lòng với công việc, không tham ô, hối lộ. V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “Khiêm tốn, không kiêu ngạo cộng sản”. “Không tự cao, tự đại”.
Vì sao? Vì, theo V.I.Lênin, trong bối cảnh cách mạng Nga thời bấy giờ, tính kiêu ngạo cộng sản thực sự là “kẻ thù nội xâm” đầu tiên mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt. Lênin nói: “Không có gì nguy hại và tai hại đối với chủ nghĩa cộng sản bằng thói lên mặt ta đây là cộng sản - Tự ta ta thu xếp được”. “Chỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản, đó là một tư tưởng hết sức ngây thơ. Những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân... Họ chỉ có thể lãnh đạo nhân dân đi theo con đường của mình với điều kiện là họ vạch ra được con đường đó cho đúng, không những chỉ đúng theo hướng đi của lịch sử thế giới mà thôi”.
Với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ vô vàn kính yêu của toàn Đảng, toàn dân ta, vừa là lãnh tụ tối cao anh minh, ngọn cờ chính trị, tư tưởng kiệt xuất, vừa là tấm gương ngời sáng của đạo đức cách mạng. Người từng nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”
Bác Hồ còn chỉ rõ: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:
Nhận rõ phải trái. Giữ vững lập trường.
Tận trung với nước. Tận hiếu với dân.
Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không.
Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung của chúng ta”.
Rất đúng khi nói rằng, chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Các chuẩn mực này được Bác khẳng định trong nhiều tác phẩm, nhiều bài nói, bài viết trong những bối cảnh khác nhau, bao gồm những chuẩn mực cơ bản sau:
(1) Suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên hết, trước hết;
(2) Trung với nước, hiếu với dân;
(3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
(4) Nhân, Nghĩa, Dũng, Trí, Tín;
(5) Thương yêu con người, sống có tình nghĩa;
(6) Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất;
(7) Kỷ luật nghiêm minh;
(😎 Tinh thần quốc tế trong sáng;
(9) Chống chủ nghĩa cá nhân;
(10) Học tập suốt đời.
Mỗi chuẩn mực cơ bản ấy đều được Bác trình bày, diễn giải một cách mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu, bình dị nhưng rất sâu sắc, dễ đi vào lòng người. Thí dụ: Về chống chủ nghĩa cá nhân, Bác nói: “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng... Chủ nghĩa cá nhân sinh ra nhiều bệnh, phạm nhiều sai lầm khuyết điểm. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. “Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.”
Về chuẩn mực “Học tập suốt đời”, Bác chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng... Cán bộ, đảng viên phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt nhiệm vụ. Học để làm việc. Học để làm người. Học để làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể. Học để phụng sự giai cấp và nhân dân. Học để phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Và “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Theo Bác, “Đạo đức cách mạng không phải tự trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ, hàng ngày mà phát triển và củng cố.”
*****
Những trích dẫn tôi nêu ra trên đây phần lớn đều lấy từ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác viết năm 1947. 76 năm đã trôi qua, nhưng những gì Bác nói về đạo đức cách mạng nói chung và chuẩn mực đạo đức cách mạng nói cụ thể, đến nay, vẫn còn nguyên giá trị. Dẫu sao, như Bác từng nói: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của người cũng biến hóa. Vì vậy mà cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa.”
Phải chăng đây là lý do quan trọng hàng đầu để chúng ta lựa chọn chủ đề của Hội thảo quốc gia này là: “Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới?” Giai đoạn mới nói ở đây được hiểu là giai đoạn từ Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) trở đi.
Về nhiệm vụ xây dựng Đảng, Đại hội nêu lên hai điều cần tập trung là: (1) Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu.
Về xây dựng Đảng về đạo đức, Đại hội chủ trương: Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công tác hằng ngày.
Về bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, Ban Tuyên giáo Trung ương đề xuất hai phương án.
🔸️ Phương án 1: Nêu các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đồng thời xác định các thành tố tạo thành nội hàm, tiêu chuẩn của từng chuẩn mực. Đó là:
(1) Trung thành với Đảng, với nước;
(2) Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân;
(3) Bản lĩnh, kiên định, tận tụy, sáng tạo;
(4) Dân chủ, kỷ cương;
(5) Tự cường, kiên quyết;
(6) Nghĩa tình, đoàn kết;
(7) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
(😎 Tiên phong, gương mẫu;
(9) Học tập, rèn luyện suốt đời.
🔸️ Phương án 2: Quy định của Đảng, chỉ nêu các chuẩn mực, bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thuộc. Thành tố của các chuẩn mực nêu trong văn bản hướng dẫn để xác định rõ nội hàm, bảo đảm dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá. Cụ thể:
(1) Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân;
(2) Tận tụy với công việc, nhân nghĩa với người;
(3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
(4) Giữ gìn danh dự, đoàn kết, kỷ cương;
(5) Bản lĩnh, kiên định, trí, dũng, tự cường;
(6) Trách nhiệm, trung thực, tiền phong, kiên quyết;
(7) Tu dưỡng, nêu gương, tự soi, tự sửa;
(😎 Nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống;
(9) Không ngừng học tập, suốt đời phấn đấu.
Theo tôi, cả hai phương án nêu trên đều tốt. Mỗi phương án đều có mặt mạnh và mặt cần bổ khuyết.
Tôi đồng tình với Ban Tuyên giáo Trung ương kiến nghị Bộ Chính trị ban hành “Quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” theo một trong hai phương án nêu trên, làm chuẩn mực chung để các ban, bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa.
Tin rằng “Quy định” này nếu được sớm ban hành sẽ là một luồng gió mới thổi mạnh vào phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đang phát triển và ngày càng có chiều hướng phát triển hơn nữa./.
ST

GÓC KHUẤT CỦA GIA ĐÌNH QUÂN NHÂN

 

Thời chiến tranh, nhiều bộ đội đã từng “nuôi con bằng kẹo, nuôi vợ bằng thư”. Đến thời bình, dù đời sống của nhân dân nói chung đã được cải thiện rõ rệt, nhưng nhiều gia đình quân nhân vẫn còn khó khăn. Đặc biệt, còn có những góc khuất ít người biết đến.
Từ những câu chuyện buồn...
“Anh ơi, em lại bị vợ bỏ rồi”-H., cậu em cùng quê, công tác ở Quân khu 1 cuối tuần qua gọi điện thông báo với tôi một tin buồn như vậy. H. là cán bộ đại đội, đóng quân ở một huyện miền núi, xa quê hương đến hơn 200km. Người vợ đầu tiên của H. là cô bạn cùng học phổ thông, làm việc ở doanh nghiệp gần nhà.
Hồi mới cưới, gia đình H. rất phấn khởi vì có cô con dâu vừa ngoan, vừa hiền. Thế nhưng gần 5 năm sau khi kết hôn, cô con dâu vẫn chưa sinh nở vì thời gian hai vợ chồng ở bên nhau rất ít. Đã vậy, tiền lương chồng gửi về chẳng đáng là bao. Cô con dâu vừa phải chăm sóc bố mẹ già, vừa phải chịu tiếng là “không biết đẻ” nên chán nản xin ly hôn.
Người vợ thứ hai của H. là một cô gái gần đơn vị. Bố mẹ cô ấy thương chàng sĩ quan không có nhà ở nên đã cho ở rể. “Do nhiệm vụ quản lý chiến sĩ nên có khi hằng tháng trời, em mới được về thăm vợ một ngày cuối tuần. Lấy nhau hơn 3 năm mà vẫn chưa có con. Đi khám bệnh, bác sĩ nói cả hai đều bình thường. Lương đại úy sau khi trừ tiền ăn, tiền gửi về cho bố mẹ, tiền chi tiêu cá nhân, mỗi tháng em cũng chỉ đưa cho vợ trên dưới vài triệu đồng. Có lẽ vì thế mà vợ em bỏ”-H. nói với tôi nghẹn ngào trong điện thoại.
Trong toàn quân, sĩ quan bị vợ bỏ như H. không phải hiếm. Điều đáng lo ngại hơn là tình trạng nam quân nhân tuổi ngoài 30 vẫn chưa lấy được vợ đang có chiều hướng gia tăng. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội ở các đơn vị đủ quân có rất ít thời gian để giao lưu với người khác giới. Trong khi cuộc sống ngoài doanh trại luôn sôi động, các cô gái thời nay rất khó chấp nhận người yêu mà cả năm trời không gặp mặt.
Một trợ lý chính trị của trung đoàn thuộc Quân đoàn 3, đóng quân ở Tây Nguyên, có vợ ở Thái Bình tâm sự với tôi: “Đơn vị cho đi tranh thủ em cũng không dám đi vì tiền lương tích cóp không đủ để mua vé máy bay, tiền mua quà về quê và “quà quê” khi trở lại đơn vị. Mỗi năm em chỉ dám nghỉ phép một lần...”.
... đến những chính sách cần được sửa đổi
Gia đình quân nhân có những đặc điểm chung của gia đình Việt Nam nhưng cũng có những đặc điểm riêng do có những thành viên là quân nhân. Trước hết là cường độ, thời gian lao động, bám nắm đơn vị của quân nhân nhiều hơn lao động bình thường, nhất là cán bộ cơ sở ở các đơn vị bộ đội chủ lực.
Họ dường như không có thời gian dành cho gia đình do phải thường xuyên làm nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, công tác xa nhà. Gánh nặng gia đình thường đổ lên vai người vợ có chồng là bộ đội. Nhất là trong những đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, có cán bộ quân đội 6 tháng trời chưa được về thăm gia đình, vợ con.
Thực tế, thời gian qua, có rất nhiều tấm gương sáng của gia đình quân nhân hạnh phúc, nuôi dạy con tốt. Nhiều cháu học sinh có bố hoặc mẹ là bộ đội đã giành thứ hạng cao trong các kỳ thi học sinh giỏi trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có không ít gia đình quân nhân có hoàn cảnh khó khăn cả về kinh tế và lĩnh vực tình cảm tinh thần.
Những năm qua, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với quân đội và hậu phương quân đội đã có nhiều thay đổi, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội và gia đình quân nhân. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của xã hội thì chính sách xã hội đối với quân đội và gia đình quân nhân vẫn còn những bất cập.
Trong điều kiện thời bình, với cơ cấu và cơ chế kinh tế mới, đã xuất hiện sự so bì về đời sống của cán bộ, chiến sĩ, hậu phương quân đội và các lĩnh vực kinh tế-xã hội, vì vậy, rất cần việc rà soát lại các chính sách đối quân đội và hậu phương quân đội.
Trước mắt, cần nghiên cứu, đề xuất ban hành và triển khai thực hiện chặt chẽ, đầy đủ các chế độ, chính sách theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự, nhất là các chính sách về tiền lương, chính sách về nhà ở, đất ở, xây dựng nhà công vụ đối với cán bộ quân đội...
Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với một số loại hình đơn vị sự nghiệp quân đội. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội theo hướng bảo đảm quyền lợi tối đa cho các đối tượng tham gia và thực hiện tốt vai trò “trụ cột” của chính sách an sinh xã hội. Đã đến lúc cần ban hành các chính sách đặc thù có tính đột phá đối với các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ có yêu cầu đặc thù cao; lực lượng làm nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo...
Từng bước nghiên cứu, đề xuất chính sách đột phá, góp phần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trong quân đội. Nghiên cứu, triển khai lồng ghép các chính sách xã hội, chính sách bảo trợ xã hội đối với gia đình quân nhân./.
ST

Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định !

 

Với mục tiêu xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định, vì lợi ích lâu dài của nhân dân 2 nước, công tác phân giới, cắm mốc trên địa bàn tỉnh Long An tiếp tục được thực hiện quyết liệt để có thể hoàn thành trong thời gian sớm nhất.
Đạt nhiều kết quả nổi bật
Long An có đường biên giới dài gần 135km, qua 6 huyện, thị xã và tiếp giáp 2 tỉnh Svay Rieng, Prey Veng, Vương quốc Campuchia. Trong đó, biên giới trên đất liền dài trên 92km, biên giới trên sông dài gần 42,1km.
Thông tin từ Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BP) tỉnh, đến nay, 2 bên đã phân giới được khoảng 87,186km. Trong đó, biên giới trên đất liền 44,306km, biên giới trên sông 42,880km. Công tác cắm mốc, 2 bên xác định 51 vị trí với 57 cột mốc (trong đó có 6 mốc đôi), đã thi công hoàn thành được 38 vị trí với 42 mốc (34 mốc đơn, 4 mốc đôi), còn tồn đọng 13 vị trí với 15 cột mốc; đã hoàn thành việc xác định, xây dựng 72 vị trí với 110 cột mốc phụ (6 vị trí mốc 3, 26 vị trí mốc đôi, 40 vị trí mốc đơn).
Công tác phân giới, cắm mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm xác lập đường biên giới giữa 2 nước. Tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa sẽ giúp 2 bên có đầy đủ cơ sở để nhận biết đường biên giới, phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ. Hoàn thành việc phân giới, cắm mốc tiếp tục góp phần giữ gìn, củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa 2 nước; giữ vững an ninh quốc gia, an ninh chính trị, phát triển KT-XH và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân khu vực biên giới.
Chung tay bảo vệ biên giới
Thời gian qua, an ninh biên giới được giữ vững, công tác phối hợp giữa các lực lượng của ta và bạn diễn ra tốt đẹp, an ninh, trật tự trên tuyến biên giới được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Campuchia và người dân 2 bên biên giới.
Quản lý đoạn biên giới dài trên 18,5km qua địa bàn xã Thạnh Trị, thị xã Kiến Tường và xã Bình Hòa Tây, huyện Mộc Hóa, quản lý, bảo vệ 2 cột mốt chính (202, 203), 7 cột mốc phụ, thời gian qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn BP Thạnh Trị phát huy tinh thần đoàn kết, nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt công tác bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, bảo vệ an toàn, nguyên vẹn các cột mốc trên địa bàn quản lý.
Trung tá Nguyễn Văn Nghĩa - Đồn trưởng Đồn BP Thạnh Trị, cho biết: "Thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự, Đồn thường xuyên tham mưu, phối hợp cấp ủy Đảng, chính quyền nơi đóng quân làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hiệp ước, hiệp định, Luật BP Việt Nam, quy chế bảo vệ biên giới,...".
Ông Lương Văn Mười (xã Thạnh Trị, thị xã Kiến Tường) chia sẻ: “Nhờ được tuyên truyền, người dân hiểu và có ý thức tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Người dân chúng tôi chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chung tay bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự trên khu vực biên giới".
Đồn BP Bến Phố quản lý, bảo vệ đường biên giới dài trên 21,7km qua địa bàn xã Hưng Điền A và Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng. Theo Thiếu tá Trần Văn Quân - Đồn trưởng Đồn BP Bến Phố, thời gian qua, Đồn thường xuyên phối hợp lực lượng bảo vệ biên giới của nước bạn Campuchia và các lực lượng đứng chân trên địa bàn tuần tra, kiểm soát đường biên, cột mốc,... Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong việc chấp hành tốt các quy chế về biên giới và tham gia, phối hợp lực lượng bộ đội BP giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Bên cạnh đó, công tác đối ngoại BP, đối ngoại nhân dân được quan tâm, duy trì hiệu quả; thường xuyên củng cố, phát triển tinh thần đoàn kết, hữu nghị người dân 2 bên biên giới, tạo điều kiện cho người dân 2 bên qua lại thăm thân, trao đổi hàng hóa, khám, chữa bệnh; duy trì tốt phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh, trật tự xóm, ấp khu vực biên giới”, mô hình Tiếng kẻng vùng biên;.../.
ST

Nghĩa tình đồng đội, quân dân keo sơn

 Sáng tinh mơ, khi chúng tôi cùng cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Đặc công Hải quân 126, Quân chủng Hải quân đặt chân lên huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, lãnh đạo huyện và các ban, ngành đã chờ đón, thăm hỏi và sắp xếp nơi ăn, ở cho bộ đội.

Sau những ngày thực hiện nhiệm vụ, Lữ đoàn chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức đoàn thể xây dựng kế hoạch giúp dân bằng những việc làm thiết thực. Chúng tôi tham quan một buổi huấn luyện bơi trong lòng hồ của huyện đảo, Đại úy QNCN Nguyễn Ngọc Tứ, Đại đội 8, Lữ đoàn Đặc công Hải quân 126 vừa thực hành, vừa giới thiệu các động tác tập bơi: Hai chân co lại và mở rộng sang hai bên, lòng bàn chân hướng ra bên ngoài như tư thế chân của loài ếch. Tiếp đó đạp mạnh chân sang hai bên rồi khép hai chân thật nhanh đồng thời duỗi thẳng như lúc ban đầu... Rồi các khẩu lệnh hô ngắn gọn thành tên các động tác liên hoàn: Co-bẻ-khép... cứ thế liên tục, các học viên nhí hăng say luyện tập, thực hiện động tác mỗi lúc một dễ dàng hơn.
Chị Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Lý Sơn chia sẻ: “Đây là năm đầu tiên chúng tôi phối hợp với Đoàn cơ sở Lữ đoàn Đặc công Hải quân 126 tổ chức huấn luyện bơi cho thiếu nhi trên địa bàn huyện. Mặc dù số lượng thiếu nhi huấn luyện bơi chưa nhiều song đây là dịp để chúng tôi triển khai mô hình huấn luyện bơi cho trẻ em tới các chi hội trên địa bàn, góp phần giảm thiểu nguy cơ đuối nước cho trẻ em".
Huyện đảo Lý Sơn đang vào mùa du lịch nên vấn đề làm đẹp cảnh quan môi trường được chính quyền huyện đảo quan tâm, không quản ngại khó khăn, thời tiết nắng nóng, hơn 40 cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn phối hợp với đoàn viên, thanh niên địa phương thu gom, phân loại và xử lý hàng tấn rác thải các loại, làm sạch khu vực bãi biển với diện tích gần 12.000m2. Chiến sĩ Nguyễn Văn Phú, Trung đội 2, Đại đội 8 đang đều tay thu gom những chiếc túi nilon vào bao tải, rồi dùng xẻng xúc rác cho đồng đội chuyển đến nơi quy định với tâm trạng phấn khởi. Nguyễn Văn Phú cho biết: “Được tham gia lao động giúp dân, tôi rất vui bởi đây là khu du lịch có nhiều cảnh đẹp, bà con, cô bác quý mến bộ đội như người thân. Những đợt lao động giúp dân như thế này là kỷ niệm đáng nhớ trong đời quân ngũ của tôi”.
Cũng trong chuỗi hoạt động hướng tới kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, Lữ đoàn Đặc công Hải quân 126 phối hợp với Ban CHQS huyện và Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Lý Sơn tổ chức thăm, tặng quà 4 gia đình chính sách tiêu biểu trên địa bàn; tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị dâng hương, dâng hoa nghĩa trang liệt sĩ ở địa phương. Đồng chí Phạm Thị Hương, Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn cho biết: “Đợt công tác này, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn để lại ấn tượng rất tốt đẹp với cán bộ và nhân dân huyện nhà. Các anh chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận, không chỉ qua những hoạt động chung với các tổ chức của địa phương mà ngay cả việc tiếp xúc với nhân dân cũng làm rất tốt; đúng như tiêu chí của người chiến sĩ đặc công hải quân “Nghĩa tình đồng đội, quân dân keo sơn”./.
ST

KẾT NỐI VĂN HÓA ĐỌC: LẮNG ĐỌNG “NHỮNG KHOẢNH KHẮC CỦA THỜI GIAN”

 Cuộc đời mỗi người vốn dĩ đã là những khoảnh khắc đáng nhớ, đáng trân trọng. Với Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu-một vị tướng có cuộc đời binh nghiệp phong phú và sôi nổi, cuộc sống giản dị mà ân tình thì đó còn là những thước phim sinh động, quý giá còn mãi với thời gian.

Cuốn sách ảnh “Những khoảnh khắc của thời gian” của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2022) mang đến những xúc cảm và giá trị lay động bạn đọc như thế.
Cuốn sách ảnh được lựa chọn từ hơn 17.000 ảnh tư liệu của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu để biên soạn thành 204 trang sách ảnh khổ 26x25cm. Hình thức cuốn sách ảnh được thiết kế sáng tạo như thước phim quay chậm qua những lát cắt thời gian trôi chảy.
“Những khoảnh khắc của thời gian” gồm 6 phần, khái quát những chặng đường trong quá trình hoạt động, công tác của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Cụ thể, Phần 1: Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội với Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu; Phần 2: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu-Một thời Quảng Trị và Chiến dịch Hồ Chí Minh, với cuộc gặp má Sáu Ngẫu; Phần 3: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 390 và Tư lệnh Quân đoàn 1; Phần 4: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu làm việc tại Bộ Tổng Tham mưu-Tổng hành dinh và kỷ niệm với bạn bè quốc tế; Phần 5: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu với đồng đội và bạn bè; Phần 6: Những khoảnh khắc đời thường của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cùng gia đình. Cuốn sách ảnh như công trình nghiên cứu bằng hình ảnh tổng kết cuộc đời phong phú và ân tình với quê hương, đất nước, Quân đội, gia đình, đồng đội và bạn bè quốc tế của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu.
Cuốn sách ảnh khắc họa những chặng đường lịch sử khó khăn, gian khổ mà vinh quang trong đời binh nghiệp của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ khi 18 tuổi, ông trực tiếp có mặt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (năm 1968), Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (năm 1971), Chiến dịch Quảng Trị (năm 1972) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (năm 1975). Tháng 12-1973, ông được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuốn sách cũng có những khoảnh khắc lắng đọng, xúc động khi tái hiện hình ảnh Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu, Chính ủy Trịnh Văn Thư cùng cán bộ tác chiến và tổ trinh sát Trung đoàn 27 bắt liên lạc được với gia đình má Huỳnh Thị Sáu tại xã An Thạnh. Má Sáu rất mừng, vào buồng lấy tấm bản đồ đô thành Sài Gòn được cất giữ từ lâu. Dưới ngọn đèn dầu, tay má chỉ tường tận đường đi, các chốt đóng quân, trận địa hỏa lực và cách bố phòng của địch. Nhờ tấm bản đồ chỉ dẫn của má, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 theo Quốc lộ 13 lần lượt đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu, bao vây, chia cắt, bức hàng gần 2.000 tên địch tại trại lính Huỳnh Văn Lương và đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
“Những khoảnh khắc của thời gian” giúp người xem hiểu hơn về chân dung, sự nghiệp và cuộc đời Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Dù ở cương vị nào, lúc công tác hay nghỉ hưu, ông vẫn luôn hướng về quê hương, về đồng đội với ân tình sâu thẳm./.
ST

BA LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ

 

Hồ Thị Thu kể:
Khi cháu ở trong Nam, cháu được nghe các chú đọc lời dạy của Bác Hồ, cháu càng thương nhớ Bác nhiều. Cháu và các bạn cháu mong sao nước nhà thống nhất, cùng đồng bào miền Nam đón Bác vào thăm. Qua thời gian chiến đầu, cháu được Đảng, Mặt trận cho ra miền Bắc để học tập, cháu vinh dự được gặp Bác.
Lần đầu cháu được gặp Bác, Bác hỏi cháu đã biết chữ chưa. Cháu khoanh tay trả lời Bác mà nói không nên lời vì cháu cảm động quá. Sau, cháu cố gắng trả lời để Bác nghe:
- Dạ thưa Bác, cháu chưa biết chữ nào. Vì gia đình cháu nghèo, ba má cháu mất sớm, cháu đông em nên không được đi học.
Vừa nói xong, cháu ngước lên nhìn Bác. Hai hàng nước mắt Bác rưng rưng làm cho cháu càng thêm cảm động hơn.
Lần thứ hai cháu được gặp Bác. Bác hỏi cháu:
- Đồng bào miền Nam đấu tranh và chiến đấu như thế nào?
Cháu liền đứng lên khoanh tay lại:
- Dạ, thưa Bác, đồng bào miền Nam đấu tranh không sợ gian khổ, chiến đấu không sợ bị thương, không sợ hy sinh, mà chỉ sợ mù hai mắt, sau này nước nhà thống nhất, Bác vào thăm không nhìn thấy Bác được.
Cháu ngước nhìn lên lại thấy Bác rưng rưng nước mắt. Bữa ấy Bác cho cháu ăn cơm. Cháu ngồi bên Bác, Bác gắp thức ăn cho cháu...
Lần thứ ba, cháu được gặp Bác ở hội trường Ba Đình. Cháu mừng rỡ chạy lại ôm và hôn Bác. Bác hỏi cháu:
- Kỳ này cháu có ăn được cơm không, ăn được mấy bát?
Cháu đáp:
- Dạ, thưa Bác, cháu ăn được hai bát ạ!
- Ăn thế là ít đấy! Cố ăn nhiều cho khỏe vào.
Bác dặn thêm cháu phải giữ gìn sức khỏe cho thật tốt, học tập văn hoá, chính trị, lao động cho thật tất, đoàn kết tốt, thương yêu đồng đội, phải nghe lời các cô, các chú dạy bảo.
Sau những giờ phút quý báu ấy cháu ra về, không muốn rời Bác, chỉ mong sao gần Bác luôn luôn.
Ngày tháng qua đi, bệnh của cháu lại phát triển nên các chú đưa cháu vào viện. Được tin ấy Bác điện vào thăm cháu. Lúc ấy, bệnh cháu quá nặng, đến khi có tỉnh dậy, các chú nói lại, cháu vô cùng xúc động vì Bác bận bao nhiêu công việc mà vẫn quan tâm đến sức khỏe của cháu. Thời gian sau mặc dù phải đi xa Hà Nội về trường học, hàng ngày cháu vẫn luôn nhớ thực hiện lời Bác dạy./.
ST

RA MẮT SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VỀ ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ, CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG

 Chiều 18-7, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tham dự có các đồng chí: Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Trần Văn Rón, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Đồng chủ trì Lễ giới thiệu cuốn sách có các đồng chí: Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” được hoàn thành và ra mắt bạn đọc nhân dịp tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời là năm bản lề đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều thay đổi.
Với 39 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, cuốn sách thể hiện tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về lãnh đạo, chỉ đạo đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Nội dung cuốn sách gồm ba phần: Phần thứ nhất: Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời kỳ mới, gồm 21 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của đồng chí Tổng Bí thư về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng và phương hướng xây dựng quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Phần thứ hai: Xây dựng các lực lượng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống, gồm 18 bài viết, bài nói, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng đối với các quân chủng, binh chủng, học viện nhà trường.
Phần thứ ba là bài viết Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương - Một người có tư duy biện chứng và tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Với ngôn ngữ giản dị, tư duy sắc sảo, tác giả bài viết đã khái quát sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương - “nhà chiến lược kiến tạo nên những định hướng cơ bản và then chốt trong đường lối bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời đại mới”.
Từ những phân tích đa chiều, trên nhiều góc độ, các tham luận thống nhất đánh giá: Cuốn sách có giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn; thể hiện tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược về quân sự, quốc phòng của người đứng đầu Đảng ta.
PGS, TS Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: Trong cuốn sách có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam với kinh nghiệm thực tiễn phong phú, sinh động của đồng chí; thể hiện tư duy sáng tạo, sự sâu sát, quyết liệt, trách nhiệm của đồng chí, luôn đặt quyền lợi của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu Đảng ta góp phần làm sáng tỏ bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về đường lối quân sự và chiến lược quốc phòng, đặc biệt là vai trò lãnh đạo và năng lực hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Thượng tướng Trần Việt Khoa nhắc lại kỷ niệm hai lần Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Học viện Quốc phòng. Tại đây, đồng chí đã có hai bài phát biểu quan trọng vừa định hướng, chỉ đạo vừa động viên đó là: Học viện Quốc phòng phải là nơi đi đầu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội của Đảng và Nhà nước; cái nôi đào tạo cán bộ quân đội và nghiên cứu khoa học quân sự hàng đầu của đất nước.
PGS, TS Hoàng Phúc Lâm, Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích tính biện chứng và tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư qua cuốn sách. Nội dung cuốn sách đúc rút từ những bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú, sinh động, thể hiện sự sâu sát, quyết liệt, toàn diện và đầy sức thuyết phục của đồng chí Tổng Bí thư, góp phần làm sáng tỏ bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, đặc biệt là vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong tham luận của mình, Thiếu tướng Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược quốc phòng, cho biết: Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng đó là tư tưởng bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình. Bảo vệ hòa bình chính là một giá trị thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây là tư tưởng lý luận quân sự, quốc phòng sáng tạo, độc đáo, lấy bảo vệ môi trường hòa bình là mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc phòng, quân sự.
Phát biểu tại Lễ giới thiệu sách, Trung tướng Trịnh Văn Quyết khẳng định: Cuốn sách "Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" đã hệ thống hóa những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về đường lối quân sự, chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các bài viết, bài nói, bài phát biểu của đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương được lựa chọn trong cuốn sách thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo mang tính chiến lược và tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, định hướng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Các bài viết, bài phát biểu được sắp xếp theo từng nhóm vấn đề, với từng lực lượng, tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuốn sách đồng thời thể hiện bước phát triển về tư duy của Đảng đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, là sự kế thừa, phát triển truyền thống của cha ông “dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, đồng thời có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ và giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước.
Trung tướng Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh: Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục hướng dẫn chỉ đạo các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí trong Quân đội bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực, phù hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu nội dung cuốn sách để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội hiểu rõ hơn giá trị cả về lý luận và thực tiễn của cuốn sách, về đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội; nâng cao hơn nữa ý thức, tinh thần, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Làm lan tỏa mạnh mẽ và tổ chức thực hiện nghiêm túc để tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương trong cuốn sách thành những việc làm và kết quả thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của đất nước.
Đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam yêu cầu: Đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần tổ chức đợt sinh hoạt, học tập, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung cuốn sách; liên hệ với thực tiễn công tác của cơ quan, đơn vị mình, địa phương nơi mình đóng quân, từ đó vận dụng, bổ sung vào nhiệm vụ của đơn vị, cá nhân một cách phù hợp. Các học viện, trường trong Quân đội trên cơ sở nội dung cuốn sách, nghiên cứu, bổ sung biên soạn thành tài liệu học tập, nghiên cứu về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Dịp này, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Quân đội đã trao cuốn sách quý của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tặng đại diện các các ban, bộ, ngành Trung ương, các cơ quan, đơn vị chức năng.
Song song với xuất bản sách giấy truyền thống, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đồng thời cho ra mắt phiên bản điện tử cuốn sách, phục vụ độc giả miễn phí trên trang web: stbook.vn.
ST

CHUYỆN THỜI CHIẾN: CÔNG ĐỒN BẰNG... PHÂN GÀ VÀ ỚT

 Lâu nay, nói đến chuyện công đồn là nhiều người nghĩ ngay đến việc phải sử dụng loại vũ khí gì (mìn, lựu đạn, bộc phá... ). Tuy nhiên, ở Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ lại có chuyện công đồn không phải bằng vũ khí "nóng"; mà bằng... phân gà và ớt. Đúng là chuyện "xưa nay hiếm" nhưng lại là có thật 100% xảy ra tại ấp chiến lược Mỹ Hòa (Bến Tre) hồi đánh Mỹ.

Ngay sau sự kiện Đồng khởi, địch cho xây dựng 3 bốt bao quanh ấp chiến lược Mỹ Hòa (Bến Tre) nhằm gia tăng sự kìm kẹp đối với nhân dân trong ấp. Điều này gây không ít khó khăn cho phong trào cách mạng tại địa phương. Xung quanh các bốt chúng cho dựng hàng rào dây thép gai đủ loại, nhiều tầng, nhiều lớp. Những cài bốt lợi hại đó như những cái gai hằng ngày đập vào mắt các chiến sĩ du kích Mỹ Hòa nhưng chưa làm sao nhổ nổi vì thiếu vũ khí. Trong "cái khó, ló cái sáng tạo"; anh em du kích tụm đầu nghiên cứu và cũng đã tìm ra được cách đánh độc đáo và hiệu quả mà không cần đến vũ khí.
Vào một buổi sáng đẹp trời, anh em du kích Mỹ Hòa phân công nhau tỏa về các ấp, đi vào từng nhà dân xin thu gom quả ớt cay và phân gà. Chỉ trong một ngày họ đã gom được một đống ớt và phân gà to tướng đưa về tập kết tại một địa điểm kín đáo. Đợi khi màn đêm buông xuống, các chiến sĩ du kích cho trộn hai thứ với nhau, chia thành các đống nhỏ rồi cho người gánh đến đổ cạnh các bốt của địch. Đợi lúc gió Đông Nam nổi lên, họ cho người bí mật châm lửa. Chỉ trong chốc lát, cả đống phân gà trộn ớt bốc cháy và tỏa khói cay nồng nặc bao lấy các bốt. Tụi lính trong bốt nước mắt, nước mũi chảy dàn dụa, chịu không nổi cái mùi khói cay nồng nặc đó liền chui ra ngoài cho thoáng, có tên còn nhảy cả xuống mương nước quanh đó. Nhiều tên mắt mũi kèm nhèm, vừa nhảy ra khỏi bốt chưa kịp định hình đã bị anh em du kích tóm gọn. Chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ mai phục, du kích Mỹ Hòa đã tóm gọn phần lớn lực lượng địch từ trong 3 chiệc bốt chạy ra mà không phải nổ một phát súng nào.
Khi bọn địch ở quanh đấy và các phần tử phản động trong ấp chiến lược Mỹ Hòa phát hiện ra sự việc, tính chuyện đến ứng cứu thì mọi chuyện đã quá muộn. Quân ứng cứu đến nơi thì chỉ còn 3 cái bốt trống không, cạnh đó là 3 đống phân gà và ớt đã cháy gần tàn đang âm ỷ phả khói cay xè./.
ST


ĐỂ THỰC HIỆN TỐT QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ!

     Sau 25 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, cấp ủy, chính quyền các cấp đã triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, sáng tạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận và phát huy được sức mạnh toàn dân trong xây dựng và phát triển đất nước, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển, đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chủ trương của Đảng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”1. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”2.

Trong tiến trình đổi mới, việc vi phạm dân chủ ở nông thôn khi nhân dân tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng đường, trường, trạm... đã không được bàn bạc, mức đóng góp quá sức dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương. Trước tình hình đó, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”3, nhằm cụ thể hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đảm bảo dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị quyết số 45/1998, Nghị quyết số 55/1998, Nghị quyết số 60/1998, Pháp lệnh số 34/2007 và Chính phủ ban hành các Nghị định số: 29/1998, 71/1998, 07/1999, 79/2003, 87/2007 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân.

Trong từng thời kỳ cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, bổ sung và phát triển nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 22-6-2000, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 304-TB/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Tiếp sau đó, ngày 4, 5-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị giai đoạn 1998-2001. Đến ngày 28-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Ngày 28, 29-9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và ra Thông báo số 159-TB/TW “Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Đến ngày 4-3-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII). Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong thời kỳ mới. Ngày 7-1-2016, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 120-KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” và tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, khẳng định: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”4.

Đại hội XIII, kế thừa và phát triển tư tưởng “trọng dân” trong truyền thống lịch sử của dân tộc, bài học “dân là gốc” tiếp tục được phát triển bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” vào phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân.

“Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.

“Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan tỏa giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất của chế độ xã hội. Đó là động lực, là lợi ích, lợi ích phải hài hòa tổng thể lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Bài học “dân là gốc”, phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về thực hiện QCDC ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15). Luật gồm 6 chương, 91 điều; trong đó quy định việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức sử dụng lao động.

Luật nêu rõ quyền của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:
- Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.
- Đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
- Được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, cần tập trung một số nhiệm vụ sau:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở
Chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền việc đẩy mạnh thực hiện QCDC trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải cụ thể: Xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, đáp ứng quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Đa dạng hóa phương pháp, hình thức tuyên truyền theo hướng tăng cường đối thoại, trao đổi, tương tác phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Hiện đại hóa và sử dụng các phương tiện tuyên truyền hiện đại, nhiều chức năng, dịch vụ, tiện ích nhằm góp phần hữu ích, thiết thực trong việc tương tác, chia sẻ. Do vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự gương mẫu trong việc chấp hành các nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống… Đồng thời, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, đồng thời cần khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hành dân chủ; phát huy hiệu lực, hiệu quả vai trò các cơ quan, tổ chức trong thực hành dân chủ; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, có uy tín trong nhân dân, có năng lực, bảo đảm liêm, chính.

Ba là, phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện QCDC ở cơ sở.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế để phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với các chức năng, vai trò và nhiệm vụ; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, khắc phục triệt để tình trạng phô trương, hình thức; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; bảo đảm lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện QCDC ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của chính quyền các cấp nhằm giải đáp nguyện vọng, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư trong thực hiện QCDC ở cơ sở.
Để thực hành dân chủ, công tác cán bộ là một trong những khâu quan trọng và mang tính quyết định nhất. Do đó, cần: Nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vai trò của việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Kết hợp thực hiện các biện pháp cụ thể về tổ chức quản lý, hành chính, pháp luật và đề cao sức mạnh của dư luận xã hội. Kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, có nhận thức đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, về thực hiện dân chủ trong Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đã được quy hoạch đều có cơ hội và điều kiện như nhau để có thể phát huy tốt những phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý./.
Theo Tạp chí xây dựng Đảng./.
Môi trường ST.

CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VỀ QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG: TƯ DUY, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU ĐẢNG TA VỀ ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

 

Chiều 18/7/2023, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách "Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương. Cuốn sách là tài liệu quý, thể hiện sự am hiểu sâu sắc, tư duy ở tầm chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật quân sự Việt Nam và bằng nhãn quan chính trị sắc bén, những kinh nghiệm phong phú trong thực tiễn cách mạng./.

ST

NHÀ Ở XÃ HỘI CẦN BÁN ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG

 Nhà ở xã hội dành cho... người có thu nhập cao. Mới nghe điều này thì tưởng là vô lý, nhưng thực tế nó lại là sự thật đang diễn ra hiện nay.

Theo quy định của Nhà nước, nhà ở xã hội (NƠXH) là sản phẩm dành cho các đối tượng chính sách; hộ nghèo và người lao động có thu nhập thấp; cán bộ, chiến sĩ trong LLVT hay một số công chức, viên chức... Ấy vậy mà trên thực tế, người giàu, người có thu nhập cao lại mua hay thuê NƠXH dễ hơn người có thu nhập thấp rất nhiều. Điều này đang là một nghịch lý tạo ra những cảm xúc trái chiều và sự thất vọng cho những người có thu nhập thấp, đồng thời là trăn trở của toàn xã hội.
Ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng hay nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước, hiện tượng thiếu NƠXH khá phổ biến. Tuy nhiên, việc người giàu, người có thu nhập cao tranh suất mua NƠXH của người có thu nhập thấp đang là vấn đề khá nhức nhối. Với những quy định như hiện nay, người giàu và người có thu nhập cao đang tìm mọi cách “lách luật” để kiếm cho mình những căn hộ NƠXH một cách dễ dàng, mà đáng lý ra nó không thuộc về họ.
Chẳng hạn như thu nhập từ nghề chính tính theo bảng lương của một số người tuy thấp nhưng thu nhập từ “nghề tay trái” lại rất cao. Nếu tính theo bảng lương thì những người này vẫn là đối tượng được mua NƠXH, nhưng xét về tổng thu nhập của họ thì lại không đúng đối tượng. Hoặc có những người giàu, nhưng lại nhờ người thân đủ tiêu chuẩn, hoặc thuê người có thu nhập thấp đến đăng ký mua NƠXH và họ đã đạt được mục đích là sở hữu NƠXH để ở, hay bán đi kiếm lời. Tình trạng này làm cho các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp rất khó tiếp cận NƠXH.
Chúng ta có thể dễ dàng thấy người giàu, người có thu nhập cao mua NƠXH với mục đích đầu tiên là để trục lợi, sau đó là để ở mà không phải nộp nhiều khoản thuế. Khi mua được NƠXH, họ sẽ bán lại cho người khác với giá cao hơn giá gốc rất nhiều để thu lợi. Nếu như Nhà nước có một cuộc tổng điều tra về việc sở hữu NƠXH đã bàn giao thì số lượng người ở không đúng đối tượng sẽ không hề nhỏ.
NƠXH là một chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước nhằm chăm lo chỗ ở cho các đối tượng chính sách và người dân có thu nhập thấp, những đối tượng yếu thế trong xã hội. Tuy nhiên, việc sở hữu NƠXH của các gia đình chính sách và người có thu nhập thấp sẽ rất khó khăn nếu như không có sự hỗ trợ từ chính quyền và cơ quan chức năng.
Để NƠXH phục vụ đúng đối tượng, chúng ta cần rà soát các quy định về thu nhập và dứt khoát phải tìm biện pháp để minh bạch thu nhập của các đối tượng nộp đơn mua NƠXH. Đồng thời cần kiểm tra kỹ các hồ sơ mua nhà của các đối tượng thuộc diện thụ hưởng, giám sát chặt chẽ việc thực hiện khi mua-bán, thuê NƠXH. Qua đó sẽ xác định chính xác hơn các thành phần được xét mua, hoặc thuê NƠXH, ngăn chặn người không đúng đối tượng tranh mua với người có thu nhập thấp hay các đối tượng chính sách.
Hiện nay, nhu cầu về nhà ở của người dân ở nước ta còn rất cao, nhưng không phải ai cũng có khả năng mua đất, mua nhà. Xã hội được xác định là phát triển, tiến bộ thì người dân phải có nơi ở ngày càng tốt hơn. Vì thế, tạo điều kiện để người có thu nhập thấp mua hoặc thuê được NƠXH, chính là tạo nền tảng để giữ vững ổn định xã hội, tạo động lực để người dân an cư lạc nghiệp, góp phần phát triển đất nước./.
ST


NÂNG CAO SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA NHÂN DÂN!

         Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam thông qua thực hiện “diễn biến hòa bình”. Mục tiêu không bao giờ thay đổi của số này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và lật đổ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Mục tiêu, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động không có gì mới, chỉ có điều trong từng thời điểm và tùy vào tình hình cụ thể để điều chỉnh về hình thức, mức độ và tần suất. Thông qua mạng xã hội, các trang web và một số tờ báo mạng thiếu thiện chí với Việt Nam, các nhóm phản động ở nước ngoài tăng cường kết nối với những phần tử cơ hội chính trị trong nước tuyên truyền, xuyên tạc, tác động nhằm “nắn dòng dư luận”, làm chệch hướng mục tiêu cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng ta hướng theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Một đề tài được các thế lực thù địch, phản động luận bàn nhiều xưa nay là công kích, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Nhân sự kiện kỷ niệm 80 năm Ngày ra đời bản Đề cương văn hóa Việt Nam 1943, một số người đã nhìn nhận thiếu biện chứng, đánh giá thiếu “khách quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử và phát triển; phán xét sai lầm, thiếu chuẩn mực về tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương văn hóa Việt Nam 1943. Họ cho rằng, bản Đề cương chỉ có 1.500 chữ, ra đời đã lâu, bị quy định bởi thời cuộc và tính lịch sử nên nó chỉ có “ý nghĩa nhất thời” và nó “đã hết vai trò lịch sử khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc”, “nó không liên quan đến nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Họ đã cố tình xuyên tạc giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương và cáo buộc “các cơ quan tham mưu của Đảng đã thổi phồng giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương để mua vui, làm đẹp lòng lãnh đạo”, “gây lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc của nhân dân”.

Liên quan đến thông tin xoay quanh câu chuyện về tân Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, trên một số trang mạng như Thơibao.de, Hội anh em dân chủ, Việt Tân, RFA, BBC new tiếng Việt, Người buôn gió, Điếu cày, Dân làm báo…, đâu đâu cũng sặc mùi cống rãnh chính trị. Các trang mạng nêu trên chủ yếu tập trung tuyên truyền phản động, với luận điệu “phe phái đánh nhau trong chóp bu cộng sản”, “bí ẩn lai lịch tân Chủ Tịch nước”, “dự báo tương lai ông Thưởng”, “gia tài của Chủ Tịch nước”…, từ đó chúng suy diễn và quy chụp trăm thứ “tội” cho chế độ “độc đảng” ở Việt Nam.

Gần đây, Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sỹ Phu) hiện đang sống tại Đà Lạt, Lâm Đồng, dù đã gần đất xa trời vẫn tung ra luận điệu cực kỳ phản động trên mạng xã hội: “Nếu là người, chớ làm người Cộng sản”, nó trái ngược lại với lời cổ nhân: “Chim trước lúc chết cất tiếng bi thương, người trước lúc chết thường nói lời lương thiện”. Vẫn bằng giọng điệu sặc mùi chống cộng, Hà Sỹ Phu cho rằng: Chủ thuyết cộng sản là “Về lý thuyết thì ảo tưởng phi khoa học nên mâu thuẫn với TRÍ. Về hành động thì chủ trương “đấu tranh giai cấp một mất một còn” làm chết 100 triệu người nên mâu thuẫn với chữ TÂM…Trở thành người Cộng Sản là do có Tâm mà thiếu Trí, hoặc có Trí mà thiếu Tâm. Nếu biết bổ sung cái phần mình thiếu, để có đủ TÂM và TRÍ thì không còn là cộng sản nữa”.

Hà Sỹ Phu đã bày trò ngụy biện, quy chụp, cố tình xuyên tạc để đổi trắng thay đen đánh tráo khái niệm rồi bẻ cong lịch sử như thế. Đất nước Việt Nam nơi ông và gia đình, dòng tộc đang sinh sống, chứng kiến Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị đô hộ, áp bức trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền và “sánh vai các cường quốc năm châu” như ngày nay là nhờ sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy, không được phê phán bằng cách quy chụp bất chấp thực tế không bao giờ là điều nên làm của kẻ tự nhận là trí giả, ông Hà Sỹ Phu nhé!

Từ những thông tin trên, có thể thấy những ai nghe “đài địch” cần hết sức cảnh giác, vì các thế lực phản quốc luôn tìm trăm phương ngàn kế bôi đen Đảng, Nhà nước, bởi họ đã bị tư tưởng chống cộng, phản quốc nhuộm hắc ám cả trí não. Những luận điệu xuyên tạc mà chúng dựng ra không có gì mới, ngày càng thô thiển, vô văn hóa chẳng những không lung lạc được tính kiên định của cách mạng Việt Nam, mà càng phơi bày bản chất phản quốc của họ, chẳng khác nào tiếng chó sủa trong cơn điên dại chống cộng, nhưng chẳng thể nào cản được đoàn người tiến về chân lý thời đại.

Những ai còn mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, từng được học lịch sử nước nhà, thì chớ quên tổ tiên ta đã truyền lại triết lý nhân sinh “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, điều thiêng liêng nhất của một quốc gia là phải giữ và tôn vinh cho được hình ảnh của quốc gia trong lòng người dân và trong con mắt bạn bè quốc tế. Chủ Tịch nước là sự hiện diện cho quốc dân đồng bào, cũng là hiện diện cho đất nước trước bạn bè thế giới, cần phải tôn kính và ủng hộ hết lòng, không cho riêng mình mà cho toàn thể quốc gia dân tộc.

Đảng ta là đảng cầm quyền, quyền lực được Nhân dân ủy quyền, mọi quyết sách của Đảng đều dựa vào ý chí, khát vọng của Nhân dân; mỗi cá nhân trong hệ thống chính trị dù ở cương vị nào đều phải tuân thủ và phục tùng nguyên tắc tập trung dân chủ. Ai vượt ra ngoài nguyên tắc đó đều không được lựa chọn trao gửi niềm tin. Nhân dân trao quyền lãnh đạo cho Đảng, nhưng Nhân dân cũng là người luôn sát cánh, đồng hành với Đảng, là lực lượng quyết định thành bại của cách mạng nước nhà. Lòng tin của Dân đối với Đảng đã được thử thách trong 93 năm qua, nên dù ai nói ngả nói nghiêng, thì lòng Dân luôn yêu Đảng. Đâu có dễ bị miệng lưỡi của bọn quạ đen mua chuộc, xúi bẩy.

Để nâng cao sức đề kháng của Nhân dân, trong thời gian tới các cấp ủy đảng, chính quyền cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao ý thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân tạo ra “sức đề kháng”, “miễn dịch” đối với các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch; tạo đồng thuận trong xã hội. Kịp thời nắm bắt dư luận xã hội để giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng của người dân, xử lý nghiêm các hành vi lan truyền hoặc phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, vu khống, kích động, gây rối. Nắm chắc, nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, từ đó nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay./.
Yêu nước ST.