Thứ Năm, 20 tháng 7, 2023

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ quan trọng trong công tác đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh hiện nay.
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Thứ nhất, cần phải xây dựng nhà nước hợp hiến, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích của chế độ thực dân. Ngày 2/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là phải có một Hiến pháp dân chủ. Người khẳng định: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(1), “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử... Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(2). Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công. Tháng 3/1946, Chính phủ hợp hiến đầu tiên đã được Quốc hội cử ra, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đây là cơ sở pháp lý, hợp hiến buộc các lực lượng đồng minh phải thương thảo với Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu.
Thứ hai, để xây dựng một nhà nước vững mạnh, cần chú trọng nâng cao vai trò của pháp luật trong các hoạt động của đời sống xã hội.
Từ rất sớm, năm 1919, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Người đã yêu cầu Chính phủ Pháp và chính quyền thuộc địa ban hành hiến pháp, bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh, thay thế vào đó bằng các đạo luật, “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”(3).
Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở các nước phương Tây, Người đã tiếp cận nhiều luồng tư tưởng và các mô hình nhà nước pháp quyền, từ đó nhận thấy mô hình nhà nước pháp quyền có những ưu điểm nổi trội so với mô hình nhà nước chuyên chế đã ngự trị hàng nghìn năm ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam thời kỳ phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến. Từ đó, tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước pháp quyền dần được hình thành; Người viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”(4).
Với cương vị là Chủ tịch nước, Người đã hai lần được cử làm Trưởng ban dự thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Những quyền và tự do dân chủ của người dân luôn được coi là các quyền hiến định, cao cả và thiêng liêng đối với mỗi con người, mỗi công dân. Hiến pháp năm 1959 quy định: “Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật”.
Bên cạnh đó, Người xác định con đường xây dựng nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra Chính phủ mới, quân đội, công an, tòa án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân”(5). Tính dân chủ của pháp luật không chỉ thể hiện ở chỗ nội dung các đạo luật ghi nhận quyền và lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng các đạo luật. Việc xây dựng hệ thống pháp luật phải xuất phát từ ý kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp của các cơ quan, đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Để bảo đảm pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bản Hiến pháp của chúng ta sẽ thảo ra chẳng những phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân miền Bắc, mà còn phải là một mục tiêu phấn đấu cho đồng bào miền Nam(6). Để Hiến pháp và pháp luật đi vào cuộc sống, Người yêu cầu phải xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện; đồng thời nhấn mạnh phải hết sức chú trọng việc tuyên truyền trong quần chúng nhân dân vấn đề công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; đòi hỏi cán bộ, công chức phải không ngừng học tập nâng cao trình độ năng lực công tác, am hiểu pháp luật và thực hiện nghiêm minh, vừa tăng cường pháp luật, vừa đẩy mạnh giáo dục đạo đức công vụ và đạo đức công dân.
Ba là, nhà nước pháp quyền là nhà nước phải có sự kết hợp giữa vai trò của đạo đức với pháp luật.
Đây là nét đặc sắc, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong các quan điểm về xây dựng nhà nước. Với trí tuệ và kinh nghiệm của một chính trị gia uyên bác, Người đã chắt lọc, kế thừa và phát triển các quan niệm trên và kết hợp khéo léo vai trò của đạo đức và của pháp luật.
Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7). Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước ta cũng đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân”. Như vậy, "ngay từ khi mới lập nước, pháp luật của nước ta đã vừa mang những giá trị văn minh, đạo đức phổ quát của nhân loại về quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, vừa mang những giá trị cao đẹp, nhân văn thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN, đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần giải thích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật; chỉ rõ: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”(9). Trong bản Di chúc (năm 1968), Người nêu rõ: “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu,… thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(10).
Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước phải thượng tôn pháp luật, thực hành đạo đức công vụ, phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải coi đạo đức cách mạng như phẩm chất đầu tiên của mình; “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(11). Nhiều bài nói, viết về của Người đã khẳng định “phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu”(12); trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, phải kiên quyết chống cho được tham ô, lãng phí, quan liêu.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là thực sự cần thiết, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định, mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng dựa trên tám đặc trưng, trong đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một đặc trưng cơ bản. Đến Hiến pháp năm 2013, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng được thể chế hóa rõ ràng và đầy đủ tại Điều 2: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề ra những định hướng, quan điểm, giải pháp đột phá cho tiến trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Đồng thời, Đảng ta nêu rõ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN phải tiến hành đồng bộ, gắn với đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội; xác định 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó có định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã phân tích tình hình công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hơn 35 năm đổi mới và đã đạt những thành tựu quan trọng, cụ thể: 1) Nhận thức, lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn; hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực; 2) Việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ chủ động, tích cực, tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, kiến tạo phát triển. Tổ chức bộ máy của tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng được nâng lên; 3) Quyền con người, quyền công dân theo Hiến định tiếp tục được cụ thể hóa bằng pháp luật và thực hiện tốt hơn trên thực tế; 4) Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đã chỉ rõ, tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ.
Trong thời gian tới, để phát huy những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, cần tiếp tục thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, cùng với những nội dung tư tưởng khác, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và quán triệt những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, để những giá trị tư tưởng của Người ngày càng thấm sâu vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức về 8 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống chính trị. Củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thực sự thấm nhuần lời dạy của Bác: “không được rời xa dân chúng. Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(13). Phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong thực hành dân chủ và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa, kịp thời, đầy đủ hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cần không ngừng quán triệt sâu sắc luận điểm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(14).
Thứ tư, xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi để tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức doanh nghiệp làm trung tâm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức bộ máy, công vụ, công chức, hành chính điện tử và chuyển đổi số.
Thứ năm, nghiêm túc trong thực hiện đúng và đầy đủ những định hướng lớn của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; nghiên cứu, làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bước đột phá trong tư duy về xây dựng nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta, dựa trên nền tảng kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật đã, đang và sẽ tiếp tục soi sáng quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Tuyengiao.vn
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết '7 TÔN TRỌNG ,BẢO VỆ VÀ CHÁP HÀNH HIÊN PHÁP, PHÁP LUẬT LÀ NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA MỖ–I NGƯỜI DÂN'

Biểu hiện của “căn bệnh xa rời thực tiễn"

Từ cuộc trò chuyện với đồng chí giám đốc trung tâm, chúng tôi nhớ đến phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh-phong cách thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp, nhằm giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Vậy, "bệnh xa rời thực tiễn" của cán bộ, đảng viên hiện nay biểu hiện như thế nào?

Trước hết, đó là bệnh lười học tập để nâng cao năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn luôn vận động không ngừng, trong khi một bộ phận cán bộ, đảng viên lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin, hiểu biết mới; không có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập, công tác. Những biểu hiện chính của bệnh lười học tập lý luận chính trị là: Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.  Như đồng chí giám đốc trung tâm chia sẻ: Nhiều cán bộ, đảng viên có thái độ thiếu nghiêm túc khi tham gia các lớp bồi dưỡng về lý luận chính trị, trong đó có cả cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Biểu hiện rõ nhất là khi tham gia học tập, không ít cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng “có mặt” để điểm danh mà chưa thực tâm chú ý lắng nghe, trăn trở trước những vấn đề quan trọng, cốt lõi của lý luận chính trị. Đáng buồn hơn, không ít cán bộ, đảng viên mặc nhiên làm việc riêng, vô tư trò chuyện trong lớp học mà quên đi việc tập trung, chú ý lắng nghe báo cáo viên, giảng viên truyền thụ kiến thức lý luận chính trị. Thậm chí, sau mỗi đợt học tập chính trị tập trung, một số cán bộ, đảng viên còn “bỏ quên” tài liệu, văn kiện tại giảng đường, dưới gầm bàn... Khi làm bài thi, bài thu hoạch, do không nắm được kiến thức nên tình trạng sao chép, quay cóp diễn ra khá phổ biến.

Thứ hai, không xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ, đảng viên: Phải nghiên cứu thực tế, kinh nghiệm thực tiễn, để qua đó “tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo”, có nghĩa là mọi suy nghĩ, hành động phải xuất phát, hình thành từ yêu cầu của thực tiễn, qua quá trình quan sát, lắng nghe, suy nghĩ, hành động thực tế để có được nhận thức, tư duy lý luận, từ đó định hướng hành động thực tiễn của người tổ chức, lãnh đạo, quản lý. Thực tế hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên rất “máy móc” trong cả lời nói lẫn việc làm, đi đến đâu cũng chỉ một “bài phát biểu” gần như thuộc lòng mà không để ý đến thực tế địa phương, cơ quan, đơn vị đó như thế nào, có đặc điểm gì... Từ đó, nói toàn những lời “sáo rỗng”, nói kiểu “trên trời”, không ăn nhập gì với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn.

Thứ ba, bệnh giáo điều lý luận. Nó xuất hiện dưới dạng “hàn lâm”, “kinh viện”, coi trọng sách vở (đến mức lạm dụng, sùng bái) sách vở, “kinh điển”. Đọc quá nhiều sách nhưng không “tiêu hóa” được sách hoặc đọc không đến nơi đến chốn... dẫn đến một hình thức cực đoan trong tư duy, trích dẫn thay thế cho suy nghĩ, cho lập luận logic, làm cho lý luận biến thành “màu xám”, không có sức sống, xa rời thực tiễn, không giúp ích gì trong việc lý giải, chỉ đạo thực tiễn. Từ đó, xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.

Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Như đồng chí giám đốc trung tâm chia sẻ: Thực tế, có giảng viên khi lên lớp giảng bài, học viên không biết giảng viên đang trình bày vấn đề đó nhằm mục đích gì cho bài giảng. Toàn những câu trích “kinh điển” mà nhiều khi không liên quan đến bài giảng, không phản ánh gì thực tiễn cuộc sống.

TT

KHÔNG ĐỂ TRỞ THÀNH NẠN NHÂN


Xung quanh vụ việc một số đối tượng gây mất an ninh trật tự tại tỉnh Đắk Lắk, cho đến thời điểm hiện tại, nhiều đối tượng xấu, chống đối, phản động vẫn cố tình “đổi trắng, thay đen”, xuyên tạc sự thật, tung ra nhiều thông tin sai trái, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Vụ việc gây mất an ninh trật tự tại Đắk Lắk cho thấy đây là “sản phẩm” được đạo diễn bởi các thế lực phản động. Phát biểu tại hội nghị đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến địa bàn Tây Nguyên diễn ra ngày 7/7 vừa qua, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai nêu rõ: Vụ việc gây mất an ninh trật tự tại Đắk Lắk là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nằm trong âm mưu, hoạt động của số đối tượng phản động Fulro lưu vong nhằm thành lập “Nhà nước Đề ga”, gây bất ổn đối với Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Tuy nhiên, “lưỡi không xương trăm đường lắt léo”, dù những tên bị bắt giữ đã khai ra chân tướng sự thật, các đối tượng phản động lưu vong vẫn cố tình xuyên tạc thông tin. Chúng vu cáo rằng: “Kể từ năm 1975 cho đến hôm nay, người Đề ga đã phải đối mặt với hành hạ, tra tấn, tù giam, bắt cóc, triệt sản”, “nguyên nhân dẫn đến vụ việc tại Đắk Lắk là do chính quyền bội ước với người dân Tây Nguyên”, “những người Thượng Tây Nguyên phải nổi dậy vì cuộc sống của họ”, “Chính phủ Việt Nam đang tiêu diệt chủng tộc người Thượng ở Tây Nguyên”… Từ những luận điệu sai trái này, các đối tượng xấu kích động bà con đồng bào vượt biên trái phép để “ra nước ngoài tị nạn”. Đồng thời, những kẻ này cũng sẵn sàng “rước voi về giày mả tổ”, tìm cách “kêu gọi” các tổ chức bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và gây sức ép cho Việt Nam trong các mối quan hệ quốc tế. Các đối tượng phản động còn ra sức huyễn hoặc đồng bào Tây Nguyên về cái gọi là “Nhà nước Đề ga độc lập”. Chúng hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp hơn để kích động đồng bào đòi “ly khai”, “tự trị”, đòi thực hiện “quyền dân tộc tự quyết”, đòi tách ra khỏi Nhà nước Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia độc lập, thống nhất. Bởi vậy, không bao giờ có chuyện thành lập “Nhà nước Đề ga” trên lãnh thổ Việt Nam. Mọi hành vi kích động thành lập một “Nhà nước độc lập” trên lãnh thổ Việt Nam đều xâm phạm trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và bị nghiêm cấm. Tại Việt Nam, tất cả dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Đảng, Nhà nước ta nghiêm cấm tất cả hành vi kỳ thị, gây chia rẽ dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đời sống của đồng bào cả nước đang ngày được nâng lên. Những luận điệu cho rằng, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Nguyên đang bị “hành hạ, tra tấn, tù giam, bắt cóc, triệt sản” là giọng điệu xuyên tạc đến mức kệch cỡm, cho thấy sự lộng ngôn, không tôn trọng sự thật.
Do đặc điểm về thói quen sinh hoạt; trình độ lao động, sản xuất; tập quán văn hóa khác nhau nên đời sống của đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn, thậm chí ngay trong cùng một dân tộc còn có sự phân hóa, chênh lệch. Để bảo đảm các dân tộc được phát triển công bằng, Đảng, Nhà nước đã thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Định hướng của chúng ta là khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất. Không chỉ với bà con DTTS ở Tây Nguyên mà bà con các DTTS trên cả nước đều được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ. Qua đó, tạo điều kiện cho người dân vươn lên thoát nghèo và tham gia đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Vậy tại sao các đối tượng phản động lại cố tình “thổi lửa” vào khu vực Tây Nguyên và liên tục đòi thành lập “nhà nước Đề ga”? Nói thẳng, nếu DTTS nào cũng đòi chia tách, khu vực nào cũng đòi ly khai, tự trị thì khi đó đất nước chẳng thể có độc lập. Nhiều năm qua, các đối tượng phản động Fulro lưu vong còn sót lại thường xuyên kích động đồng bào DTTS đòi ly khai, tự trị, đòi thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” để thành lập nhà nước riêng. Tuy nhiên, đây là một ảo vọng không bao giờ thành hiện thực. Nếu thực sự cái gọi là “Nhà nước Đề ga” được thành lập thì nó cũng chẳng thể tồn tại. Việc quản lý một đất nước cần có rất nhiều nguồn lực từ nhân lực, vật lực cho đến các mối quan hệ quốc tế... Đây là điều mà cái gọi là “Nhà nước Đề ga” không thể có được. Và nực cười hơn, các đối tượng phản động lưu vong đang ngày đêm kêu gọi sự giúp sức, hỗ trợ, chống lưng của các thế lực khác nhằm “giành lại vùng đất cha ông”. Rõ ràng, chúng chẳng có bất kỳ khả năng nào để “đấu tranh”. Hoặc phải chăng khi có lại “vùng đất cha ông” thì chúng cũng sẽ dâng hai tay cho các thế lực bên ngoài?
Suy cho cùng, mục đích của các đối tượng này chẳng phải để bảo vệ đồng bào DTTS như những lời lẽ được rêu rao. Điều mà chúng hướng đến là gây mất an ninh trật tự, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa đồng bào DTTS với Đảng, Nhà nước. Bởi vậy, nếu mù quáng tin vào những luận điệu được các đối tượng phản động đưa ra thì chính đồng bào vùng Tây Nguyên sẽ phải đối mặt với bất ổn, khủng hoảng.
ST

LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NĂM XƯA

 “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý.”

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Nhân dân Việt Nam khi Người đến thăm nhà trường ngày 21 tháng 7 năm 1956. Đây là thời kỳ miền Bắc bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tự do tư tưởng trong học tập, nghiên cứu là bản chất tốt đẹp của chế độ dân chủ mà nhân dân ta đang xây dựng; mục đích của tự do tư tưởng là để tìm ra chân lý và chân lý chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân. Do vậy, nếu đi chệch mục đích đó thì tự do sẽ trở thành phản dân chủ, thành tự do vô tổ chức. Lời dạy trên, chính là minh chứng về phong cách nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm của Hồ Chí Minh; trước những vấn đề lớn, Bác vẫn dùng cách khái quát thành những triết lý rất đời thường, để ai cũng hiểu, cũng nhớ và có thể thực hiện được. Thông qua đó, Người cũng muốn gửi gắm tới đội ngũ cán bộ, đảng viên và mọi người Việt Nam phải luôn biết đặt lợi ích của quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nguyện thề tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, dù gian lao, khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, Nhân dân lên trên, lên trước; kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước những tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy và sự chống phá của các thế lực thù địch. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
Có thể là hình ảnh về 10 người

NGƯỜI THƯỢNG VÀ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC ĐỀU CÙNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Người Thượng là danh từ gọi chung những nhóm sắc tộc bản địa sinh sống tại vùng Tây Nguyên, dãy Trường Sơn, vùng Đông Nam Bộ và một phần lãnh thổ của Campuchia và Lào. Người Thượng (Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng thuộc ngữ hệ Môn Khmer/Nam Á và Djarai, Rhadé, Raglai thuộc ngữ hệ Malayo Polynésien/Nam Ðảo) cũng là con dân của dân tộc Việt Nam; từng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như bảo vệ vùng đất mà họ cư trú. Tuy nhiên, vì vị thế địa chính trị đặc biệt của những vùng đất nơi sinh trú của người Thượng có tầm quan trọng đối với sự ổn định, phát triển bền vững của Việt Nam, Lào, Campuchia và khu vực, cho nên, người Thượng luôn là “đối tượng” mà các thế lực xâm lược, thù địch muốn lợi dụng, lôi kéo, kích động, thống trị, bóc lột… Thực tế, dưới thời Pháp thuộc, đồng bào Thượng ở Tây Nguyên cũng như các dân tộc anh em khác chỉ là những nô lệ, quanh năm suốt tháng làm thuê, làm mướn, sống cuộc đời tăm tối. Đến thời Mỹ - ngụy xâm chiếm thì cùng với việc thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị, gây mâu thuẫn, nghi kỵ, chém giết giữa các dân tộc, người dân Tây Nguyên không chỉ bị đối xử bất bình đẳng mà các phong tục, tập quán bị kỳ thị và bản sắc văn hóa cũng bị xóa nhòa…
Chỉ đến khi có Đảng lãnh đạo, đi theo Đảng cùng đồng bào các dân tộc anh em đoàn kết tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thì đồng bào Thượng ở Tây Nguyên mới thoát khỏi kiếp lầm than đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa”(3) và “đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”(4) …
Đặc biệt, khẳng định vị thế của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng nói riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nêu rõ trách nhiệm của đồng bào cả nước trước họa ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta”(5). Vì thế, tất cả dân tộc anh em phải đoàn kết chặt chẽ để “giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta” và “chúng ta phải yêu thương nhau, kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”(6).
Có thể khẳng định rằng, đánh giá đúng vị trí, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Thượng/người Thượng nói riêng trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, tình cảm và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là động lực để đồng bào Thượng ở Tây Nguyên tin tưởng vào Đảng và Chính phủ cũng như thủy chung, son sắt đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết với đồng bào cả nước để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong cuộc trường chinh đầy gian khổ, hy sinh dài 30 năm (1945-1975), đồng bào các dân tộc Tây Nguyên/đồng bào Thượng đã không chỉ phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để kề vai, sát cánh cùng đồng bào Kinh xây dựng, bảo vệ căn cứ cách mạng, anh dũng chiến đấu chống kẻ thù chung, mà còn làm rạng rỡ mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ với những tên tuổi của các anh hùng Đinh Núp, dân tộc Ba Na; Kpă Klơng, Kpă Ó, dân tộc JRai; Y Buông, A Tranh, dân tộc Xơ Đăng; A Mét, dân tộc Giẻ Triêng; N’Trang Lơng, dân tộc M’Nông; với những vị cách mạng tiêu biểu sau này như Y Ngông Niê Kđăm; Y Bih Alêô, dân tộc Ê Đê; Nay Đer, dân tộc JRai; Bi Năng Tắc, dân tộc Raglai; Điểu Ong, dân tộc Xtiêng…
Mấy thập niên phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của những người con núi rừng, cùng đồng bào cả nước kiên cường đấu tranh vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, “quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua giết giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(7) và “đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch để xây dựng, bảo vệ vùng đất Tây Nguyên và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.
Suốt dòng lịch sử, Tây Nguyên luôn là mạch nguồn truyền thống anh hùng, keo sơn gắn bó trong tình anh em, nghĩa đồng bào của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và luôn một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ. Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp nối truyền thống của những N’Trang Lơng, Ama Jhao, N’Trang Gưh, Đinh Núp, A Sanh, Bi Năng Tắc, K’Đen… đồng bào các dân tộc Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng, Djarai, Rhadé, Raglai,v.v.. sinh sống lâu đời ở vùng Tây Nguyên cùng đồng bào Kinh và các dân tộc thiểu số khác tiếp tục trọn niềm tin vào Đảng, vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách.
Tuy nhiên, có một sự thật không thể phủ nhận là, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Tây Nguyên chính là một trong những địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch lựa chọn để thực hiện “diễn biến hòa bình” và người Thượng chính là “đối tượng” để các phần tử phản động, cơ hội, thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Song, kiên trung với Đảng và không phụ lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không chỉ nếm mật, nằm gai cùng cả nước trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử chói ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam vì sự nghiệp giải phóng, mà còn tiếp tục chung sức, đồng lòng xây dựng, bảo vệ và phát triển Tây Nguyên bền vững trên con đường đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có của mình để cùng đồng bào cả nước xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, mọi luận điệu cho rằng “người Thượng bị tước đoạt đất đai, bị ép từ bỏ đạo Tin Lành”, bị người Kinh “thượng đẳng o ép”, bị “ngăn cản khi muốn sang định cư ở nước ngoài”; “chính quyền bắt đầu truy quét các nhà thờ Tin Lành ở Tây Nguyên” và “các cuộc biểu tình rầm rộ của người Thượng chính là nhằm để đòi tự do tôn giáo và được trả lại đất đai” hay Đảng Cộng sản Việt Nam “luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc” và “giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin là do các thế lực thù địch” đều không phải là sự thật, đều là phản động. Đồng thời, những chiêu trò, thủ đoạn lợi dụng, núp bóng nhân quyền, tôn giáo, lợi dụng những vấn đề lịch sử để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và đòi thành lập “Nhà nước Đềga độc lập” ở Tây Nguyên của các thế lực thù địch đều là nhằm mục đích chia rẽ người dân tộc thiểu số với người Kinh; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Ở Việt Nam, không có chuyện Tây Nguyên và người Thượng bị “đóng cửa với thế giới”, bị “đàn áp”, mà chỉ có một sự thật là nếu nhân danh tôn giáo, nhân quyền để hoạt động gây rối, vi phạm pháp luật thì tất yếu sẽ bị xử lý nghiêm minh./.

TÂY NGUYÊN KHÔNG BAO GIỜ BỊ CÔ LẬP MÀ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN


Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng là một vùng lãnh thổ đặc thù của Tổ quốc - nơi bên chân dãy Trường Sơn đại ngàn, đồng bào các dân tộc thiểu số anh em đã tạo dựng lên vùng đất Tây Nguyên kiêu hãnh, hào hùng. Trong hàng ngàn năm kiến tạo, người dân Tây Nguyên bao đời phải chống chọi với gian nan, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và sự tàn bạo, coi thường của kẻ thù. Không cam chịu đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu, trong cảnh bị đối xử kỳ thị, bất công của chính sách ngu dân, chia để trị nhằm gây mâu thuẫn, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, đồng bào Tây Nguyên nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đất nước đứng lên, kề vai sát cánh chiến đấu chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước.
Vì thế, Tây Nguyên không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới”. Bởi, trước năm 1975, dân số Tây Nguyên chưa đến 1 triệu người, nhưng hiện nay do nhiều đợt di dân, nên đã có hơn 5 triệu người (tăng hơn 5 lần trong vòng 40 năm qua). Theo Tổng cục Thống kê, địa bàn Tây Nguyên hiện có đủ 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và là vùng có đông thành phần dân tộc nhất Việt Nam/nơi duy nhất có đủ các nhóm ngôn ngữ - dân tộc của Việt Nam cùng sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ còn chiếm 26,58%, đồng bào Kinh chiếm 64,69%, các dân tộc nơi khác đến chiếm 8,73%). Thực tế cho thấy, những dòng người di cư từ khắp nơi đã không chỉ mang đến Tây Nguyên những phương pháp canh tác sản xuất khác cư dân tại chỗ, mà còn mang đến vùng đất này những lối sống, những bản sắc văn hóa vùng miền khác nhau, tạo nên một bức tranh đa dạng, sinh động về lối sống, văn hóa, tôn giáo…; trong đó, đáng lưu ý nhất là từ năm 1986 đến nay đã có khoảng 50. 000 người Hmông từ phía Bắc di cư vào Tây Nguyên (đa số người Hmông di cư là tín đồ theo Đạo Tin lành).
Một Tây Nguyên suốt chiều dài lịch sử luôn là một phần “máu thịt” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; từng đồng cam cộng khổ và kiên cường đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của triều đình nhà Nguyễn, chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để được giải phóng, để thống nhất trong lòng Tổ quốc chắc chắn không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới” như các thế lực thù địch bịa đặt. Một Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, giữ một vị trí trong yếu trong quốc phòng, an ninh và sự phát triển bền vững của quốc gia luôn là “miền đất hứa” mà các thế lực muốn xâm chiếm Đông Dương, đe dọa sự tồn vong của Việt Nam, Lào, Campuchia và châu Á nhòm ngó. Và thực tế là, mặc dù các thế lực thù địch liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kỳ thị sắc tộc để gây ra cuộc biểu tình, bạo loạn (tháng 2/2001, tháng 4/2004 và gần đây là cuộc tấn công trụ sở công an xã trên địa bàn huyện Cư Kuin ngày 11/6/2023), hòng làm cho Tây Nguyên bất ổn, để từ đó xuyên tạc sự thật tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng đất này; nhất là bôi đen vấn đề thực thi nhân quyền và tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, song có thể khẳng định rằng: Tây Nguyên không chỉ ổn định mà còn tiếp tục phát triển.
Với việc triển khai thực hiện Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên”, hệ thống chính trị các cấp ở Tây Nguyên đã không chỉ tập trung giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách, mang tính đột phá như đất đai, nhà ở, việc làm, nước sinh hoạt, xóa đói nghèo, y tế… cho bà con các dân tộc thiểu số, mà còn chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa, đặc sắc của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, việc huy động mọi nguồn lực phát triển mạng lưới giao thông như hệ đường bộ toàn vùng kết nối các tỉnh Tây Nguyên, mở rộng cơ hội giao thương với các trung tâm lớn cả nước và các nước trong khu vực. Hệ thống giao thông liên cửa khẩu nối liền Tây Nguyên với Campuchia và Lào, qua các cửa khẩu quốc tế ĐĐắk Ruê (Đắk Lắk), Lệ Thanh (Gia Lai), Bờ Y (Kon Tum). Đường hàng không phát triển với ba sân bay Liên Khương, Buôn Ma Thuột và Pleiku; đường Hồ Chí Minh cùng đường hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các tỉnh vùng Tây Nguyên… đã không chỉ tạo điều kiện để các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được thông thương thuận tiện, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và nâng cao đời sống nhân dân vùng Tây Nguyên.
Thực tế, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên đều tăng cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Cụ thể, “giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng bình quân của vùng Tây Nguyên đạt 6,55%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 55,6 triệu đồng/người, gấp 1,4 lần so với năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ. Tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, thuế trợ cấp sản phẩm năm 2020 tương ứng là 33,51%; 21%, 40,83% và 14,66%”(1). Vì thế mà, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã ngày càng chuyển biến tích cực, khởi sắc; cuộc sống du canh, du cư, ốm đau bệnh tật được khắc phục dần; đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng... Cũng vì thế, Tây Nguyên không phải “là vùng đất gần như đóng cửa với thế giới” mà là kết nối để phát triển bền vững. Bởi, đánh giá đúng vị trí chiến lược và vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ quan tâm lãnh đạo, chăm lo đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nguyên sau hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm (1945-1975) đã để lại hậu quả nặng nề, mà còn đặc biệt quan tâm phát triển vùng đất này trên tinh thần làm tốt kinh tế, xã hội sẽ góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự xã hội; và ngược lại, tình hình ổn định tốt thì mới yên tâm phát triển kinh tế-xã hội như Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết 23).
Quan điểm “phát triển Tây Nguyên nhanh, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước” và “xây dựng và phát triển Tây Nguyên kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại” đã, đang được triển khai. Đó chính là, phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, góp phần phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây, hàng lang kinh tế Bắc - Nam để kết nối vùng, tạo không gian phát triển mới; phát triển hạ tầng y tế, giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Đó là thực hiện các chính sách để nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của người dân; hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đồng bào các dân tộc. Đồng thời, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống tốt đẹp, các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu các dân tộc Tây Nguyên gắn liền với việc duy trì, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu đặc trưng của vùng và di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số… với dự kiến tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 là khoảng 7-8%.
Các con số “cơ cấu kinh tế năm 2025: nông nghiệp 29,6%; công nghiệp - xây dựng 25,4%; dịch vụ 40,4%; thuế sản phẩm 4,6%. GRDP bình quân/người đến năm 2025 khoảng 85 triệu đồng. Tập trung huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, hạ tầng đô thị, công nghệ thông tin; chú ý phát triển giao thông kết nối các cảng biển miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, tập trung đầu tư phát triển các công trình thủy lợi lớn, kênh dẫn kết nối, các hồ chứa nhằm đảm bảo nước tưới cho sản xuất; tăng cường phối hợp và liên kết vùng, xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả nhằm khai thác được các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, của vùng”(2) … đã cho thấy: Mọi quyết sách liên quan đến Tây Nguyên là nhằm để chuyển khu vực Tây Nguyên từ trạng thái “ổn định để phát triển” sang “phát triển để ổn định” như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 23 ngày 20/11/2022. Vì thế, luận điệu Tây Nguyên bị “cô lập”, bị “đóng cửa”, bị “ngăn cách” đều là không khách quan; là xuyên tạc sự thật.

NGUYÊN TẮC “NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẾN HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI CÁN BỘ HIỆN NAY

 “Nói đi đôi với làm” theo tinh thần của Hồ Chí Minh đòi hỏi: Một là, “Nói” phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai; Hai là, không được “nói một đằng, làm một nẻo”; Ba là, tránh nói, tránh hứa mà không làm. (Làm ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước).

Vậy, theo quan điểm “nói đi đôi với làm” của Người không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động, mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Với Người, hành động của Người từ việc nhỏ tới việc lớn, từ việc riêng tới việc chung, bao giờ cũng “miệng nói, tay làm, tai lắng nghe”.

Người nói: Nếu cán bộ đảng viên tư tưởng và hành hộng không nhất trí, thì khác nào “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”, “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”.

Để thực hiện phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những điều sau:

Một là, người cán bộ phải là tấm gương sáng mẫu mực toàn diện.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự trở thành tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Người căn dặn “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Điều này càng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên từ việc nhỏ đến lớn, từ việc riêng đến việc chung, từ trong cuộc sống đến công việc thường ngày luôn luôn phải nỗ lực thực hiện tốt phương châm “Nói đi đôi với làm”.

Thứ hai, người cán bộ luôn phải tích cực học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng.

Người cán bộ luôn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm yêu cầu về rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên “Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đây là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cách mạng Việt Nam; yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 

Cán bộ là “gốc” của mọi công việc, đội ngũ cán bộ các cấp là lực lượng rường cột quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước, hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội; quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong hoàn cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, vừa tạo cơ hội, thời cơ, vừa nảy sinh khó khăn, thách thức, nhất là an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), nhất là cán bộ cấp chiến lược theo yêu cầu phát triển của thực tiễn cách mạng, đã giành được những kết quả rất quan trọng, với những bước chuyển biến tích cực trong công tác tổ chức, cán bộ từ Trung ương đến địa phương. 

Thứ ba, người cán bộ phải thực hiện đúng phương châm “Nói đi đôi với làm”, đã nói phải làm, đã làm phải chịu đó là tinh thần phê và tự phê.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch trong cách nói, cách làm trong công việc. Tăng cường tính phê và tự phê bình trong hàng ngũ Đảng. Tăng cường tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục, giảm bớt giấy tờ, hội họp; sâu sát thực tế, cơ sở; nói đi đôi với làm”. Trong đánh giá “lấy hiệu quả thực tế của công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”.

Thứ tư, người cán bộ phải tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc.

Trong cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến địa phương, cơ sở cần đổi mới cách thức làm việc. Mỗi cán bộ, đảng viên, không ngừng nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những biện pháp học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần thiết thực thực hành phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Nói đi đôi với làm”. Cần thiết ở mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt những người lãnh đạo, nhất là những lãnh đạo đứng đầu đơn vị hãy làm những việc gương mẫu trước, dù đó là việc nhỏ, nhưng cũng gấp ngàn lần những lời nói suông.

Thứ nămngười cán bộ phải có cái tâm, cái đức trong sáng. 

Bác nói: “…Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”. “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”. Người dạy “nói và làm là tự bản thân mỗi người, bản thân người được nói để người khác nghe theo thì phải là con người lòng dạ trong sáng, phải chính tâm, phải thật sự là tấm gương”.

Nói đi đôi với làm, đây là một trong những đạo lý làm người, mà Chủ tích Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho mọi thế hệ học tập và làm theo. Người nhắc nhở: “Nói cái gì phải cho tin - nói và làm cho nhất trí - làm thế nào cho dân tin”.

Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Ở Người luôn thực hiện lời nói đi đôi với hành động, lý luận luôn đi đôi với thực tiễn, nói là để mà làm, làm phải đúng như điều đã nghĩ, nói. Người nói ít, nhưng làm nhiều, làm sai rồi sửa, sửa rồi làm lại cho đúng, sai rồi phải phê bình cải tạo. Những vấn đề đạo đức, Người không nói mà chỉ làm. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng". Quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”.

Để cán bộ, đảng viên luôn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, luôn nói đi đôi với làm, khắc phục bệnh kinh nghiệm, thì trước hết họ cần phải khắc phục bệnh kém về lý luận, bệnh coi khinh lý luận. Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, thì hơn bao giờ hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên hãy không những cần phải thấm nhuần tư tưởng, mà còn phải dám nghĩ, dám làm, để lãnh đạo quần chúng, phục vụ quần chúng.

    Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, không chỉ là bài học tư tưởng quý giá, mà còn có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta hôm nay, nhất là trong bối cảnh Việt Nam trên đà hội nhập quốc tế, cùng với đó là ra sức đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh.

CHỦ ĐỘNG TRONG TÁC CHIẾN KHÔNG GIAN MẠNG


Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng (KGM) tiến lên hiện đại, thời gian qua, Bộ tư lệnh (BTL) 86 luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ, đề cao trách nhiệm, chủ động khắc phục khó khăn, nắm chắc diễn biến tình hình trên KGM, kịp thời tham mưu, đề xuất các phương án xử trí, không để bị động, bất ngờ; đồng thời triển khai tốt các nhiệm vụ về tác chiến KGM, công nghệ thông tin (CNTT) cấp trên giao.
Tham mưu kịp thời, chỉ đạo sâu sát
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, KGM đã và đang trở thành “vùng lãnh thổ mới” có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, đối ngoại của các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng.
Từ tính chất, vị trí, vai trò quan trọng của KGM, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên KGM. Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI nêu rõ: Ưu tiên nguồn lực xây dựng đồng bộ hiện đại đối với lực lượng Phòng không-Không quân, Hải quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử, Trinh sát kỹ thuật, Cảnh sát biển, Tác chiến KGM... Xây dựng phát triển hạ tầng, ứng dụng CNTT và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu tác chiến KGM và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân uỷ trung ương, Bộ quốc phòng về xây dựng lực lượng tác chiến KGM, Đảng ủy, BTL 86 đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị BTL và lực lượng tác chiến KGM toàn quân tích cực, chủ động tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên KGM; bảo đảm, ứng dụng, phát triển CNTT trong toàn quân. Trực tiếp chỉ đạo phát triển các phần mềm, xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu, phát triển các ứng dụng, hạ tầng CNTT trong Quân đội; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân và trực tiếp thực hiện tốt nhiệm vụ tác chiến KGM, bảo vệ các hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, tham gia bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, phối hợp với các lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trên KGM.
Những năm qua, được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là thủ trưởng Bộ Quốc phòng, BTL 86 được ưu tiên đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất, nhanh chóng củng cố, xây dựng hệ thống doanh trại từ BTL đến các cơ quan, đơn vị, mua sắm các trang thiết bị phục vụ yêu cầu nhiệm vụ, nhất là trang thiết bị CNTT... để bảo đảm điều kiện làm việc.
Các cơ quan, đơn vị thuộc BTL cũng đã nhanh chóng chuyển đổi mô hình hoạt động, công tác theo yêu cầu nhiệm vụ của một đơn vị chiến đấu. Đảng ủy, BTL luôn quan tâm tham mưu, đề xuất với cấp trên điều động, bổ sung đội ngũ cán bộ của BTL có trình độ cao về CNTT, từ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân và từ nguồn tuyển dụng bên ngoài vào; đồng thời quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ trong BTL và cán bộ tác chiến KGM toàn quân.
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, BTL 86 đã làm tốt công tác tham mưu cho thủ trưởng Bộ Quốc phòng về ứng dụng, quy hoạch, phát triển CNTT; đề xuất thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử trong Bộ Quốc phòng và Đề án tự động hóa chỉ huy toàn quân.
Chủ trì phối hợp xây dựng và triển khai các ứng dụng dùng chung trong Bộ Quốc phòng như: Hệ thống thư điện tử quân sự; hệ thông tin chỉ đạo, điều hành; quản lý văn bản và hồ sơ công việc... góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, điều hành ở các cấp. BTL 86 kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia trên KGM; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài Quân đội triển khai kế hoạch tác chiến KGM bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Cùng với đó, Bộ tư lênh 86 đã chủ động tham mưu, đề xuất với thủ trưởng Bộ Quốc phòng tham gia ý kiến xây dựng các chiến lược, đề án, chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thông tin, an ninh mạng quốc gia và chiến lược phát triển, ứng dụng CNTT, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Tích cực, chủ động tham gia bảo đảm an toàn thông tin cho hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và bảo vệ an toàn các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia.
Ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc
Thực hiện phương châm “Trinh sát kịp thời, ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc”, BTL 86 chủ động nghiên cứu nâng cấp, phát triển các hệ thống giám sát, công cụ xử lý mã độc triển khai trên mạng máy tính quân sự. Triển khai đồng bộ các phương án trinh sát, phòng thủ, bảo vệ an toàn các hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng. Từng bước điều chỉnh mô hình tổ chức, bố trí lực lượng, vũ khí, trang bị tác chiến mạng theo yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức hiệu quả hoạt động săn tìm mối nguy cơ trên mạng máy tính quân sự, mạng internet quốc phòng.
Hai năm qua, BTL 86 đã tổ chức trinh sát mạng, phát hiện hàng nghìn lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần mềm gián điệp trên mạng máy tính quân sự, mạng internet của các cơ quan, đơn vị toàn quân; kịp thời thông báo, phối hợp triển khai các giải pháp xử lý, khắc phục. Giám sát chặt chẽ các trang, cổng thông tin điện tử, ứng dụng dịch vụ của các cơ quan, đơn vị; kịp thời ngăn chặn hàng trăm nghìn lượt dò quét, cảnh báo tấn công, các hoạt động cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp, tấn công mạng; triển khai các giải pháp phòng thủ cho những đơn vị cấp chiến lược, chiến dịch, bảo vệ an toàn cho hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia. Trong đó, BTL 86 cung cấp hơn 5.000 mục tiêu đấu tranh thông tin cho Văn phòng Ban chỉ đạo 35 Trung ương và phối hợp với các lực lượng chức năng trong và ngoài Quân đội đấu tranh, vô hiệu hóa nhiều bài viết, video có nội dung xuyên tạc, bịa đặt liên quan đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Các cơ quan, đơn vị trong BTL 86 đã triển khai các giải pháp an toàn chủ động giám sát, phát hiện, cảnh báo và ngăn ngừa máy tính quân sự vi phạm kết nối mạng internet, giảm nguy cơ nhiễm mã độc vào mạng nội bộ. Kịp thời phát hiện và tổ chức ứng cứu sự cố máy tính bị tấn công, cài cắm các công cụ dò quét mạng tại các cơ quan, đơn vị; chỉ đạo lực lượng CNTT toàn quân kịp thời vá các lỗ hổng bảo mật tồn tại trong các ứng dụng, dịch vụ web trên mạng máy tính quân sự. Tham gia giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý các dấu hiệu, nguy cơ mất an toàn thông tin tại các hệ thống CNTT quan trọng quốc gia.
Trong công tác nghiên cứu khoa học, BTL 86 đã tổ chức thành công các hội thảo về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đánh giá tác động ứng dụng ChatGPT trong hoạt động tác chiến KGM. Phối hợp với Ban chỉ đạo 35 Trung ương triển khai thực hiện Đề tài cấp Nhà nước “Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ trên môi trường mạng xã hội”; triển khai bảo đảm tiến độ các đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng. Tổ chức thông qua 15 đề tài, sáng kiến, nhiệm vụ kỹ thuật cấp cơ sở bảo đảm chất lượng. Biên soạn có chất lượng tài liệu “Những vấn đề lý luận cơ bản về tác chiến KGM” và tham gia xây dựng Đề án “Tác chiến phòng, chống phương tiện bay không người lái”.
BTL 86 chủ trì phối hợp, hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức diễn tập chỉ huy, tham mưu 1 bên 2 cấp trên bản đồ có một phần thực binh đối kháng KGM được thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đánh giá tốt. Chỉ đạo các đơn vị trong BTL diễn tập thực chiến bảo vệ mục tiêu quan trọng, trọng yếu đạt kết quả tốt; tham gia diễn tập trực tuyến phòng thủ mạng đa quốc gia do Lực lượng Tự vệ mặt đất Nhật Bản tổ chức đạt được nhiều kết quả tích cực.
Công tác tham mưu, chỉ đạo của BTL 86 trong tác chiến KGM góp phần quan trọng để Quân đội thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là chủ trương, đối sách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia.
Tình hình trên KGM đang và sẽ tiếp tục diễn biến nhanh, khó nắm bắt. Sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với nhiều công nghệ mới, hiện đại tạo ra nhiều thách thức đối với hoạt động tác chiến KGM. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội tăng cường tán phát thông tin sai sự thật, chống phá, xuyên tạc, đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và "phi chính trị hóa" Quân đội.
Các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, quân sự, quốc phòng vẫn là mục tiêu của các chiến dịch tấn công mạng tinh vi, có chủ đích nhằm đánh cắp bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, sự chỉ đạo của trên và yêu cầu nhiệm vụ, BTL 86 quyết tâm nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hoàn thành toàn diện các mặt công tác.
Trong đó chú trọng duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu; nắm chắc diễn biến tình hình trên KGM, kịp thời tham mưu, đề xuất các phương án xử trí, không để bị động, bất ngờ. Triển khai tốt các nhiệm vụ về tác chiến KGM, CNTT phục vụ hoạt động của Đảng, Nhà nước, Quân đội và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Đẩy mạnh trinh sát chuyên sâu gắn với xây dựng, phát triển lực lượng tinh nhuệ, đồng đều giữa các đơn vị trong BTL. Đẩy mạnh hoạt động săn tìm mối nguy cơ trên mạng máy tính quân sự, mạng internet quốc phòng. Nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Điều hành Sở chỉ huy BTL, tập trung vào nhiệm vụ phân tích, nhận định, dự báo tình hình trên KGM và đề đạt với người chỉ huy ra quyết định./.
Quân đội nhân dân

MỖI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CẦN NGHIÊM TÚC TRONG "TỰ SOI, TỰ SỬA"

 

Việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa” là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm “Nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến", "tự chuyển hoá” trong nội bộ” và được coi là giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. 

“Tự soi, tự sửa” gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta đề ra trong các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, nhất là từ Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) năm 1992, Hội nghị Trung ương 6 lần 2 (khoá VIII) năm 1999, Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, khoá XII và Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, cụ thể là Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Để tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt rõ: “Tự soi, tự sửa” là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên.

“Tự soi, tự sửa” là mỗi cán bộ, đảng viên tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa chữa. “Tự soi, tự sửa” là việc làm của cá nhân, của chính mình. Đó là việc đấu tranh quyết liệt với cái tôi của bản thân. Soi đúng thì sẽ sáng hơn, sửa đúng thì sẽ đẹp hơn. “Tự soi, tự sửa” khó nhưng không phải không làm được. Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh. “Tự soi, tự sửa” là để mỗi ngày làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước, cho dân thì quyết không làm. “Tự soi, tự sửa” là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

“Tự soi, tự sửa” là để phục vụ Tổ quốc và nhân dân tốt hơn. Việc “tự soi, tự sửa” đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải có tính tự giác, thật thà và trung thực, nhất là khi “tự soi, tự sửa” những hạn chế, khuyết điểm của bản thân. Các biểu hiện suy thoái, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị thuộc phạm trù ý thức, nó ẩn khuất, ngấm ngầm trong suy nghĩ, trong tư tưởng con người, nhiều khi được che đậy kín đáo, rất khó phát hiện, nếu cán bộ, đảng viên không nghiêm túc và tự giác “tự soi” mình thì việc “tự sửa” sẽ khó mang lại kết quả.

“Tự soi, tự sửa” là một giải pháp rất quan trọng, có tính quyết định để ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bởi vì, các biểu hiện suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chủ yếu từ mình mà ra và tự mình là chính. Cho nên, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình soi xét, khi thấy có biểu hiện suy thoái phải quyết tâm sửa chữa và tự giác khắc phục.

“Tự soi, tự sửa” là người cán bộ phải luôn nâng cao ý thức, trách nhiệm trước Đảng, trước quần chúng nhân dân, nhận thức được phải trái, giữ vững lập trường chính trị, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Tu dưỡng đạo đức cách mạng toàn diện, trên mọi khía cạnh, luôn nuôi dưỡng lòng thương yêu giúp đỡ đồng chí, đồng bào, kiên quyết chống lại những việc làm có hại đến nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, quyết tâm tẩy bỏ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, làm gương trong việc thi đua học tập, thật thà tự phê bình và phê bình để luôn tiến bộ. Người cán bộ, đảng viên luôn có được tinh thần trong sạch, không tham lam địa vị, ít ham muốn về vật chất để phục vụ nhân dân một cách công tâm và minh bạch nhất. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân, để có thể phục vụ nhân dân tốt nhất. Phục vụ nhân dân vừa phải là trách nhiệm, nghĩa vụ của người cán bộ, đảng viên đối với dân, vừa là sự đền ơn đối với nhân dân, việc gì có lợi cho dân, cán bộ, đảng viên phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh, cuối cùng là để phục vụ Tổ quốc và Nhân dân tốt hơn. “Tự soi, tự sửa” sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên nhận diện rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn những biểu hiện suy thoái trong nội bộ; xác định rõ hơn trách nhiệm tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tư cách của người cán bộ, đảng viên.