Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2023

8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ

 

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã thay mặt Bộ Chính trị ký Quy định 114 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Quy định này thay thế Quy định 205 năm 2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ

Quy định 114 nêu rõ các hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ quyền hạn như dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và người có quan hệ gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu giới thiệu nhân sự, bỏ phiếu bầu theo ý mình.

Để người có quan hệ gia đình, người có mối quan hệ thân quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của bản thân tác động, thao túng, can thiệp vào các khâu trong công tác cán bộ.

Lồng ghép ý đồ cá nhân khi thực hiện các khâu trong công tác cán bộ vì động cơ, mục đích vụ lợi hoặc có lợi cho nhân sự trong quá trình thực hiện công tác này.

Chỉ đạo, tham mưu các khâu trong công tác cán bộ đối với nhân sự không đủ điều kiện, tiêu chuẩn; không đúng nguyên tắc, quy định, quy trình, quy chế, quyết định.

Trì hoãn, không thực hiện khi thấy bất lợi hoặc chọn thời điểm có lợi đối với nhân sự theo ý mình để thực hiện quy trình công tác cán bộ.

Khi nhận được đơn, thư phản ánh, tố cáo hoặc biết nhân sự có hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ nhưng thỏa hiệp, dung túng, bao che không xử lý theo thẩm quyền, xử lý không đúng quy định hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý...

Xác nhận, chứng thực, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt, không đúng bản chất, không đúng sự thật hoặc làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ nhân sự, kết quả bầu cử, lấy phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm, xét tuyển, thi tuyển nhằm có lợi cho nhân sự hoặc để đạt mục đích cá nhân.

Cung cấp hoặc tiết lộ thông tin, tài liệu, hồ sơ cán bộ, đảng viên cho tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền, trách nhiệm, nhất là những thông tin, tài liệu, hồ sơ nhân sự đang trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ.

6 hành vi chạy chức, chạy quyền

Quy định nêu rõ hành vi chạy chức, chạy quyền là trực tiếp hoặc gián tiếp môi giới, đưa và nhận hối lộ nhằm giúp cho người khác có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.

Tặng quà, tiền, bất động sản hoặc các lợi ích vật chất, phi vật chất khác, sắp xếp các hoạt động vui chơi, giải trí cho người có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm mục đích có được sự ủng hộ, tín nhiệm, vị trí, chức vụ, quyền lợi.

Chạy tuổi, thâm niên công tác, danh hiệu thi đua, khen thưởng, bằng cấp, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu, ứng cử, chỉ định, điều động, luân chuyển, biệt phái, phong, thăng quân hàm... nhằm mục đích đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có được chức vụ, quyền lợi.

Lợi dụng các mối quan hệ thân quen hoặc sử dụng lợi thế, vị trí công tác, uy tín của người khác để tác động, tranh thủ, gây sức ép với người có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm mục đích có được vị trí, chức vụ, quyền lợi...

Lợi dụng việc nắm được thông tin nội bộ hoặc thông tin bất lợi của tổ chức, cá nhân để đặt điều kiện, gây sức ép đối với người có thẩm quyền, trách nhiệm trong việc phân công, bổ nhiệm, giới thiệu, đề cử, chỉ định bản thân.

Dùng lý lịch, xuất thân gia đình, thành tích công tác của bản thân để đặt ra yêu cầu vô lý đối với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm nhằm có được vị trí, chức vụ, quyền lợi.

Ngoài ra, các hành vi tiêu cực khác như gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi với nhân sự trái quy định trong quá trình thực hiện công tác cán bộ; nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, kéo dài thời gian, đặt điều kiện với nhân sự và cơ quan trình nhân sự...

Không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm một số chức danh

Quy định mới của Bộ Chính trị nêu rõ trách nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, trong đó, có trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo; trách nhiệm của thành viên cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo….

Quy định số 114 cũng đề cập đến việc không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh liên quan như thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự Đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị.

Cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh người đứng đầu cấp ủy đảng hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính và người đứng đầu các cơ quan: Nội vụ, thanh tra, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, công thương, kế hoạch đầu tư, tài nguyên môi trường, quân đội, công an, tòa án, viện kiểm sát ở Trung ương hoặc cùng cấp ở một địa phương.

Trường hợp không có phương án nhân sự đáp ứng yêu cầu mà nhân sự là người có quan hệ gia đình được tín nhiệm cao phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên trực tiếp trước khi bố trí.

Đối với chức danh thuộc diện cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương quản lý phải báo cáo Ban Tổ chức Trung ương; chức danh thuộc Trung ương quản lý phải báo cáo Ban Tổ chức Trung ương để báo cáo cấp có thẩm quyền.

 

Chuyến thăm CH Áo của Chủ tịch nước góp phần thúc đẩy hợp tác song phương và ngoại giao đa phương

 

Chuyến thăm chính thức tới Cộng hòa (CH) Áo của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng diễn ra trong bối cảnh hai nước vừa kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đồng thời sau một thời gian dài các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương bị gián đoạn do đại dịch Covid-19. Chuyến thăm cũng là trao đổi đoàn lãnh đạo cấp cao đầu tiên giữa hai nước trong vòng 10 năm qua, do đó, được cả hai bên rất trông đợi.

Phát biểu trên được Đại sứ Việt Nam tại Áo Nguyễn Trung Kiên đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn trước thềm chuyến thăm chính thức CH Áo của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng. Theo Đại sứ, đây cũng là dịp để hai nước khẳng định mối quan hệ rất tốt đẹp đang phát triển toàn diện song phương, đồng thời cũng là chuyến thăm để Chủ tịch nước tiếp xúc, làm việc với các diễn đàn ngoại giao đa phương, qua đó khẳng định tiếng nói và vai trò của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế đa phương.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng sẽ có các cuộc làm việc với lãnh đạo chủ chốt của Áo, trong đó Chủ tịch nước sẽ dự lễ đón chính thức và hội đàm với Tổng thống CH Áo Alexander Van der Bellen, hội kiến với Chủ tịch Thượng viện CH Áo Claudia Arpa, đến gặp và làm việc với Thủ hiến các bang Vienna và Burgenland của Áo,…

Bên cạnh đó, Chủ tịch nước sẽ có các cuộc gặp gỡ, làm việc với đại diện các tổ chức quốc tế, trong đó có quyền Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA). Theo Đại sứ, với các cuộc làm việc này, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng sẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác và khẳng định ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta trong hợp tác với các tổ chức quốc tế đa phương này. Trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch nước cũng sẽ có cuộc gặp gỡ, nói chuyện với đại diện cộng đồng người Việt tại Áo và một số nước châu Âu.

Đánh giá về tổng quan quan hệ song phương, Đại sứ Nguyễn Trung Kiên cho hay, quan hệ giữa Việt Nam và Áo là một trong những mối quan hệ quan trọng trong quan hệ của Việt Nam với châu Âu. Về quan hệ kinh tế - thương mại, từ nhiều năm nay, Áo luôn đứng trong nhóm 10 đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong Liên minh châu Âu (EU), trong đó kim ngạch song phương trước thời điểm đại dịch Covid-19 đạt gần 4 tỷ USD. Khi Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực, kim ngạch hai chiều đã có những khởi sắc rõ rệt. Tuy nhiên, đầu tư của Áo vào Việt Nam còn khiêm tốn. Áo hiện đứng thứ 41/108 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 43 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt 148,59 triệu USD. Quan hệ giữa Việt Nam và Áo phát triển khá toàn diện, ngoài chính trị và kinh tế còn mở rộng sang các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hóa với nhiều hoạt động trao đổi song phương.

Về triển vọng quan hệ song phương, Đại sứ Nguyễn Trung Kiên khẳng định, hai bên còn rất nhiều tiềm năng để có thể thúc đẩy hợp tác hơn nữa, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư. Đại sứ cho rằng một trong những lĩnh vực quan trọng trong quan hệ với Áo là hợp tác về khoa học - công nghệ, bởi đây là thế mạnh của Áo. Khoa học - công nghệ sẽ giúp Việt Nam phát triển các ngành sản xuất, trong khi ở chiều ngược lại, Áo cũng nhìn nhận Việt Nam, ngoài là thị trường đang nổi ở châu Á, cũng là một trung tâm phát triển sản xuất. Theo Đại sứ Nguyễn Trung Kiên, đây chính là những điểm hai nước có thể bổ trợ cho nhau trong hợp tác thời gian tới.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Malaysia cùng thăm phố sách và thưởng thức cà phê Việt Nam

 

Nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Malaysia Anwar Ibrahim và Phu nhân thăm chính thức Việt Nam, trưa 21-7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Phu nhân đã mời Thủ tướng Anwar Ibrahim và Phu nhân cùng thăm phố sách Hà Nội và thưởng thức hương vị cà phê Việt Nam.

Phố sách là con phố đẹp gần Hồ Gươm, nối hai phố Lý Thường Kiệt và Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, có không gian yên bình, mát mẻ - nơi kinh doanh, trưng bày hàng trăm ngàn cuốn sách về nhiều lĩnh vực khác nhau.

Dạo phố sách, thăm các gian trưng bày của các nhà xuất bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Anwar Ibrahim cùng hai phu nhân tỏ rõ thích thú khi được trải nghiệm không gian đọc ngoài trời hiếm có này. Ngoài các gian hàng sách, nơi đây còn có không gian để giao lưu, giới thiệu sách; trạm tra cứu thông tin điện tử công cộng - sách điện tử, có wifi miễn phí, quầy bán đồ lưu niệm, hoa tươi và nhiều cây xanh, tiểu cảnh... Ngoài dạo phố sách, thăm các gian hàng, hai thủ tướng cũng giao lưu thân thiện với độc giả. 

Cùng xem sách, bên ly cà phê Arabica và Robusta kết tinh từ đất, nước, nắng, gió và được chăm sóc bởi bàn tay của người dân vùng đất Cầu Đất, tỉnh Lâm Đồng, Thủ tướng Phạm Minh Chính giới thiệu với Thủ tướng Malaysia về truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học và văn hóa đọc Việt Nam.

Đảng và Nhà nước Việt Nam rất coi trọng và có nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích và phát triển văn hóa đọc trong toàn xã hội. Chính vì thế, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định lấy ngày 21-4 hàng năm là Ngày Sách Việt Nam; đồng thời ban hành đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.

Ở Việt Nam hiện nay, không chỉ ở các cơ quan, trường học, mà từ làng quê đến phố lớn đâu đâu cũng có thư viện, phục vụ người đọc. Văn hóa đọc trở thành công cụ đắc lực để mở mang tri thức, giáo dục đạo đức, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng và phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam nói chung.

Thủ tướng Phạm Minh Chính giới thiệu và tặng Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; tác phẩm "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuốn sách "Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh".

Đây là lần đầu tiên Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim thăm Việt Nam. Mặc dù với lịch hoạt động dày đặc, song hai thủ tướng dành cho nhau khoảng thời gian quý báu thăm phố sách, cho thấy sự thân tình, cởi mở giữa hai nhà lãnh đạo.

Trước đó, ngày 20-7, hai thủ tướng đã có cuộc hội đàm rất thành công; bày tỏ hài lòng về sự phát triển của quan hệ song phương thời gian qua, đặc biệt sau khi nâng cấp lên quan hệ Đối tác chiến lược vào năm 2015.

Hai thủ tướng nhất trí tăng cường trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao; phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 18 tỷ USD vào năm 2025; tận dụng tốt cơ hội từ các thỏa thuận thương mại khu vực như RCEP, CPTPP; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ; tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, hợp tác biển và đại dương; đẩy mạnh hợp tác du lịch, giáo dục, đào tạo, lao động, nông nghiệp, văn hóa, thể thao; phối hợp, ủng hộ nhau trên các diễn đàn, cơ chế khu vực và quốc tế...

Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn và đề nghị Malaysia tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Malaysia sinh sống, lao động, học tập ổn định, lâu dài tại nước bạn.

Chuyến thăm của Thủ tướng Malaysia tới Việt Nam lần này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Malaysia ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.

 

 ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI THÁI ĐỘ BÀNG QUAN, DAO ĐỘNG VỀ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.
Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc
Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.
Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.
Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.
Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, ch.uyển đ.ổi s.ố, tr.í t.uệ nh.ân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.
“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam
Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.
Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.
Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN
Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.
Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.
Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay./.

 KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng.
Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.
Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.
Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm.
Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ.
Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.
Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.
Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.
Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.
Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.
Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng.
Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2023

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THƯC HIỆN NHIỆM VU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Một số giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, là rất cần thiết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành những giải pháp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc. Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng; nâng cao chất lượng công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến, bất lợi. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược sau. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Không để xảy ra bạo loạn chính trị và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt vững vàng về chính trị, có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục chính trị- tư tưởng. Phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường trật tự, kỷ cương, giải quyết tốt các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần tiếp tục quán triệt, thực hiện hiệu quả hơn nữa các chiến lược trên, trong đó, tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trước hết, chúng ta phải thấy rằng, nhận thức đúng thì hành động sẽ khoa học, hiệu quả; trách nhiệm tốt thì kết quả bảo vệ Tổ quốc sẽ cao; đồng thời, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ đã dạy: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”2. Các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân đội cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho cả hệ thống chính trị và toàn dân nhận thức sâu sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, của đất nước, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung cụ thể hóa mục tiêu, quan điểm, phương châm, phương thức, nguyên tắc, nhiệm vụ, giải pháp của các chiến lược làm cơ sở để vận dụng phù hợp với đặc điểm, điều kiện, nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Trên cơ sở nhận thức đúng, làm cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và toàn dân nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây chính là thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”. Đồng thời, nhận thức được mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiệm vụ của cách mạng, đất nước, Quân đội; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, trách nhiệm đối với sự nghiệp giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ địa bàn và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, phát huy sức mạnh của hệ thống cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình từ Trung ương tới cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền trong hệ thống học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội cùng các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương; coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, làm cơ sở để đội ngũ này tuyên truyền, giáo dục cho toàn dân. Cùng với đó, cần tích cực đấu tranh với những tư tưởng, nhận thức lệch lạc, coi trọng nhiệm vụ phát triển kinh tế, xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là tư tưởng cho rằng trong thời bình không cần xây dựng lực lượng vũ trang, Quân đội, nền quốc phòng toàn dân, gây tốn kém cho nền kinh tế đất nước,… dẫn đến mất cảnh giác, mắc mưu các thế lực thù địch, phản động. Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong thực hiện các chiến lược. Trên cơ sở nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của các chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cấp ủy, người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả các chiến lược, nhằm đạt được mục tiêu đề ra là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Cần chú trọng quán triệt, vận dụng đúng đắn mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá và tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, phương thức tiến hành các chiến lược vào nghị quyết lãnh đạo nhiệm kỳ và hằng năm bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mình làm cơ sở để tổ chức thực hiện. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị, Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ; Luật quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng, Luật giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật nghĩa vụ quân sự... Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về quốc phòng, bảo đảm các hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đúng phương hướng chính trị của đất nước, theo tư duy, nhận thức mới của Đảng, đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế và đạt hiệu quả thiết thực. Tiếp tục hoàn thiện vả tổ chức thực hiện có chiều sâu các cơ chế, quy chế, thông tư, văn bản, hướng dẫn, quy định dưới luật, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng trong thực tiễn, bảo đảm cho nội dung của các chiến lược đi vào cuộc sống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn, Tổ quốc trong mọi tình huống. Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân đội nhân dân trong tổ chức thực hiện các chiến lược. Công tác quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt và Quân đội là lực lượng chủ yếu, trực tiếp. Trong bối cảnh tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực diễn biến phức tạp hiện nay, nhất là việc tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông, cùng sự chống phá quyết liệt của cả các thế lực thù địch, đòi hỏi phải phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân, trọng tâm là Quân đội nhân dân. Trên cơ sở bám sát chức năng, nhiệm vụ, Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc nội dung các chiến lược, phối hợp với các lực lượng liên quan nắm chắc tình hình thế giới, khu vực, trong nước, dự báo chính xác xu hướng vận động, phát triển của tình hình, tham mưu cho Đảng, Nhà nước các đối sách, giải pháp chiến lược, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của các chiến lược đề ra; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trong đó, tập trung vào những khu vực, địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, nhất là khu vực biên giới, biển, đảo. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đặc biệt là cơ quan quân sự các cấp cần phát huy vai trò nòng cốt, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng khu vực phòng thủ, xác định các biện pháp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn. Trong giai đoạn hiện nay, các đảng bộ trực thuộc Trung ương đang tiến hành đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn quân cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, duy trì nghiêm các chế độ, nền nếp sẵn sàng chiến đấu; tiếp tục rà soát quyết tâm, phương án, kế hoạch sẵn sàng chiến chiến đấu, phòng, chống cháy nổ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống. Đặc biệt, cần tập trung xây dựng, tổ chức luyện tập chặt chẽ, nghiêm túc phương án, kế hoạch bảo vệ Đại hội Đảng các cấp, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an theo Nghị định 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Công an và Quân đội trong bảo vệ an ninh quốc gia,… quyết tâm bảo vệ an toàn tuyện đối đại hội đảng các cấp - nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm của Đảng, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và toàn dân. Toàn quân đề cao cảnh giác, nắm chắc tình hình, phát hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc. Tiếp tục tổ chức xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, đảm bảo cho Quân đội ta có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đúng chủ trương tinh, gọn bộ máy của Trung ương, phù hợp với khả năng, điều kiện của đất nước, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH BIỂN ĐẢO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Những nhân tố gây mất ổn định, xâm phạm chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo Việt Nam vẫn đang diễn ra gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, tranh chấp trên biển, đảo và thềm lục địa của nước ta vẫn chưa được loại trừ do đang tồn tại những nhận thức khác nhau về chủ quyền; có những yêu sách chủ quyền trái với thông lệ và luật pháp quốc tế; áp đặt tư duy chủ quan, nước lớn trong các hoạt động ở Biển Đông, như: đẩy mạnh việc xây đắp phi pháp các đảo nhân tạo, cải tạo các đảo đã chiếm đóng trái phép, nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông; tăng cường các hoạt động chống phá, mở rộng vùng hoạt động kinh tế. Những hoạt động này đã và đang đe dọa, làm ảnh hưởng không chỉ đối với quốc phòng, an ninh của Việt Nam mà cả an ninh, an toàn của nhiều nước trong khu vực. Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, điều chỉnh và tăng cường huấn luyện các phương án tác chiến bảo vệ biển, đảo. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên biển và bảo vệ vùng trời. Hoàn thiện hệ thống quan sát, trinh sát, chỉ thị mục tiêu, thông tin trên biển, nâng cao khả năng quan sát, theo dõi, phát hiện từ sớm, từ xa để chủ động đối phó với các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Sản xuất, mua sắm vũ khí, trang bị, phương tiện, hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Củng cố, hoàn thiện hệ thống công sự trận địa, tổ chức các biện pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tăng cường khả năng phòng ngự bảo vệ các đảo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Theo đó, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước với quá trình kinh tế - xã hội, các hoạt động trên biển, đảo nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ, các hoạt động đó trong trật tự, theo đúng định hướng của Nhà nước trong việc thăm dò, khai thác các tiềm năng của biển, thực thi và bảo vệ chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa của quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực. Quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển còn là bảo vệ các quyền của quốc gia về biển phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà nước ta đã ký với các nước có liên quan. cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2. Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v. Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển. Hai là, xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc. Ba là, kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng. N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỂU QUẢ ĐẨY LÙI TỰ DIỄN BIẾN TỰ CHUYỂN HÓA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là nền tảng và động lực tinh thần để phát triển xã hội. Từ khi mới ra đời, Đảng ta đã ý thức sâu sắc về vai trò đặc biệt quan trọng của tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên cũng như của toàn xã hội đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến công tác giáo dục, xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống nhân văn cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, “đa số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ”, động viên, khích lệ nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức, đưa công cuộc đổi mới ở nước ta đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Trận địa tư tưởng, báo chí là trận địa phức tạp, nhạy cảm, những biểu hiện tự diễn biến tự chuyển hoá diễn ra liên tục, lâu dài với những âm mưu chống phá vô cùng thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, dần dần tác động vào tâm lý, tư tưởng của nhân dân và cán bộ, đảng viên, dẫn đến phai nhạt lý tưởng, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chuyển hoá thành những hành vi chống phá Đảng, chống phá chế độ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là tình trạng tiêu cực, là sự tự biến đổi, thay đổi trong tư tưởng chính trị, trong nhận thức và hành động của các tổ chức, cá nhân trong cả hệ thống chính trị, đi ngược với mục tiêu, lý tưởng, đạo đức cách mạng của Đảng và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; làm giảm sút, dẫn đến triệt tiêu vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Đảng, của chính quyền và đoàn thể các cấp; làm gia tăng các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội. Thực tế thời gian qua, trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện và xử lý trường hợp nào có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tuy nhiên đã phát hiện và xử lý nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, trong đó năm 2021 đã xử lý 484 tổ chức đảng và đảng viên, vi phạm về: Vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có lúc còn tùy tiện, gây khó khăn cho người dân; nói không đi đôi với làm; chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, công chức, chưa thực sự là “công bộc của dân”; thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng dân, chưa thực sự thể hiện mối quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ; thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chưa gần gũi, lịch sự, nhã nhặn, nhiệt tình, trách nhiệm, tận tụy, trung thực; vẫn đùn đẩy, né tránh; mất đoàn kết nội bộ, không hợp tác, trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, chưa thường xuyên, tích cực học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tham mưu chuyên môn còn để sai sót; thiếu tu dưỡng, rèn luyện, có suy thoái, vi phạm... Điều đó cho thấy tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong nội bộ có thể bị các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng để phá hoại nội bộ.Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan văn hóa ứng xử trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý cán bô, đảng viên, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ bị các phần tử xấu lợi dụng bôi nhọ, kích động chống phá. Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau: Một là, tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên Đây là giải pháp cơ bản, giữ vai trò nền tảng trong nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới toàn diện, mạnh mẽ về nội dung, phương thức công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối đổi mới. Khơi dậy ý chí tự cường, tự tôn dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Phát huy tinh thần đoàn kết, sự thống nhất về tư tưởng chính trị trong Đảng và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, sự đồng thuận về chính trị, tinh thần trong xã hội để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bám sát thực tiễn, trang bị hệ thống kiến thức cơ bản, hệ thống, phù hợp với từng đối tượng. Làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận do thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra. Coi trọng phương pháp nêu gương, cấp trên nêu gương trước cấp dưới, noi gương học tập các điển hình tiên tiến, thực hiện tốt chế độ thông tin tình hình, định hướng tư tưởng. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tổ chức quán triệt, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng. Hai là, đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ Cấp ủy đảng các cấp quan tâm chỉ đạo, đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ phát huy tính thiết thực, hiệu quả tránh sinh hoạt theo kiểu chiếu lệ, hình thức, không đi vào thực chất; phát huy vai trò của chi bộ trong quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Quán triệt, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; thực hiện nghiêm túc Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Tuyên truyền và quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, cán bộ, đảng viên về sự cần thiết và yêu cầu nâng cao chất lượng, sinh hoạt Đảng; quan tâm công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Ba là, xác định rõ vai trò, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền và trách nhiệm cao nhất trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, nên có vai trò quan trọng đối với việc phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Vì vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi lực lượng tham gia vào cuộc đấu tranh này, trước hết là người đứng đầu cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải có quyết tâm chính trị cao, xác định đúng vai trò, vị trí, trách nhiệm, gương mẫu trong việc chấp hành đường lối, chỉ thị, hướng dẫn, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước; có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, sâu sát; có thái độ đúng mực trong giao tiếp, ứng xử, luôn lắng nghe, tiếp thu những ý kiến xác đáng của cấp dưới và nhân dân để điều chỉnh, hoàn thiện bản thân. Đồng thời, phải gắn vai trò, trách nhiệm của cán bộ chủ trì, người đứng đầu đối với các hoạt động của cơ quan, đơn vị, nhất là những hậu quả do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gây ra. Có như vậy, việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mới đạt được hiệu quả và có tác dụng động viên, khích lệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên khác học tập, làm theo. N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN

Công tác dân vận có một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, làm tốt công tác dân vận sẽ tác động mạnh mẽ đến việc củng cố và nâng cao vị trí của tổ chức cơ sở đảng nói chung, góp phần hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị nói riêng của mỗi cơ quan, đơn vị. Xác định được tầm quan trọng này, Đảng bộ Bộ Tài chính luôn thực hiện nghiêm túc mọi chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận, lồng ghép với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giaoTư tưởng về quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự kết hợp và cấu thành của quan điểm “dân là gốc” với quan điểm xây dựng nền quốc phòng của Nhà nước XHCN, là yêu cầu khách quan, nhằm tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Thấm nhuần luận điểm “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, bám sát hoạt động thực tiễn của đất nước, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng”. Vì thế, nền quốc phòng mà Nhà nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng khác với nền quốc phòng của một nhà nước phi XHCN cả về bản chất, mục tiêu, tính chất, nội dung và cách thức xây dựng. Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng, sức mạnh của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và trong xây dựng nền QPTD vững mạnh nói riêng, trong những năm qua lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Nghệ An luôn làm tốt công tác vận động phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân vào thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng nền QPTD vững mạnh gắn với thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tiến hành tốt công tác dân vận phát huy sức mạnh của toàn dân xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Nhận thức sâu sắc về vai trò, nhiệm vụ công tác dân vận gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, quốc phòng, an ninh, về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân. Trong đó tập trung phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách về nội dung công tác dân vận trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với các hình thức phong phú, đa dạng như: tổ chức các hội nghị học tập, quán triệt, các buổi sinh hoạt chính trị của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các hội thi, hội diễn, các diễn đàn, lồng ghép trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động, các hoạt động giao lưu, kết nghĩa, hành quân dã ngoại, tổ chức gặp mặt già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, gặp gỡ, tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc, chức việc trong các tôn giáo; xây dựng phóng sự, viết các tin, bài, tạp chí, xây dựng các chuyên mục phát trên hệ thống thông tin đại chúng của địa phương và Trung ương... Thông qua quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp Nhân dân về nội dung công tác dân vận gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, hiểu rõ, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và các luận điệu chống phá, xuyên tạc về tình hình quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị, cực đoan lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền,... để chống phá cách mạng. Qua đó góp phần củng cố niềm tin, đoàn kết, tập hợp cán bộ, đảng viên chiến sĩ và Nhân dân tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong thời gian tới, lực lưỡng vũ trang tỉnh tiếp tục thực hiện tốt một số việc sau: Một là, thường xuyên quán triệt quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn đảng, toàn dân và toàn quân; Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Hai là, luôn quán triệt và nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền QPTD trong thời kỳ mới; đó là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Ba là, nhận thức rõ xây dựng nền QPTD là xây dựng các tiềm lực và đây cũng là nhân tố quyết định sự vững mạnh, sức mạnh của nền quốc phòng. Mỗi tiềm lực có vai trò, vị trí quan trọng riêng, vì thế không được xem nhẹ bất cứ tiềm lực nào. Trong đó tiềm lực chính trị-tinh thần là cơ sở; tiềm lực kinh tế là nền tảng, tiềm lực quân sự-an ninh là cốt lõi; tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện cần phải dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đặc điểm tình hình, phù hợp với điều kiện, khả năng của địa phương và đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ mới. Để không ngừng nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao, các cấp ủy Đảng, chính quyền tiếp tục triển khai Nghị quyết 25-NQ/TW Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) một cách thiết thực, cụ thể; Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động trên các lĩnh vực công tác. Theo đó, đề nghị tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau đây: Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác dân vận. Cấp ủy Đảng các cấp có cơ chế phối hợp kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện công tác dân vận, trong đó có việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận; việc thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc chính đáng trong nhân dân.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Từ khi ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi trở thành Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, Đảng ta luôn đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực cầm quyền nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Nhờ đó, năng lực cầm quyền của Đảng từng bước được nâng cao, trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Bài viết làm rõ vai trò cầm quyền và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Sức chiến đấu của Đảng cơ bản thể hiện ở sức mạnh của tổ chức đảng và đảng viên. Sức chiến đấu khác năng lực lãnh đạo nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau, năng lực lãnh đạo tốt là nền tảng vững chắc cho sức chiến đấu phát huy mọi khả năng tạo thành sức mạnh tổng hợp để Đảng ta làm tròn vai trò lãnh đạo cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hiện nay các thế lực thù địch vẫn tăng cường điên cuồng chống phá nước ta bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ hết sức thâm độc. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ xác định Việt Nam là một trọng điểm thực thi chiến lược xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Chúng không từ một thủ đoạn nào, từ “chiến lược chi phối đầu tư”, “ngoại giao thân thiện” đến “chiến lược khoét sâu nội bộ” nhằm phá hoại ta trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, kinh tế, văn hoá, tâm lý nhằm làm tan rã niềm tin phai nhạt lý tưởng, chuyển hoá dần ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, và nhân dân ta, làm cho ta mất ổn định, suy yếu, dần dần loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, giành “chiến thắng không cần chiến tranh”. Đồng thời với sử dụng “biện pháp mền” kẻ thù cũng không từ các thủ đoạn gây áp lực, răn đe sử dụng sức mạnh quân sự, tiến hành các hoạt động lật đổ, xâm lược vũ trang khi cần thiết và có điều kiện. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới đang diễn ra với tốc độ phi thường, đưa tới những tiến bộ to lớn, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong kinh tế và trên các mặt đời sống xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu mới về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; về năng lực của đội ngũ đảng viên. Có thể thấy rõ rằng, hiện nay người đảng viên, người cán bộ đảng ngoài kiến thức toàn diện thì cần phải có hiểu biết sâu về chuyên ngành của mình, nếu không thông thạo chuyên ngành đó thì lãnh đạo, chỉ huy rất khó. Chiến tranh trong thời đại khoa học - công nghệ là chiến tranh vũ khí công nghệ cao, điều này sẽ làm thay đổi cả quan điểm chiến tranh cũng như nghệ thuật quân sự, đòi hỏi phải giải quyết mỗi quan hệ giữa con người với vũ khí có sự khác biệt với chiến tranh thông thường. Chiến tranh với đòn đánh phủ đầu từ xa bằng hoả lực mạnh, độ chính xác cao dặt ra vấn đề giữ vững tinh thần, ý chí chiến đấu cho bộ đội, bảo toàn lực lượng, phòng tránh đánh trả, đảm bảo thông tin liên lạc. Vì vậy, trong công tác lãnh đạo phải giải thích một cách rõ ràng thuyết phục, có căn cứ và phương pháp khoa học. Trình độ dân chủ trong sinh hoạt ngày càng được mở rộng. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng hơn nữa. Để khắc phục những hạn chế và nguyên nhân nói trên cần thực hiện tốt một số nhóm giải pháp sau đây: Thứ nhất, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, thực sự tiên phong, gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đây được xem là nhiệm vụ giải pháp quan trọng, hàng đầu đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ, giải pháp trên cần nhận thức rõ, đánh giá đúng thực chất nhiều vấn đề luôn diễn ra trên đất nước ta đó là: Các thế lực phản động, hiếu chiến, cơ hội cực đoan bằng nhiều thủ đoạn, phương tiện tìm mọi cách tấn công vào hệ tư tưởng của Đảng với chiêu bài dân chủ, nhân quyền, truyền bá tư tưởng thực dụng, cực đoan, hưởng thụ. Thứ hai, tăng cường giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, bài trừ tệ nạn xã hội. Thực hiện gải pháp này trước hết cấp ủy các cấp chủ động đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình, trong đó cần đánh giá chính xác từng tổ chức và cá nhân, không được nể nang, né tránh, ngại va chạm Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo hướng gắn tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội; thường xuyên kiện toàn các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, là trụ cột trong các phong trào; việc kết nạp đảng viên phải được thực hiện cho đúng thực chất, chặt chẽ trong tất cả các khâu, không chạy theo chỉ tiêu như làm kinh tế. Hiện nay, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng và chiều sâu, được tiến hành trong điều kiện có cả thời cơ, thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, đó là sự biến đổi rất phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực; việc bảo vệ vững chắc lãnh thổ, biên giới, vùng trời, nhất là biển đảo nước ta đứng trước những thách thức rất lớn; mặt trái của kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế tiếp tục tác động mạnh tới cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đặc biệt, những tiêu cực, biểu hiện suy thoái nảy sinh trong nội bộ Đảng cầm quyền, hệ thống chính trị chưa được ngăn chặn, đẩy lùi chủ yếu do hạn chế, bất cập của Đảng về năng lực cầm quyền… Điều này, càng đòi hỏi cấp bách phải tập trung nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng ta hiện nay. Từ khi ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi trở thành Đảng cầm quyền, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, Đảng ta luôn đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực cầm quyền nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng; trong đó tập trung vào việc xác định nội dung năng lực cầm quyền của Đảng, cụ thể hóa cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong hệ thống chính trị, trong các lĩnh vực đời sống xã hội… và đề ra các giải pháp nâng cao. Nhờ đó, năng lực cầm quyền của Đảng được nâng nên, trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, đặc biệt là những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau hơn 35 năm đổi mới. Tuy nhiên, so với yêu cầu công cuộc đổi mới xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, năng lực cầm quyền của Đảng còn có những bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đó là: còn lúng túng trong xác định nội dung năng lực cầm quyền, chưa làm rõ và chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực cầm quyền với năng lực lãnh đạo của Đảng; biểu hiện của năng lực cầm quyền của Đảng; những yếu tố chủ yếu tạo nên năng lực cầm quyền của Đảng và con đường hình thành, phát triển; năng lực cầm quyền của Đảng có lúc, có nơi bị giảm sút, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng... Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là những điều kiện cần và đủ để nâng cao khả năng thực hiện hiệu quả sự cầm quyền của Đảng, gồm: nâng cao khả năng nắm, giữ chính quyền; nâng cao khả năng phát huy vai trò của vị thế cầm quyền của mình; nâng cao khả năng sử dụng quyền tác động, chi phối hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức khác và Nhân dân theo đường lối, quan điểm của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, nghị quyết của Đảng. Những điều kiện cần và đủ để Đảng có khả năng nâng cao năng lực cầm quyền, đó là: phẩm chất, năng lực; phong cách, lề lối làm việc; ý thức tổ chức, kỷ luật; thái độ đối với Nhân dân của Đảng, các tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên; hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức khoa học. Đây là những yếu tố cần thiết bảo đảm cho Đảng nắm, giữ chính quyền, phát huy vai trò vị thế cầm quyền của mình trong xã hội; sử dụng hiệu quả quyền tác động, chi phối xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối ấy. Vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xã hội được Nhân dân thừa nhận, suy tôn và được Hiến pháp nước ta khẳng định. Từ thực tiễn thực hiện vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, bên cạnh những kết quả, thành tựu đạt được, vẫn còn hạn chế, yếu kém và những vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải tiếp tục có những điều chỉnh phù hợp trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Xây dựng “thế trận lòng dân” là quan điểm xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Quan điểm đó tiếp tục được quán triệt và thể hiện nhất quán trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam thời kỳ mới. Dựa vào nhân dân để bảo vệ đất nước và xây dựng xã hội “quốc thái dân an” là bài học kinh nghiệm thành công mà ông cha ta đã đúc kết, gắn với những mốc son chói lọi trong lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của đất nước, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân, khơi dậy lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước, ý thức tự giác, tổ chức và tạo điều kiện để nhân dân tham gia trực tiếp, đầy đủ vào các nhiệm vụ cách mạng. Các thế lực thù địch đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, làm mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, nhận thức của một bộ phận cán bộ các cấp, các ngành và nhân dân về nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế; chất lượng giáo dục chính trị, pháp luật, quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Vì vậy, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần cho nhân dân, lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị là giải pháp hàng đầu có vai trò quan trọng góp phần xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đồng thời, thực hiện giải pháp này nhằm tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang; phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Trong tình hình mới, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải gắn bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền văn hóa, lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế. Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đòi hỏi sự cần thiết rất cao ý thức, trách nhiệm và sự phấn đấu, hy sinh của mọi công dân, để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Cần thường xuyên, kịp thời trao đổi thông tin, hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở các cấp độ và trong những tình huống cụ thể theo các nghị quyết, chỉ thị của Đảng cũng như quy định của Hiến pháp, pháp luật; trong sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau: Một là, thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới. Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước.