Một số người chống đối, từng “bên kia chiến tuyến”, sau giải phóng thì ra nước ngoài, từ đó giữ cách nhìn thù hận về đất nước, quê hương. Khi được vận động trở về, họ cho rằng, không có khái niệm hòa hợp, một đi là không thể quay về. Quan niệm đó đang chứng tỏ sự bảo thủ, định kiến trước sự đổi mới, mở cửa của đất nước cũng như truyền thống bao dung, chung lòng đất mẹ, ân nghĩa một nhà…
Luật sư Hoàng Duy Hùng, người từng đắc cử Nghị viên Hội đồng thành phố
Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử ngày 12-12-2009, người có
quá khứ chống đối quyết liệt, cho rằng “không trở về” thì nay đã là con người
có cách nhìn khác.
Ông nói:
“Tôi chống Đảng, Nhà nước từ năm 1984 và trở thành một đảng viên trung ương của
đảng Đại Việt vào năm 1986. Khi được tổ chức cử về nước, lúc đó quê hương còn
nghèo nàn, lạc hậu, lại bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía”.
Sau khi bị
bắt giữ, xử lý, rồi được trả tự do vào năm 1993 thì đất nước ta vẫn còn nghèo,
Hoàng Duy Hùng mang tư tưởng chống đối và tiếp tục có các hoạt động xâm phạm an
ninh quốc gia. Tuy nhiên, dần dần nhận thức trong ông đã thay đổi.
“Tôi yêu đất
nước này. Chính bởi lòng yêu nước giúp tôi hiểu rằng mình là con của mẹ Việt
Nam. Mẹ tôi có thể có lúc nghèo khổ, áo rách nhưng đó là mẹ tôi. Mẹ tôi có những
lúc mặc áo sang trọng cũng là mẹ tôi. Mẹ tôi càng nghèo khổ thì tôi càng thương
hơn và phải có trách nhiệm là làm cho mẹ tôi được hạnh phúc, đó là bổn phận và
trách nhiệm. Tôi quan niệm, nếu đất nước gặp khó khăn thì phàm là đàn ông phải
“làm trai cho đáng lên trai” phải có trách nhiệm với mẹ mình” - luật sư Hoàng
Duy Hùng chia sẻ.
Ông kể, rời
quê hương khi còn rất nhỏ, ông luôn ao ước được ăn một cái Tết đầm ấm ở quê
nhà. Ngày 20/1/2022, ông đáp chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam và cảm xúc lần này khác
nhiều so với những lần trước bởi đây là lần đầu tiên, ông được trở về đón một
cái Tết đúng nghĩa truyền thống tại quê hương, xứ sở. Sau những ngày ở trong
khu cách ly, ông Hùng tham dự chương trình Xuân Quê hương. “Giờ phút được đứng
tại Nhà hát Lớn, nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc tung bay, tôi có một cảm
xúc đặc biệt mà chỉ những người con xa quê mới có thể hiểu được” – luật sư bày
tỏ.
Gần nửa thế
kỷ sau chiến tranh, thống nhất đất nước, câu hỏi về sự hòa hợp dân tộc giữa đất
nước, nhân dân Việt Nam với những người Việt di cư sang Mỹ vẫn là vấn đề lớn.
Suy ngẫm sâu xa truyền thống nhân văn của dân tộc “đánh người chạy đi, không ai
đánh người chạy lại”, sự bao dung, độ lượng của đồng bào dòng máu Lạc Hồng cùng
với xu thế hòa bình, hợp tác toàn cầu, việc gác lại hận thù, cùng đoàn kết hướng
về nguồn cội là yêu cầu, đòi hỏi khách quan.
Hòa hợp
dân tộc ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ sự hòa giải những mâu thuẫn trong nội
bộ người Việt phát sinh từ năm 1945 đến ngày nay, trong đó vấn đề hòa giải và
hòa hợp dân tộc được nhắc đến nhiều sau Hiệp định Paris và sau giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Đại sứ
Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 từng kể,
khi ông sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh Việt Nam tại Đại học
Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo sư và
khoảng một ngàn sinh viên. Một sinh viên đã hỏi: “Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã
chiến thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc nhưng tại sao lại có chuyện
hàng triệu người bỏ nước ra đi?”.
Đại sứ
Nguyễn Khắc Huỳnh trả lời, việc có hàng triệu người rời Việt Nam sang Mỹ sau
năm 1975 là sự thật lịch sử. Điều này có nhiều nguyên do. Thứ nhất là trong suốt
thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài
Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền “nếu Việt Cộng giải phóng sẽ có “tắm
máu””. Việc tuyên truyền như vậy khiến nhiều người lo lắng nên sau 30-4-1975 họ
tìm cách ra đi càng nhanh càng tốt. Những người ra đi gồm người thuộc chính quyền
Sài Gòn cũ, những người thấy ở lại làm ăn không thuận lợi, một số người giàu có
và số khác không thuộc các thành phần trên cũng đi vì sợ “tắm máu”. Một số người
nữa thấy kinh tế Việt Nam nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên cũng kiếm
đường ra đi... “Nhưng, dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như
thế nào, chúng tôi đều coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa
để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận,
mở cửa rộng rãi” - Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh giải thích.
Việc nhiều
người Việt Nam di cư sang Mỹ sau 30-4-1975 nằm trong bối cảnh lịch sử chịu nhiều
tác động chi phối lúc bấy giờ nên không thể lấy việc di cư như vậy để phán xét,
quy chụp qua lăng kính màu xám. Trong lịch sử của nhiều quốc gia trên thế giới,
việc một bộ phận người dân di tản sang nước khác sau khi kết thúc chiến tranh
cũng là chuyện bình thường, bởi bối cảnh hậu chiến đặt ra những vấn đề có tính
quy luật khiến sự di tản khó tránh khỏi.
Sau gần nửa
thế kỷ, sự di cư của người Việt sang Mỹ đã là một vấn đề lịch sử và cũng không
phải là lúc ngồi soát xét lại tại sao có chuyện như vậy để đổ lỗi nguyên nhân,
trách nhiệm của bên nào. Lịch sử không xoay vòng để những người di cư tìm lại
câu hỏi nên đi hay ở của bối cảnh quá khứ với hiện tại. Điều quan trọng và mang
tính thời sự hiện nay là làm thế nào để việc hòa hợp dân tộc được thực hiện thiết
thực để người Việt dù ở bất cứ đâu, bất cứ thành phần, địa vị nào cũng đều hướng
về Tổ quốc, đoàn kết vì tương lai đất nước.
Điểm cốt yếu
trong hòa hợp dân tộc chính là quan điểm của “người mẹ”. Con cái có thể ruồng bỏ
cha mẹ mà đi nhưng trong trái tim người mẹ đọng lại là sự bao dung, độ lượng, sẵn
sàng dung thứ khi người bỏ đi nhận ra lẽ phải. Tháng 6-2007, trong chuyến thăm
chính thức Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có cuộc gặp gỡ kiều bào tại
quận Cam - một địa chỉ hội tụ đông đảo người Việt di cư sau 30-4-1975.
“Chúng ta
nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi nhưng “Quốc văn giáo khoa thư” nói rằng, đó là những
gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ
những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt
Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường... Nếu ai đó còn có ngần ngại, còn
có bất đồng, chúng ta hãy nói với các bạn ấy rằng Mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng
dang rộng cánh tay đón nhận tất cả những người con của mình về với Tổ quốc.
Không có lý do gì, sự bất đồng gì ngăn cản sự đoàn kết, thống nhất quốc gia
trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đất nước của chúng ta. Tôi cũng đề nghị với
những người có những cử chỉ bất đồng, chúng ta hãy cho họ hiểu rằng những thông
tin đưa đến cho họ chưa đầy đủ. Họ chưa có điều kiện trực tiếp quay về quê
hương đất nước, trực tiếp chứng kiến những đổi thay nhanh chóng, những tiến bộ
đang diễn ra trên đất nước chúng ta” - Chủ tịch nước chia sẻ.
Chủ tịch
nước phân tích: “Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hòa.
Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu
có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để
thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung, vì
mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”. Khi đó, khoảng một
ngàn kiều bào đại diện cho cộng đồng người Việt tại quận Cam và nhiều tiểu bang
khác của Mỹ đã đồng loạt đứng lên vỗ tay xúc động khi nghe những lời chia sẻ từ
Chủ tịch nước Việt Nam.
Tổ quốc
dang rộng vòng tay với cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới không chỉ
là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc mà đã trở thành hành động chính trị của đất nước.
Một trong những chủ trương được Đảng ta khẳng định rõ là: “Xóa bỏ mặc cảm, định
kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi
mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người
Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội,
lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp
trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của
Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài).
Dù đã có
những chuyển biến trong nhận thức, hành động thì một sự thật là cho đến nay,
sau gần 5 thập kỷ chấm dứt chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn còn đó những điều chưa được khỏa lấp. Trong cộng đồng
người Việt ở Hoa Kỳ, vẫn còn đó những người chống đối sự nghiệp xây dựng, phát
triển của đất nước Việt Nam, thậm chí chống đối quyết liệt suốt gần nửa thế kỷ
qua. Không thay đổi nhận thức với chính mình, họ lại truyền bá tư tưởng này cho
con cái, định hình một cách nhìn lệch lạc, thù hận về nơi vốn là gốc gác, tổ
tiên của mình, dòng họ mình.
Hơn lúc
nào hết, những người con ở xa đất mẹ cần nhìn nhận rõ truyền thống và xu hướng
thời đại, vượt lên ranh giới để đoàn kết, hướng về nguồn cội. Tất cả cần bằng sự
chân thành, hòa hợp chứ không phải là đưa ra các điều kiện để đong đếm “thương
lượng”, hay sự mặc cả thương mại, hay ý đồ không trong sáng./.



