Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam


Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi 'phi chính trị hóa' quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”.

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”. Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu

Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”… Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”.

Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”. Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”.

Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.

Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”. Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”./.

                                                                               Bùi Tiến Sỹ

Phòng, chống chiến lược DBHB trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

 Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trận tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu và hành động bạo loạn lật đổ của địch; không để địch cài cắm, móc nối, mua chuộc nội bộ; bảo vệ bí mật quân đội, quốc gia. Đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả tham mưu cho Đảng và nhà nước của các bộ, ngành, cơ quan chức năng về QPAN; luôn chủ động, có những quyết sách đúng đắn để làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của địch.

Tích cực xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt ở những địa bàn trọng yếu, vùng rừng núi, biên giới, hải đảo; làm tốt công tác giáo dục, vận động Nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, tham gia tích cực vào sự nghiệp QPAN, phòng chống DBHB, bạo loạn lật đổ.

Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng, mục tiêu: "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ“.

Đồng thời phải nâng cao trình độ khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống.

Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa phương. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (quận) ngày càng vững chắc, làm thất bại mọi âm mưu gây mất ổn định trên đất nước ta của địch.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng - an ninh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành tập trung thống nhất của nhà nước. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt với Lực lượng vũ trang Nhân dân và Công an Nhân dân. Kiên quyết không để kẻ địch thực hiện âm mưu phi chính trị hóa, tiến tới vô hiệu hóa Lực lượng vũ trang Nhân dân, nhất là Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân của ta.

Phòng, chống chiến lược DBHB trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc

 Đảng và nhà nước có đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn, làm cơ sở củng cố khối đoàn kết toàn dân. Trong đó, tôn trọng quyền lợi và sự bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân theo pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước với một hệ thống pháp, chính sách đồng bộ, hợp lý để khai thác, phát huy mọi bản sắc, tập quán tốt đẹp của Nhân dân. Phát huy vai trò của mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các già làng, trưởng bản, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo trong công tác vận động quần chúng.

Đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số.

Đề cao dân chủ, tôn trọng tập quán, tự do, tín ngưỡng của cả người có đạo và người không có đạo, đi đôi với chống các hủ tục lạc hậu, hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây rối trật tự xã hội, tiếp tay cho địch xây dựng, cài cắm lực lượng, tổ chức phản động, chống phá Đảng, chống CNXH.

Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”

 

Để thực hiện âm mưu chống phá, can thiệp vào công việc nội của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và cổ vũ cho hoạt động chống phá đất nước, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, những phần tử cơ hội ở trong, ngoài nước tiếp tục thực hiện chiêu trò “thương vay, khóc mướn” xung quanh phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng. 

Ngày 13/7/2023, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trương Văn Dũng (tên gọi khác là Trương Văn Ly, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT số 16 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sau hơn nửa ngày xét xử, HĐXX tuyên y án sơ thẩm với án phạt 6 năm tù giam.

Trong khi dư luận đồng tình, ủng hộ trước bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội mà HĐXX đã tuyên phạt đối với bị cáo Trương Văn Dũng thì một số cá nhân, tổ chức chống phá trong và ngoài nước lại thực hiện các chiêu trò “thương vay, khóc mướn”, đòi chính quyền Việt Nam phải thả tự do cho Trương Văn Dũng với lý do “vô tội”, “dân oan”! Điển hình trong số đó là tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) và Ân xá quốc tế (Amnesty International - AI) đã đăng tải các bài viết kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Trương Văn Dũng vì họ cho rằng hành vi của Trương Văn Dũng chỉ là “những việc làm ôn hòa thực hiện quyền căn bản của công dân”. Trong khi đó, bà Ming Yu Hah, Phó Giám đốc khu vực của Ân xá quốc tế xuyên tạc rằng: “Cơ quan chức năng Việt Nam lại sử dụng sai trái hệ thống tư pháp để đàn áp tiếng nói bất đồng.

Hoạt động trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài không thể bị án tù”… Đây là những luận điệu quen thuộc mà các tổ chức như HRW, AI, tổ chức khủng bố Việt Tân... vẫn tiến hành bấy lâu nay nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới danh nghĩa dân chủ, nhân quyền. Những tổ chức này lấy cớ phỏng vấn những “nhà bất đồng chính kiến”, sử dụng lời lẽ xuyên tạc, tố cáo của các số này để tạo cớ cổ vũ, đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội, có hành vi chống phá đất nước như Trương Văn Dũng hay trước đây là Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh…

Thực chất, trước khi bị bắt giam, Trương Văn Dũng thường xuyên tham gia các hoạt động kích động, gây rối trật tự dưới vỏ bọc là “người yêu nước”, “yêu cây xanh”, “nhà bảo vệ môi trường” do các cá nhân, tổ chức, hội nhóm chống phá trong, ngoài nước tổ chức. Trương Văn Dũng cũng là thành viên của các hội nhóm chống phá đất nước như: “NoU”, “Quỹ 50K”, “Hội bầu bí tương thân”, các hội nhóm “dân oan”...

Không những thế, Trương Văn Dũng thường xuyên trả lời phỏng vấn trên một số báo đài thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam như RFA, VOA… Dũng tàng trữ các tài liệu, vật phẩm, đăng tải bài viết trên các trang mạng xã hội có nội dung tuyên truyền, đả kích, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù đã được lực lượng chức năng gọi hỏi, triệu tập và răn đe nhiều lần nhưng Trương Văn Dũng không lấy đó làm bài học, tiếp tục dấn sâu con đường phạm tội. Được sự hậu thuẫn về vật chất, tinh thần từ những cá nhân, tổ chức chống phá bên ngoài, Trương Văn Dũng lại “ngựa quen đường cũ” khi tiếp tục tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước một cách công khai, thường xuyên, thể hiện rõ sự thách thức pháp luật.

HĐXX nêu rõ, bị cáo có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề "Những mảnh đời sau song sắt" và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề "Chính trị bình dân" có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân... Bên cạnh đó, bị cáo Dũng còn sử dụng 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Việt Nam.

Với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật của Trương Văn Dũng, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngày 6/5/2022 và ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng vào ngày 20/5/2022 về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 28/3/2023 và phiên tòa xét xử phúc thẩm vào ngày 13/7/2023, dù tài liệu, chứng cứ mà HĐXX đưa ra là rõ ràng, bị cáo Trương Văn Dũng vẫn có thái độ không thành khẩn, quanh co không nhận tội. Do đó, việc TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên y án 6 năm tù giam như bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng là khách quan, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật, được dư luận đồng tình, ủng hộ.

Thực tế, chiêu trò “thương vay, khóc mướn” đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đăng tải là nhằm truyền bá cái gọi là giá trị “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn đã minh chứng rằng, mọi hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khi cổ vũ, “thương vay, khóc mướn” cho những kẻ phạm tội như Trương Văn Dũng chỉ là màn kịch trá hình, thực chất là vì lợi ích của chính những tổ chức này.

Bị cáo Trương Văn Dũng hay bất kỳ bị can, bị cáo nào khi bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia thì số này được các thế lực thù địch, phản động sử dụng như những con rối để lấy cớ chống phá, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điều này cũng nhằm đánh bóng, tô vẽ cho chính lợi ích của các tổ chức này chứ không hề vì sự tiến bộ, phát triển của đất nước Việt Nam, không hề vì “văn minh, dân chủ, nhân quyền” như luận điệu mà chúng rêu rao. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động xem đây là cơ hội để thực hiện các chiêu trò nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam, lấy cớ nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận.

Thực tiễn, minh chứng khách quan mà bạn bè quốc tế đã thừa nhận là thành quả mà chúng ta đã đạt được sau gần 40 năm đổi mới đất nước, diện mạo, vị thế, vai trò của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống nhân dân ngày càng phát triển. Nhìn rộng ra, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả Mỹ và các nước phương Tây cũng đều có các điều khoản nghiêm cấm, có những quy định xử lý nghiêm minh với những hành vi lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận để thực hiện các hoạt động chống phá đất nước. Vậy nên chiêu trò “thương vay, khóc mướn” cho bị cáo Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đang tiến hành xem ra cũng chỉ là những màn kịch, trò hề mà họ vẫn tiến hành lâu nay, chỉ khác về tên con rối mà thôi.

“Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, thiết nghĩ rằng không chỉ bị cáo Trương Văn Dũng mà những người đã, đang lầm đường, lạc lối, đang chấp hành các bản án của pháp luật về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia hãy chấp hành nghiêm các hình phạt, biết ý thức giáo dục, cải tạo để sớm có cơ hội nhận chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước Việt Nam và sớm được trở về với gia đình, xã hội.

                                                                     Phan Dương

Thủ đoạn lợi dụng phiên tòa xét xử vụ án “chuyến bay giải cứu” để chống phá Đảng, Nhà nước

        Trong những ngày qua, phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo bị truy tố về các tội “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại một số bộ, ngành và địa phương (còn gọi vụ án “chuyến bay giải cứu”) tiếp tục nóng trên các diễn đàn báo chí, mạng xã hội...

Phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án tổ chức những “chuyến bay giải cứu” một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật và không có vùng cấm. Tuy nhiên, lợi dụng việc xét xử vụ án, các thế lực xấu đưa ra nhiều bài viết, phỏng vấn với nội dung hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, tạo cớ bôi nhọ đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Khi chủ trương đúng đắn bị lợi dụng để tham nhũng, tư lợi

Trở lại vụ án, sau khi tổ chức giải cứu 30 công dân Việt Nam ở Vũ Hán, Trung Quốc về Việt Nam vào tháng 2/2020, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, đến tháng 4/2020, Chính phủ cho phép thực hiện các chuyến bay giải cứu theo hình thức công dân thuộc diện ưu tiên được về trên các chuyến bay do cơ quan Nhà nước phối hợp tổ chức thực hiện và cách ly. Sau khi tổ chức các chuyến bay thí điểm thành công, Chính phủ tiếp tục cho phép tổ chức các chuyến bay “combo” song song với các “chuyến bay giải cứu” đến hết tháng 1/2022.

Thực hiện chủ trương nêu trên của Đảng và Nhà nước, các cơ quan chức năng đã cấp phép và đã tổ chức được trên một nghìn chuyến bay đưa hơn 200 nghìn người dân từ 62 quốc gia, vùng lãnh thổ về nước. Việc tổ chức các chuyến bay cứu hộ này là thực hiện chủ trương nhân đạo, thể hiện sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân, mục đích cao nhất là bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe cũng như tài sản cho người dân. Chủ trương kịp thời này đã nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế và sự ủng hộ của đồng bào trong và ngoài nước, ghi dấu ấn ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước.

Việc tổ chức chuyến bay cứu hộ này vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân, vừa thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới công dân Việt Nam ở nước ngoài. Đây là sự cố gắng, nỗ lực của cả dân tộc, khi đó được thế giới công nhận là “hình mẫu” nhân văn, nhân ái, thể hiện bản chất chế độ xã hội mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có thể làm được trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, từ chính chính sách tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn đó lại xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên - những người mang trong mình trọng trách là “công bộc" của dân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, móc ngoặc với nhau để đưa và nhận hối lộ, tư lợi cá nhân với số tiền lớn, phạm vi rộng.

Những ngày qua, dù vụ án được xét xử công khai và thông tin rộng rãi nhưng các thế lực thù địch vẫn cố tình cắt xén, nhào nặn rồi dựng lên câu chuyện về các “phe nhóm nội bộ”, các “nhóm lợi ích”. Chúng triệt để khai thác đời tư cán bộ, thêu dệt, cắt ghép hình ảnh những ngôi biệt thự, những siêu xe từ các vụ việc khác để gán vào và lấy đó làm “chứng cứ”. Chúng rêu rao rằng “Phòng, chống tham nhũng vẫn theo cách cũ thì hiệu quả là nước đổ biển”. Trang RFA thực hiện loạt bài viết mang tính quy chụp về tình hình đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam, cho rằng việc chống tham nhũng chỉ là “tỉa nhánh”, “sâu mọt càng bắt càng nhiều”… Một số bài viết trên mạng xã hội “Tiếng Dân”, các đối tượng hướng lái vấn đề thành tham nhũng là do thể chế, do chế độ “đẻ ra”, cho rằng muốn chống tham nhũng không thể theo cách “nhóm lò” như hiện nay mà phải thay đổi cấu trúc bộ máy, phải “phá bỏ tính chuyên chế, trao quyền cho người dân”. Từ đó suy diễn rằng, nếu không làm như thế mà vẫn mải mê “đốt lò” thì những “chuyến bay giải cứu” sẽ tiếp tục tái diễn như một nạn dịch vô phương cứu chữa, bay “đen đặc” trên bầu trời và phá huỷ hết mọi giá trị làm người, biến “cả xã hội thành vũng lầy nhơ nhớp”…

Mục tiêu của các đối tượng là lợi dụng vụ án để hạ uy tín, phủ định vị trí cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng; làm lung lay quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; lợi dụng những hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta để kích động, hỗ trợ các phần tử phản động trong và ngoài nước gia tăng hoạt động chống phá tinh vi, xảo quyệt hơn. Từ đó, chúng tác động để cán bộ, đảng viên "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", dẫn đến nguy cơ tự sụp đổ từ bên trong.

Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Vụ án xảy ra trong tổ chức những “chuyến bay giải cứu”, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Từ vụ án, mục đích các đối tượng tung ra thông tin sai lệch nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và phá hoại sự đồng thuận trong xã hội.

Tiếp tục tạo dựng lòng tin trong nhân dân

Thực tế, quan điểm trong phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đi cùng với đó là sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Thực tế cho thấy, qua mỗi nhiệm kỳ đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Bất kể người đó là ai, đang giữ chức vụ hay đã nghỉ hưu, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta suốt thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định, những thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong 10 năm qua (giai đoạn 2002-2022) góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, nhận được sự đồng tình, tin tưởng của quần chúng nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Thực tiễn đó bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, là “thanh trừng, triệt hạ” …

Từ phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị.

Đồng thời, từ vụ án cũng cho thấy tính chất phức tạp của tệ nạn tham nhũng hiện nay, nếu không được kiểm soát tốt có thể lây lan thành căn bệnh nguy hiểm với sự tham gia của nhiều cán bộ có chức quyền ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

                                                                   B.Nguyên - H.Nguyễn   

Phòng, chống chiến lược DBHB trên lĩnh vực kinh tế

 Trong chiến lược DBHB, kẻ thù luôn lợi dụng lĩnh vực kinh tế để gây sức ép về chính trị, buộc ta lệ thuộc và làm chệch hướng nền kinh tế theo hướng tư bản, tiến tới chệch hướng về chính trị. Ngoài ra, kẻ thù còn dùng tiền và vật chất để mua chuộc, lôi kéo, tha hóa đội ngũ cán bộ của ta. Vì vậy, trong chiến lược DBHB, lĩnh vực kinh tế được coi là mũi nhọn chống phá của địch.

Để phòng, chống DBHB của địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta phải quán triệt, thực hiện và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng theo định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế, thương mại, thông qua kinh tế để chuyển hóa ta về chính trị.

Đồng thời, thực hiện phương châm chủ động hợp tác, đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo trong quan hệ kinh tế, đồng thời, hạn chế các mặt tiêu cực do nền kinh tế thị trường tạo ra trên một số mặt của đời sống xã hội; phấn đấu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, tham ô, lãng phí.

Nâng cao ý thức, năng lực cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng năng lực cạnh tranh và hoàn thiện pháp chế về kinh tế; thực hiện xóa đói giảm nghèo, chăm lo ngày một tốt hơn đời sống mọi mặt của Nhân dân...

Phòng, chống chiến lược DBHB Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hóa

 Để phòng chống “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị.

Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường của Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, đi đôi với thực hiện tốt chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân, củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, cần tập trung tăng cường công tác lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ, củng cố vai trò lãnh đạo của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thống dựng nước và giữ nước. Kiên định đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo CNXH, bội nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lối quan điểm của Đảng, phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương tây, các luận điệu chống phá cách mạng nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.

Xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng, có tâm hồn trong sáng, có tầm cao trí tuệ.

Giữ vững định hướng XHCN trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, bảo vệ các thành quả cách mạng trong hoàn cảnh mới. Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mở rộng giao lưu quốc tế trên cơ sở giữ vững, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý và kiểm soát chặt chẽ công tác tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất trrong chỉ đạo nghiên cứu lý luận; nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới.

Âm mưu, thủ đoạn, chiến lược DBHB của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay

 Như trên đã đề cập, mục tiêu chiến lược nhất quán của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc và phương Tây.

Để đặt được mục tiêu đó, địch không từ bỏ một thủ đoạn chống phá nào, kể cả hành động can thiệp quân sự và trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược...

Từ đầu thập niên 50 đến năm 1975, đây là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá nước ta toàn diện, dùng hành động quân sự là chủ yếu để can thiệp và tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn vào ngày 30-4-1975.

Từ sau năm 1975 đến năm 1994, đây là giai đoạn nước ta còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tai nặng nề, đặc biệt là tác động tiêu cực của những biến động Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đối với Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tăng cường nhiều biện pháp chống phá như: bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập ngoại giao; kết hợp DBHB, bạo loạn lật đổ để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng lợi dụng tình hình xã hội nước ta vẫn tồn tại những sơ hở để tổ chức các đảng phái và lực lượng vũ trang phản động, lôi kéo phần tử thoái hóa, biến chất trong cơ quan Đảng, Nhà nước và phần tử cực đoan trong Nhân dân, nhanh chóng thành lập các đảng, tổ chức chính trị và lực lượng phản động, chống phá cách mạng Việt Nam; trước hết và chủ yếu bằng DBHB, nhưng để nhanh chóng đặt được mục đích đề ra và tạo áp lực lớn đối với ta, chúng kết hợp với thủ đoạn bạo loạt lật đổ.

Từ năm 1995 đến nay, sau thất bại trong âm mưu cô lập chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc buộc phải điều chỉnh chính sách, thủ đoạn chống phá, bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ về ngoại giao. Chủ nghĩa đế quốc đã chuyển thủ đoạn, biện pháp hành động kiên quyết sang thủ đoạn trực tiếp dính líu, ngầm, sâu, đẩy mạnh các hoạt động thâm nhập, chống phá cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Các thế lực thù định tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước” - Chúng tiếp tục thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều biện pháp, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta.

Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...

Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua.

Hiện tại và những năm tiếp theo, các thế lực phản động, thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây sức ép với Việt Nam, thực hiện âmm mưu DBHB, bạo loạn lật đổ. Cho nên, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam vẫn là một trong những nội dung, biện pháp được Mỹ và các thế lực thù địch thường sử dụng. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Vận động chính khách các nước và quốc hội Mỹ để đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Khôi phục và thành lập các tổ chức, hội đoàn tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ tham gia hoạt động, phát triển lực lượng.

Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, âm mưu của địch là phi chính trị hóa quân đội và công an, vô hiệu hóa các lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Chúng tập trung chống phá hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; tuyên truyền kích động gây mơ hồ, chia rẽ mối quan hệ bản chất giữa Đảng với quân đội; quân đội với công an và các ngành khác, làm cho quân đội giảm lòng tin với Đảng, xa rời mục tiêu chiến đấu và nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội mất bản chất cách mạng. Mặt khác, chúng chỉ đạo việc đầu tư vào những địa bàn dễ phá vỡ thế trận QPAN của ta.

Lợi dụng những biến động phức tạp trên thế giới và chính sách mở cửa hội nhập của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tác động đến các nước, các tổ chức và diễn đàn quốc tế gây sức ép đòi Việt Nam tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hiện tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đồng thời, gây áp lực buộc chúng ta phải nhân nhượng một số vấn đề chính trị trong nước, nhất là chấp nhận “đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập”, thực hiện âm mưu hòa nhập Việt Nam vào ASEAN và lôi kéo Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực ngoại giao, núp dưới danh nghĩa ngoại giao thân thiện để hướng Việt Nam theo quỹ đạo của phương Tây, tạo cơ hội chuyển hóa và đưa Việt Nam dần hòa nhập cùng cộng đồng các nước dân chủ phương Tây. Tăng cường tiếp xúc của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân dưới nhiều hình thức như: thăm viếng, hội thảo, viện trợ nhân đạo, du lịch... để xuyên tạc đường lối của Đảng, gieo rắc tâm lý mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, tạo cơ hội chuyển hóa Việt Nam.

Chiến lược "Diễn biến hòa bình"

 Chiến lược “Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mà không cần đến chiến tranh. Vì vậy, chiến lược DBHB là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội tiến bộ, trước hết là các nước XHCN từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền.

Thuật từ “Diễn biến hòa bình” còn được sử dụng thay thế bằng các thuật từ khác như: chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cần chiến tranh...

Mục tiêu tổng quát của DBHB là làm cho đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, từ cán bộ cấp cao cho đến người dân đều có chung tâm trạng hoài nghi, dao động; không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, nhằm tiến tới xóa bỏ mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta.

Mục tiêu cụ thể của DBHB thể hiện sự chống phá trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung ở các khía cạnh:

Về tư tưởng, chính trị, dùng nhiều kế hoạch và phương tiện, tuyên truyền nhằm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó gây ra “tự diễn biến”, hòng tạo ra sự khủng hoảng về lý tưởng chính trị, làm suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Từ đó làm chệch hướng và sụp đổ chế độ chính trị, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bằng ý thức hệ tư bản chủ nghĩa.

Về kinh tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế nhằm xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về văn hóa, làm phai nhạt và tiến tới làm mất bản sắc văn hóa Việt Nam.

Về thể chế pháp luật, đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng.

Đặc trưng cơ bản để nhận biết được chiến lược DBHB so với các chiến lược phản cách mạng khác, chính là: cuộc chiến không sử dụng súng, không mùi thuốc súng; cuộc chiến chủ yếu sử dụng các công cụ mềm như kinh tế, ngoại giao văn hóa, tư tưởng, khi cần mới sử dụng sức mạnh quân sự, để răn đe đối phương; tác động từ bên ngoài vào tạo nên sự chuyển hóa, tự diễn biến, tự suy yếu bên trong các nước XHCN, thông qua con người, lực lượng phương tiện của chính đối phương; không phá hủy của cải vật chất của đối phương bằng sức mạnh quân sự, chủ yếu “ru ngủ”, gây mất cảnh giác cách mạng của Nhân dân lao động, mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong cơ quan Đảng và nhà nước, những văn nghệ sĩ, tri thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệnh lạc hoặc bất mãn với chế độ.

Và một đặc điểm khác, chiến lược DBHB mang tính toàn cầu, được triển khai trên quy mô lớn và rộng khắp, tiến hành gặm nhấm, không vội vã, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước làm cho đối phương rối loạn nội bộ rồi sụp đổ... DBHB đã trở thành một trong những nguyên nhân đến sự sụp đổ của các nhà nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động đang đẩy mạnh DBHB đối với các nước XHCN còn lại. DBHB do các thế lực thù địch tiến hành, đã và đang là một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: DBHB do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.

ĐIỀU CĂN CỐT CỦA HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN, CẦN NẮM VỮNG VÀ KIÊN QUYẾT BẢO VỆ!

1. Trước sự biến động dữ dội của tình hình thế giới, nhất là cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina hiện nay, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta đã cố tình tung ra luận điểm với sự đe dọa: Nếu Việt Nam tiếp tục đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) thì nhất định sẽ có kết cục bi thảm như cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina...
“Quay lưng lại với Đảng”, chống phá Đảng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang ráo riết tuyên truyền sai trái rằng, học thuyết Mác - Lênin là sai lầm vì đi theo “CNXH không tưởng”. Vì vậy, “Việt Nam không nên tiếp tục đi theo con đường XHCN”, Đảng Cộng sản Việt Nam “phải từ bỏ lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN)”, có làm như thế, “Việt Nam mới cất cánh”, “trở thành con Hổ, con Rồng châu Á”...
Sự phi lý của quan điểm nêu trên đã được tán phát, tung lên mạng xã hội với thái độ ngông cuồng, khi những người này tự cho mình cái quyền phán quyết về số phận của chủ nghĩa Mác - Lênin, của CNXH khoa học; cho rằng, thời đại ngày nay đi theo con đường của CNTB là sự lựa chọn đúng đắn, khôn ngoan nhất. Họ đã lấy các ví dụ cụ thể về “tấm gương” của Đông Đức, Ba Lan, Hunggary... để khuyên Đảng ta hãy từ bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam...
Lời tuyên truyền chủ yếu ca ngợi không công cho CNTB, ca tụng lối sống phương Tây thế mà cũng có những người nhẹ dạ, cả tin “ngưỡng mộ”, theo đuôi, tán dương các quan điểm thiếu kiểm chứng ấy. Thật đáng tiếc cho những người “nhìn cây mà không thấy rừng”, “chỉ ngộ nhận vui mừng mà chẳng biết lo”...
 2. Một trong những tiêu điểm chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác - một trong những nội dung cốt lõi trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta. 
Gần đây, không ít người thiếu thiện chí với CNXH đã cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH khoa học “chỉ là của quá khứ”, “không còn phù hợp với thời đại ngày nay”. Nguyên nhân của mọi nguyên nhân được họ cho là do: “sai lầm của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác gây ra”, rồi quả quyết “đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Mác”. Chính học thuyết này là “nền gốc”, “điểm xuất phát” dẫn đến sự ra đời của CNXH khoa học”. Từ đó, họ cho rằng nếu như nhân loại không bị tiêm nhiễm bởi “nọc độc” của “học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác” thì chủ nghĩa Mác - Lênin không bị lên án và phát tác sự sai lầm, “kìm hãm sự phát triển của nhân loại”. Hơn thế, “nhân loại không phải chứng kiến sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với thảm cảnh “đổ vỡ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu”. 
Trắng trợn hơn, có người còn vu khống “học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác” không có giá trị khoa học. Vì lẽ đó, sai lầm của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã dẫn đến sự ra đời trái quy luật của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và hệ thống các nước XHCN trên thế giới năm 1945. Theo họ, “sự cố này đã dẫn đến những cuộc chiến tranh, đói nghèo và chết chóc của hàng trăm triệu người trên thế giới”. Hệ quả của nó còn tiếp diễn là cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina bùng phát hơn một năm qua nhưng chưa có hồi kết...
Tại sao các thế lực thù địch lại chĩa mũi nhọn vào việc công kích, bài xích, phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác? Hẳn là họ thấy rõ sự nguy hiểm của học thuyết này đối với sự tồn tại, phát triển của chế độ TBCN và không muốn sức sống mãnh liệt của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác lan tỏa mạnh mẽ trong thế giới đương đại và trong tương lai. Do đó, họ quyết tâm đánh đổ học thuyết này để tạo ra sự lây lan, dễ bề đánh đổ các học thuyết khác, tiến tới thủ tiêu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh...
3. Sự thật là ảnh hưởng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thật lớn lao, nó không chỉ công khai tính đảng của giai cấp công nhân là xóa bỏ mọi sự bất công, mà còn vạch ra con đường, biện pháp đấu tranh để thủ tiêu mọi sự dối trá của giai cấp thống trị; kiên quyết đấu tranh xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, đập tan mọi xiềng xích của giai cấp thống trị; định hướng, dẫn đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản tập hợp lực lượng, tổ chức đấu tranh giải phóng chính mình, xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội XHCN. 
Vì lẽ đó, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác trở thành “hòn đá tảng” trong các chính sách kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, là nền gốc và là nội dung trọng điểm trong hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, có giá trị định hướng nhận thức, chỉ đạo hành động thực tiễn, đóng vai trò thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, thống trị nền tảng tinh thần của phong trào công nhân, trở thành hạt nhân lý luận trong nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản. Nó xứng đáng là một trong những phát kiến vĩ đại của Mác. 
4. Nhận thức và vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta là yêu cầu khách quan, cơ sở khoa học để kiên định mục tiêu, con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, làm rõ giá trị và ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác trong thời điểm hiện nay là vấn đề có tính nguyên tắc trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta. Đây là vấn đề thời sự cấp bách, rất đáng quan tâm trong tổng kết 40 năm đổi mới đất nước và chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
Bên cạnh việc khẳng định rõ lập trường có tính nguyên tắc của những người mácxít về giá trị và ý nghĩa khoa học, cách mạng của học thuyết này, nhất thiết phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các luận điệu vu khống, xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác, giá trị và ý nghĩa của nó đối với đường lối đổi mới ở Việt Nam.
Bởi lẽ, cho đến tận ngày này, chỉ có học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác là học thuyết duy nhất bàn về mục tiêu, con đường, chiến lược, sách lược, điều kiện, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hóa, đói nghèo dưới mọi hình thức; chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của CNTB và sự thắng lợi của CNXH, CNCS; đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ thân phận nô lệ, lầm than lên địa vị làm chủ đất nước. Đó là điều giải thích rõ ràng nhất tại sao Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lại lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Đây là sự bảo đảm chắc chắn nhất để phòng, chống sự chệch hướng XHCN ở nước ta, là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.


Yêu nước ST.

THÁI BÁ TÂN- MỘT KẺ TRỞ CỜ NGUY HIỂM ĐỀ NGHỊ CÁC CƠ QUAN CÓ TRÁCH NHIỆM PHẢI XỬ LÝ NGHIÊM!

Một bác sĩ tồi có thể giết chết 1 bệnh nhân, nhưng một nhà Giáo tồi thì giết chết cả một thế hệ. 
Thái bá tân là một nhà giáo, nhưng từ trước đến nay hắn không ngừng bôi nhọ, xuyên tạc các vị lãnh đạo cũng như chủ chương đường lối của đảng ta.
Hắn kêu gọi những thành phần bất mãn để ra sức chống phá kịch liệt chế độ XHCH VN.với những giọng điệu cực kỳ ngây ngô và ngu xuẩn,mang đầy những mưu mô phá hoại.với tư tưởng thích làm nô lệ, chấp nhận bỏ hết liêm sỉ để đi theo ngoại bang, với một nhà giáo như vậy thì hắn đã ngấm ngầm nhồi nhét và tiêm nhiễm cho biết bao nhiêu học sinh, sinh viên trẻ đây.
Đề nghị bộ Giáo dục và các cấp sở có liên quan vào cuộc để loại bỏ ngay thành phần bất hảo này ra khỏi ngành, và cũng đề nghị các cơ quan chức năng tiến hành truy tố tên khốn này ra trước vành móng ngựa để chịu tội trước nhân dân,đoàn thể và các học sinh, sinh viên về những việc hắn đã làm. 
Đúng là bản chất của một kẻ luôn mang trong mình tư tưởng làm nô lệ thì sao xứng đáng là một nhà giáo đứng trên bục giảng./.
Yêu nước ST.

HOÀNG SA: LÀ NÚM RUỘT LÀ MỘT PHẦN MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM!

     Quần đảo Hoàng Sa với hơn 30 đảo san hô, cồn cát và bãi ngầm tại biển Đông, vị trí từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc và từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, có bốn điểm cực bắc-nam-tây-đông lần lượt tại đá Bắc, bãi Ốc Tai Voi, đảo Tri Tôn và bãi Gò Nổi. Độ dài đường bờ biển đạt 518 km. Điểm cao nhất của quần đảo là một vị trí trên đảo Đá với cao độ 14 m (hoặc 15,2 m).
 
Khoảng cách với đất liền: Hoàng Sa nằm gần Việt Nam nhất: từ Tri Tôn tới đảo Lý Sơn là 123 hải lý. 

Nếu lấy toạ độ của cù lao Ré (tên cũ của Lý Sơn) là 15°23,1’B 109° 09,0’Đ từ đường cơ sở của nước ta (12/11/1982) thì khoảng cách đến bờ Lý Sơn ngắn dưới 121 hải lí. Ngoài ra, từ đảo Tri Tôn
Đến mũi Ba Làng An (đất liền Việt Nam) là 135 hải lí.

Trong khi đó, khoảng cách Hoàng Sa đến Lăng Thuỷ giác thuộc Hải Nam của TQ là 140 hải lí; từ Hoàng Sa tới đất liền TQ tối thiểu là 235 hải lí. TQ lại lấy đá-bãi ngầm (Đá Bắc) để đo đến Lăng Thuỷ giác - Hải Nam Để có khoảng cách là 112 hải lí, nhưng bãi ngầm thì không có giá trị (phải là đảo mới được tính) định ranh giới kiểu thất sách như vậy mà vẫn cứ luôn hùng hồn(?)
 
Hoàng Sa là ngư trường truyền thống bao đời của ngư dân Việt do nằm giữa khu vực có tiềm năng về hải sản nhưng lại không có dân bản địa sinh sống.
 
Vào 1932, Pháp đang chiếm Đông Dương & chiếm giữ luôn quần đảo này; rồi Việt Nam giữ tiếp chủ quyền đến 1974 (trừ Phú Lâm và Linh Côn TQ đã chiếm từ 1956).

Lợi dụng việc mất cảnh giác TQ chiếm toàn bộ Hoàng Sa từ 1974 sau khi huy động quân-lính tấn công căn cứ của VNCH ở nhóm đảo phía tây trong “hải chiến Hoàng Sa 1974”. Đài Loan cũng lên tiếng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này khi TQ chiếm.
 
Tháng 1/1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều chứng lý để minh định Hoàng Sa là của Việt Nam. Còn rất nhiều bằng chứng độc lập, khách quan khác cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Chủ quyền buộc phải dựa vào: điều kiện địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt: 

Phải trong phạm vi lãnh thổ được xác lập hợp pháp, phù hợp nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ theo luật pháp và thông lệ quốc tế hiện hành. Một nội dung pháp lý cực quan trọng: một yếu tố luôn có khi chứng minh quá trình xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia với tư cách nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của mình, nhất là trong tình trạng tranh chấp...

Việt Nam có đủ các chứng cứ quan trọng chứng minh quần đảo Hoàng sa-Trường sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và đã được Việt Nam gửi công hàm lưu chiểu vĩnh viễn tại Liên Hiệp Quốc, khẳng định: Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền với 2 quần đảo này từ khi chúng còn vô chủ, chí ít là từ thế kỷ thứ XVII. Việt Nam chiếm hữu và thực thi chủ quyền hai quần đảo này là liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ hiện hành - nguyên tắc chiếm hữu thật sự - của công pháp quốc tế.
Nguồn: TTXVN./.
Yêu nước ST.

PHẢI CHĂNG HẾT CÁCH VU CÁO VIỆT NAM ĐIỀU TRA VÀ TRUY TỐ CÁC ĐỐI TƯỢNG KHỦNG BỐ VỪA QUA Ở ĐĂK LẮK THÌ CÁC NHÂN VIÊN LÃNH SỰ QUÁN HUÊ KỲ LẠI TỚI "VƯỜN RAU LỘC HƯNG" ĐỂ "ĐỘNG VIÊN" BÀ CON TIẾP TỤC GÂY RỐI, PHÁ HOẠI ANTT Ở VIỆT NAM!

Đắk Lắk vừa yên ổn, những đối tượng cuối cùng đạo diễn, gây ra vụ khủng bố lần lượt bị bắt. Vài nhân viên lãnh sự quán Mỹ dường như hết việc nên lại lần mò tới vườn rau Lộc Hưng. Chẳng hiểu nhân viên lãnh sự quán có vai trò gì trong vụ vườn rau Lộc Hưng nhưng chắc chắn nó mang tính biểu tưởng rất nhiều, mang tính “động viên” khá lớn để biến đây trở thành điểm nóng cả về đất đai lẫn tôn giáo. Một vài con người ở đây chắc chắn sẽ không đại diện cho cả trăm nóc nhà đã được giải tỏa tại vườn rau Lộc Hưng này và dĩ nhiên, sự phản ánh của họ chắc chắn sẽ không được khách quan, tạo cớ can thiệp mà thôi.

Trong khi vụ việc ở Đắk Lắk có lẽ sẽ cần đến sự bảo hộ công dân của lãnh sự quán Mỹ cũng như sự hợp tác của cơ quan này với việc làm rõ các cá nhân, tổ chức của Mỹ có liên quan đến vụ việc thì cơ quan này lại không làm mà lại đi lo công việc nội bộ của quốc gia khác. Đúng là việc nhà thì nhác, việc chọc, phá nhà chú bác thì siêng!

Yêu nước ST.