Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2023

ĐẤT MẸ BAO DUNG

 

          Một số người chống đối, từng “bên kia chiến tuyến”, sau giải phóng thì ra nước ngoài, từ đó giữ cách nhìn thù hận về đất nước, quê hương. Khi được vận động trở về, họ cho rằng, không có khái niệm hòa hợp, một đi là không thể quay về. Quan niệm đó đang chứng tỏ sự bảo thủ, định kiến trước sự đổi mới, mở cửa của đất nước cũng như truyền thống bao dung, chung lòng đất mẹ, ân nghĩa một nhà…

          Luật sư Hoàng Duy Hùng, người từng đắc cử Nghị viên Hội đồng thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử ngày 12-12-2009, người có quá khứ chống đối quyết liệt, cho rằng “không trở về” thì nay đã là con người có cách nhìn khác.

          Ông nói: “Tôi chống Đảng, Nhà nước từ năm 1984 và trở thành một đảng viên trung ương của đảng Đại Việt vào năm 1986. Khi được tổ chức cử về nước, lúc đó quê hương còn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía”.

          Sau khi bị bắt giữ, xử lý, rồi được trả tự do vào năm 1993 thì đất nước ta vẫn còn nghèo, Hoàng Duy Hùng mang tư tưởng chống đối và tiếp tục có các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Tuy nhiên, dần dần nhận thức trong ông đã thay đổi.

          “Tôi yêu đất nước này. Chính bởi lòng yêu nước giúp tôi hiểu rằng mình là con của mẹ Việt Nam. Mẹ tôi có thể có lúc nghèo khổ, áo rách nhưng đó là mẹ tôi. Mẹ tôi có những lúc mặc áo sang trọng cũng là mẹ tôi. Mẹ tôi càng nghèo khổ thì tôi càng thương hơn và phải có trách nhiệm là làm cho mẹ tôi được hạnh phúc, đó là bổn phận và trách nhiệm. Tôi quan niệm, nếu đất nước gặp khó khăn thì phàm là đàn ông phải “làm trai cho đáng lên trai” phải có trách nhiệm với mẹ mình” - luật sư Hoàng Duy Hùng chia sẻ.

          Ông kể, rời quê hương khi còn rất nhỏ, ông luôn ao ước được ăn một cái Tết đầm ấm ở quê nhà. Ngày 20/1/2022, ông đáp chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam và cảm xúc lần này khác nhiều so với những lần trước bởi đây là lần đầu tiên, ông được trở về đón một cái Tết đúng nghĩa truyền thống tại quê hương, xứ sở. Sau những ngày ở trong khu cách ly, ông Hùng tham dự chương trình Xuân Quê hương. “Giờ phút được đứng tại Nhà hát Lớn, nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc tung bay, tôi có một cảm xúc đặc biệt mà chỉ những người con xa quê mới có thể hiểu được” – luật sư bày tỏ.

          Gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thống nhất đất nước, câu hỏi về sự hòa hợp dân tộc giữa đất nước, nhân dân Việt Nam với những người Việt di cư sang Mỹ vẫn là vấn đề lớn. Suy ngẫm sâu xa truyền thống nhân văn của dân tộc “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, sự bao dung, độ lượng của đồng bào dòng máu Lạc Hồng cùng với xu thế hòa bình, hợp tác toàn cầu, việc gác lại hận thù, cùng đoàn kết hướng về nguồn cội là yêu cầu, đòi hỏi khách quan.

          Hòa hợp dân tộc ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ sự hòa giải những mâu thuẫn trong nội bộ người Việt phát sinh từ năm 1945 đến ngày nay, trong đó vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc được nhắc đến nhiều sau Hiệp định Paris và sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

          Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 từng kể, khi ông sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh Việt Nam tại Đại học Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo sư và khoảng một ngàn sinh viên. Một sinh viên đã hỏi: “Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã chiến thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc nhưng tại sao lại có chuyện hàng triệu người bỏ nước ra đi?”.

          Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh trả lời, việc có hàng triệu người rời Việt Nam sang Mỹ sau năm 1975 là sự thật lịch sử. Điều này có nhiều nguyên do. Thứ nhất là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền “nếu Việt Cộng giải phóng sẽ có “tắm máu””. Việc tuyên truyền như vậy khiến nhiều người lo lắng nên sau 30-4-1975 họ tìm cách ra đi càng nhanh càng tốt. Những người ra đi gồm người thuộc chính quyền Sài Gòn cũ, những người thấy ở lại làm ăn không thuận lợi, một số người giàu có và số khác không thuộc các thành phần trên cũng đi vì sợ “tắm máu”. Một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên cũng kiếm đường ra đi... “Nhưng, dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi đều coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi” - Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh giải thích.

          Việc nhiều người Việt Nam di cư sang Mỹ sau 30-4-1975 nằm trong bối cảnh lịch sử chịu nhiều tác động chi phối lúc bấy giờ nên không thể lấy việc di cư như vậy để phán xét, quy chụp qua lăng kính màu xám. Trong lịch sử của nhiều quốc gia trên thế giới, việc một bộ phận người dân di tản sang nước khác sau khi kết thúc chiến tranh cũng là chuyện bình thường, bởi bối cảnh hậu chiến đặt ra những vấn đề có tính quy luật khiến sự di tản khó tránh khỏi.

          Sau gần nửa thế kỷ, sự di cư của người Việt sang Mỹ đã là một vấn đề lịch sử và cũng không phải là lúc ngồi soát xét lại tại sao có chuyện như vậy để đổ lỗi nguyên nhân, trách nhiệm của bên nào. Lịch sử không xoay vòng để những người di cư tìm lại câu hỏi nên đi hay ở của bối cảnh quá khứ với hiện tại. Điều quan trọng và mang tính thời sự hiện nay là làm thế nào để việc hòa hợp dân tộc được thực hiện thiết thực để người Việt dù ở bất cứ đâu, bất cứ thành phần, địa vị nào cũng đều hướng về Tổ quốc, đoàn kết vì tương lai đất nước.

          Điểm cốt yếu trong hòa hợp dân tộc chính là quan điểm của “người mẹ”. Con cái có thể ruồng bỏ cha mẹ mà đi nhưng trong trái tim người mẹ đọng lại là sự bao dung, độ lượng, sẵn sàng dung thứ khi người bỏ đi nhận ra lẽ phải. Tháng 6-2007, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có cuộc gặp gỡ kiều bào tại quận Cam - một địa chỉ hội tụ đông đảo người Việt di cư sau 30-4-1975.

          “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi nhưng “Quốc văn giáo khoa thư” nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường... Nếu ai đó còn có ngần ngại, còn có bất đồng, chúng ta hãy nói với các bạn ấy rằng Mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng dang rộng cánh tay đón nhận tất cả những người con của mình về với Tổ quốc. Không có lý do gì, sự bất đồng gì ngăn cản sự đoàn kết, thống nhất quốc gia trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đất nước của chúng ta. Tôi cũng đề nghị với những người có những cử chỉ bất đồng, chúng ta hãy cho họ hiểu rằng những thông tin đưa đến cho họ chưa đầy đủ. Họ chưa có điều kiện trực tiếp quay về quê hương đất nước, trực tiếp chứng kiến những đổi thay nhanh chóng, những tiến bộ đang diễn ra trên đất nước chúng ta” - Chủ tịch nước chia sẻ.

          Chủ tịch nước phân tích: “Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hòa. Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung, vì mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”. Khi đó, khoảng một ngàn kiều bào đại diện cho cộng đồng người Việt tại quận Cam và nhiều tiểu bang khác của Mỹ đã đồng loạt đứng lên vỗ tay xúc động khi nghe những lời chia sẻ từ Chủ tịch nước Việt Nam.

          Tổ quốc dang rộng vòng tay với cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới không chỉ là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc mà đã trở thành hành động chính trị của đất nước. Một trong những chủ trương được Đảng ta khẳng định rõ là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài).

          Dù đã có những chuyển biến trong nhận thức, hành động thì một sự thật là cho đến nay, sau gần 5 thập kỷ chấm dứt chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn còn đó những điều chưa được khỏa lấp. Trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vẫn còn đó những người chống đối sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước Việt Nam, thậm chí chống đối quyết liệt suốt gần nửa thế kỷ qua. Không thay đổi nhận thức với chính mình, họ lại truyền bá tư tưởng này cho con cái, định hình một cách nhìn lệch lạc, thù hận về nơi vốn là gốc gác, tổ tiên của mình, dòng họ mình.

          Hơn lúc nào hết, những người con ở xa đất mẹ cần nhìn nhận rõ truyền thống và xu hướng thời đại, vượt lên ranh giới để đoàn kết, hướng về nguồn cội. Tất cả cần bằng sự chân thành, hòa hợp chứ không phải là đưa ra các điều kiện để đong đếm “thương lượng”, hay sự mặc cả thương mại, hay ý đồ không trong sáng./.

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ TÀ ĐẠO HIỆN NAY

 

          Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

          Tính đến tháng 11/2021, Việt Nam có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Nhà nước ta còn quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động bình thường trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

          Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo;... thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc...”. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24). Đồng thời, “nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

          Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, một số người đã đứng ra thành lập và tuyên truyền một số hình thức của tà đạo như “Long Hoa Di Lặc”, “Chân không”, “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”…

          Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo).

          Các tà đạo này ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội (kích động trốn vào rừng, trốn đi nước ngoài); một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân (“tà đạo Hà Mòn”)…

          Phần lớn các tà đạo ở nước ta có những cách hành đạo trái với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, nhằm mục đích gây thanh thế cá nhân, thu lợi bất chính về kinh tế. Mặt khác, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của đất nước.

 

Chẳng hạn, để lôi kéo người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, nhằm trục lợi và thanh thế cá nhân, Dương Văn Mình, quê quán huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (đã mất 12/2021), tự xưng là “chúa giáng thế”, tuyên bố rằng: “theo y cầu nguyện, không làm cũng có ăn, không học cũng biết chữ, người già sẽ lột xác, ốm đau sẽ tự khỏi”, nơi hành lễ là “nhà đòn”, dựng ở đâu tùy thích, thờ phụng con ve sầu, chim én, cóc gỗ thay vì thờ cúng tổ tiên như trước đây”.

          Còn Y Gyin (sinh năm 1942, ở Sa Thầy - tỉnh Kon Tum), hành nghề cúng bái thì dựng chuyện “Đức mẹ hiển linh” trao cho sứ mệnh truyền giáo, lập ra cái gọi là “đạo Hà Mòn” lôi kéo, lừa bịp nhiều người dân thiếu hiểu biết:“Ai theo Đức mẹ thì mọi nợ nần về vật chất và tinh thần đều được xóa, kể cả nợ ngân hàng; ốm đau không cần chữa cũng khỏi bệnh; người đã theo thì không được bỏ, nếu bỏ đạo gia đình sẽ ly tán”, “Hà Mòn” mới là “tôn giáo riêng” của người DTTS ở Tây Nguyên”.

          Hay như các đối tượng cầm đầu tà đạo “Giê Sùa” (Hờ Chá Sùng), tà đạo “Bà Cô Dợ” (Vừ Thị Dợ) đã tuyên truyền cho một bộ phận đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc rằng: “theo đạo “Giê sùa”, đạo “Bà Cô Dợ” khi có chiến tranh, thiên tai thì sẽ được đưa đến đất nước của Chúa sinh sống; kêu gọi người Mông phải đoàn kết để chung tay xây dựng đất nước riêng của người Mông...”. Thực chất, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ” đều mang màu sắc của tà đạo, trái hoàn toàn với đạo lý truyền thống văn hóa dân tộc, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng gây xáo trộn cuộc sống của người dân, gây mất an ninh, trật tự ở một số địa phương.

          Từ thực tiễn hoạt động của các tà đạo trong thời gian vừa qua, có thể nhận diện các tà đạo dựa vào một số đặc điểm chủ yếu sau:

          - Về người đứng đầu: Luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần”…, nhiều người trước khi tạo dựng tà đạo hay “đạo lạ” còn mắc bệnh tâm thần hoặc từ nước ngoài tuyên truyền phát triển vào trong nước trước để tạo thanh thế. Các tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện, nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người dân.

          - Về lý thuyết, “giáo lý”, “giáo luật”: Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống (đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng “nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống chế quần chúng.

 

          Điển hình như đối với tà đạo “Giê Sùa” đã và đang tác động vào vùng dân tộc Mông nước ta từ năm 2015 và tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia với những nội dung khác với giáo lý, giáo luật của đạo Tin Lành. Tà đạo “Giê Sùa” gọi tên Chúa là “Giê Sùa” chứ không phải là Giêsu; coi “đạo Giê Sùa” là tôn giáo chính thống, không thừa nhận các tôn giáo khác; thay nhân vật Adam và Eva trong Kinh thánh bằng “chàng Ong” và “cô Ía”; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh; kiêng ăn thịt lợn và loài cá không vảy. Trong các tài liệu tuyên truyền về tà đạo “Giê Sùa” ngoài nội dung bóp méo Kinh Thánh của đạo Tin Lành, những đối tượng cầm đầu, cốt cán còn tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”.

          - Về mục đích hoạt động: Hầu hết các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ” (người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng, “thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào các hoạt động chống chính quyền.

          - Về nghi lễ hành đạo: Mang nặng yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ, các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục tập thể hoặc với giáo chủ để “đắc đạo” (“tà đạo Chân không” của Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh khuyên tín đồ quan hệ tình dục với “người trời” là Lưu Văn Ty); hủy hoại tài sản, của cải, hủy hoại một phần cơ thể hoặc cả thân xác con người để sớm “siêu thoát” (“tà đạo Chân không” khuyên đốt bỏ một phần tài sản, đầy đọa thân xác mới “đắc đạo”; tà đạo “chặt ngón tay” do Phạm Thị Hải ở TP Hồ Chí Minh khởi xướng năm 1993 quy định người tu theo muốn thành “chính quả” phải chặt một ngón tay để bỏ đi một phần thể xác giúp siêu thoát phần hồn...); kích động tự sát để sớm về “nước trời” (như vụ hơn 50 người ở bản Pahé, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo tà đạo “Phạ tốc” đã tuân lệnh “giáo chủ” Cà Văn Liêng tiến hành tự sát tập thể).

          - Về cách hoạt động: Thường thiên về hoạt động thực tiễn, nhưng lén lút, thường xuyên thay đổi địa điểm nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng; lợi dụng sơ hở của pháp luật, trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở để tuyên truyền phát triển “đạo”; tán phát tài liệu tuyên truyền ở trên mạng Internet hay ở những nơi công cộng, nơi tập trung đông dân cư; tập luyện “dưỡng sinh” ở công viên, quảng trường, vườn hoa; lợi dụng những vùng đồng bào trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện sống, chăm sóc sức khỏe còn khó khăn để dụ dỗ, lừa bịp, khống chế, lôi kéo theo “đạo”. Điển hình như đối với tà đạo “Bà Cô Dợ” thường sử dụng các đoạn video clip quay các buổi sinh hoạt của điểm nhóm ở Mỹ và phát trực tiếp trên mạng xã hội Facebook, kênh Youtube để giới thiệu, hướng dẫn mọi người sử dụng điện thoại, máy tính bảng... kết nối Internet vào xem trực tuyến và làm theo hướng dẫn.

          - Về đối tượng tin theo: Phần lớn người tin theo các tà đạo là những người gặp rủi ro, bế tắc trong cuộc sống, do ốm đau, bệnh tật, nghèo khó; những người có trình độ văn hóa thấp, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cũng có những tà đạo do biết khai thác, lợi dụng, tạo vỏ bọc xuyên tạc các sự kiện thực tế (dịch bệnh, thiên tai, hiểm họa môi trường...) để “khoác áo” cho các “tín điều” nên đã thu hút được những người trẻ tuổi ưa cái mới, kể cả những người có trình độ nhận thức và chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc cán bộ các cơ quan chính quyền và nhất là số cán bộ nguyên là lãnh đạo các ngành, giáo sư, tiến sỹ nghỉ hưu tiếp tay cho tà đạo hoạt động.

          Cũng như hoạt động bình thường khác của xã hội, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam; nghiêm cấm bất kỳ ai lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Dù ở quốc gia nào, hoạt động tôn giáo đều cần phải có sự quản lý để bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và tuân thủ luật pháp. Không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc./.

 VÒNG TAY LẦN CUỐI 


Anh ngã xuống trên đường xung trận

Đạn lửa thù vây quấn chân anh

Bóng người chiến sỹ áo xanh

Loạng choạng nằm đó tiếng anh thều thào.


Người con gái vừa lao vào đỡ

Phút cuối cùng hãy ở bên anh

Hơi thở phút cuối xuân xanh

Vòng tay em đỡ trao anh lần đầu.


Người lính trận thỉnh cầu có vậy

Lời thầm thì khẽ vậy chưa yêu

Vòng tay lỗi hẹn một chiều

Ngập ngừng mơ chút hương yêu trong lòng.


Cánh tay thõng buông xong ngừng thở

Thoáng lời thương nấc nở nghẹn ngào

Vòng tay mơ ước em trao

Tình người lính trận lẫn vào hư vô.


Anh nằm xuống ven đô năm ấy

Một lời yêu chưa thấy vòng tay

Anh vừa ngã xuống chiều nay

Ven đô mơ một vòng tay lần đầu.


Thoảng trong gió lần đầu anh gặp 

Phút cuối còn ánh mắt dại mờ 

Chắc lòng anh vẫn đang mơ

Đoàn quân giải phóng phất cờ tung bay./.#HD



 NHỮNG CÔ GÁI TRƯỜNG SƠN


Có lẽ giờ em đã ngủ ngon

Trong chăn ấm bên người thương hạnh phúc

Em có mơ thấy ngày xưa đi đ.ánh gi.ặc

Đường Trường Sơn mây trải lối anh qua.

Em có nhớ những tr.ận b.om lửa khói mịt mờ 

Lấp hố b.om cho xe ra t.iền tuyến

Em còn nhớ rừng trường sơn những chiều mưa lạnh

Những ngày dông cơn lá đổ rừng già. 

Em còn nhớ ngày đoàn quân đã từng qua

Dặm Trường Sơn đá ghềnh rừng heo hút 

Nụ cười em má mồ hôi thấm ướt

Vẫn ửng hồng tươi thắm tuổi còn xuân.

Anh nhắc thầm ôi cô gái Việt Nam

Trong khổ đ.au vẫn tươi duyên đến lạ

Có phải em từ miền quê quan họ

Từng têm trầu như cô Tấm ngày xưa.

Mà kiên trung trước b.om đ.ạn kẻ th.ù.

Ủ ấm tình quê ngọn rau rừng măng đắng

Em có nhớ bên ven rừng cháy bỏng

Em chở đò đưa đón các anh qua

Đã bao lần em chặt nứa kéo đưa về

Bó ống xăng dầu ngăn che b.om đ.ạn gi.ặc

Đã bao lần hang cổng trời em hát

Đường Trường Sơn lầy lội lối anh qua.

Bây giờ đây Nam Bắc đã một nhà

Em còn nhớ anh nhớ Trường Sơn ngày ấy

Cây gậy Trường Sơn giờ nở hoa kết trái

Nụ cười xưa giờ má thêm một nếp nhăn.

Vẫn ngời ngời trong hai tiếng Việt Nam

Em đi hội trong lễ nghi quân phục mới

Ngực đỏ thắm huân chương quân đội

Ngôi sao vàng lấp lánh mũ ngày xưa.



 HỒN THIÊNG CÔ SÁU


Tóc xõa ngang vai, chớm tuổi xuân

Gặp khi vận nước buổi gian truân

Căm phường đế quốc, mong xung trận

Giận lũ cường hào, nguyện xuất thân

Quả cam xông pha qua lửa đạn

Hiên ngang chiến đấu mặc gông cùm

Linh thiêng Côn Đảo, hồn trinh nữ

Khúc hát “Ki ma” vọng giữa trần gian



HOẠT ĐỘNG PHÁ HOẠI TƯ TƯỞNG – CHÍNH TRỊ CỦA CÁC THẾ LỰC THỦ ĐỊCH

 

Tuyên truyền phản bác, phủ định hệ tưởng cộng sản, trước hết là các nguyên lí của chủ nghĩa Mác - Lê nin như: vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, vấn đề tập trung dân chủ, vấn đề chuyên chính vô sản. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản ở các nước XHCN. Phủ định mọi thành tựu cách mạng của các nước XHCN.

Truyền bá các học thuyết chính trị xã hội cũng như các khuynh hướng tư tưởng - chính trị, văn hóa - xã hội đối lập thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin như: chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh, thuyết hội tụ, thuyết văn hóa đại chúng, thuyết xã hội Công giáo… cũng như các khuynh hướng tư nhân hóa, tư hữu hóa trên lĩnh vực kinh tế, phi giai cấp, thương mại hóa trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, tự do hóa, chính trị hóa tôn giáo, ly tâm ly khai trong các dân tộc thiểu số, phi cộng sản hóa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và đặc biệt là lực lượng vũ trang (Quân đội và Công an), “Vọng ngoại bài nội” kể cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, đề cao những cái gọi là “giá trị” của CNTB vào các nước XHCN.

Tuy nhiên, hoạt động phá hoại tư tưởng không chỉ diễn ra dưới hình thức tuyên truyền thù địch mà còn diễn ra dưới các hình thức khác như:

Điều tra thu thập tin tức tình hình mọi mặt về các nước XHCN để  phục vụ cho hoạt động tuyên truyền phản cách mạng như: tình hình tư tưởng, tâm lý, tâm trạng các tầng lớp xã hội, tình hình nội bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội…

Tìm kiếm, móc nối các phần tử phản cách mạng, mua chuộc, lôi kéo các phần tử đối lập, bất mãn với chế độ XHCN, cũng như cán bộ, đảng viên, quần chúng lập trường tư tưởng không vững vàng, thoái hóa, biến chất… ở trong các nước XHCN, kích động họ chống lại Đảng cộng sản và chính quyền Nhà nước XHCN.

Tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng thành lập các tổ chức phản cách mạng ở cả bên trong và bên ngoài (trong nước và ngoài nước, trong nội bộ và ngoài xã hội) để tiến hành các hoạt động phá hoại có tổ chức như: Khủng bố chính trị, phá rối an ninh gây bạo loạn nhằm lật đổ chế độ Nhà nước XHCN khi có điều kiện, thời cơ thuận lợi.

Bí mật đưa người và phương tiện vào các nước XHCN để phá hoại tư tưởng như: Tình báo viên, cộng tác viên, mật phái viên của các cơ quan tình báo chính trị và các trung tâm phá hoại tư tưởng thuộc các nước đế quốc, phản động quốc tế, cũng như của các tổ chức phản động lưu vong. Về phương tiện thường là: sách báo, tạp chí, phim ảnh, băng cat-set, băng video có nội dung phản động, đồi trụy và các tài liệu phản động khác như tâm thư, huyết thư, giác thư, thông điệp, truyền đơn kích động quần chúng nổi dậy chống Đảng cộng sản và chế độ Nhà nước XHCN, hoặc là các phương tiện như máy ghi âm, ghi hình, thậm chí cả tiền bạc, vũ khí, chất cháy, chất nổ…

Hoạt động phá hoại kinh tế xã hội. Thực chất là phá hoại cơ sở hạ tầng (nền tảng kinh tế bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội phù hợp với sự phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, trong quan hệ với kiến trúc thượng tầng xây dựng trên đó). Vấn đề này, khi còn là Tổng thống Mỹ, R.Rigan đã từng tuyên bố: “Nước Mỹ  nguyện cống hiến nền triết học kinh tế thị trường tự do của mình cho chính quyền các nước thi hành nền kinh tế kế hoạch tập trung (chỉ các nước XHCN). Chỉ khi nào những nước này chấp nhận cơ chế thị trường tự do thì mới có thể thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng kinh tế của nhân dân nước họ…”

Phá hoại kinh tế là một trong những mục tiêu cơ bản trong chiến lược “diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc chống CNXH hiện thực. Chuyển hóa chế độ Nhà nước XHCN sang chế độ Nhà nước TBCN, suy cho cùng là sự chuyển đổi cơ chế lãnh đạo, quản lý kinh tế xã hội theo định hướng XHCN sang cơ chế lãnh đạo, quản lý kinh tế xã hội theo hình mẫu của các nước tư bản phương Tây. Thực tế cho thấy, trong khi kinh tế của Mỹ và các nước tư bản phát triển phương Tây chiếm ưu thế thì kinh tế các nước XHCN lại ở thế yếu. Chính vì vậy mà Mĩ và các nước tư bản tìm mọi cách thúc đẩy sự chuyển hóa về mặt kinh tế để tạo điều kiện, hỗ trợ cho sự chuyển hóa thể chế chính trị ở các nước XHCN theo định hướng TBCN.

Hoạt động phá hoại nền kinh tế xã hội ở các nước XHCN được các thế lực thù địch CNXH tiến hành bằng các phương thức, thủ đoạn sau đây:

Kích thích, thúc đẩy khuynh hướng phát triển kinh tế thị trường tự do, tách khỏi sự lãnh đạo, quản lý của chính quyền Nhà nước XHCN.

Lợi dụng sự đầu tư, hợp tác liên doanh, liên kết, buôn bán và các quan hệ kinh tế khác kể cả viện trợ cho vay, trả nợ để cản trở, ép buộc, khống chế, kìm hãm sự phát triển kinh tế theo định hướng XHCN.

Khuyến khích các hoạt động kinh tế “ngầm”, hoạt động kiểu maphia trên lĩnh vực kinh tế để làm mất ổn định về kinh tế ở các nước XHCN.

Kích thích sự phát triển hình thức sở hữu tư nhân, phát triển hình thức thành phần kinh tế phi XHCN khác để dần dần lấn át và tiến tới vô hiệu hóa hình thức sỡ hữu Nhà nước và thành phần kinh tế quốc doanh.

Tạo ra những cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế theo hình mẫu phương Tây để hướng lái sự phát triển kinh tế ở các nước XHCN theo con đường TBCN.

Thao túng, lũng đoạn, chi phối những ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn của các nước XHCN.

Hoạt động phá hoại văn hóa, xã hội. Cụ thể là phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN. Văn hóa và chính trị có mối quan hệ hữu cơ. Thay đổi chuyển hóa chế độ chính trị của một chế độ xã hội, đương nhiên trong đó có sự thay đổi, chuyển hóa văn hóa, lối sống dưới chế độ xã hội đó. Ngược lại, làm biến chất văn hóa, lối sống sẽ có tác dụng làm góp phần thay đổi chế độ xã hội - chính trị của một quốc gia dân tộc. Văn hóa là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng xã hội. Do đó biến đổi nền văn hóa cũng là biến đổi một bộ phận quan trọng thuộc kiến trúc thượng tầng của một chế độ xã hội. Thấy được vị trí quan trọng của văn hóa, lối sống và mối quan hệ tương tác giữa văn hóa, lối sống và chính trị nên các thế lực thù địch coi hoạt động phá hoại văn hóa, lối sống XHCN là một vấn đề then chốt trong chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với các nước XHCN. Điều đó đã được chính các lý luận gia phương Tây khẳng định: “Việc truyền bá văn minh phương Tây, văn hóa, lối sống phương Tây vào các nước cộng sản đóng vai trò then chốt, thúc đẩy quá trình “diễn biến hòa bình” ở các nước đó.”

Xuyên tạc, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ Nhà nước XHCN.

Truyền bá văn hóa, lối sống tư bản phương Tây vào các nước XHCN như: Lối sống thực dụng, vụ lợi cá nhân, tôn thờ đồng tiền, dâm ô trụy lạc, phi nhân tính…

Tìm kiếm móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động trí thức, văn nghệ sĩ đối lập, bất mãn, thù địch, cơ hội, hữu khuynh, cực đoan quá khích, lập trường tư tưởng không vững vàng, sa đọa vô đạo đức phẩm chất… vào con đường chống lại Đảng cộng sản và chính quyền Nhà nước XHCN.

 Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho hoạt động văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng XHCN.

Hoạt động phá hoại, gây chia rẽ nội bộ; Cụ thể là: Kích động, phân hoá nội bộ thành các phe phái chống đối lẫn nhau, trước hết và chủ yếu thành 3 phái: “phái kinh tế”, “phái chính trị” và “phái an ninh quốc phòng” bằng các thủ đoạn:

Chia rẽ về lối sống, tạo ra sự chênh lệch trong đời sống giữa cán bộ kinh tế với cán bộ chính trị và cán bộ thuộc lực lượng vũ trang.

Phân hoá xã hội bằng tham nhũng, tạo ra sự phân hoá giàu nghèo giữa gia đình cán bộ đảng viên có chức, có quyền với các tầng lớp xã hội khác.

Tạo dựng “lãnh tụ đối lập” trong tổ chức Đảng, chính quyền Nhà nước và đoàn thể xã hội.

Tác động, lôi kéo đội ngũ trí thức nhất là trí thức trẻ lập ra các phong trào, hội, nhóm, tạo thành một lực lượng chống đối Đảng và chính quyền Nhà nước XHCN có tổ chức.

Hoạt động phá hoại an ninh - quốc phòng; Cụ thể là:

Xuyên tạc, đả kích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước XHCN về an ninh - quốc phòng. Đặc biệt là phủ định nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang. Thực chất là vô hiệu hoá vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản cầm quyền trong các nước XHCN đối với lực lượng vũ trang.

Truyền bá tư tưởng, văn hoá lối sống tư sản trong lực lượng vũ trang ở các nước XHCN.

Phi chính trị hoá và trung lập hoá, thực chất là phi cộng sản hoá lực lượng vũ trang ở các nước XHCN. Điều đó có nghĩa là lực lượng vũ trang ở các nước XHCN không tham gia bất cứ đảng phái chính trị nào kể cả Đảng Cộng sản. Như vậy, sẽ loại bỏ được công cụ trọng yếu để bảo vệ Đảng Cộng sản cầm quyền và chế độ Nhà nước XHCN.

Hoạt động răn đe bằng quân sự  nhằm đe dọa, khủng bố tinh thần đối phương để tạo chỗ dựa vững chắc và điều kiện thuận lợi cho thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với các nước XHCN. Mặc dù rất coi trọng các biện pháp, thủ đoạn phá hoại tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… để xóa bỏ chế độ Nhà nước XHCN mà không cần phải dùng chiến tranh xâm lược bằng quân sự, nhưng các chiến lược gia “diễn biến hòa bình” vẫn đề cao sức mạnh quân sự và coi “răn đe quân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Hoạt động gây sức ép bằng ngoại giao. Nói cách khác là các thế lực thù địch CNXH lợi dụng diễn đàn quốc tế, lợi dụng các mối quan hệ ngoại giao song phương hay đa phương để làm áp lực tạo điều kiện cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” gây rối an ninh, gây bạo loạn lật đổ chế độ Nhà nước XHCN.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch triển khai thông qua một số mặt hoạt động cơ bản đó là: Phá hoại tư tưởng-văn hóa, phá hoại kinh tế, hoạt động phá hoại ngầm và hoạt động răn đe quân sự trong đó hoạt động phá hoại tư tưởng - văn hóa (“diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa) được xác định là “mặt trận hàng đầu”, là khâu “đột phá khẩu” tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các mặt hoạt động khác. Với mục tiêu xóa bỏ CNXH trên phạm vi toàn cầu, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ đã mang trong mình bản chất phản động./.

 

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THÔNG TIN MẠNG

Đến nay, 100% bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai đảm bảo an toàn thông tin theo mô hình 04 lớp (bao gồm các lớp: Lực lượng tại chỗ; Tổ chức hoặc doanh nghiệp giám sát, bảo vệ chuyên nghiệp; Tổ chức hoặc doanh nghiệp độc lập kiểm tra, đánh giá định kỳ; Kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát quốc gia). Năng lực bảo đảm an toàn thông tin mạng của các cơ quan, tổ chức từng bước được cải thiện theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Các hệ thống kỹ thuật phục vụ bảo đảm an toàn thông tin mạng được chú trọng đầu tư xây dựng. Các hệ thống thông tin phục vụ phát triển Chính phủ điện tử và hoạt động trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, mạng viễn thông, Internet được chú trọng bảo đảm an toàn thông tin mạng, hạn chế các sự cố nghiêm trọng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội cũng như chính trị, quốc phòng, an ninh của đất nước.

Nền công nghiệp an toàn thông tin mạng Việt Nam dần được hình thành với doanh thu lĩnh vực an toàn thông tin mạng năm 2021 đạt hơn 2.600 tỉ với tốc độ tăng trưởng 34%. Hệ sinh thái sản phẩm an toàn thông tin mạng Việt Nam được thúc đẩy phát triển đạt 95% chủng loại sản phẩm. Một số sản phẩm an toàn thông tin mạng được sử dụng rộng rãi trong nước và bước đầu vươn ra thị trường nước ngoài. Đến nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng cho hơn 100 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh an toàn thông tin mạng.

        Để thực hiện các nhiệm vụ được giao trong công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thành lập Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia và Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp không gian mạng Việt Nam trực thuộc Cục An toàn thông tin với chức năng giám sát trung tâm, là đầu mối kỹ thuật về giám sát, ứng cứu sự cố, hỗ trợ bảo đảm an toàn thông tin cho người dân, doanh nghiệp và các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước theo quy định của pháp luật trên phạm vi toàn quốc./.

"DỄ TRĂM LẦN KHÔNG DÂN CŨNG CHỊU, KHÓ VẠN LẦN DÂN LIỆU CŨNG XONG"

 Trong tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh có thể nói chữ “dân” có giá trị thiêng liêng và bền vững. Đời Bác chỉ xoay quanh chữ “dân” và chữ “nước”. Ta bắt đầu từ tên của Bác, Bác sống 79 mùa Xuân mà Bác dùng 175 tên, Bác lấy tên Nguyễn Ái Quốc từ thời ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua 30 năm tìm đường cứu nước, đi vòng quanh thế giới gần 40 nước khác nhau để rồi trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác lấy tên Nguyễn Ái Dân. Ái Quốc nghĩa là yêu nước, Ái Dân là yêu dân, “yêu nước là phải yêu dân”, đấy chính là triết lý sâu xa mà Bác đã truyền lại cho chúng ta ngày nay như một lẽ sống.

Trong hàng trăm luận điểm về “dân chủ” của Bác thì chữ “dân” là điểm xuất phát; trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh mẽ bằng lực lượng đoàn kết của dân. Nói về dân, ông cha ta đã tổng kết “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, có dân thì có tất cả, mà mất dân là mất hết”. Hồ Chí Minh là người thực hành xuất sắc chân lý cao cả đó.  Theo Bác, cái gì tốt và có lợi cho dân cái đó là chân lý, phục vụ nhân dân là phục tùng 1 chân lý cao nhất, là đầy tớ, công bộc cho dân là lựa chọn 1 lẽ sống cao thượng nhất.  Đời Bác có thể nói là 1 minh chứng hoàn hảo cho những giá trị tinh thần thiêng liêng đó.

Đến những giây phút cuối cùng của đời Bác, Bác còn hỏi về dân, về đời sống của dân. Một chi tiết cảm động khi Bác nằm trên gường bệnh, trời Hà Nội oi nồng trong cơn giông bão, trong khi chiến tranh ác liệt, ta thương Bác nên mang cho Bác chiếc quạt, Bác bảo: Bác ở đây là đủ mát rồi, trong vườn Bác có đủ cây cối, đồng bào ta suốt ngày trên đồng ruộng, nắng nôi như thế lấy đâu ra quạt. Hãy mang chiếc quạt này cho các chú thương binh ở trại điều dưỡng... Bác thương dân đến như thế đấy. Hay Bác tiêu dùng hàng ngày như 1 người dân đạm bạc sống khắc khổ, tiết kiệm đến khắc khổ. Bác dạy chúng ta “mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng đang tiêu dùng đều từ mồ hôi của dân mà ra, thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí, coi thường dân và tham ô tham nhũng, là có tội với dân”. Đặc biệt, tư tưởng của Bác gắn liền với đạo đức, phương pháp và phong cách. Và đời bác là con người thực hành, trong đó thực hành dân chủ, thực hành dân vận, thực hành đại đoàn kết dân tộc đều xuất phát từ chữ “dân”. Bác khẳng định vai trò, sứ mệnh của dân trong sự nghiệp phát triển của mình. Bác nhắc lại câu ca dao mà đồng bào ta thường nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Có dân giúp sức, ủng hộ và tin tưởng là bí quyết trường tồn của chúng ta.

Từ ngày đầu dựng nước đến 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Đến tận giây phút cuối cùng, Bác từ chối nhận Huân chương và Bác khiêm nhường nói rằng: Vì Bác chưa hoàn thành nhiệm vụ, Bác chưa xứng đáng. Bác đợi miền Nam giải phóng xong, đồng bào miền Nam gắn Huân chương cho Bác cũng chưa muộn. Thế nên  chúng ta hiểu tại sao khi Bác mất nhân nhân trong Nam, ngoài Bắc, cả đồng bào nước ngoài thương tiếc vô cùng vì Bác sống mãi trong lòng dân. Chính vì đề cao chữ “dân” như thế, nên Bác luôn căn dặn cán bộ: Không làm điều gì trái ý dân; lo việc hàng ngày cho dân...

Hiện nay, còn nhiều nguyên nhân mà chúng ta chưa làm cho dân hài lòng, nhất là vấn đề lợi ích, chăm lo cho cuộc sống hàng ngày của nhân nhân và đặc biệt là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa khó khăn như ở Hà Giang. Theo GS, TS Hoàng Chí Bảo, để làm theo được tư tưởng vì dân của Bác, trước hết chúng ta phải chăm lo đời sống, công ăn việc làm cho dân. Làm cho dân đủ ăn, đủ mặc, rồi mới tiến tới phát triển khá giả hơn. Cùng với đó, phải chăm lo, bồi dưỡng học vấn, văn hóa cho nhân dân, nhất là những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để họ tiến kịp với vùng xuôi, tiến kịp với mặt bằng xã hội và thế giới. Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ vì dân, có trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt, bởi cán bộ mà chưa thực sự xứng đáng với dân, thậm chí còn hư hỏng, suy thoái thì chỉ làm mất lòng tin ở dân. Cho nên có thể nói sức mạnh tiềm lực của quốc gia còn phản ánh vai trò “dân chủ, đoàn kết và đồng thuận” trong nhân dân. Hiện nay, Đảng ta đang ra sức thực hiện các nhiệm vụ mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, đó là phát triển kinh tế, phát triển văn hóa kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy lùi được quan liêu, tham nhũng, phòng ngừa được sự suy thoái đạo đức thì dân sẽ một lòng đi theo Đảng. Ngay cả khi Đảng gặp khó khăn nhân dân vẫn một lòng đi theo Đảng, niềm tin đó vẫn không giảm sút. Mấu chốt của vấn đề là xây dựng đội ngũ cán bộ toàn tâm, toàn ý vì dân, vì nước. Đấy chính là những gì tốt nhất để chúng ta thực sự học tập và làm theo tư tưởng của Bác.



NHỮNG BÔNG HOA ĐỒNG LỘC

  


Ngã ba Đồng Lộc ngày ấy... 

Bây giờ 

Vẫn còn vang vọng bến bờ ngàn sau 

Mười cô gái đẹp như nhau 

Mười bông hoa trắng dệt câu anh hùng 

Sông La nước chảy theo dòng 

Trường Sơn năm ấy trùng trùng quân đi 

Đồng Lộc mấy cuộc chia ly 

Người đi người ở đong đầy nhớ thương 

Mười cô gái trẻ mở đường 

Cho xe anh thẳng chiến trường miền Nam! 


Biết bao tình cảm chứa chan 

Hướng về Đồng Lộc gió ngàn Trường Sơn 

Mười cô gái thanh niên xung phong 

Những bông hoa bất tử trong lòng nhân dân!



CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Thông qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ.

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới tiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta đấu tranh dành những thắng lợi vĩ đại: Đưa đất nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành nước một nước độc lập; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ thành người tự do; đất nước tiến vững chắc trên con đường đã chọn - Độc lập dân tộc gắn liền Chủ nghĩa xã hội.

Những thành tựu của gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN GÂY NGHI KỴ, HIỂU LẦM CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực rất quan trọng mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào. Đặc biệt, khi Việt Nam chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thì đó cũng chính là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động tìm cách chống phá. Bằng nhiều chiêu trò, họ mưu toan đẩy mạnh tuyên truyền, tán phát những thông tin sai lệch, bịa đặt, phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; xuyên tạc đường lối, phương châm đối ngoại, hòng gây nghi kỵ quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế...

Thời gian gây đây khi mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có hàng loạt hoạt động ngoại giao với các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng bên cạnh những cái nhìn thiện cảm, những nhận định, đánh giá khách quan về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng và thành công từ các hoạt động ngoại giao nổi bật ấy, vẫn còn những những ý kiến, phát biểu phiến diện, suy diễn chủ quan của một số nhân vật thiếu thiện chí, phần tử bất mãn, phản động chuyên tìm cách chống phá Việt Nam. Cả trước, trong và sau mỗi chuyến thăm, thông qua một vài trang website, mạng xã hội ở hải ngoại, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc về mục đích, ý nghĩa và kết quả các chuyến thăm và các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng.

Một số bài viết đặt ra nhiều câu hỏi kèm những lời bình luận dễ khiến người đọc hiểu lầm về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chẳng hạn như trong bài: “Ngoại giao hải quân dồn dập giúp gì cho Việt Nam trên Biển Đông?” trên VOA tiếng Việt. Tác giả bài viết này, dẫn lời các nhà phân tích nói với VOA rằng: “Những hoạt động ngoại giao hải quân của Việt Nam với Nhật, Ấn và nhất là chuyến cập cảng của tàu sân bay Mỹ USS Ronald Reagan là hậu thuẫn quan trọng đối với Việt Nam trên Biển Đông, nhất là trong bối cảnh nước này bị tàu Trung Quốc liên tục xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế”; hay trong bài: “Biển Đông: Việt Nam ngày càng gần Mỹ hơn,…?” cũng đăng phát trên VOA sau đó có một số trang đăng lại. Sau khi nói về những bước phát triển trong mối quan hệ giữa Việt Nam với “những người bạn của Mỹ” như Nhật, Úc, Philippines… đặc biệt trong hợp tác an ninh, quốc phòng...”, bài viết này đặt ra câu hỏi: “Phải chăng Việt Nam đang xích lại gần Mỹ hơn thông qua những đồng minh của họ?”. Khi phân tích về tình hình Biển Đông thời gian gần đây, sau khi trích dẫn nhiều ý kiến của các học giả, nhà phân tích, tác giả bài viết hoài nghi đưa ra câu hỏi: “Trung Quốc đang đẩy Việt Nam gần Mỹ hơn?”…

Các đặt vấn đề và phân tích của các bài viết trên là không phù hợp, không đúng với đường lối, chính sách đối ngoại, đặc biệt là chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam là rất rõ ràng. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển và bảo vệ đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.

Thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có hàng loạt hoạt động ngoại giao với các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng. Đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực và trở thành một kênh đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Các hoạt động ngoại giao nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng diễn ra gần đây, trong đó có chuyến cập cảng Đà Nẵng của tàu sân bay Mỹ USS Ronald Reagan là những hoạt động bình thường nhằm tiếp tục triển khai toàn diện, đồng bộ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mở rộng quan hệ quốc tế, tiếp tục duy trì và nâng cao các quan hệ đã có, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việt Nam đang chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Triệt để lợi dụng chủ trương này, các thế lực thù địch, phản động sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn hoạt động nhằm chống phá Việt Nam. Đặc biệt, họ tập trung tuyên truyền gieo rắc sự hoài nghi đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, gây hoang mang dư luận, kích động chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, gây khó khăn cho Việt Nam trong đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là trong giải quyết những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo để không mắc mưu, tránh “sập bẫy” a dua, hùa theo những thông tin sai sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước ta. Mặt khác các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tính tất yếu khách quan của việc tăng cường hội nhập quốc tế; nhận rõ âm mưu, hoạt động lợi dụng chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Chỉ có trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế để phá hoại Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động./.


KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG DÂN CHỦ HÌNH THỨC

 Dân chủ hình thức là một trong những vấn đề không thể xem nhẹ. Bởi đây là căn bệnh trầm kha, nguyên nhân để thói lạm quyền, độc đoán, chuyên quyền sinh sôi, phát triển. Dân chủ hình thức sẽ dẫn tới đoàn kết theo kiểu “xuôi chiều”, nể nang, không dám đấu tranh, cản trở sự tiến bộ, phát triển của tổ chức, đơn vị. Vì vậy, đấu tranh và chống các biểu hiện dân chủ hình thức là việc cần phải làm quyết liệt, đồng bộ.

Dân chủ hình thức được biểu hiện dưới nhiều góc độ, nhiều công việc khác nhau, thể hiện rõ nhất là trong xây dựng quy chế lãnh đạo, trong công tác cán bộ... Nhiều cấp ủy xây dựng quy chế lãnh đạo, quy chế dân chủ cốt để báo cáo cấp trên, nhưng không tổ chức vận hành theo quy chế hoặc tổ chức vận hành hình thức. Việc này chỉ bị phát hiện khi cấp trên kiểm tra sát sao.

Trong công tác cán bộ, dân chủ hình thức biểu hiện qua việc nhận xét, đánh giá cán bộ và làm quy trình công tác cán bộ. Theo Quy định số 89-QĐ/TƯ, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, việc nhận xét, đánh giá cán bộ, đảng viên hằng năm được tiến hành qua nhiều khâu, nhiều bước với quy trình hết sức khắt khe, nhằm làm cơ sở lựa chọn được cán bộ có tài, có đức, có sáng kiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh... để thực hiện các khâu của công tác cán bộ.

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều nơi đã không thực hiện đúng quy trình. Cũng trong công tác cán bộ, theo quy định hiện hành, một chức danh phải có số dư nhân sự để cấp ủy cân nhắc, lựa chọn, nhưng có cấp ủy chỉ giới thiệu một nhân sự và tiến hành nhận xét, đánh giá rồi thực hiện quy trình.

Dân chủ hình thức còn biểu hiện qua việc xây dựng, ban hành nghị quyết lãnh đạo. Nhiều tổ chức Đảng không bám sát thực tiễn, đề ra chỉ tiêu quá cao, nhưng biện pháp lãnh đạo thì chung chung và có ít hoặc không có các ý kiến phân tích thấu đáo, đề nghị điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp thực tiễn. Dân chủ hình thức còn được thể hiện khá rõ trong công tác kiểm tra, giám sát.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác kiểm tra, giám sát 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2023, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú nhấn mạnh: Việc thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát của tổ chức Đảng cấp trên ở một số nơi chưa nghiêm túc, chưa kịp thời, không hiệu quả; có nơi còn tái phạm, có nơi sau giám sát không sửa chữa, khắc phục, phải kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, phải thanh tra, thậm chí phải điều tra, xử lý theo pháp luật.

Dân chủ hình thức còn thể hiện trong việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên và niêm yết tại cơ quan, đơn vị cũng như việc kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập. Nhiều tổ chức Đảng làm cho có mà không tiến hành thẩm định xem tài sản của cán bộ, đảng viên trong bản kê khai đã đúng, đủ, thể hiện được sự trung thực của cán bộ, đảng viên hay chưa…

Dân chủ hình thức dẫn tới hiện tượng đoàn kết giả tạo, triệt tiêu đấu tranh. Biểu hiện rõ nhất là khiến cho hiện tượng “mũ ni che tai”, “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý”, không phát huy được tinh thần tự phê bình và phê bình. Nguy hại nhất là không lựa chọn được những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt, tâm huyết, sáng tạo, sẵn sàng cống hiến và dám hy sinh… để gánh vác các trọng trách quan trọng. Đặc biệt, dân chủ hình thức là một trong những nguyên nhân gây ra mất đoàn kết nội bộ, được ví như “mối đục chân đê”, phá hoại một cách từ từ, lặng lẽ.

Trong các văn bản của Đảng đã đề ra các biện pháp để khắc phục tình trạng dân chủ hình thức. Đơn cử, Điều 3, Quy định số 37-QĐ/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm” quy định đảng viên không được: “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Để ngăn chặn các biểu hiện dân chủ hình thức, trước tiên các cấp ủy, tổ chức Đảng cần nắm chắc các quy định của Đảng, tổ chức sinh hoạt Đảng nền nếp, chất lượng. Các tổ chức Đảng cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ cán bộ, đảng viên trong thực hiện Quy định số 37-QĐ/TƯ “Về những điều đảng viên không được làm”. Đặc biệt là cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải luôn gương mẫu thực hiện nghiêm quy chế dân chủ, từ việc tham gia sinh hoạt Đảng, đóng góp, xây dựng nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, đến quá trình tổ chức thực hiện... Cần tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận, khuyến khích ý tưởng sáng tạo, cách làm đột phá. Đặc biệt là cần phát huy dân chủ đi đôi với thực hiện tự phê bình và phê bình, với tinh thần thẳng thắn, cầu thị, trách nhiệm trước Đảng, vì sự phát triển, tiến bộ của tổ chức. Bí thư cấp ủy cần phân tích, lắng nghe các ý kiến; chống cho được thói lạm quyền, lộng quyền trong công tác cán bộ, nhất là trong nhận xét, đánh giá và đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Cùng với đó là chú trọng công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh./.



PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 Tham nhũng xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham nhũng là căn bệnh phức tạp, hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở các quốc gia với các chế độ xã hội khác nhau. Vì lẽ đó, đấu tranh chống tham nhũng được nhiều nước quan tâm, thực hiện quyết liệt với các hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt. Song, đây cũng là quá trình khó khăn, lâu dài và gian nan, không thể nôn nóng. Từ thực trạng tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới; sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, khẳng định rõ Việt Nam đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển đất nước, vừa là cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

Một quyết tâm chính trị không thể phủ nhận, xuyên tạc

Công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở. Phương châm PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Quyết tâm đấu tranh PCTN, tiêu cực được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Muốn vậy cần “triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN... Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”. Và yêu cầu phải “nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị-xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh PCTN... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã có hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, 300 bộ luật và hơn 2.000 văn bản từ Chính phủ đề cập tới chống tham nhũng.

Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh PCTN, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới đã chỉ rõ: Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII)... Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ngày 19-6-2023, tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục chỉ rõ: Đây là một hội nghị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và quyết tâm cao của chúng ta trong công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương. Những kết quả bước đầu sau một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh cho thấy quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh PCTN, tiêu cực không phải như lời lẽ suy diễn, đầy hằn học, mưu toan chống phá của các thế lực thù địch.

Sự chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp

Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với những nhận định và kết luận vô căn cứ mang tính xuyên tạc, kích động, gây tâm lý bất ổn trong nhân dân; sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, tiêu cực nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chúng dẫn dắt dư luận, gây tâm lý hoài nghi, dao động, tạo cớ, kích động và tạo sự đối lập, bất ổn từ bên trong và xa hơn là phá hoại, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (XHCN) ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch tung ra luận điệu, tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”; một đảng không thể chống được tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra, rồi đi đến quy chụp tham nhũng là “do chế độ độc đảng cầm quyền”. Chúng suy diễn rằng, còn Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo thì còn tham nhũng và ngày càng táo tợn, trầm trọng hơn. Rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; là sự phân chia quyền lực, là các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền...

Chúng còn lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là mị dân; càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng gia tăng vì không có dân chủ; căn nguyên của tham nhũng là do Đảng đứng trên pháp luật... Từ đó, chúng kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải thực hiện “xã hội dân sự”.

Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã thảo luận Đề án thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về PCTN, tiêu cực. Đề án cũng được triển khai lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực. “Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh”(1). Sau một năm đi vào hoạt động đã khẳng định chủ trương đúng và tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là giả tạo và không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân. Rằng, thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực cho thấy sự kém hiệu quả của công tác chống tham nhũng. Những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, sự bịa đặt thiển cận và gán ghép, quy chụp trên nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng của nhân dân ta; phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo và quyết tâm PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp

Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động./.



TRONG KHÓ KHĂN, "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" CÀNG TỎA SÁNG

 Thời gian qua, các thế lực phản động và cơ hội chính trị với âm mưu thâm độc liên tục tung ra các chiêu trò nham hiểm mới hòng xuyên tạc hình ảnh của “Bộ đội Cụ Hồ” trong mắt nhân dân và bạn bè quốc tế. Thế nhưng, “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, các âm mưu, thủ đoạn đó đã được vạch trần. Đặc biệt, “Bộ đội Cụ Hồ” đã luôn tỏ rõ bản chất cách mạng, trong khó khăn càng tỏa sáng trên các mặt trận, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Đây là minh chứng sống động nhất phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Xung kích trong phòng chống thiên tai

Giữa tháng 4/2023, một cơn dông lốc bất ngờ đã ập đến ba xã: Ia Hiao, Chrôh Pơ Nan và Ia Yeng thuộc huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai làm hư hại 113 ngôi nhà và rất nhiều hoa màu của dân. Nhận được thông tin, dù là ngày nghỉ cuối tuần, nhưng Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) huyện Phú Thiện vẫn nhanh chóng cơ động lực lượng về 3 xã cùng dân quân địa phương và các lực lượng tại chỗ giúp nhân dân khắc phục hậu quả. Tại xã Ia Yeng bị thiệt hại nặng nhất, dưới sự chỉ huy của Thượng tá Trần Đình Anh, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Phú Thiện, chỉ trong 2 ngày đã hoàn thành việc sơ tán vật chất, tháo dỡ công trình hư hỏng, khôi phục lại nơi ăn nghỉ để ổn định cuộc sống.

Cũng vào thời điểm đó, tại xã Ia Rvê, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk đã xảy ra mưa dông kèm theo gió lốc làm thiệt hại nhiều nhà dân. Ngay sau khi sự việc xảy ra, Đồn Biên phòng Ia Rvê  (Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk) đã triển khai lực lượng phối hợp với chính quyền địa phương đến động viên, hỗ trợ các hộ dân khắc phục hậu quả, lợp lại mái nhà và hướng dẫn các hộ dân trên địa bàn cách giằng chống nhà cửa nhằm tăng độ vững chắc đề phòng lốc xoáy, thiên tai.

Giúp dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai như Ban CHQS huyện Phú Thiện và Đồn Biên phòng Ia Rvê nói trên là công việc luôn nằm trong kế hoạch hằng năm của các đơn vị quân đội. Nếu thiên tai xảy ra, các đơn vị cơ động sẽ đến ngay với dân. Nhiều người dân miền Trung đến nay còn nhớ, cách đây gần 3 năm vào những ngày cuối tháng 10/2020, cả miền Trung oằn mình trong bão lũ. Nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của người dân trôi theo dòng nước dữ. Làng xã bị cô lập, đất đai sạt lở, hàng nghìn người dân rơi vào cảnh khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, mệnh lệnh cứu dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại của thiên tai lại được phát đi. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện như ô tô, xuồng máy, áo phao... có mặt kịp thời để sơ tán, ứng cứu nhân dân…

Xác định “phòng chống lụt bão là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có mặt ở những địa bàn khó khăn nhất giúp nhân dân ứng phó với bão, lũ, khắc phục hậu quả thiên tai để hạn chế thấp nhất thiệt hại và nhanh chóng đưa cuộc sống của người dân ổn định trở lại. Không chỉ giúp đỡ nhân dân trong nước, vào tháng 2 năm nay, lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất ở nước ngoài. Mặc dù triển khai nhiệm vụ trong khoảng thời gian rất ngắn, phải đối mặt với nhiều điều kiện vô cùng khắc nghiệt về thời tiết, những hiểm nguy từ các rung chấn còn tiếp diễn, những khó khăn về ngôn ngữ, tập quán, điều kiện ăn ở, sinh hoạt và làm việc, nhưng 76 “Bộ đội Cụ Hồ” đã chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút để phối hợp tìm kiếm cứu nạn; kịp thời xác định nhiều điểm có người bị mắc nạn, bàn giao cho chính quyền và lực lượng chức năng  của Thổ Nhĩ Kỳ xử lý. Đích thân Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã đến cảm ơn, tri ân đoàn công tác của Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Không chỉ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tốt

Trong mấy năm gần đây, Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tốt mà còn là đội quân sản xuất giỏi, đội quân công tác được nhân dân hết lòng khen ngợi.Tại Hội thao quân sự quốc tế - Army Games năm 2022 với sự tham dự của 34 quốc gia, đội tuyển Quân đội Nhân dân Việt Nam đứng ở vị trí thứ 5 toàn đoàn với 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 5 Huy chương Đồng.

Với vai trò của một đội quân công tác, gắn bó mật thiết với nhân dân, trong những năm gần đây, các đơn vị quân đội đã tích cực chung tay, góp sức cùng các địa phương xóa nghèo bền vững, lan tỏa những yêu thương, chia sẻ trong cộng đồng. 100% cán bộ, chiến sĩ quyên góp ủng hộ quỹ vì người nghèo của Trung ương; tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi bị ảnh hưởng bởi thiên tai trong cả nước; tổ chức tư vấn, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hàng vạn lượt người dân; tặng công cụ sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi cho các hộ nghèo, cận nghèo, gia đình cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo được nhân rộng trong toàn quân như: Mô hình xây dựng nhà bán trú dân nuôi tặng các cháu học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Quân khu 2, Quân khu 4. Mô hình “Con nuôi Bộ đội Biên phòng”, đã cưu mang, giúp đỡ hàng nghìn cháu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sinh sống ở địa bàn biên giới có cơ hội được đến trường, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội. Quân khu 5, ngay từ đầu triển khai các mô hình “Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; “Hũ gạo vì người nghèo”, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cử cán bộ tích cực bám sát cơ sở, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tiến hành khảo sát, nắm vững tình hình đời sống của từng hộ dân trên địa bàn, xác định rõ nguyên nhân từng hộ đói, hộ nghèo và nhu cầu, nguyện vọng, khả năng tham gia các mô hình, để tiến hành xây dựng chương trình, cách thức giúp dân thoát nghèo vững chắc.

Không chỉ giúp đỡ nhân dân trong nước, “Bộ đội Cụ Hồ” khi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình còn tham gia giúp đỡ nhân dân nước sở tại. Nhân dân vùng  Abyei (khu vực tranh chấp giữa Sudan và Nam Sudan) thuộc châu Phi coi “Bộ đội Cụ Hồ” thuộc Đội Công binh của Việt Nam là người nhà bởi ngoài hoàn thành nhiệm vụ Phái bộ giao, những người “Bộ đội Cụ Hồ” thường tranh thủ ngày nghỉ để giúp đỡ người dân bản địa. Đầu năm 2023, Đội đã xây dựng 25 km mương dẫn nước, giúp thị trấn Abyei thoát cảnh cứ mưa là ngập hàng chục năm qua. Đội cũng xây dựng cụm công trình nhân đạo gồm phòng học, phòng giáo viên, thư viện, nhà ăn và tặng máy tính xách tay cho trường cấp 3 Abyei; hướng dẫn giáo viên, học sinh của trường làm nông nghiệp. Trong bối cảnh trường thiếu giáo viên, ba sĩ quan của Việt Nam đã tình nguyện tham gia giảng dạy môn tiếng Anh, Tin học, Điện tử - Điện dân dụng. Giáo viên ở trường cấp 3 Abyei nói, Việt Nam là quốc gia đầu tiên thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giúp dân một cách thực chất. Những công trình mà bộ đội Việt Nam đã tặng có thể tồn tại thêm 20 năm nữa, với nhiều thế hệ học sinh.

Thực hiện chức năng của đội quân sản xuất, các đơn vị quân đội đã tích cực, chủ động tăng gia sản xuất, hiện nay tự túc được từ 80 đến  90% định lượng rau, củ, quả; 35 - 70% định lượng thịt, cá các loại,… góp phần nâng cao đời sống bộ đội. Hoạt động tăng gia sản xuất còn giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ luôn giản dị, gần gũi với cuộc sống lao động vất vả của nhân dân, góp phần bình ổn giá cả thị trường, phát triển kinh tế địa bàn đóng quân.

Với nguồn nhân lực trẻ, khỏe,  được tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, Quân đội thực nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội có những thế mạnh đặc thù mà các doanh nghiệp ngoài quân đội không thể có được. Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Nếu không có các đơn vị Quân đội mà để cho các doanh nghiệp ngoài Quân đội đảm nhiệm thì khó có thể tiếp cận được.

Hiệu quả rõ nét nhất của quân đội tổ chức làm kinh tế kết hợp với quốc phòng là các khu kinh tế - quốc phòng. Từ năm 2010 đến nay, các khu kinh tế - quốc phòng do quân đội quản lý  đã xây dựng mới 1.300 điểm dân cư tập trung với hơn 98.000 hộ dân; khắc phục cơ bản tình trạng một số xã “trắng dân”, thưa dân chưa thành lập được đơn vị hành chính.

Các doanh nghiệp quân đội trong mấy năm gần đây cũng nỗ lực, chủ động khắc phục khó khăn, trở thành con chim đầu đàn trong khối doanh nghiệp Nhà nước, điển hình là Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) luôn là doanh nghiệp nộp ngân sách Nhà nước lớn nhất cả nước và cũng là nơi gìn giữ tiềm lực quốc phòng.

Những cống hiến của “Bộ đội Cụ Hồ”  trong thời gian gần đây với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng, chống thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh… đã là bằng chứng sinh động phản bác lại các quan điểm sai trái thù địch cho rằng “Bộ đội Cụ Hồ” bây giờ đã biến chất”, “quân đội chỉ nên huấn luyện, chiến đấu, không cần chức năng của “đội quân công tác”, “đội quân sản xuất” nữa”.

Phát biểu tại Hội nghị lần thứ 6 của Quân ủy Trung ương mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của cuộc xung đột Nga - Ukraine đối với Quân đội và giải pháp xây dựng Quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ”.


PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, VŨ KHÍ SẮC BÉN ĐÁNH BẠI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch là chủ đề lớn, hàm chứa những nội dung cơ bản, rất quan trọng và sâu sắc của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt có ý nghĩa trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, là một trong những giải pháp hữu hiệu để tôn vinh, tỏa sáng phẩm giá, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ “ thời kỳ mới. Đó là lời giải thích sâu sắc nhất vì sao các thế lực thù địch lại cố tình đòi “Phi chính trị hóa” Quân đội ta.

1. “Phi chính trị hóa” quân đội là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN và Quân đội ta. Bản chất, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội về cơ bản không mới nhưng tính chất nguy hiểm và tác hại do nó gây ra là rất lớn, không thể xem thường. Đây là hệ quả tất yếu từ sự tác động của một chuỗi âm mưu, hoạt động giữa “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đến “phi đảng hóa” các tổ chức chính trị - xã hội và “dân sự hóa” các lực lượng vũ trang do các thế lực thù địch chủ mưu.

Vì vậy, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc “còn Đảng còn mình” của người quân nhân cách mạng, vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc; uy tín, vị thế, danh dự và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đối với công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ hàng đầu của công tác tham mưu về giáo dục chính trị, tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện thắng lợi Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; góp phần đưa Nghị quyết số 847/NQ-QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” vào cuộc sống.

Vì sao cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lục thù địch để bảo vệ Đảng, Nhà nước, ahân dân và Quân đội ta? Đây là câu hỏi cần có sự giải đáp sâu sắc từ giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa “xây” và “chống”; giữa phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; xây dựng Đảng bộ Quân đội gương mẫu, tiêu biểu, mẫu mực. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

2. Bác Hồ và hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị - tinh thần của Quân đội ta. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là một cấu phần hết sức quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, là hồn cốt văn hóa quân sự thời đại Hồ Chí Minh, được hun đúc, kết tinh, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng trong mỗi người lính mang tên Bác kính yêu. Đó là cái “gốc”, nền móng tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng. “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật mà nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta, không quân đội nào trên thế giới có được niềm vinh dự, tự hào, sự kiêu hãnh được mang tên lãnh tụ kính yêu như Quân đội ta.

Trong tâm thức, trái tim “Bộ đội Cụ Hồ” và nhân dân ta, Bác là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Quân đội ta mang tên Bác, đương nhiên phải là một Quân đội được kết tinh bởi những phẩm chất tốt đẹp nhất: “Bộ đội Cụ Hồ” - hệ thống tiêu chí, chuẩn mực giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng; trọn đời vì nước, vì dân; mang trong mình những đặc trưng bản chất, được kết tinh, cô đọng, sâu sắc trong lời khen của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén; lực lượng chính trị trị cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Chính điều đó đã làm cho các thế lực thù địch lo sợ, chúng hiểu rằng, chừng nào ở nước ta, còn có Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh thì chừng đó, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng cũng như điều mong muốn, sự kỳ vọng của chúng sẽ không bao giờ thực hiện được. Vì vậy, muốn chống phá; bảo vệ sự an nguy, tồn vong của chúng; không có cách nào khác là phải xóa bỏ vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của Quân đội ta; tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén; lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Một trong nhưng chiêu thức vô cùng nguy hiểm được chúng tấn công trực diện là hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội ta, tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, xa lìa nhân dân.

3. Muốn vậy, cái đích hướng đến đầu tiên của chúng là xóa bỏ hình ảnh mang tính biểu tượng, kết tinh cao đẹp nhất là hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu; theo đó, tình cảm, niềm tin của nhân dân cũng không còn đối với Quân đội mang tên Bác và đi liền với đó, là sự hạ bệ, làm mất uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; làm mất chỗ dựa của Đảng là Quân đội, chia rẽ Quân đội với Công an, Quân đội với nhân dân. Với chiêu thức này chúng muốn thực hiện mục tiêu kép: làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều đó chỉ có thể diễn ra khi chúng thực hiện thành công âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; xuyên tạc, bôi đen phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Sự thâm thù, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” gắn liền với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là hệ lụy hết sức tinh vi, xảo quyệt và độc ác. Bởi thế, các thế lực thù địch đã chĩa nòng súng, tấn công vào địa hạt kiên cố, vững chắc nhất của chế độ ta; chỗ dựa tin cậy nhất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa: là Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó không chỉ cho thấy tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của việc công khai trắng trợn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, ép Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng mà thực chất là muốn chúng ta “buông súng”, lặp lại “vết xe đổ” của quân đội Liên Xô và quân đội các nước Đông Âu do đã mắc mưu “phi chính trị hóa”, cho nên, dù quân hùng tướng mạnh, đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; dẫn đến thảm cảnh “nồi da xáo thịt”, nhân dân các nước cộng hòa vốn từng là anh em trong đại gia đình Xô viết đã quay lưng lại với nhau, chĩa súng bắn vào nhau.

Đằng sau chiêu trò xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; các đồng chí lão thành cách mạng, các bậc tiền bối mà còn xuyên tạc, hạ thấp uy tín, vị thế, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; các tướng lĩnh Quân đội ta. Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, chúng đã và đang cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò của Quân đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, mà còn bôi nhọ, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân; giữa Quân đội với Công an. Cùng với đó, là lợi dụng một số vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quân đội để thổi phồng khuyết điểm, làm suy giảm niềm tin, tình cảm của nhân dân đối với Quân đội; bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Chúng ta ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là xuất phát từ bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụ đổ ở Liên Xô, Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ XX; cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina và sự nổi loạn của tập đoàn quân sự đánh thuê của Waner đối với Quân đội Nga hiện nay. Đó là bài học đắt giá, phải trả bằng xương máu, sự hy sinh của những người lính và dân thường, từ sự sụp đổ chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu; sự bao vây, chống phá của phương Tây. Đó là ví dụ sinh động để cán bộ, chiến sĩ nhìn nhận, cảnh giác, kiên quyết không cho phép âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” dọn đường cho “phi chính trị hóa” Quân đội ta.

4. Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải giữ gìn hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; gương mẫu đi đầu trong thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, làm tốt việc gia tăng giá trị, ý nghĩa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong điều kiện mới. Thường xuyên nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn chặn những hành vi sai trái, làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là phương cách tốt nhất để “miễn nhiễm” trước âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; là điều kiện cần thiết để phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. “Dù ai nói ngả nói nghiêng/Toàn quân vẫn vững như kiềng ba chân/Dù ai rào dậu, ngăn sân/Chúng ta vẫn mãi là quân Cụ Hồ”./


XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ

 Ngày 5-7, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị Quân chính toàn quân 6 tháng đầu năm 2023. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương Phạm Minh Chính dự và chỉ đạo hội nghị. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và lãnh đạo Bộ Quốc phòng và một số bộ, ngành Trung ương

Không để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ

Sáu tháng đầu năm 2023, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân luôn đoàn kết, thống nhất, vững vàng, kiên định, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ; phối hợp giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước. Quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Toàn quân phát huy vai trò nòng cốt trong, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn. Triển khai nghiêm túc, chặt chẽ điều chỉnh tổ chức lực lượng đáp ứng yêu cầu tinh, gọn, mạnh. Chất lượng huấn luyện, diễn tập, đào tạo, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” có nhiều đổi mới, đạt kết quả tốt; hội thi, hội thao trong nước, quốc tế, nhất là thi đấu tại SEA Games 32 đạt nhiều thành tích xuất sắc. Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất, hiệu quả.

Đáng lưu ý, công tác xây dựng Đảng và xây dựng Quân đội về chính trị được đặc biệt coi trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Các mặt công tác, nhất là hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, pháp chế, nghiên cứu khoa học có tiến bộ mới. Đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được giữ vững. Công tác huấn luyện, đào tạo được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ đảm bảo nội dung, chương trình. Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” được các cấp tập trung chỉ đạo, đi vào chiều sâu, thực chất, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương...

Sáu tháng cuối năm 2023, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định tiếp tục chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống về quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ. Triển khai hiệu quả các chiến lược, đề án, dự án, hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng. Hoàn thành có chất lượng văn bản tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; sơ kết các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng.

Thực hiện tốt chủ trương kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế - xã hội các vùng và địa bàn trọng điểm theo các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị. Triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quốc phòng ở bộ, ngành, địa phương...

Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Triển khai sâu rộng, hiệu quả chủ trương, chỉ đạo của Trung ương về xây dựng chỉnh đốn Đảng. Kịp thời kiện toàn cấp ủy, tổ chức Đảng, tổ chức biên chế cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp, nhất là cơ quan, đơn vị điều chỉnh tổ chức lực lượng. Xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp, trọng tâm là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao, có năng lực lãnh đạo và tổ chức tốt hoạt động thực tiễn...

Cần chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo

Thay mặt Đảng, Nhà nước phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Quốc phòng và các cơ quan đơn vị toàn quân, cụ thể hóa phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị Quân ủy Trung ương vừa qua, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong thời gian tới.

Đó là, cần chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo, thực hiện tốt chức năng tham chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, có đối sách xử lý linh hoạt hiệu quả các tình huống, với tinh thần 3 "không": Không lơ là, chủ quan mất cảnh giác; không để bị động, bất ngờ về chiến lược; không lúng túng, chậm trễ xử lý các vấn đề chiến thuật và tình huống đột xuất về quân sự, quốc phòng.

Tập trung nghiên cứu, tham mưu hoàn thành tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; sơ kết các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng...

Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng chiến đấu của Quân đội; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm công tác huấn luyện, đào tạo, diễn tập trên cơ sở phát triển, hoàn thiện nghệ thuật quân sự và đáp ứng điều kiện tác chiến mới trong chiến tranh công nghệ cao; đồng thời phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong thời đại mới. Tham gia tích cực chủ động ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống, hoàn thiện kế hoạch ứng phó với các loại hình thiên tai, thảm họa đảm bảo thống nhất.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng. Chú ý đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị và nhân dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, mấu chốt là “thế trận lòng dân vững chắc”. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các ban, bộ ngành, địa phương để triển khai, cụ thể hóa các chiến lược, đề án kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, các quy hoạch, hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị, các bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục phối hợp tích cực, chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa với Quân đội trong việc thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần xây dựng chính phủ điện tử và chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng bài bản, chặt chẽ, chắc chắn, hiệu quả, đạt mục tiêu tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Chăm lo xây dựng Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng và hướng đến các hoạt động kỷ niệm thiết thực, ý nghĩa với các đề án, chương trình cụ thể, thiết thực, hiệu quả, tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Thủ tướng chỉ đạo bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng trên cơ sở nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng và phát triển Quân đội đúng định hướng là đội quân công tác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực mà Quân đội có thế mạnh. Làm tốt vai trò nòng cốt trong phòng, chống thiên tai, ứng phó sự cố, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Tích cực tham gia bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên biển.

Đồng thời, tích cực tham mưu và tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nắm chắc tình hình địa bàn để phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, lực lượng Công an nhân dân không để xảy ra các điểm nóng, các vụ việc phức tạp, nhất là từ cơ sở; lấy xã, phường, thị trấn để xây dựng, củng cố và phát huy trở thành “trận địa lòng dân”. Chủ động, tích cực, triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.../.