Thứ Năm, 20 tháng 7, 2023

CHẠY ĐÂU CHO THOÁT

 Kẻ cầm đầu bị bắt giữ là Y Sol N., quê tỉnh Gia Lai, sinh sống tại TP Buôn Ma Thuột, có quốc tịch Mỹ. 


Khi ập vào nhà đối tượng ở TP Buôn Ma Thuột, cảnh sát phát hiện tiền vứt khắp nơi. Khám xét khắp các phòng không thấy ai, khi kiểm tra thêm các góc kính nhà tượng, trinh sát thấy có một vật dài khoảng 1,8m, quấn vải kín mít để sâu dưới gầm giường. Thoạt nhìn, ai cũng thấy giống như xác ướp thời Ai Cập. Khi đưa vật này ra ngoài thì phát hiện đó là 1 người đàn ông lực lưỡng. Đó chính là Y Sol N., kẻ cầm đầu đang lẩn trốn.


Tuy không trực tiếp tham gia cầm súng tấn công 2 trụ sở xã nhưng Y Sol N. có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động của nhóm tội phạm này. Hắn cũng có liên hệ với các đối tượng lưu vong, phản động chống phá nhà nước.


#Trường Tồn

M Lời Bác dạy Ngày 22/7/1954

“Cả nước đồng lòng, muôn người như một, chúng ta nhất định thắng lợi”. Là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi sau Hội nghị Giơnevơ thành công” được Người viết ngày 22 tháng 7 năm 1954, Báo Nhân dân đăng trên số 208, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7 năm 1954. Trước đó, ngày 26 tháng 4 năm 1954 khi Quân đội ta kết thúc chiến dịch tấn công đợt 2 ở Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sỹ) bắt đầu khai mạc. Tham dự Hội nghị có đại diện của: Việt Nam, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Lào, Campuchia và chính quyền Bảo Đại. Trải qua 08 phiên họp toàn thể, 23 phiên họp hẹp căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết; theo đó, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền qua vĩ tuyến 17 và tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước trước tháng 7 năm 1956. Để kịp thời thông báo kết quả Hội nghị và tiếp tục khẳng định vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tâm, hiệp lực trong đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi trên. Thực hiện lời kêu gọi của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh anh dũng chiến đấu và chiến thắng trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn nhận thức sâu sắc sức mạnh quân đội nằm trong kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất; đây là nhân tố hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tiễn đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và chiến thắng trong chiến đấu được bắt nguồn tự sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo, chỉ huy với quần chúng, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa quân với dân, tiền tuyến và hậu phương. Quân đội ta là một quân đội cách mạng; cán bộ, chiến sĩ là những người cùng chung lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ. Mối quan hệ giữa cán bộ, chiến sĩ được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, đồng chí, đồng đội. Đoàn kết, thống nhất là truyền thống, là lời thề danh dự, nét đẹp văn hóa trong phẩm cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là động lực, nhân tố tích cực để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

M Lời Bác dạy Ngày 21/7/1956

“Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý.” Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Nhân dân Việt Nam khi Người đến thăm nhà trường ngày 21 tháng 7 năm 1956. Đây là thời kỳ miền Bắc bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tự do tư tưởng trong học tập, nghiên cứu là bản chất tốt đẹp của chế độ dân chủ mà nhân dân ta đang xây dựng; mục đích của tự do tư tưởng là để tìm ra chân lý và chân lý chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân. Do vậy, nếu đi chệch mục đích đó thì tự do sẽ trở thành phản dân chủ, thành tự do vô tổ chức. Lời dạy trên, chính là minh chứng về phong cách nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm của Hồ Chí Minh; trước những vấn đề lớn, Bác vẫn dùng cách khái quát thành những triết lý rất đời thường, để ai cũng hiểu, cũng nhớ và có thể thực hiện được. Thông qua đó, Người cũng muốn gửi gắm tới đội ngũ cán bộ, đảng viên và mọi người Việt Nam phải luôn biết đặt lợi ích của quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nguyện thề tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, dù gian lao, khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, Nhân dân lên trên, lên trước; kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước những tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy và sự chống phá của các thế lực thù địch. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

PHÓNG SINH ?!!

 


Tôi hỏi một sư thầy rằng :

- Thưa thầy ! Chim chóc ở đâu ra mà nhiều vậy ?

Thầy bảo :

- Không ở rừng mang về thì ở đâu !

Tôi hỏi tiếp :

- Nếu không có những cuộc phóng sinh như thế này , thì liệu chúng có bị đánh bẫy và bị tóm bắt hàng loạt như thế này không ?

  Sư thầy lặng lẽ quay gót vào chùa .

  Tôi nói to :

- Nếu phật mở đức hiếu sinh thật sự , thì làm ơn đừng bày ra trò phóng sinh nữa ! Cứ hàng năm phóng sinh như thế này thì đến lúc nào đó một mống cũng không còn (kinh khủng hơn chiến dịch diệt chim sẻ của Mao Trạch Trạch Đông) đấy ạ !

Khi chim chóc bị tuyệt diệt thì con người cũng bị tuyệt diệt theo , chứ đừng hi vọng mang lại vận may....

   Có thể , chính các thầy là nguyên nhân dẫn đến cái chết của hàng đàn chim non đang chết khô vì đói vì chờ chim bố mẹ đi kiếm ăn mà mãi mãi không về...

- Biết đạo thì phải hiểu đạo . Hiếu đạo thì mới hành đạo được chứ ??

 (Đúng là đạo cao một thước , Ma cao một trượng).

Sưu tầm

🍂🍂🍂

M Lời Bác dạy Ngày 20/7/1957

“Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”. Câu nói trên được trích trong phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tiệc chiêu đãi của Chủ tịch Dapôtốtxki nước Cộng hòa Tiệp Khắc ngày 20 tháng 7 năm 1957 nhân dịp Người sang thăm và làm việc với nước bạn. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ để thống nhất Tổ quốc bằng phương pháp hòa bình. Hồ Chí Minh một mặt khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là chân lý của thời đại, dù có khó khăn, gian khổ đến đâu, nhưng đó chắc chắn là quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người. Mặt khác, đó còn là sự khẳng định về tính đúng đắn, sáng tạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xác định con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người đã thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự tin tưởng và cảm mến với những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà nhân dân, Chính phủ Tiệp Khắc anh em đã giành được và khẳng định tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng giữa nhân dân hai nước để cùng tiến bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Lời dạy của Bác là cơ sở quan trọng để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng, phát triển trong cương lĩnh xây dựng đất nước, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XX khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào thoái trào và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thành tựu bước đầu rất quan trọng của hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng càng làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự kiên định của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta là đúng đắn, hợp quy luật. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

M Lời Bác dạy Ngày 19/7/1965

“Phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa bộ đội với nhau, giữa nhân dân với bộ đội”. Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội Phòng không - Không quân khi Người đến thăm đơn vị ngày 19 tháng 7 năm 1965 (nay là Lữ đoàn Pháo Phòng không 234/ Quân đoàn 3). Đây là thời gian đế quốc Mỹ xâm lược đang tăng cường leo thang chiến tranh ra miền Bắc bằng không quân. Người đã chỉ rõ vai trò to lớn của đoàn kết và khẳng định rằng, đoàn kết chính là yếu tố quyết định để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta làm cách mạng thắng lợi, kháng chiến thành công. Vì vậy, bộ đội Phòng không - Không quân nói riêng, toàn quân nói chung muốn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thì phải đoàn kết hơn nữa; phải chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong nội bộ và đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội với nhân dân. Điều này phản ánh quan điểm của Người về nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, sức mạnh của đất nước thông qua xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong quân đội và giữa quân đội với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời dạy của Bác được cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội Phòng không - Không quân nói riêng, toàn quân nói chung ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, bảo đảm cho bội đội Phòng không - Không quân, quân và dân ta phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy tinh thần đại đoàn kết, tiếp nối quan điểm, đường lối về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua các kỳ đại hội, Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khắc ghi lời Bác dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí. Đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, đi dân nhớ, ở dân thương… đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân nhân cách mạng, đồng thời cũng là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lời Bác dạy Ngày 18/7/1955

“Dựa vào nhân dân thì việc gì, dù khó đến đâu cũng có thể làm được.” Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sức mạnh nhân dân” bút danh H.B, đăng trên Báo Nhân dân số 502, ngày 28 tháng 7 năm 1955. Đây là năm đầu miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, nhằm mục đích củng cố hòa bình, tiếp tục thực hiện sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cần phải phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ, sức mạnh của toàn dân để giành thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng và đề cao vai trò của nhân dân, Người chỉ rõ: Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Đây chính là triết lý về vai trò của nhân dân và mối quan hệ giữa Đảng với dân; là định hướng về tư tưởng, thái độ và hành động cho cán bộ, đảng viên trong quan hệ với nhân dân. Yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; luôn tôn trọng dân, lắng nghe và học hỏi dân; khơi nguồn sức mạnh trong dân, biết dựa vào dân để giải quyết các công việc cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng và làm tốt công tác dân vận, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân để giành thắng lợi trong kháng chiến, kiến quốc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, tin tưởng và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mối quan hệ quân - dân là một hình mẫu tiêu biểu cho mối quan hệ máu thịt, cá - nước, thủy chung vẹn toàn, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Thực hiện chức năng đội quân công tác, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, giúp dân phát triển kinh tế - xã hội; xóa đói, giảm nghèo; xóa mù chữ; xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,… Qua đó, không ngừng củng cố, giữ vững mối quan hệ gắn bó quân dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, thiết thực thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới.

Lời Bác dạy Ngày 17/7/1966

“ ...Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, được Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng ngày 17 tháng 7 năm 1966 trong thời điểm đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam; đồng thời, leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đồng tâm, nhất trí, anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hiến dâng máu xương, chiến đấu, hy sinh đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giải phóng dân tộc và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường; song giá trị của lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn không hề thay đổi. Chân lý đó đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng chính là cội nguồn để tạo nên “những thành tựu có ý nghĩa lịch sử” góp phần nâng cao uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhận thức sâu sắc, tin tưởng vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng bản lãnh chính trị kiên định, vững vàng, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí, trang bị, tinh thông về kỹ, chiến thuật, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Lời Bác dạy Ngày 16/7/1947

“Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh.” Đây là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống khoan dung, độ lượng của dân tộc Việt Nam khi Người trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài ngày 16 tháng 7 năm 1947. Thời điểm này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Đây cũng là lúc xuất hiện các quan điểm trái chiều về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cần phải được định hướng cho thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nào cũng có những đảng phái với những quan điểm chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Song khi lợi ích chung của dân tộc bị lâm nguy thì các đảng phái phải đoàn kết để cứu nước. Do đó, sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam là thực hiện lợi ích chung của dân tộc. Nếu đảng phái nào lợi dụng sự khác nhau về quan điểm chính trị mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung. Song nhân dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc. Tư tưởng nhân văn, nhân đạo Hồ Chí Minh đã thấu suốt trong các chủ trương, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách đối với tù, hàng binh. Truyền thống, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo không chỉ đối với những người Việt Nam lầm đường, lạc lối đi theo giặc, nay giác ngộ và trở về với Tổ quốc, mà được quân và dân ta đối xử khoan hồng, nhân đạo với cả những tù, hàng binh, những người đã mang bom, đạn đến tàn phá quê hương, cướp bóc tài sản, giết hại người già, phụ nữ và trẻ em vô tội. Lòng khoan dung, vị tha, độ lượng, chính sách khoan hồng, nhân đạo thể hiện sâu sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả vì con người, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả, chấp hành nghiêm chính sách đối với tù, hàng binh... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Lời Bác dạy Ngày 15/7/1950

“Trong công việc cách mạng, công việc kháng chiến kiến quốc, không có việc sang, việc hèn, mọi việc đều quan trọng. Mọi người phải làm tròn nhiệm vụ của mình”. Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Phải chữa cái bệnh cấp bậc”, đăng trên Báo Sự thật, số 136, ngày 15 tháng 7 năm 1950. Bài viết ra đời trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị chuyển sang giai đoạn phản công và tiến công. Đây cũng là thời điểm Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Biên giới 1950 để củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, phá hàng rào phong tỏa của thực dân Pháp nhằm nối liền nước ta với thế giới dân chủ. Do đó, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên nói riêng, bộ máy Đảng, Nhà nước nói chung là hết sức quan trọng và cấp thiết. Trong bài viết, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những cán bộ có dấu hiệu của bệnh cấp bậc là chán nản, tiêu cực; khúm núm, tự ti hoặc tự kiêu, tự đại, coi thường đồng chí, đồng đội. Hậu quả của bệnh cấp bậc là cán bộ không đoàn kết, công việc không trôi chảy. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của căn bệnh cấp bậc là do cán bộ chưa gột sạch óc quan liêu, ngôi thứ, còn mang nặng chứng “quan cách mạng” và chưa hiểu rằng, hoạt động của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cơ quan, đoàn thể được ví như là hoạt động của một chi tiết liên kết chặt chẽ trong bộ máy lớn. Trong đó, mỗi chi tiết của bộ máy đều có một vị trí, vai trò nhất định bảo đảm cho sự hoạt động của cả bộ máy. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã dạy, trong công việc cách mạng, công việc kháng chiến kiến quốc, không có việc sang, việc hèn, mọi việc đều quan trọng. Mọi người phải làm tròn nhiệm vụ của mình. Tất cả mọi ngành và tất cả mọi người phải đoàn kết thân mật, hợp tác chặt chẽ, như tay với chân, thì công việc mới thành công. Lời dạy của Hồ Chí Minh đã nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về vị trí, tầm quan trọng của mỗi công việc cách mạng; trên cơ sở đó đề cao trách nhiệm, phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mình được giao. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên đã đề cao tự phê bình và phê bình, kiên quyết tẩy sạch tư tưởng ngôi thứ, địa vị và chủ nghĩa cá nhân, đặt công việc chung, lợi ích chung của Đảng, của cách mạng lên trên, lên trước. Học tập và làm theo lời Bác dạy, tự hào với truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, vinh dự với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn nhận thức sâu sắc và xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, gắn liền với niềm vinh dự lớn khi được Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng, giao phó trọng trách bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi quân nhân dù được phân công đảm nhiệm chức trách, nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực, thi hành một cách nhanh chóng và chính xác; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, kèn cựa địa vị, so đo, tính toán thiệt hơn; kiên quyết đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Lời Bác dạy Ngày 14/7/1955

“Học trò chẳng những học ở trường, học trong sách, mà còn cần học trong công tác phục vụ nhân dân một cách thực tế nữa.” Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Kết hợp học với hành”, đăng trên Báo Nhân dân, số 498, ngày 14 tháng 7 năm 1955. Đây là năm đầu tiên miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, nhằm mục đích củng cố hòa bình, tiến tới giành độc lập, thống nhất nước nhà. Thông qua bài viết, Hồ Chí Minh nhắc nhở cả người dạy và người học phải quán triệt và hiểu sâu sắc ý nghĩa của việc học, không chỉ học ở trong nhà trường, ở trong sách, mà còn phải học ở mọi người. Học tập là quá trình tiếp thu, thấm nhuần những tri thức được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống và đem những tri thức đó áp dụng vào thực tiễn, để cải tạo thực tiễn và thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn. Lời dạy của Người được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; chú trong nâng cao chất lượng và phát triển một nền giáo dục thực sự vì con người, vì cuộc sống, vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động dạy học trong các nhà trường quân đội và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở các cơ quan, đơn vị, đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện, tập trung huấn luyện bảo đảm đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện toàn diện, lấy thực hành làm chính; coi trọng huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị mới, huấn luyện đêm, huấn luyện sát với đối tượng tác chiến, địa bàn, khu vực phòng thủ. Đồng thời, làm tốt công tác sơ, tổng kết để rút ra những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả để bổ sung vào các tài liệu, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả toàn diện công tác giáo dục, đào tạo và huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

VẤN ĐỀ -SỰ KIỆN: "ĐỒNG MINH: THUẬN MUA - VỪA BÁN"!

Hình dưới đây cụ ông đang bắt tay với Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lý Thượng Phúc chính là ông Henry Kissinger-cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ. Là một người rất nặng nợ với anh em "vùng 5 chiến thuật".

Nói như vậy là bởi nhờ có ông mà anh em bên Mỹ xây dựng được "vùng 5 chiến thuật" như ngày hôm nay. Năm 1971, Kissinger bí mật đến Bắc Kinh gặp gỡ quan chức Trung Quốc, mở đường cho chuyến thăm Trung Quốc của Nixon một năm sau đó. Cũng từ đây số phận của anh em bốn vùng chiến thuật đã an bài. (Thời VNCH miền Nam được chia làm 4 vùng chiến thuật).

Cụ ông năm nay đã hơn trăm tuổi, việc chính phủ Mỹ phải "mượn" cụ sang Trung Quốc để "ôn nghèo kể khổ" một lần nữa cho thấy Mỹ rất cần Trung Quốc. Phải có đất hiếm để sản xuất chất bán dẫn, mà Trung Quốc thì đang đòi cấm xuất khẩu. Tuần trước bà Yellen, Bộ trưởng Tài chính Mỹ cũng đã phải sang Trung Quốc vì vấn đề trên. Chuyến thăm với màn bắt tay "gật như bổ củi" gây tốn khá nhiều giấy mực của truyền thông thế giới.

Hôm nay, 20/7/2023 bà Yellen cũng sẽ sang thăm Việt Nam trong 3 ngày. Việt Nam, quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn thứ 2 thế giới (sau Trung Quốc). Và tất nhiên chủ đề đất hiếm sẽ được đề cập đến trong chuyến thăm của bà.

Việc cụ ông Kissinger đến Trung Quốc hay việc bà Yellen đến Việt Nam một lần nữa cho thấy khi cần lợi ích Mỹ sẽ tìm đồng minh và ngược lại. Riêng chuyện này thì chính Nguyễn Văn Thiệu đã phải thừa nhận, đọc cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" của Nguyễn Tiến Hưng mà thấy thương cho giới tướng tá chế độ ngụy quyền Sài Gòn...

Có lẽ niềm an ủi của họ là lập được vùng 5 chiến thuật trên đất Cali. Để nhớ về cái thời huy hoàng của Khi Đồng Minh Nhảy Vào (Nguyễn Tiến Hưng). Và giờ ngày ngày chứng kiến cái quốc gia đồng minh của mình lại đang đi "ve vãn" những người Cộng Sản!
P/s: Mỹ sẽ không bao giờ bán đồng minh khi chưa được giá!
Yêu nước ST.

BÔNG HOA CỨT LỢN GIỮA ĐÁM PHÂN TRÂU... TG: Khoa Trần

Ấy.. ấy,.. nói oan cho chị, chị không phải là hoa cứt lợn, chị là hoa lan hẳn hoi nhé, bọn xấu mồm gọi chị là " cứt lợn " thôi...

49 tuổi, đẹp, có bằng Tiến Sĩ của Anh Quốc, con nhà " danh gia vọng tộc"( có lẽ thế, vì làm đến Cục trưởng cục lãnh sự BNG thì không phải dạng vừa)....


ĐIỀU KHÔNG NGỜ TỚI…

Được nghỉ tranh thủ hai ngày cuối tuần, sau khi giao ban anh cố giải quyết nốt mấy việc để đi sớm cho kịp xe mà đến lúc xong việc thì trời đã chạng vạng tối. Giờ này lên bến xe chắc không còn chuyến nào nữa, anh quyết định bắt xe ôm ra thẳng đường quốc lộ vẫy xe may ra được. Ra đến quốc lộ trời đã tối sẫm, mưa ngày càng nặng hạt, gió rít từng cơn lạnh buốt, anh đã vẫy hồi lâu mà tất cả các xe cứ lao qua vun vút. Sau khi vẫy khá nhiều xe tưởng chừng như vô vọng thì may mắn lại tới. Chiếc xe giảm tốc tấp vào lề đường, anh vội vàng chạy theo, tới bên cửa xe, trên xe chỉ có lái xe và ông trung niên, chắc là sếp. Sau khi nhìn anh từ đầu đến chân, ánh mắt ông cứ nhìn đi nhìn lại cái ba lô lộn anh cầm trên tay và đặt rất nhiều câu hỏi như: Đi đâu, làm gì…cuối cùng ông chủ cho anh lên xe.

Phát triển toàn diện-nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội chủ nghĩa

         Quan điểm về phát triển toàn diện của Người chính là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong đó sự phát triển hài hòa trong từng lĩnh vực và giữa các lĩnh vực là cơ sở cho sự phát triển bền vững, là điều kiện của sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Phát hiện quan trọng nữa của Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chưa phát triển như Việt Nam, đó là không chỉ là vấn đề đấu tranh giai cấp mà trước hết và trên hết phải tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giải phóng họ khỏi nghèo nàn, dốt nát và lạc hậu. Phát triển xã hội nhằm mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân, xứng đáng với một nước độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội. Ðó là con đường phấn đấu lâu dài, gian khổ, liên tục trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục… Có thể nói, trong quá trình lãnh đạo xây dựng xã hội mới Việt Nam sau khi giành độc lập, Hồ Chí Minh không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây tư bản chủ nghĩa vào thực tiễn một nước phương Đông thuộc địa như Việt Nam mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác, phù hợp với các nước chưa qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản, mà Việt Nam là một minh chứng tiêu biểu.

Phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội

          Hồ Chí Minh; trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế. Người căn dặn: “Phải luôn luôn nhớ rằng: Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân” và nhấn mạnh “tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”. Khi các vấn đề xã hội được giải quyết mang tính hợp lý, công bằng, tiến bộ thông qua chính sách xã hội sẽ góp phần nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích người lao động sản xuất để thực hiện các mục tiêu kinh tế. Bên cạnh đó, giữa văn hóa và xã hội có sự gắn bó khăng khít với nhau, mục tiêu của sự phát triển xã hội cũng chính là mục tiêu văn hóa như: xóa đói, xóa nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp, phổ cập giáo dục tiểu học, nam nữ bình đẳng và nâng cao vị thế cho phụ nữ, vấn đề chăm sóc sức khỏe, bảo đảm bền vững về môi trường… Hơn nữa, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người và các quan hệ xã hội, nhằm hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người, từ đó, tạo động lực mạnh mẽ phát triển đến tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

        Hồ Chí Minh quan niệm xã hội là sự thống nhất biện chứng trong các lĩnh vực cơ bản, đó là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Người cho rằng: “Trong công cuộc kiến thiết đất nước ta, có bốn vấn đề cùng phải chú ý, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau, không được xem nhẹ mặt nào, đó là: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội”. Xã hội phát triển phải là xã hội với một thể chế chính trị dân chủ, một nền kinh tế có lực lượng sản xuất hiện đại tương ứng là quan hệ sản xuất phù hợp; một nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng; một xã hội bình đẳng, công bằng, nhân dân thoát nạn bần cùng, được sống đời hạnh phúc.

        Chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội là những lĩnh vực, những thành tố thiết yếu tạo nên sự vận động và phát triển xã hội. Nhưng với Hồ Chí Minh, sự phát triển không chỉ cần đến các yếu tố tạo nên động lực phát triển; điều quan trọng là các thành tố đó phải tổ hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong sự tác động nhiều chiều, đa dạng và thường xuyên. Trong triết lý phát triển xã hội của Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế là điều kiện căn bản để cho xã hội phát triển bền vững. Người nói: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”. Đó là triết lý duy vật về sự phát triển toàn diện xã hội của Hồ Chí Minh. Việc xây dựng xã hội dân chủ, giàu mạnh, văn minh đòi hỏi phải xây dựng kinh tế là trung tâm, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội. Về nguyên lý, kinh tế là yếu tố quyết định tính chất và diện mạo của đời sống chính trị – xã hội. Xây dựng kinh tế làm cơ sở hạ tầng cho sự phát triển văn hóa, chính trị là điều kiện vật chất thực hiện các chính sách xã hội, liên quan mật thiết đến chất lượng dân sinh. Theo đó, mức sống với sản xuất được Hồ Chí Minh ví như thuyền với nước, “nước dâng thì thuyền lên. Sản xuất, kinh tế của chúng ta có phát triển thì đời sống mọi người mới cải thiện”.

        Mặt khác, Người cũng chỉ ra tác động tích cực của chính trị với văn hóa và kinh tế. Muốn tiến bộ, xây dựng kinh tế cũng như mọi việc khác phải lấy chính trị làm đầu, tư tưởng phải thông suốt từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra nhân dân và “Để cải tạo xã hội, một mặt phải cải tạo vật chất như tăng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng. Nếu không có tư tưởng xã hội chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được”. Khi dân tộc và đất nước còn bị nô lệ thì văn hóa cùng chung số phận nô lệ đó, vì vậy, theo Hồ Chí Minh, phải tiến hành cách mạng chính trị trước để giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó, giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. Người nhấn mạnh rằng, có chính trị mới có văn hóa, xưa kia, chính trị bị đàn áp, nền văn hóa của ta vì thế không nảy sinh được.

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

Nhận diện và khắc phục chủ nghĩa giáo điều để bảo vệ nền tảng tư tưởng

         Nhận diện những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam hiện nay là việc rất hệ trọng. Nhận diện đúng, tìm ra đúng nguyên nhân của chủ nghĩa giáo điều thì mới có các giải pháp khắc phục. Có thể khẳng định rằng, khắc phục chủ nghĩa giáo điều là một trong những giải pháp quan trọng nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt  Nam – bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

        Chủ nghĩa giáo điều dùng để chỉ một kiểu tư duy phản lịch sử, phản biện chứng, sơ đồ hoá một cách cứng nhắc, mà ở đó sự phân tích và đánh giá các vấn đề lý luận và thực tiễn đã không tính đến những diễn biến hiện thực cụ thể, bối cảnh không gian và thời gian, do đó rơi vào phương pháp luận siêu hình, chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí và tín ngưỡng luận...)

        Cơ sở nhận thức luận của CNGĐ là thái độ một chiều đối với chân lý, biến tất cả các yếu tố hàm chứa trong nó thành cái tuyệt đối, siêu việt, không chịu sự quy định của những điều kiện không gian, thời gian lịch sử, xem nhẹ tính tương đối. Vì thế CNGĐ không tránh khỏi căn bệnh chủ quan, võ đoán và sự áp đặt trong đánh giá sự vật.

            Cội nguồn xã hội của CNGĐ gắn liền với nhu cầu của một giai cấp, tầng lớp, cá nhân duy trì và củng cố lập trường, quan điểm, cũng như vị thế của mình. CNGĐ xuất hiện khi một lực lượng xã hội vì mục đích “bảo vệ các nguyên lý” đã không chấp nhận sự phản biện của xã hội, triệt tiêu tinh thần tranh luận, cắt đứt mối liên hệ với các học thuyết, trào lưu tư tưởng khác và kết quả là lý luận tách rời thực tiễn.

Đối ngoại-động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc

         Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự tiếp nối của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc. Đồng chí Tổng Bí thư đã đúc kết truyền thống đối ngoại của dân tộc, từ những tư tưởng, nguyên tắc, quan điểm lớn về đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Đồng chí nêu rõ: Chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đó là “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” và “Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường”. Về những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, “Chúng ta cần xây dựng vị thế và tâm thế mới của Việt Nam trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương cũng như đa phương”. Theo đó, “phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác đối ngoại, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm kiếm các đối tác mới, hướng đi mới… trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, chắc chắn, thận trọng, kiên định mục tiêu và chân thành, khiêm tốn”.

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG MÀ CỨ TUYÊN TRUYỀN CHO PHƯƠNG TÂY: BÁO ĐỘNG LẦN THỨ N!

         Trong con mắt của Nhân dân, của cử tri, các cơ quan báo chí chính thống, có tên "đảm bảo" ví dụ như "Truyền hình Quốc hội" chính là đại diện cho bộ mặt, ý chí của Đảng, Nhà nước và cụ thể là cơ quan chủ quản mà nó lấy tên! Phàm đã là báo chí chính thống, báo chí cách mạng thì tiêu chí đầu tiên vẫn là tính chính trị, sự mực thước chuẩn chỉnh, tính định hướng dư luận...

Nhưng thật vô cùng thât vọng, lo lắng, đáng báo động khi sự nhạy bén chính trị, tính Đảng, tính định hướng ngày càng mờ nhạt! Thay vào đó là vấn nạn dẫn lại, xào xáo lại tin tức từ báo chí phương Tây, mà tai hại hơn là nhiều khi còn dẫn lại cả tin giả nữa! Ô hay, vậy chẳng hóa ra là bộ máy truyền thông của ta đã tuyên truyền không công cho ý đồ chính trị, ý thức chính trị, định hướng chính trị của phương Tây rồi sao? 

Ban Biên tập, quản trị viên, đội ngũ trực tiếp biên tập, sản xuất đăng tải những thông tin này có ý thức được hậu quả, hệ lụy về chính trị, tư tưởng có thể xảy ra? Dư luận có quyền đặt nghi vấn về ý thức chính trị, ý thức trách nhiệm, trình độ lý luận, sự nhạy bén và năng lực của ekip sản xuất ra những thông tin dạng này trên báo chí chính thống?!

Một lần nữa tôi xin được phản ánh thực trạng nhức nhối của báo chí và những bức xúc của dư luận Nhân dân. Tha thiết mong cơ quan tư tưởng của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chủ quản của các đơn vị báo chí, truyền thông cần tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng, quản lý, giám sát và chấn chỉnh báo chí; cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực, lý luận chính trị, ý thức chính trị... cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, quản trị viên, đội ngũ lãnh đạo, quản lý báo chí.. để đảm bảo báo chí, truyền thông hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, có tính Đảng, tính định hướng và đúng vai, đúng tầm./.






Yêu nước ST.