Thứ Năm, 20 tháng 7, 2023

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI VỚI QUỐC PHÒNG AN NINH

Trong thời đại ngày nay phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh đã trở thành quy luật phổ biến của mỗi quốc gia, dân tộc. Ở nước ta, sự kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh đã có lịch sử lâu dài. Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, đề ra kế sách giữ nước như: Thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để yên dân mà vẹn đất; kế sách: “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; chính sách “khai hoang lập ấp” ở những nơi xung yếu để “phục binh sẵn, phá thế giặc dữ” từ xa; phát triển nghề thủ công; chăm lo mở mang đường sá, đào sông ngòi, kênh rạch, xây đắp đê điều để vừa phát triển kinh tế, vừa sản xuất ra các vũ khí, phương tiện phục vụ cho toàn dân đánh giặc; thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng cũng đã thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng. Trong cuộc kháng chiến Đảng ta đề ra chủ trương “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; “đồng ruộng là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ”... Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và quốc phòng, an ninh, việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền kinh tế mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thế giới, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới, tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển; tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao, tạo điều kiện tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang. Để thực hiện tốt vấn đề trên cần tập trung cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc thực hiện kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng xây dựng nền công nghiệp quốc phòng. Có nhiều vấn đề thuộc về nhận thức, về cơ chế đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước, trong đó trước hết cần nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, sự quản lí điều hành của chính quyền các cấp trong công tác kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành và địa phương, đồng thời phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong thực hiện chủ trương kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, chống tư tưởng và hành động tự do vô chính phủ trong hoạt động kinh tế cũng như trong hoạt động quốc phòng, an ninh, các hành động phương hại đến phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng của đất nước. Hai là, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là cán bộ quản lý. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội”. Đây là quan điểm thể hiện phát triển nhận thức của Đảng ta về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, đồng thời cũng khẳng định việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân của mọi thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ba là, quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phong, an ninh trong tình hình mới. Đây là nội dung rất quan trọng nhằm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh thành các văn bản, tiến hành quán triệt, tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả cao, cần quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo chỉ đạo và quản lý. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung quán triệt nắm chắc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế, chính sách có liên quan đến mối quan hệ này làm cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tự bảo vệ và được bảo vệ, phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA

Một trong những vấn đề bức xúc trong công tác xây dựng đảng hiện nay là tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và đáng lo ngại nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, với tinh thần quyết liệt, kịp thời. Những năm qua, công tác phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần bảo vệ nội bộ Đảng, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước; đấu tranh làm thất bại “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XIII xác định để thực hiện nhóm giải pháp: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới” cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên Quá trình hội nhập củа nước tа trоng xu thế tоàn cầu hóа có tác động sâu sắc, tạо nên sự biến đổi trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, mở rа nhiều triển vọng tо lớn để phát triển đất nước. Tuy nhiên, quá trình nàycũng tạo ra nhiều nguy cơ, những yếu tố tiêu cực, đe dọа sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam. Cụ thể là: việc mới hội nhập sâu, rộng vàо nền kinh tế thế giới sẽ xuất hiện những hạn chế, yếu kém, bất cập trоng cơ chế, chính sách, pháp luật, phương thức quản lý và năng lực cạnh trаnh củа hệ thống kinh tế, xã hội có thể tạо rа điều kiện chо các thế lực thù địch tăng cường các hоạt động gây sức ép, nhằm thаy đổi thể chế kinh tế - chính trị ở nước tа theо xu thế thоát ly vаi trò lãnh đạо củа Đảng, xа rời định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, những tràо lưu tư tưởng, giá trị văn hóа, các tín ngưỡng, tôn giáо tiêu cực từ nước ngоài có thể du nhập vào Việt Nam và có thể tạо nên sự hỗn lоạn, mất phương hướng về các chuẩn mực giá trị, dẫn tới sự suy thоái, biến chất về văn hóа, đạо đức lối sống, xa rời các giá trị củа văn hóа, đạо đức truyền thống củа dân tộc... Để phòng chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả phải tiến hành đồng bộ các giải pháp: Nhận thức đúng nguy cơ, nhận diện chính xác biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nguyên nhân để có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả; đánh giá chính xác mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; lãnh đạo thực hiện tốt việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Hiện nay, trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên là cán bộ, công chức nhà nước có điều kiện chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân và gia đình. Do đó, khi đời sống được bảo đảm, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ, chính là điều kiện để mỗi người gắn bó với công việc; yên tâm thực hiện nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Bảo đảm thu nhập, tiền lương tương xứng với sự đóng góp, phù hợp với công sức, trí tuệ của mỗi người đã cống hiến; thực hiện “đẩy mạnh cải cách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng”(5); công bằng giữa các khu vực, nhất là khu vực hành chính sự nghiệp, với khu vực doanh nghiệp nhà nước là nguyện vọng chính đáng của đảng viên, công chức, viên chức. N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, BẢO VỆ ĐẢNG BẢO VỆ AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ

Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, những năm qua, công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở tỉnh luôn được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên quan trực tiếp đến vận mệnh, sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Ðảng và sự tồn vong của chế độ; được các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định, hướng dẫn của Trung ương và của địa phương; đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, hiệu quả để thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Với tư cách là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc, Đảng vững mạnh trong sạch là vấn đề trọng yếu quyết định thực hiện thắng lợi chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trên cơ sở đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Về chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững. Về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng; niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố. Về tổ chức cán bộ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ nhiều mặt. Thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên... Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp; trong nước các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng; yêu cầu nhiệm vụ chính trị của nước ta rất to lớn, nặng nề, khó khăn đòi hỏi Đảng phải được xây dựng nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa. Mặt khác, bản thân Đảng, bên cạnh mặt tích cực, bản chất và truyền thống tốt đẹp cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Để góp phần thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong trong thời gian tới, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình thì các cơ quan, đơn vị và tổ chức đảng cần lưu ý một số biện pháp, giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện tốt như sau: Thường xuyên quán triệt, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên đối với việc bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ cơ quan; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng viên; xây dựng cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, biết đặt lợi ích chung lên lợi ích riêng. Phải luôn nghiêm túc và quyết liệt trong thực hiện các kết luận của Trung ương để xử lý triệt để các sai phạm, không để kéo dài. Xác định công tác bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của toàn Đảng, trước hết là cấp uỷ đảng, xem đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên và lâu dài của từng cấp uỷ, tổ chức đảng. Thực hiện đúng các nguyên tắc về thẩm quyền và nâng cao trách nhiệm của một số cấp ủy (nhất là cấp uỷ cơ sở), thủ trưởng của cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự gương mẫu, là trung tâm đoàn kết, có khả năng tập hợp, quy tụ trí tuệ tập thể vì đại cuộc; luôn sát cánh cùng tập thể, nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, dám nhìn nhận khuyết điểm để sửa sai và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo với phương châm: “Tích cực, chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính” kết hợp với quan điểm “Kiên quyết, thận trọng, khách quan, toàn diện”. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật phải nghiêm túc, đảm bảo sự thống nhất giữa đoàn kết và ý chí hành động. N.T.T

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU PHÁ HOẠI CỦA ĐỊCH VỀ AN NINH QUỐC GIA

Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta luôn phải đứng trước những kẻ thù lớn mạnh hơn nhiều lần, thậm chí có thời điểm cùng một lúc dân tộc ta phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Vì vậy, để “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, tổ tiên ta đã rất coi trọng công tác nắm địch, nắm tình hình và đấu tranh với địch. Đơn cử thời nhà Lý (1010 - 1225) đã thường xuyên sử dụng người của mình giả làm nhà sư, lái buôn, người đánh cá,… sang đất Tống để dò la, thu thập tin tức, cài cắm được 108 cơ sở vào hàng ngũ địch. Đến thời nhà Trần (1225 - 1400),các đời Vua Trần thường xuyên cử những người tài giỏi thông qua con đường ngoại giao, đi sứ, giả làm người mua thuốc len lỏi sang đất địch để nắm tình hình nước địch, từ đó chủ động đưa ra kế sách giữ nước, làm thất bại âm mưu gây chiến tranh, xâm lược của địch, đánh bại giặc Nguyên, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước Đại Việt. Tổ chức hoạt động phòng ngừa nhằm ngăn chặn, hạn chế những hậu quả thiệt hại do các thế lực thù địch, tội phạm gây ra; phát hiện nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh tội phạm và đề ra các biện pháp phòng ngừa. Tổ chức thực hiện hoạt động điều tra, khám phá làm rõ những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, tội phạm để đưa ra xử lý trước pháp luật. Hướng dẫn tổ chức vận động các cơ quan, tổ chức và quần chúng nhân dân tham gia công tác đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh trật tự. Vì vây, phải xây dựng lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch và tội phạm vững vàng về phẩm chất chính trị, trong sáng về đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn. Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cấp bách để tăng cường các hoạt động quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội vẫn diễn biết hết sức phức tạp. Các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ngày càng có chiều hướng gia tăng với tính chất ngày phức tạp, tinh vi. Các loại tội phạm nguy hiểm, mang động như sử dụng bạo lực, cướp tài sản, giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê và các hành vi phạm tội mới như tội phạm sử dụng không gian mạng, tội phạm về buôn bán thai nhi, buôn bán nội tạng người, đã gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng, gây lo lắng cho toàn xã hội. Bên cạnh đó là các loại tệ nạn xã hội, các hành vi vi phạm pháp luật khác cũng diễn ra phức tạp như mại dâm, cờ bạc, mê tín dị đoan. Để chủ động nắm, đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số nội dung, biện pháp sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được Đảng ta khẳng định trong nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,... Quá trình tổ chức thực hiện, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm, sự sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của cấp ủy, cán bộ lãnh đạo chủ trì các cấp, sự định hướng, chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước. Đồng thời cần tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc vào Hiến pháp, pháp luật; củng cố, tăng cường hành lang pháp lý cho việc quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả cao. Hai là, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở các cấp, các ngành để cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò, yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; âm mưu, thủ đoạn, phương thức, lực lượng, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong tình hình mới. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Trong đó cần chủ động cung cấp thông tin chính thống một cách kịp thời, chính xác cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch. Đồng thời, chủ động ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI GIỮ VỮNG LÒNG TIN CỦA NHÂN DÂN VỚI ĐẢNG NHÀ NƯỚC

Niềm tin của nhân dân với Đảng là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm tới việc giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân, bởi như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(1). Để tiếp tục củng cố và nhân lên sức mạnh của niềm tin chính trị của nhân dân, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để mỗi cấp ủy và tổ chức đảng quán triệt và phấn đấu thực hiện. Trước tình hình trên, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, một số yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chậm được củng cố, tăng cường, có mặt còn giảm sút và phát sinh những vấn đề phức tạp mới. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực sự coi công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên. Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử tham nhũng, lãng phí. Quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện để giải quyết tận gốc tình trạng nghèo làn, lạc hậu, xóa đói, giảm nghèo, giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng khả năng hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tăng cường hơn nữa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với nước ta; tạo tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin của nhân dân vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín của lãnh tụ đảng đó. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp. Vì thế, niềm tin chính trị được hình thành phải trải qua sự thử thách lâu dài, mà những kết quả thực tế trong hoạt động chính trị sẽ là sự bảo đảm cho uy tín chính trị của đảng, để khẳng định rằng niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân dành cho đảng có vững chắc hay không. N.T.T

QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA LÀ CHÍNH TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LOẠN

Nhận thức rõ mối quan hệ giữa công tác phòng ngừa và xử lý bạo loạn trong tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ phải lấy “chủ động phòng ngừa là chính”. Đây là vấn đề rất quan trọng trong tình hình hiện nay, cần được tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện. Quan điểm “chủ động phòng ngừa là chính”1 trong công tác quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng được kế thừa từ kinh nghiệm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”, giữ “trong ấm, ngoài êm” của cha ông trong lịch sử và thực tiễn quá trình củng cố quốc phòng, an ninh, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ thời gian qua của đất nước. Đây là sự phát triển tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Theo đó, nội hàm bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia, ngăn chặn, đánh bại địch tiến công xâm lược từ bên ngoài, mà còn bao hàm cả giữ vững ổn định an ninh, chính trị bên trong đất nước; không chỉ chiến đấu bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Hiện nay, hòa bình, hợp tác, liên kết cùng phát triển vẫn là xu thế chủ đạo của thời đại, nhưng bản chất mối quan hệ giữa các nước và bên trong mỗi quốc gia cũng chứa đựng không ít mâu thuẫn. Các vấn đề: xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,... vẫn diễn ra phức tạp ở nhiều nơi. Đối với nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 35 năm đổi mới, đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn; thậm chí còn có nhận thức sai lệch về các yếu tố lịch sử, văn hóa, quyền tự trị,... trong khi đó, năng lực quản lý, điều hành, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh,... của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế. Tình hình an ninh trên một số địa bàn chiến lược: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,... và các thành phố lớn còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Đặc biệt, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với nhiều thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện và quyết liệt hơn, hòng thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì vậy, “chủ động phòng ngừa là chính”, không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch bên trong cấu kết với lực lượng phản động bên ngoài âm thầm chuẩn bị, xây dựng “nền móng”, tạo cớ tiến hành bạo loạn, nhằm giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước nhanh, bền vững là vấn đề quan trọng, cấp thiết, cần được quán triệt, triển khai thực hiện bằng những nội dung, giải pháp phù hợp. Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn đúng định hướng, đúng pháp luật, phát huy được sức mạnh tổng hợp và đạt hiệu quả thiết thực. Vì vậy, cần tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng các cấp; chú trọng nâng cao năng lực ban hành nghị quyết lãnh đạo củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống bạo loạn phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương; phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cơ quan Quân sự, công an, Biên phòng,… trong tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành, triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp phòng ngừa bạo loạn. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của cấp ủy về quốc phòng, an ninh, phòng ngừa bạo loạn thành các chương trình, kế hoạch, văn bản pháp luật, trọng tâm là cơ chế quản lý, điều hành trong xây dựng, huy động các nguồn nhân lực, vật lực; cơ chế phối hợp đấu tranh giữa các lực lượng,… trong phòng ngừa bạo loạn, bảo vệ địa phương; trong đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này. Ngoài ra, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng dân quân tự vệ, an ninh viên,… trong nắm tình hình địa bàn, thực hiện các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa bạo loạn ngay từ cơ sở. Cùng với đó, tiếp tục đổi mới, nâng cao quy trình, phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập kế hoạch, định hướng hoạt động, tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới và kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các khâu, các bước của quá trình xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng ngừa bạo loạn. Theo đó, cần đi sâu bồi dưỡng cho lãnh đạo, chính quyền địa phương nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá, gây bạo loạn của các thế lực thù địch; đặc điểm an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự,… địa bàn; mục tiêu, yêu cầu, biện pháp quản lý an ninh chính trị, ngăn ngừa gây rối, bạo loạn; nguyên tắc sử dụng lực lượng vũ trang trong các tình huống, làm cơ sở vận dụng vào thực tiễn địa phương. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành phòng, chống bạo loạn theo pháp luật của cấp ủy, chính quyền các cấp, trọng tâm là năng lực điều hành các lực lượng trong phối hợp nắm, nhận định, đánh giá tình hình; thống nhất biện pháp giải quyết; xác định lực lượng chủ trì, phối hợp theo cơ chế, v.v. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật Nhà nước và các nghị định của Chính phủ về quốc phòng, an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. Tăng cường các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi bên trong có thể gây đột biến; kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị phản động, đối lập, giải quyết triệt để, tận gốc các mâu thuẫn xã hội, biểu tình, gây rối, mưu đồ chính trị. Gắn trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các địa phương, chỉ huy các lực lượng vũ trang với kết quả quản lý, phòng ngừa bạo loạn, bảo đảm an ninh, an toàn địa bàn. Tập trung xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc làm nền tảng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phòng, chống bạo loạn. Đây là giải pháp có tính nền tảng; là vấn đề căn cơ, gốc rễ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng, chống bạo loạn ngay trong thời bình. Vì thế, các cấp, ngành, địa phương phải tiếp tục đổi mới, nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dư¬¬¬ỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị, các chức sắc, chức việc tôn giáo và học sinh, sinh viên; phân biệt rõ đối tượng, đối tác, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa dân với Đảng và chính quyền, từ đó nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. N.T.T

Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

Trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông hiện nay, Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp chiến lược, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thế giới và khu vực đang trải qua một thời kỳ nhiều biến động phức tạp, khó đoán định, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và vì lợi ích chung của các nước. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên các châu lục ngày càng gia tăng, tạo mối quan hệ đan xen vừa tăng cường hợp tác, vừa cạnh tranh chiến lược. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông ngày càng quyết liệt, phức tạp, chưa có dấu hiệu lắng xuống, cùng với sự can dự của một số nước lớn ngoài khu vực đã làm cho vùng biển này có lúc trở thành điểm nóng, khó đoán định. Tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh thế chiến lược, tranh giành ảnh hưởng, lợi ích của các nước lớn ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường không chỉ đe dọa hòa bình, ổn định khu vực, chủ quyền của Việt Nam mà còn đặt ra nhiều thách thức, hệ lụy đối với an ninh quốc gia Việt Nam. Tại Biển Đông hiện đang tồn tại 02 nhóm mâu thuẫn lớn; mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền đang diễn biến phức tạp và khó giải quyết do liên quan nhiều bên (05 nước, 06 bên) với quan điểm khác biệt cả về chủ quyền, lợi ích và cách thức giải quyết tranh chấp, nhất là khác biệt về quan điểm, chủ trương của Trung Quốc với các bên có tranh chấp còn lại. Biển Đông không chỉ đơn thuần là tranh chấp chủ quyền mà đan xen với đó là sự cạnh tranh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích của hầu hết các nước lớn trên thế giới, đặc biệt là sự tranh giành thế chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Thực tế quan hệ giữa các nước lớn và quan hệ Mỹ - Trung những năm gần đây đã phản ánh rõ, mỗi khi cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung diễn ra gay gắt thì vấn đề Biển Đông cũng diễn biến phức tạp, căng thẳng, hoạt động của Trung Quốc và sự can dự của các nước lớn vào vấn đề Biển Đông đều gia tăng. Hai nhóm mâu thuẫn trên khiến tình hình Biển Đông còn diễn biến phức tạp, kéo dài, không thể giải quyết trong ngắn hạn và trung hạn, tiếp tục là yếu tố quan trọng chi phối môi trường an ninh trong khu vực, trực tiếp tác động, ảnh hưởng tới lợi ích, ANQG, môi trường đối ngoại của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam. Sự bế tắc trong giải quyết giữa các bên có tranh chấp ở Biển Đông và sự can dự mạnh mẽ của các nước lớn làm phát sinh những nguy cơ về xung đột cục bộ trên biển, xu hướng chạy đua vũ trang trong khu vực. Bệnh cạnh đó, những căng thẳng ở Biển Đông còn kéo theo hàng loạt các hệ lụy khác như tác động, ảnh hưởng, làm chậm đà phát triển kinh tế biển của đất nước, nhất là các hoạt động dầu khí, nghề cá; những đe dọa về an ninh ngay trong nội địa như các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tiến hành các hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại. Do vậy, thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp; trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển từ sớm, từ xa. Tận dụng thời cơ, phát huy, khai thác lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học - công nghệ; phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, huy động cao nhất các nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng này, cần đẩy mạnh xây dựng lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh, mở rộng, phát triển lực lượng, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ tác chiến. N.T.T

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ NGƯỜI QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Để thực hiện tốt vai trò sứ mệnh lịch sử đó, trong giai đoạn cách mạng hiện nay đòi hỏi mọi cán bộ chiến sĩ QĐND Vietj Nam luôn phải rèn luyện bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng sẵn sành nhận và hoàn thành tố nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới cần thực hiện có hiệu quả một số giải pháp cơ bản như sau: Một là, phải tăng cường bồi dưỡng tính đảng, tính giai cấp trong rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ QĐND, nhất là tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, bổ sung, cập nhật tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật, công nghệ và nghệ thuật đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” đối với các thế lực phản động; đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình... Đây là cơ sở, nền móng vững chắc để cán bộ, chiến sĩ QĐND phân biệt rõ phải-trái, đúng-sai, đấu tranh, bác bỏ các thông tin xấu độc, phản động; bảo vệ lẽ phải, chân lý; kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; khẳng định giá trị, ý nghĩa suốt đời phấn đấu phục vụ nhân dân. Hai là, củng cố niềm tin, tình cảm cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, giúp họ có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐND phải gắn bó mật thiết với đơn vị, với đồng chí, đồng đội; yêu quê hương, đất nước; tin tưởng vào tương lai tốt đẹp, con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; ra sức tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, tăng cường rèn luyện cán bộ, chiến sĩ QĐND trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đặt ra các tình huống phức tạp, gay cấn… để thử thách, tôi rèn trí lực, nghị lực, tâm lực, sức khỏe, qua đó bồi dưỡng tác phong, phong cách tư duy độc lập, sáng tạo và phương pháp làm việc khoa học để cán bộ, chiến sĩ QĐND luôn có quan điểm đúng, luôn tự tin trong tiếp nhận và ứng phó thắng lợi trước các tình huống bất ngờ; không bị động trước các thông tin sai trái, xấu độc, trái chiều. Đó là giải pháp hiệu quả để tạo “hệ miễn dịch”, giúp cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt “4 không”: “Không nghe, không xem, không đọc, không tin” những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc... Ba là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ QĐND. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”. Vì thế, học tập lý luận chính trị, đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị là công việc quan trọng, cần thiết, cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, chiến sĩ QĐND. Trau dồi, bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng... sẽ giúp cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi với hành”. Đa dạng hóa các phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao khả năng “tự miễn dịch, tự đề kháng” của cán bộ, chiến sĩ QĐND trước những tác động tiêu cực, trái chiều. Bốn là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân trong lực lượng QĐND. Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phát huy vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của mỗi cán bộ, chiến sĩ nhằm tăng cường “sức đề kháng” chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị phải luôn gắn với “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo phương châm mọi tổ chức, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Trong đó, gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87-CT/QUTW với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng; Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên,..”; Quy định 205-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, … đối với cán bộ, chiến sĩ QĐND. Thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết và đưa vào tiêu chí thi đua, đánh giá xếp loại đảng viên, tổ chức đảng của đơn vị hằng năm. Đông thợi đẩy mạnh công tác tuyên truyền; kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu đi liền với nghiêm túc phê phán những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Tạo không khí thi đua thiết thực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" và các phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, ở từng cơ quan, đơn vị. Năm là, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng đối với lực lượng QĐND. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng - nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, làm cho mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên QĐND nêu cao tính tiền phong gương mẫu, vững vàng trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, Điều lệnh QĐND; thực hiện Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm; tự soi, tự sửa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên quyết, nghiêm minh xử lý đối với những cán bộ, đảng viên QĐND vi phạm và những tổ chức đảng yếu kém trong Đảng bộ Quân đội các cấp. Đồng thời, tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị, vai trò nêu gương của người đứng đầu trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Sáu là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong QĐND. Chủ động triển khai các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa những hoạt động chống phá của các thế lực phản động, đòi “phi chính trị hóa QĐND”. Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ các cấp luôn nắm vững và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác này. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với xây dựng cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở an toàn, vững chắc về mọi mặt... Trong những năm qua, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sỹ QĐND đã không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng công tác, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, góp phần xây dựng QĐND vững mạnh về mọi mặt đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./. VHT.

NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC VÀ HÌNH THỨC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là học tập, nghiên cứu, phát huy, phát triển, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo, phổ quát trong đời sống tinh thần của xã hội. Việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng cần tập trung làm tốt một số nội dung, phương thức sau đây: Một là, nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ rõ những giá trị cốt lõi, những giá trị lý luận có sức sống trường tồn, mà trước hết là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; học thuyết về giá trị thặng dư; học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết về xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa; lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về giải phóng và phát triển toàn diện con người, v.v.. Hai là, không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới tư duy lý luận, cung cấp thêm sức sống mới cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, không bảo thủ, giáo điều, không chủ quan duy ý chí đốt cháy giai đoạn. Luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đặt lợi ích và phúc lợi của Nhân dân, đặt Nhân dân vào trung tâm của quá trình hoạch định và thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực sự thấm nhuần lời căn dặn của Bác Hồ: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Phải thực sự coi văn hóa và con người là mục tiêu và động lực của phát triển. Làm được như vậy chính là chúng ta đã tạo được thế trận lòng dân trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch. Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, phổ biến sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Không ngừng tìm tòi, đổi mới nội dung, phương thức, hình thức tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể, đảm bảo chất lượng, hiệu quả thiết thực; làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ những giá trị lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng và làm theo, đi theo hệ tư tưởng, “kim chỉ nam” - chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết, chung tay xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bốn là, phân tích và chứng minh rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử” của đất nước sau gần 40 năm đổi mới. Từ đó, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Những thành công và thắng lợi của cách mạng nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng sinh động nhất về tính đúng đắn, tính hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên đất nước ta. Năm là, chủ động xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm, khuyết điểm, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm” tiêu cực trong nội bộ. Sự suy thoái, tha hóa, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ trung, cao cấp để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nếu không xử lý kịp thời, nghiêm minh, đó cũng là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải đi đôi với việc giải quyết và xử lý kịp thời, có hiệu quả đối với nạn tham nhũng - một trong những nguy cơ nghiêm trọng nhất đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Phải coi phòng, chống tham nhũng có hiệu quả là minh chứng thuyết phục nhất để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay./. VHT.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THẮNG LỢI ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt để triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đến Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển thành: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”. Trong giai đoạn cánh mạng hiện nay, dự báo hoạt động chống phá của các đối tượng phản động, chống đối sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát hơn. Vì vậy, để chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, gây tổn hại tới chính sách bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước và toàn dân, toàn quân ta; đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi đường lối BVTQ từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau: Một là, các cơ quan nghiên cứu lý luận, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần chủ động hơn nữa trong công tác nghiên cứu chiến lược, nắm chắc tình hình, diễn biến trong và ngoài nước, cụ thể như: Các xu hướng vận động của thế giới và khu vực, nhất là khu vực ASEAN, Biển Đông; phân tích kỹ những cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; những diễn biến trên thế giới để chỉ rõ những tác động đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ... Trên cơ sở đó, chuẩn bị các luận cứ khoa học phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái; hoàn thiện chiến lược BVTQ, nhất là kế sách chủ động từ trong thời bình; tập trung phát triển, hoàn thiện lý luận BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trong tình hình mới. Hai là, tăng cường thông tin, tuyên truyền để đạt được thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Để thực hiện được điều này, Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, ngành cần thường xuyên cập nhật kiến thức về BVTQ trong tình hình mới; xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên và cập nhật thường xuyên tài liệu tuyên truyền công khai về các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm theo hướng dễ đọc, dễ hiểu... để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền. Ba là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu, nắm thật chắc tình hình tư tưởng, các xu hướng xã hội, đặc biệt là những vấn đề, sự kiện nhân dân quan tâm để kịp thời thông tin, định hướng dư luận có nhận thức đúng; không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng "khoảng trống thông tin" để xuyên tạc, kích động; tránh để người dân vì tò mò mà tìm cách tiếp cận thông tin xấu độc, thiếu kiểm chứng... Thực tế cho thấy, đây là việc hết sức quan trọng, bảo đảm giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phòng, chống tư tưởng, tâm lý dao động, mất lòng tin trong nhân dân và dẫn tới “tự diễn biến”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng. Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ cho các đối tác, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để họ hiểu đúng, hiểu toàn diện, tránh cách nhìn phiến diện, thiên lệch về tình hình tại Việt Nam; không để các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng cung cấp thông tin một chiều, không đúng thực tế, gây bất lợi cho Đảng, Nhà nước ta, nhất là trong thực hiện kế sách BVTQ từ sớm, từ xa. Năm là, luôn theo dõi sát, nắm bắt kịp thời các dạng quan điểm sai trái và những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhằm chủ động trong đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả. Đồng thời, cần đổi mới phương thức đấu tranh trên các mặt pháp lý, truyền thông, tuyên truyền, đặc biệt là về mặt kỹ thuật. Lực lượng chuyên trách các cấp cần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn thông tin sai trái, tội phạm mạng...; tăng cường số lượng, chất lượng thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin xấu độc. Sáu là, chủ động phát hiện sớm và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, nổi cộm phát sinh, những vấn đề bức xúc trong xã hội; không để các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền chống phá, không để các vụ việc phức tạp kéo dài, phát triển ngoài tầm kiểm soát, gây ra tâm lý hoài nghi, giảm lòng tin trong quần chúng nhân dân đối với các cấp chính quyền và Đảng, Nhà nước ta./. VHT.

TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG 47 TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trong giai đoạn hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin được ứng dụng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội; do đó các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Trước tình hình đó, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội (được gọi tắt là lực lượng 47). Với vị trí, vai trò là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh không tiếng súng lực lượng 47 trong toàn quân thời gian qua đã luôn hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đạt hiệu quả cao, được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận và đánh giá cao. Thực tiễn hiện nay, lực lượng 47 ở các cơ quan báo chí Quân đội đã thành lập nhiều chuyên trang, chuyên mục phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kịp thời đăng tải hàng nghìn tin, bài viết đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, bóc gỡ nhiều tin, bài viết, ảnh có nội dung phản cảm trên mạng internet. Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nắm chắc địa bàn; tích cực tổ chức đấu tranh với nhiều loại hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhiều cơ quan, đơn vị phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… trong đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng. Hình thức đấu tranh chủ yếu là viết bài, xây dựng video clip phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; bình luận, chia sẻ rộng rãi những bài viết có nội dung về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, từ đó tạo hiệu ứng đấu tranh mạnh mẽ, tích cực trên không gian mạng. Với những thành tích đã đạt được, lực lượng 47 trong quân đội ngày càng khẳng địng rõ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển của đất nước ta. Trước tình hình đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trải, thù địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Để cuộc đấu tranh đạt hiệu quả cao hơn nữa đòi hỏi cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau: Một là, Toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tường của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân đội, phù hợp với tình hình cũng như đặc điểm, nhiệm vụ hoạt động lực lượng 47. Hai là, Thường xuyên kiện toàn đúng, đủ cả về số, chất lượng lực lượng 47 trong toàn quân, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong viết bài đấu tranh chuyên sâu, tạo nguồn thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng 47 trong quân đội với cơ quan chức năng, địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Ba là, Các cơ quan chức năng của quân đội chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng. Bốn là, Thường xuyên duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog đã được thành lập. Chú trọng liên kết với các trang, nhóm, blog khác để tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng mạng xã hội. Quan tâm đầu tư với tận dụng phát huy nguồn lực đơn vị, bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật, kinh phí để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Năm là, Kiên quyết, kiên trì vận dụng mọi hình thức, biện pháp đấu tranh; phát huy tốt vai trò, sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./. VHT.

RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ NGƯỜI QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Thực tiễn quá trình ra đời, chiến đấu và trưởng thành gần 80 năm qua Quân đội ta luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng vẻ vang. Quân đội ta luôn nhận và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; được nhân dân tin yêu, đùm bọc, ủng hộ; được bạn bè thế giới biết đến và khâm phục. Những đóng góp của Quân đội đối với sự nghiệp cách mạng đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, lời khen tặng đó đã trở thành lời thề danh dự của Quân đội ta. Với lời ngợi khen đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn luyện bản lĩnh chính trị người Quân nhân cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng QĐND vững mạnh, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND. Bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng của cán bộ, chiến sĩ QĐND là thước đo phẩm chất chính trị, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng, với các thuộc tính bền vững: Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng là vũ khí sắc bén để cán bộ, chiến sĩ tự tin, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH); sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, trong mọi tình huống; là kết quả của sự rèn luyện thường xuyên, liên tục; là sự tự ý thức rõ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH và hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Lý luận và thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của QĐND Việt Nam đã chứng minh: Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ QĐND được rèn luyện, thử thách và phát triển ổn định, bền vững, đạt đến trình độ giác ngộ sâu sắc về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo Tổ quốc, tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Đó là sự thể hiện sinh động nhất, sâu sắc nhất với lời ngợi khen của Bác Hồ kính yêu dành cho QĐND Việt Nam; là sự kết tinh phẩm giá nhân cách của người Quân nhân cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Tính vượt trội về bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ của QĐND thể hiện rõ ở quan điểm, lập trường giai cấp và thái độ ứng xử thắng lợi trước mọi tình huống phức tạp, hiểm nghèo, mang tính bước ngoặt của lịch sử; phản ánh khách quan trình độ nhận thức, ý thức giác ngộ lợi ích giai cấp, dân tộc, niềm tin tất thắng vào sự nghiệp chính nghĩa và tình cảm cách mạng trong sáng, thủy chung đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời thông qua đó thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ được hình thành, phát triển trong cách mạng giải phóng dân tộc, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc; trong quá trình giáo dục, rèn luyện và thực tiễn hoạt động, công tác, …; trong đó, đấu tranh phòng, chống hiệu quả âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tạo “miễn dịch” đối với mọi thông tin sai trái, xấu độc của các thế lực thù địch, phản động… là “thước đo” kết quả rèn luyện về bản lĩnh chính trị của người Quân nhân cách mạng trong tình hình hiện nay. Thực tiễn những năm qua, sự nghiệp đổi mới đất nước được tiến hành trong bối cảnh quốc tế và khu vực có những biến đổi sâu sắc, thuận lợi và thách thức đan xen tiềm ẩn những nguy cơ không thể xem thường. Các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng và coi đó là mũi “đột phá” trong mục tiêu phá hoại của chúng. Mặt khác, các thế lực phản động luôn lợi dụng sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong quá trình quản lý, những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội để xuyên tạc, bóp méo, kích động quần chúng bạo loạn, lật đổ… Điều đó đã và đang tác động hết sức mạnh mẽ đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ QĐND và quần chúng nhân dân. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ QĐND còn chưa phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, giảm sút niềm tin, ý chí chiến đấu, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, tiêu cực, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân, vi phạm quy trình, quy chế công tác, thậm chí vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của Quân đội, đặc biệt là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây hoang mang, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù vậy, vai trò, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ của lực lượng QĐND luôn được phát huy; trận địa tư tưởng của Đảng trong QĐND được giữ vững và tăng cường; Đảng bộ Quân đội và toàn lực lượng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân và chế độ XHCN; cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhờ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, nên QĐND đã và đang giải quyết hài hòa, ứng xử phù hợp trước những diễn biến, tình huống phức tạp của tình hình và yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, trước những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc, bảo đảm đúng lập trường, quan điểm, đối sách, pháp luật, các chỉ thị, nghị quyết…; xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, sự đánh giá cao của Đảng, Nhà nước, nhân dân và bạn bè quốc tế. Rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng là một nội dung rất cơ bản, rất thiết thực đối với cán bộ, chiến sĩ QĐND, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng QĐND vững mạnh về mọi mặt. Thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong QĐND hiện nay hầu hết trưởng thành trong thời bình, chủ yếu được rèn luyện, thử thách trong nhà trường và trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị, đồng thời phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của mặt trái kinh tế thị trường, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nhất là tác động tiêu cực của thông tin xấu độc, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” QĐND của các thế lực thù địch và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, rèn luyện bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng người quân nhân cách mạng là một nhiệm vụ rất quan trọng, rất cần thiết, rất công phu, nghiêm túc, đồng thời phải tiến hành đúng quy trình, có hệ thống giải pháp hợp lý, sát thực tế huấn luyện, công tác, chiến đấu của lực lực lượng Quân đội. Mục tiêu, yêu cầu có tính nguyên tắc trong rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng người quân nhân cách mạng là phải thực hiện tốt các nội dung: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; thực hiện đúng nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “phi chính trị hóa” QĐND của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ tốt chủ quyền lãnh thổ của đất nước; bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa./. VHT.

 

Tạo sức lan tỏa từ phong trào 'Dân vận khéo'


Ngày 14/7 tại Đà Nẵng Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác dân vận 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm.

6 tháng đầu năm, công tác dân vận có nhiều đổi mới góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, đối ngoại, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. UBTƯ MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Các phong trào thi đua yêu nước và phong trào thi đua “Dân vận khéo” có sự gắn kết chặt chẽ, tạo sức lan tỏa tích cực trong đời sống xã hội. Nhiều ban dân vận các địa phương đã tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo tổ chức phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới, giải phóng mặt bằng, xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn hóa mới ... để phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn. Đến nay cả nước có 139.062 mô hình cách làm hay, sáng tạo được đăng ký; trong đó, 36.181 mô hình tập thể, 16.187 mô hình cá nhân được công nhận.

 

Tránh hình thức trong đánh giá cán bộ


Nhiều ý kiến cho rằng, cần đánh giá đúng cán bộ, từ đó mới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm đúng, tránh để xảy ra vi phạm.

Thông tin từ Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương, 6 tháng đầu năm 2023, cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra 19.491 tổ chức đảng và 100.117 đảng viên, có 23.899 đảng viên là cấp ủy viên các cấp. Cấp ủy các cấp và chi bộ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 115 tổ chức và 795 đảng viên. UBKT các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 914 tổ chức đảng và 3.057 đảng viên, có 1.625 cấp ủy viên các cấp; UBKT Trung ương đã kiểm tra, kết luận đối với 16 tổ chức đảng và 29 đảng viên có vi phạm, khuyết điểm đến mức phải xử lý kỷ luật.

THÁNG BẢY - MÙA TRI ÂN CÁC ANH HÙNG LIỆT SỸ

 

Những ngày mùa thu tháng Bảy, cả nước lại lặng mình tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh cho ngày hòa bình, độc lập và tri ân cho những người trở về sau bom đạn, khói lửa của chiến tranh, gửi lại một phần máu xương nơi chiến trường để bảo vệ bình yên cho Tổ Quốc, cho nhân dân. Chiến tranh đã lùi xa nhưng hình ảnh các anh vẫn sống mãi trong lòng đất mẹ, sống mãi trong các thế hệ chúng tôi hôm nay và mai sau.Và bản thân tôi, cũng là một người con của người cha thương binh đã quá cố và đã từng ảnh hưởng nặng nề của di chứng chiến tranh để lại “nhiễm chất đôc da cam” nên tôi đã cảm nhận sâu sắc những mất mát và đau thương
Chiến tranh đã đi qua nhiều năm nhưng những hậu quả và dư âm của nó còn sót lại vẫn rất lớn lao và khốc liệt, ghi dấu mãi mãi trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam, ngày 27/7 lại đang đến gần, đó là ngày mà nhân dân cả nước đã giành riêng để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống hi sinh vì đất nước, vì độc lập tự do. Các anh ra đi vì những mục tiêu cao đẹp và ngã xuống hào hùng, bàn tay của giặc đã tàn phá dày xéo đất nước nhưng không bao giờ làm thay đổi được bản chất của con người Việt Nam. “Uống nước nhớ nguồn”, "ăn quả nhớ kẻ trồng cây ", “đền ơn đáp nghĩa”… trân trọng lớp đi trước… đó là những đạo lí tốt đẹp của dân tộc và chúng ta có được hòa bình độc lập như ngày hôm nay chính là nhờ một phần lớn công lao của các thế hệ đi trước. Hãy cùng tưởng niệm các anh hùng dân tộc.
Không ai chọn cho mình cách chết, cũng không ai muốn mình phải chết và không có cái chết nào có ý nghĩa bằng được sống. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng bị đe doạ, của cải, ruộng nương làng mạc bị xâm chiếm thì lựa chọn cái chết để đất nước được trường tồn là một lựa chọn vinh quang và cao cả. Mỗi một thân xác nằm xuống, mỗi một phần thi thể mất đi là một ánh hào quang soi sáng hơn con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đó là những dòng chữ bằng vàng khắc sâu vào lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.
Để có được nền hòa bình hôm nay, có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có cơm ăn, áo mặc, có được những nụ cười, ..... Tất cả những điều có được ấy là phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, bằng xương bằng máu của các thế hệ cha ông đi trước. Trong đó có những người tuổi đời còn rất trẻ đã gạt lại phía sau những hạnh phúc riêng tư, nguyện đem thân mình dâng hiến cho Tổ quốc. Biết bao người đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ, hay để lại một phần thân thể, đã hy sinh máu xương vì lý tưởng cao đẹp, như anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm đã viết: "Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng ...".
ST

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ quan trọng trong công tác đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh hiện nay.

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Thứ nhất, cần phải xây dựng nhà nước hợp hiến, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích của chế độ thực dân. Ngày 2/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là phải có một Hiến pháp dân chủ. Người khẳng định: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(1), “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử... Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(2). Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công. Tháng 3/1946, Chính phủ hợp hiến đầu tiên đã được Quốc hội cử ra, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đây là cơ sở pháp lý, hợp hiến buộc các lực lượng đồng minh phải thương thảo với Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu.
Thứ hai, để xây dựng một nhà nước vững mạnh, cần chú trọng nâng cao vai trò của pháp luật trong các hoạt động của đời sống xã hội.
Từ rất sớm, năm 1919, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Người đã yêu cầu Chính phủ Pháp và chính quyền thuộc địa ban hành hiến pháp, bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh, thay thế vào đó bằng các đạo luật, “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”(3).
Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở các nước phương Tây, Người đã tiếp cận nhiều luồng tư tưởng và các mô hình nhà nước pháp quyền, từ đó nhận thấy mô hình nhà nước pháp quyền có những ưu điểm nổi trội so với mô hình nhà nước chuyên chế đã ngự trị hàng nghìn năm ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam thời kỳ phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến. Từ đó, tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước pháp quyền dần được hình thành; Người viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”(4).
Với cương vị là Chủ tịch nước, Người đã hai lần được cử làm Trưởng ban dự thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Những quyền và tự do dân chủ của người dân luôn được coi là các quyền hiến định, cao cả và thiêng liêng đối với mỗi con người, mỗi công dân. Hiến pháp năm 1959 quy định: “Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật”.
Bên cạnh đó, Người xác định con đường xây dựng nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân. Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra Chính phủ mới, quân đội, công an, tòa án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân”(5). Tính dân chủ của pháp luật không chỉ thể hiện ở chỗ nội dung các đạo luật ghi nhận quyền và lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng các đạo luật. Việc xây dựng hệ thống pháp luật phải xuất phát từ ý kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp của các cơ quan, đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Để bảo đảm pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bản Hiến pháp của chúng ta sẽ thảo ra chẳng những phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân miền Bắc, mà còn phải là một mục tiêu phấn đấu cho đồng bào miền Nam(6). Để Hiến pháp và pháp luật đi vào cuộc sống, Người yêu cầu phải xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện; đồng thời nhấn mạnh phải hết sức chú trọng việc tuyên truyền trong quần chúng nhân dân vấn đề công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; đòi hỏi cán bộ, công chức phải không ngừng học tập nâng cao trình độ năng lực công tác, am hiểu pháp luật và thực hiện nghiêm minh, vừa tăng cường pháp luật, vừa đẩy mạnh giáo dục đạo đức công vụ và đạo đức công dân.
Ba là, nhà nước pháp quyền là nhà nước phải có sự kết hợp giữa vai trò của đạo đức với pháp luật.
Đây là nét đặc sắc, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong các quan điểm về xây dựng nhà nước. Với trí tuệ và kinh nghiệm của một chính trị gia uyên bác, Người đã chắt lọc, kế thừa và phát triển các quan niệm trên và kết hợp khéo léo vai trò của đạo đức và của pháp luật.
Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7). Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước ta cũng đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân”. Như vậy, "ngay từ khi mới lập nước, pháp luật của nước ta đã vừa mang những giá trị văn minh, đạo đức phổ quát của nhân loại về quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, vừa mang những giá trị cao đẹp, nhân văn thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN, đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần giải thích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật; chỉ rõ: “Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”(9). Trong bản Di chúc (năm 1968), Người nêu rõ: “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu,… thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(10).
Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước phải thượng tôn pháp luật, thực hành đạo đức công vụ, phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải coi đạo đức cách mạng như phẩm chất đầu tiên của mình; “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(11). Nhiều bài nói, viết về của Người đã khẳng định “phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu”(12); trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, phải kiên quyết chống cho được tham ô, lãng phí, quan liêu.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN
Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là thực sự cần thiết, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định, mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng dựa trên tám đặc trưng, trong đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một đặc trưng cơ bản. Đến Hiến pháp năm 2013, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng được thể chế hóa rõ ràng và đầy đủ tại Điều 2: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề ra những định hướng, quan điểm, giải pháp đột phá cho tiến trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Đồng thời, Đảng ta nêu rõ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN phải tiến hành đồng bộ, gắn với đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội; xác định 13 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó có định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã phân tích tình hình công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hơn 35 năm đổi mới và đã đạt những thành tựu quan trọng, cụ thể: 1) Nhận thức, lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn; hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực; 2) Việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ chủ động, tích cực, tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, kiến tạo phát triển. Tổ chức bộ máy của tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng được nâng lên; 3) Quyền con người, quyền công dân theo Hiến định tiếp tục được cụ thể hóa bằng pháp luật và thực hiện tốt hơn trên thực tế; 4) Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đã chỉ rõ, tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ.
Trong thời gian tới, để phát huy những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, cần tiếp tục thực hiện chất lượng, hiệu quả một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, cùng với những nội dung tư tưởng khác, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và quán triệt những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, để những giá trị tư tưởng của Người ngày càng thấm sâu vào nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức về 8 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống chính trị. Củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thực sự thấm nhuần lời dạy của Bác: “không được rời xa dân chúng. Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(13). Phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong thực hành dân chủ và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa, kịp thời, đầy đủ hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cần không ngừng quán triệt sâu sắc luận điểm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(14).
Thứ tư, xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi để tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức doanh nghiệp làm trung tâm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức bộ máy, công vụ, công chức, hành chính điện tử và chuyển đổi số.
Thứ năm, nghiêm túc trong thực hiện đúng và đầy đủ những định hướng lớn của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; nghiên cứu, làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bước đột phá trong tư duy về xây dựng nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta, dựa trên nền tảng kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật đã, đang và sẽ tiếp tục soi sáng quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
ST


Trăm tuổi. Sắp xuống lỗ rồi vẫn làm công cụ đối ngoại...

  Chỉ trong thời gian rất ngắn liên tiếp cử phó tổng thống, ngoại trưởng rồi bây giờ phải triệu hồi cả một bô lão ngoại giao tưởng như chỉ còn thở hắt ra để đưa đến diện kiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Nhìn vào động thái này, chả cần phải là kẻ lọc lõi gì cũng nhận thấy rằng giới cầm quyền Hoa Kỳ đã và đang xác định mình ở cửa dưới so với người Tàu. Không phải tự nhiên mà lại thế. Khi người Mỹ biểu hiện ra như vậy thì ắt hẳn phía sau đó phải là cả một mưu đồ và họ sẽ trở mặt 180 độ ngay khi mục đích của họ đã đạt được chứ không bao giờ họ chấp nhận là kẻ chiếu dưới kể cả khi thực sự nó là như thế. Tất nhiên, không phải ai cũng là những chú cừu non để cho con sói già lừa mị, còn giới chóp bu Trung Quốc thì lại quá lọc lõi...

Có lẽ mục đích của người Mỹ vẫn sẽ không gì khác là mong muốn mặc cả ngã giá để có được cú bắt tay và cái gật đầu của Trung Quốc về một vấn đề nào đó, thường là để giữ danh dự cho giới chóp bu Hoa Kỳ và vị thế cường quốc của họ, giống như họ đã làm thế để người Mỹ "rút lui trong danh dự" khỏi Việt Nam mấy chục năm về trước.
Lá bài Ukraine trong chiến lược phong toả sức mạnh của Nga xem như đã thất bại, người Mỹ thừa hiểu rằng họ không nên cùng một lúc đối đầu với cả Nga và Trung Quốc, và họ nghĩ đến việc đàm phán để cùng nhau "gánh vác" vị trí lãnh đạo thế giới hay nói cho đúng thì là chia sẻ lợi ích bá quyền thay vì để Nga và Trung Quốc cùng nhau làm điều đó. Vấn đề là ai hay cái gì sẽ được người Mỹ đem ra trao đổi để thay đổi nét mặt lạnh lùng và có được cái gật đầu của ông Tập...
ST

Bảo vệ an ninh kinh tế

 

An ninh kinh tế là một bộ phận của an ninh quốc gia. Bảo vệ an ninh kinh tế bao gồm các hoạt động về công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống âm mưu và hành động phá hoại kinh tế của các thế lực thù địch và các loại tội phạm kinh tế gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân; bảo vệ và thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước; sự an toàn của cơ sở vật chất, của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý và bí mật kinh tế. Bảo vệ an ninh kinh tế là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các ngành, các cấp và mọi công dân, trong đó thủ trưởng các ngành, các đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm chính. Lực lượng công an nhân dân tham mưu, hướng dẫn vừa trực tiếp đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm phá hoại kinh tế.