Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

Đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc về việc vi phạm kỷ luật của một số cán bộ, sỹ quan

     Hiện nay trên nhiều báo mạng, các đối tượng phản động đã có chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.

    Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

    Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

    Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

Theo tuyengiao.vn

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - 2

     Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Vì thế chúng ta càng cần phải nhận diện những luận điệu xuyên tạc đó, và một trong số đó là  chúng cho rằng vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu.



    Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

    Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”(5)… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

    Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”(6) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(7).

    Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”(8). Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”(9).

Theo tuyengiao.vn


NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (1)

 Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và  phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. 

Một trong các vấn đề đó là các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”(1).

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”(4). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

- Theo tuyengiao.vn

 

Nhận diện sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

 Đảng ta đã xác định 4 nguy cơ lớn đối với sự tồn vong của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN): Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng XHCN; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Trong đó có 3 nguy cơ liên quan đến lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa.

dau-tranh-1.jpg

Báo chí: Một bộ phận không nhỏ lãnh đạo tòa soạn, phóng viên, biên tập viên một số báo (đặc biệt là phiên bản điện tử), không chịu tu dưỡng rèn luyện, yếu kém về nhận thức chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, chạy theo đồng tiền; hoặc đã bị suy thoái tư tưởng chính trị, suy đồi về đạo đức, dẫn tới nhận thức sai lầm, ác cảm với chế độ... đã biến chất tới mức tồi tệ, thậm chí là "chống phá ngầm", "tiếp tay" cho các thế lực thù địch... Chúng ngày càng lộng hành, tác quái ngang nhiên?

Lịch sử: Liên kết các biểu hiện của chủ nghĩa "xét lại", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", các chiêu trò "rút gạch, đổ nước chân tường" trong giới lịch sử, nhất là từ năm 2008 đến nay chúng ta thấy thật đáng sợ. Ngày càng xuất hiện nhiều những kẻ núp bóng, khoác tấm vỏ bọc "giáo sư", "tiến sĩ", "nhà nghiên cứu", "thầy giáo", "chuyên gia"... thậm chí có nhiều kẻ còn luồn sâu, leo cao vào tận các cơ quan chuyên môn cấp cao! Chúng không ngừng sử dụng chiêu trò "xét lại lịch sử" để tẩy não thế hệ tương lai, biến kẻ xâm lược bán nước thành vô tội thậm chí thành anh hùng; biến Đảng Cộng sản từ vai trò lãnh đạo, người hùng giải phóng dân tộc trở thành "kẻ độc tài tàn ác", "kẻ gây ra nội chiến"! Bọn "lật sử" này thật âm hiểm!

Giáo dục: Hãy nhìn vào cái vòng luẩn quẩn, hỗn mang, rối rắm với muôn vàn lý do, giả thuyết... trong hơn chục năm qua của "cải cách giáo dục", "sách giáo khoa". Thế hệ tương lai của đất nước trở thành "chuột bạch" cho bao nhiêu chương trình cải cách mà đến nay vẫn chưa rõ "lợi - hại"? Đặc biệt nổi lên trong thời gian gần đây là việc dạy và học môn lịch sử, nội dung môn lịch sử trong sách giáo khoa mới! Tại sao lại để một kẻ cầm đầu trong nhóm 72 tên "phản Đảng" đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp (Điều luật gốc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam) làm "Tổng Chủ biên"? Một vấn đề lớn nữa là chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục?!

Tôn giáo: Các thế lực thù địch, bất mãn trong và ngoài nước luôn tìm cách lợi dụng các vấn đề về tôn giáo, tín ngưỡng để chống phá chính quyền, chống phá Đảng, chế độ XHCN. Đặc biệt nổi lên nhức nhối nhất là sự chống phá trong Kitô giáo (Thiên Chúa giáo), rất nhiều kẻ núp bóng "linh mục", chức sắc trong Giáo hội (nổi cộm như tên Nguyễn Đình Thục, Nguyễn Duy Tân, Đặng Hữu Nam, Nguyễn Ngọc Nam Phong...) để kích động, lôi kéo người dân nhẹ dạ, cả tin chống đối chính quyền, biến nhiều miền quê thanh bình trở nên hỗn loạn, bất ổn, biến nhiều người dân lương thiện trở thành tội phạm! Bọn này cũng ngày càng ngang nhiên lộng hành, tác quái!

Văn hóa: Thông qua sự giao lưu kinh tế, văn hóa, nhất là qua môi trường mạng Internet, các thế lực thù địch không ngừng tuyên truyền, cổ súy cho các luồng văn hóa ngoại lai nguy hại từ phương Tây, đã đầu độc, hủy hoại thế hệ trẻ, hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhan nhản trên các trang báo mạng là những tin tức, bài viết "phi văn hóa", cổ súy cho những thứ nhố nhăng, thô tục, "thú vật hóa con người"; từ cụ già cho đến đứa trẻ 1, 2 tuổi đều ngày càng bị nghiện, lệ thuộc vào các thiết bị điện tử với phây, du túp, tích tóc... nhiều trang mạng xã hội độc hại, biến thái đã đầu độc và làm hại trẻ em...!

Trước thực trạng đã tới mức nguy hiểm như trên thì cần phải làm gì? Chỉ rõ ra các vấn đề đau xót trên không phải để công kích hay để "chán nản, nhụt chí, buông xuôi"... mà cốt yếu là để đưa ra các đối sách, để tuyên truyền cho Nhân dân cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, thiếu sót, lơ là... của mình để tăng cường chấn chỉnh, xử lý quyết liệt, giám sát, định hướng, đặc biệt là các lĩnh vực: Báo chí, giáo dục... chèo lái con thuyền đất nước đi đúng định hướng XHCN, đem lại niềm tin, ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Công cuộc phòng, chống tham nhũng chúng ta đang làm rất tốt. Tuy nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: Tham nhũng tiền bạc có thể xử lý, thu hồi được, nhưng suy thoái tư tưởng, trở thành phản bội rồi thì rất khó lấy lại!. Phòng, chống các nguy cơ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa mới là chữa "nội thương" - Thường thì người ta chết vì nội thương là đa số (ung thư, đột quỵ, suy đa tạng...) - Bài học lịch sử vô cùng đau xót từ sự sụp đổ của Liên Xô vẫn còn đó!

Quần chúng nhân dân cần nâng cao cảnh giác, chọn lọc thông tin, hãy là những người tiếp nhận thông tin thông minh, không tin theo các luận điệu chống phá nhà nước, chế độ của kẻ xấu. Các lực lượng xung kích, chủ lực trên mặt trận tư tưởng, các bác cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, đảng viên, trí thức, đoàn viên thanh niên... cần phát huy vai trò tiên phong, phát huy trách nhiệm, trí tuệ.... không ngừng tuyên truyền về lịch sử hào hùng, truyền thống văn hóa của dân tộc; các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; tính ưu việt của CNXH; các thành tựu phát triển kinh tế - văn hóa của đất nước, địa phương... viết bài tuyên truyền, lan tỏa gương người tốt việc tốt, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng! 

Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn cảnh giác và khôn khéo, quyết liệt đấu tranh! Nhất định chúng ta sẽ làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch! Góp một phần sức lực đưa đất nước ta đi đúng định hướng XHCN - Đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân (trong đó có bản thân, cha mẹ, vợ con, anh em, họ hàng, làng xóm, quê hương... đồng bào ta),.../.

Theo báo điện tử angiang.dcs.vn

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng chủ nghĩa xã hội

    Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin Chủ nghĩa xã hội (CNXH) chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

    Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

    Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

    Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

    Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay.

Theo Báo QĐND

Tư tưởng XHCN - Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc

    Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

    Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.

    Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.

    Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.

- Theo Báo QĐND-

ĐỀ CAO TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG ĐỂ PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU SUY THOÁI

 

       Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Vậy tinh thần trách nhiệm là gì? Giải đáp câu hỏi này, sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v.. là không có tinh thần trách nhiệm”.

          Nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với chức trách được phân công, góp công góp sức cùng cán bộ, nhân viên, người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Phải làm sao để theo ngày ngày tháng tháng, mỗi cán bộ, đảng viên càng làm việc càng trôi chảy, hiệu quả, càng đóng góp nhiều hơn cho tập thể. Vì khi tập thể vững mạnh, trưởng thành thì bản thân mình cũng tiến bộ.

          Theo đồng chí Cao Văn Thống, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần có “5 tự”: Phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; Phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; Phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; Phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; Phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.

          Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực. Như vậy, “dám chịu trách nhiệm” ở đây là tinh thần đề cao “trách nhiệm nhân đôi” và cũng là bản lĩnh vững vàng của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp.

          Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng và tửu sắc đầy mê hoặc, quyến rũ nhưng chòng chành, mong manh như đứng bên lề vực thẳm! Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái./.

Lời Bác dạy ngày 20/7/1957

“Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”.

Câu nói trên được trích trong phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tiệc chiêu đãi của Chủ tịch Dapôtốtxki nước Cộng hòa Tiệp Khắc ngày 20 tháng 7 năm 1957 nhân dịp Người sang thăm và làm việc với nước bạn. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ để thống nhất Tổ quốc bằng phương pháp hòa bình.

Hồ Chí Minh một mặt khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là chân lý của thời đại, dù có khó khăn, gian khổ đến đâu, nhưng đó chắc chắn là quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người. Mặt khác, đó còn là sự khẳng định về tính đúng đắn, sáng tạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xác định con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người đã thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự tin tưởng và cảm mến với những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân, Chính phủ Tiệp Khắc anh em đã giành được và khẳng định tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng giữa nhân dân hai nước để cùng tiến bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lời dạy của Bác là cơ sở quan trọng để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng, phát triển trong cương lĩnh xây dựng đất nước, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XX khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào thoái trào và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thành tựu bước đầu rất quan trọng của hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng càng làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự kiên định của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta là đúng đắn, hợp quy luật.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

st

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH

 

Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh ở Việt Nam là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lượi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh ở Việt Nam là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lượi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mục đích của phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh là rất rộng lớn, được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó An ninh lương thực Quốc gia là một lĩnh vực hết sức quan trọng.

Đại hội lần thứ IV của Đảng đã quyết định: trong thời gian từ nay đến năm 1980, phải ra sức phấn đấu tạo ra một chuyển biến mới trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Phải động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần làm chủ tập thể và ý chí tự lực tự cường, hăng hái vươn lên phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm 1976-1980, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất là tập trung cao độ sức mạnh của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết một cách cơ bản và vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm. “Phải làm cho nông nghiệp và công nghiệp kết hợp chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, cùng phát triển nhịp nhàng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo ra một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hiện đại”.

Trong thời điểm hiện nay, nhất là sau cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008, tất cả các quốc gia trên thế giới càng nhận thức rõ tầm quan trọng sống còn của vấn đề an ninh lương thực trong chiến lược phát triển bền vững và bảo đảm an ninh quốc gia. Đối với Việt Nam, an ninh lương thực luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định là "vấn đề trọng đại của đất nước trước mắt cũng như lâu dài".

Bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu không chỉ đối với Việt Nam, mà cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên toàn thế giới, có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm sự phát triển tổng thể, quan tâm đến an sinh, phúc lợi của mọi người dân, đồng thời góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh tế - xã hội gắn liền quốc phòng, an ninh./.

 

THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Việt Nam nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập... kết hợp với can thiệp, trợ lực từ bên ngoài để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi. Lợi dụng những tồn tại của lịch sử, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, “ly khai”, “tự trị” trên các địa bàn chiến lược để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, tổ chức xâm nhập, phá hoại trên địa bàn chiến lược, nhạy cảm.

Kích động mâu thuẫn giữa người dân tộc thiểu số và người Kinh, kích động chống đối chính quyền nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước ta.

Lợi dụng hoạt động tôn giáo, hoạt động các tà đạo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai.

Kích động di cư trái phép đến các địa bàn trọng điểm, chiến lược và vượt biên ra nước ngoài nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm cho vấn đề dân tộc trở thành vấn đề phức tạp, ngòi nổ để tạo cớ can thiệp.

Thúc đẩy nhanh quá trình “Tin lành hóa” đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số hướng về nhà nước độc lập.

Vấn đề dân tộc, tôn giáo luôn có mối quan hệ khách quan xuất phát từ bản chất xã hội của tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận không tách rời đời sống tinh thần của các dân tộc; đồng thời là vấn đề nhạy cảm được các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng phục vụ mưu đồ chính trị của chúng. Lợi dụng tôn giáo để nắm dân tộc, kết hợp lợi dụng dân tộc với tôn giáo để kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng các DTTS chống lại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hoạt động truyền đạo Tinh lành vùng đồng bào DTTS đã để lại hậu quả hết sức nặng nề không dễ giải quyết trong một thời gian ngắn. Các thế lực thù địch lợi dụng một bộ phận đồng bào theo Tin lành để kích động tư tưởng dân tộc, hẹp hòi, cục bộ, tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, hướng đồng bào Mông ở Tây Bắc về cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”, đồng bào Thượng ở Tây Nguyên về “Nhà nước Đề-ga độc lập”…. Chúng ủng hộ một số đồng bào DTTS cực đoan để kích động chia rẽ các dân tộc với Đảng và Nhà nước; gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” “dân tộc” để chống phá cách mạng; vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “DTTS” để mê hoặc dư luận thế giới, lôi kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta, khi có điều kiện tiến hành can thiệp, lật đổ./.

RSF LẠI PHỚT LỜ SỰ THẬT

 


          Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).

          Ngày 3/5/2022, tổ chức RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng 176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170.

          Trong bảng xếp hạng này, RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang. Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”.

          Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đính nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

          Hình thành từ năm 1985, RSF tên tiếng Pháp đầy đủ là “Reporters sans frontières”, có trụ sở quốc tế tại Paris. Đây là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF. Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, cứ ngỡ RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam.

          Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.

          Việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp. Chính vì vậy, tổ chức này tìm cách bênh vực cho những đối tượng khoác áo, mượn danh nhà báo như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”... Họ cố ý khoác áo nhà báo, ca ngợi, tán dương cho những kẻ hoạt động chống phá Việt Nam.

          Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2022 của RSF là không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

          Chúng ta thấy rõ, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của mọi công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền hưởng thụ thông tin của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ quyền của công dân: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

          Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí của công dân bao gồm: Quyền sáng tác tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, phê phán, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức cá nhân khác. Nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí cũng được Luật Báo chí 2016 quy định: Không được đăng phát thông tin xuyên tạc, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn song hành, không tách rời nhau; mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí, đồng thời đều phải có nghĩa vụ thực hiện quyền ấy trong khuôn khổ pháp luật.

          Tự do báo chí không thể vượt quá hạn định, không phải là tự do quá trớn, càng không phải muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, làm gì thì làm theo ý muốn chủ quan của chủ thể. Cũng như bất kỳ các quốc gia trên thế giới, một mặt, Nhà nước ta tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

          Ở Việt Nam, không ai bị xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật như tung tin giả, tin xấu độc, xuyên tạc, vu cáo hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận... thì bị xử lý theo pháp luật.

          Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… dễ dàng được tiếp cận tại Việt Nam.

          Rõ ràng, nội dung đánh giá của RSF vẫn tiếp tục phớt lờ thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Càng ngày, RSF càng lộ rõ bản chất định kiến với Việt Nam, cố tình phủ nhận những nỗ lực, thành tựu đạt được của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí./.

KÍCH ĐỘNG KỲ THỊ DÂN TỘC- ÂM MƯU PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

          Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

          Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

          Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

          Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

          Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

          Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

          Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

          Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

          Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

          Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

          Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

          Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

          Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

          Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ CƠ SỞ TRONG QUÂN ĐỘI THEO PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong di sản vô giá mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; là tiêu chí, chuẩn mực, hình mẫu để cán bộ, đảng viên noi theo. Đối với cán bộ cơ sở trong Quân đội, việc học tập, làm theo và xây dựng phong cách làm việc theo phong cách Hồ Chí Minh là nội dung rất quan trọng, góp phần quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta là tấm gương, hình mẫu tiêu biểu của phong cách làm việc cách mạng và khoa học. Sinh thời, Người đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng tác phong, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, bởi theo Bác: “cán bộ là gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Cán bộ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội là người trực tiếp hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ở đơn vị; họ vừa là người lãnh đạo, chỉ huy, quản lý; vừa là người trực tiếp huấn luyện, giáo dục, rèn luyện bộ đội và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao, chính đặc trưng này đòi hỏi đội ngũ cán bộ cơ sở cần phải có phong cách làm việc ngang tầm với chức trách, nhiệm vụ của mình. Thực tế cho thấy, có những nội dung công việc hoàn thành chưa tốt không phải do năng lực hạn chế hay thiếu về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật,... mà do phong cách làm việc chưa phù hợp. Bài viết này xin đề xuất một số nội dung về xây dựng phong cách làm việc khoa học, dân chủ, quần chúng, đúng pháp luật và nêu gương cho cán bộ cơ sở trong Quân đội theo phong cách Hồ Chí Minh.
Trước hết, theo Hồ Chí Minh phong cách làm việc khoa học là “làm việc đúng hơn, khéo hơn”. Làm việc đúng hơn là cách làm việc của người cán bộ phải đúng chức trách, nhiệm vụ của mình, sát với chức năng và từng nhiệm vụ của đơn vị; có cách thức, biện pháp làm việc khoa học để giải quyết được những mâu thuẫn, khó khăn mà cán bộ, chiến sĩ cấp dưới và đồng cấp đang gặp phải; làm việc có tính kế hoạch, bài bản, sáng tạo và hiệu quả. Còn làm việc khéo hơn là cách làm theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn, gian khổ vất vả, người cán bộ phải luôn tích cực tìm tòi, sáng tạo để đưa ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị lên trên hết.
Khắc ghi lời dạy của Bác “Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”, cán bộ cơ sở cần có khả năng bao quát nhiệm vụ của đơn vị, nhất là nhiệm vụ chính trị trung tâm trong từng giai đoạn, tránh xác định “Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Theo đó, trong lãnh đạo cán bộ cơ sở “phải cụ thể, phải kịp thời, phải thiết thực, phải có trọng điểm và nắm điển hình”; khi chỉ huy có kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, có “óc tổ chức” để chia công, xếp việc và tổ chức động viên toàn đơn vị thi hành; quá trình triển khai chú trọng thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, “phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ”, kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng. Bên cạnh đó, cán bộ cơ sở phải “Bất kỳ ở hoàn cảnh nào…cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, tri thức và chính trị của mình” để không ngừng sáng tạo, đổi mới cách nghĩ, cách làm, cách huấn luyện, quản lý, cách tổ chức lực lượng thực hiện tốt mọi công việc của đơn vị, từ đó tìm ra cách làm hay mô hình hiệu quả tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn đơn vị.
Hai là, phong cách làm việc dân chủ. Cán bộ cơ sở trong Quân đội là người thường xuyên tiếp xúc, gần gũi chiến sĩ, thậm chí còn cùng ăn, ở, sinh hoạt và công tác với bộ đội nên phải thực sự sâu sát không được quan liêu, hách dịch, biết phát huy được trí tuệ tập thể, cá nhân đề cao tính tích cực, năng động, sáng tạo tham gia thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong cách làm việc phải luôn luôn thực hành dân chủ, bởi đó là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề. Người viết: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”. Để có được phong cách dân chủ, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ cơ sở phải đặt lợi ích của đơn vị, của tập thể, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, không tư lợi dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Nếu có mâu thuẫn về lợi ích thì phải đặt lợi ích tập thể lên trên hết, trước hết và phải biết hy sinh lợi ích cá nhân.
Muốn vậy, cán bộ cơ sở phải luôn đề cao tự phê bình và phê bình, thường xuyên kiểm điểm, tự soi, tự sửa việc làm của mình để chủ nghĩa cá nhân không có điều kiện phát triển và biết tạo cơ chế để phê bình và tự phê bình được thực hiện tốt trong toàn đơn vị. Quá trình công tác phải luôn luôn đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc “dân chủ tập trung”, làm việc tập thể, cá nhân phụ trách; biết đoàn kết, tập hợp lực lượng và phát huy sáng kiến của mọi người; luôn bàn bạc, lắng nghe nhiều ý kiến trước khi đưa ra quyết định. Có như vậy, mọi thành viên trong đơn vị mới phát huy dân chủ, năng động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm của mình tham gia xây dựng đơn vị vững mạnh, phát triển.
Ba là, phong cách quần chúng. Thực tiễn cho thấy, cán bộ cơ sở nói chung, trong Quân đội nói riêng là người trực tiếp triển khai, tổ chức mọi hoạt động của đơn vị; đồng cam, cộng khổ với bộ đội,... nên phải có phong cách quần chúng. Để xây dựng phong cách này đòi hỏi cán bộ cơ sở phải luôn chan hòa, cởi mở, sống hòa mình vào tập thể đơn vị; phải luôn quan tâm, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của từng cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; biết quy tụ đoàn kết mọi thành viên trong đơn vị thành một khối thống nhất về ý chí, hành động mới có thể vượt qua mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, luôn coi cán bộ, chiến sĩ như người thân của mình, “phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ăn, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu”. Từ đó, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, tôn trọng, tin yêu, lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của cán bộ, chiến sĩ; sẵn sàng tiếp thu ý kiến phê bình, sửa chữa khuyết điểm và học hỏi chính ở cán bộ, chiến sĩ, nhưng không theo đuôi, mà phải biết đoàn kết, tập hợp, giáo dục để cùng nhau tiến bộ. Trong điều kiện hiện nay, phong cách dân chủ của đội ngũ cán bộ cơ sở còn bao hàm cả tác phong làm việc độc lập, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trên cơ sở quyết nghị của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, vì lợi ích chung của tập thể, đơn vị cũng như vì sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng là bổn phận, danh dự, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên và là giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong Quân đội vừa “hồng” vừa “chuyên”, bảo đảm hoàn thành thắng lợi trọng trách được giao.
Bốn là, phong cách làm việc đúng pháp luật là cách làm việc đúng nguyên tắc, quy chế, quy định về chức trách, nhiệm vụ quyền hạn của từng người trên cương vị chức trách được giao, bảo đảm mọi hành động của người cán bộ cơ sở phải đúng chuẩn mực theo điều lệnh, điều lệ, kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Để có phong cách này, cán bộ cơ sở phải luôn thể hiện mình là người mẫu mực trong chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên; các chế độ, quy định, kỷ luật và pháp luật. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cán bộ cơ sở phải luôn giữ đúng phẩm chất nhân cách của người quân nhân cách mạng, tư cách của người đảng viên, thể hiện rõ được bản chất của đội quân cách mạng. Trong quan hệ với nhân dân, thực hiện đúng mười Lời thề danh dự của quân nhân, mười hai Điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; đồng thời, chỉ huy toàn đơn vị thực hiện đúng các quy định đó. Có như vậy mới “làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội”.
Năm là, với tư cách là người quản lý, chỉ huy, trực tiếp làm công tác giáo dục cho cán bộ cấp dưới, hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị mình, cán bộ cơ sở là người đi tiên phong trong giáo dục, vận động, thuyết phục từng người, từng bộ phận, từng tổ chức và toàn đơn vị. Để hoàn thành tốt chức năng là nhà giáo dục, cán bộ cơ sở cần đề cao phong cách nêu gương. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, cán bộ cơ sở phải “làm người kiểu mẫu” trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn. Mọi lúc, mọi nơi đều phải làm gương cho toàn đơn vị, như Hồ Chí Minh đã dạy: “Mình chủ trương cho bộ đội làm việc gì thì mình phải làm trước, làm đúng, hết sức làm hơn ai hết. Từ công việc nhỏ đến công việc to đều như thế. Gặp lúc gay go, nguy hiểm chừng nào thì người lãnh đạo càng xông pha trước chừng ấy mới kéo được người khác theo mình”. Theo đó, cán bộ cơ sở phải mẫu mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống và phương pháp tác phong công tác. Muốn vậy, phải tự tu dưỡng, rèn luyện và thấm nhuần đạo đức cách mạng, suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng cộng sản; phải luôn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; phải bằng cái “tâm”, “tầm” và “trí” làm cho mọi quân nhân tin tưởng noi theo, đem hết sức mình cống hiến cho Tổ quốc, nhân dân.
Phong cách làm việc của cán bộ cơ sở trong Quân đội là nghệ thuật lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị. Để có được phong cách làm việc khoa học, dân chủ, quần chúng, đúng pháp luật và nêu gương theo phong cách Hồ Chí Minh đòi hỏi công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngay ở các nhà trường phải thường xuyên được coi trọng. Đặc biệt, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân, nhất là Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Thực hiện tốt những giải pháp trên sẽ góp phần xây dựng phong cách làm việc khoa học cho cán bộ cơ sở trong Quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.
ST

XANH MÁT NHỮNG VƯỜN RAU Ở TRƯỜNG SA

 Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, nhưng quân và dân Trường Sa đã nỗ lực để tăng gia sản xuất, đảm bảo nguồn rau xanh phục vụ cho bữa ăn hàng ngày.

Chủ động nguồn rau xanh
Những ngày công tác ở Trường Sa, mỗi lần đặt chân lên đảo, chúng tôi bắt gặp những vườn rau mơn mởn, những giàn bầu, bí, mướp trĩu quả…, đặc biệt là những nhà lưới được quây kín không khác gì trong đất liền. Điều đó thể hiện nỗ lực rất lớn của quân và dân Trường Sa trong việc tự túc nguồn rau xanh.
Trung tá Nguyễn Thiên Hòa - Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa Lớn cho biết, Trường Sa Lớn là đảo lớn nhất trong quần đảo nên có nhiều thuận lợi hơn trong việc tăng gia sản xuất. Trên đảo có 9 giếng nước lợ, đủ lượng nước phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, tăng gia trên đảo. Chương trình tăng gia sản xuất được quân và dân trên đảo quan tâm, bởi chủ động được nguồn rau xanh sẽ cải thiện bữa ăn, sức khỏe cho quân và dân. Hạt giống được chuẩn bị rất đa dạng, mùa nào thức nấy, nhưng rau muống vẫn là chính, tiếp đến là cải, mồng tơi, bầu, bí, mướp… Ngoài ra, đu đủ trên đảo được trồng rất nhiều, quân và dân sử dụng quanh năm.
Được biết, nhờ sự hỗ trợ từ đất liền, giống rau xanh, bầu, bí các loại và phân bón, vật tư phục vụ sản xuất được các tàu hậu cần đưa ra đảo nên việc trồng rau ở Trường Sa Lớn khá thuận lợi. Đảo hoàn toàn chủ động 100% nguồn rau xanh cho quân và dân.
Còn Thượng tá Nguyễn Xuân Trường - Chỉ huy trưởng đảo Song Tử Tây cho hay, đảo được đất liền, Vùng 4 Hải quân hỗ trợ vật tư, cây giống. Ngoài ra, đảo còn có một vườn ươm cây con để sản xuất thử nghiệm; có một số khu vực để bộ đội trồng các loại rau xanh, củ quả phục vụ nhu cầu thực phẩm trên đảo. Nhờ đó, đảo có thể tự cung cấp nguồn rau xanh gần như quanh năm.
Khắc phục khó khăn
Theo Thượng tá Nguyễn Xuân Trường, vào thời kỳ gió mùa hoạt động gần Tết, việc tăng gia gặp khó khăn hơn. Gió thổi mạnh, nhiệt độ hạ thấp, sương muối nhiều nên cây trồng thường bị héo cây, rụng lá, thậm chí chết nên việc che chắn được quan tâm hàng đầu. Quân và dân trên đảo Song Tử Tây tìm cách che chắn bằng ni-lông, quây bạt hay đưa vào nhà lưới sản xuất. Chỉ bằng cách đó, mới duy trì được rau xanh, đảm bảo phục vụ bữa ăn trên đảo trong mùa gió bão.
Chúng tôi tìm hiểu ở những hộ gia đình trên các đảo về cách trồng rau xanh trong điều kiện thời tiết bất lợi. Ông Nguyễn Huy Cường - người dân xã Song Tử Tây cho biết, việc trồng rau xanh ở Trường Sa gặp nhiều khó khăn hơn đất liền rất nhiều, nhất là mùa gió lạnh, cây không lên nổi. Đôi khi ban ngày thời tiết bình thường, nhưng về đêm gió nổi lên, sương muối khiến cho cây héo rũ, quắn lá, không phát triển được. Cách khắc phục là che chắn bằng ni-lông, bạt và hàng ngày tưới nước ấm, pha 7 phần nước lợ với 3 phần nước ngọt được dữ trữ trong các bể. Nhờ vậy, gia đình ông không thiếu rau xanh, xung quanh nhà luôn xanh mát.
Binh nhất Trần Minh Công - chiến sĩ trên đảo Sinh Tồn cho biết, việc tăng gia của bộ đội diễn ra thường xuyên sau giờ ra thao trường. Nguồn giống rau được chia sẻ từ các đơn vị khác trên đảo; đất trồng, phân bón được cung cấp từ các tàu hậu cần. Rau xanh chủ lực vẫn là rau muống, các loại quả bầu, bí, đu đủ... Thời kỳ giáp Tết, thời tiết khắc nghiệt nên việc trồng và sản xuất rau xanh gặp nhiều khó khăn; bộ đội phải quây lưới, che chắn mới có thể đảm bảo nguồn cung cấp rau xanh cho bữa ăn hàng ngày./.
ST