Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI THÁI ĐỘ BÀNG QUAN, DAO ĐỘNG VỀ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.
Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc
Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.
Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.
Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.
Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.
“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam
Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.
Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.
Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN
Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.
Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.
Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay.

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT, GẮN BÓ MÁU THỊT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN VÀ QUÂN ĐỘI

 

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Nhân tố có tính quyết định để Quân đội ta trưởng thành ngày càng lớn mạnh, đánh thắng nhiều đế quốc giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; góp phần đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là sự lãnh đạo của Đảng, sự yêu thương đùm bọc che chở và giúp đỡ của Nhân dân.
Thực tiễn đã khẳng định, Quân đội ta ngày càng trưởng thành trước hết là nhờ có sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng. Cùng với đó để Quân đội ta ngày càng lớn mạnh không thể không nói tới sự đóng góp sức người và sức của của Nhân dân.
Cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân đó chính là xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng trưởng thành, vững mạnh. Chính vì lẽ ấy mà không thể chia cắt mối liên hệ mật thiết, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và Quân đội.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII mục tiêu tổng quát được Đảng ta xác định là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra chủ trương đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó khẳng định rõ vai trò, nâng cao sức mạnh lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy cao nhất nguồn lực, sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, kết hợp với đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới.
Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động không bao giờ từ bỏ âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng chúng càng ráo riết đẩy mạnh và có sự điều chỉnh về thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi, nguy hiểm hơn. Đặc biệt, chúng khoét sâu những tồn tại và yếu kém của ta trong thời gian qua, để gia tăng tuyên truyền xuyên tạc, kích động, tập hợp lực lượng chống phá. Từ lâu chúng vẫn mưu toan đòi đòi đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Họ coi đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập là điều kiện để làm phai nhạt đường lối, sai lệch mục tiêu lý tưởng, con đường xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, chúng tìm đủ mọi cách nhằm làm mất vị trí, hạ thấp vai trò, làm giảm sức mạnh, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Để thực hiện mục đích và ý đồ nêu trên, chúng ra sức chống phá, luôn công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng cho rằng, Quân đội là của quốc gia, trung lập, không chịu sự lãnh đạo và chi phối của bất kỳ đảng phái nào; chúng tìm cách chia rẽ mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và Quân đội… Thực chất đây là mưu đồ nhằm tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân Đảng và Quân đội; chia rẽ làm suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân…
Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013, tại Điều 4 đã tiếp tục khẳng định rõ vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, Điều 65 của Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Riêng đối với Quân đội, Điều 66, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.”
Để đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền phải tập trung vạch trần, lật tẩy rõ âm mưu, thủ đoạn và ý đồ chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, thù địch. Cùng với đó cần tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững vai trò lãnh đạo, mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân và Quân đội. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt gắn với tăng cường sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội phải thường xuyên được giữ vững và thực hiện hiệu quả.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đây cũng là cơ sở để Quân đội ta luôn giữ vững bản chất đội quân cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, giữ vững truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cần quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, cần tập trung khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, yếu kém, dân chủ, công khai để toàn dân biết. Đây là phương cách tốt nhất để ý Đảng hợp lòng dân, nâng cao niềm tin của nhân dân và Đảng, chế độ và Quân đội, không để các thế lực thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc kích động, chống phá. Hệ thống pháp luật, trong đó có luật về: Tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, cần được biên soạn, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện... Đó là yếu tố căn bản để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý và điều hành của Nhà nước, sự gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội. Đó cũng là yếu tố quyết định để tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội, hạn chế những tồn tại yếu kém về xây dựng, quản lý, sử dụng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng và Quân đội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới./.
St

ĐỪNG LÃNG QUÊN VĂN HÓA LẮNG NGHE


Trong công tác lãnh đạo, quản lý, lắng nghe được xem là một biện pháp tối quan trọng và cần thiết của cán bộ, qua đó để giữ vững tính ổn định, đoàn kết, phát huy năng lực, sở trường của cá nhân, tập thể, đưa cơ quan, đơn vị, địa phương phát triển. Lắng nghe sẽ tạo ra sự đồng cảm và môi trường làm việc thân thiện, giúp cán bộ chủ trì tránh được việc ra quyết định chủ quan, cảm tính, dễ dẫn đến sai sót, kết quả không cao. Trong thực tế, việc xây dựng văn hóa lắng nghe phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố chưa được nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp chú trọng thực hành.
Lắng nghe là một kỹ năng mềm cần có của người làm lãnh đạo, quản lý. Đó không chỉ đơn giản là lắng nghe, phân tích những âm thanh xung quanh xảy ra từng giờ, từng ngày mà quan trọng hơn là lắng nghe để thấu cảm tâm tư, nguyện vọng, những thắc mắc từ phía cán bộ, nhân viên cấp dưới và quần chúng nhân dân trước những quyết định, quyết sách, cơ chế... do người quản lý và tập thể lãnh đạo đưa ra. Thực tế cho thấy, kỹ năng lắng nghe là một bộ phận quan trọng trong văn hóa lãnh đạo và nó gắn liền với văn hóa công vụ. Nói một cách khác, một nhà lãnh đạo có kỹ năng lắng nghe sẽ tạo ra sự khác biệt tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, một người bình thường chỉ nhớ được khoảng 25%-50% những gì họ nghe thấy. Điều đó có nghĩa là khi bạn nói chuyện với ai đó thì họ chỉ có thể nhớ chưa đầy một nửa những gì đã nghe. Càng trong môi trường đông người và ồn ào thì việc lắng nghe trở nên khó khăn, hiệu quả lắng nghe càng thấp. Ngược lại, càng trong môi trường tĩnh lặng, ít người thì sự lắng nghe, tiếp nhận thông tin càng hiệu quả.
Việc nhà lãnh đạo thường xuyên sử dụng kỹ năng lắng nghe và ứng dụng văn hóa lắng nghe trong công việc quản lý sẽ tạo ra bầu không khí đồng cảm trong nội bộ, từ đó giúp việc nắm các vấn đề trong công tác nhanh và dễ dàng hơn. Bởi khi nhân viên thấy nhà lãnh đạo lịch sự, thân thiện, gần gũi, sử dụng kỹ năng lắng nghe nhuần nhuyễn thì họ sẽ cảm thấy như được truyền cảm hứng và sẽ giao tiếp cởi mở, chân thành, trung thực hơn. Văn hóa lắng nghe được thực thi sẽ trở thành một chiến lược phục vụ đắc lực công tác quản trị, xử lý các xung đột nội bộ hiệu quả, từ đó tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn. Ngoài ra, văn hóa lắng nghe cũng giúp nhà lãnh đạo sáng suốt hơn, tránh được việc ra các quyết sách sai lầm. Chính vì tác dụng của sự lắng nghe mà Katrina Mayer, nhà thuyết trình nổi tiếng thế giới về xây dựng nhân cách và động lực bản thân người Mỹ, tác giả của các cuốn "Tầm nhìn Wholarian" và "Con đường của hạt giống cây mù-tạt" đã rút ra: “Wisdom doesn't come from speaking. It comes from listening” (tạm dịch là: Sự sáng suốt không đến từ việc nói. Nó đến từ việc lắng nghe).
Nhiều nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, kỹ năng lắng nghe là một kỹ năng mà tất cả chúng ta đều muốn thấy ở các nhà lãnh đạo của mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất ít nhà lãnh đạo thể hiện điều đó. Căn cứ vào những yếu tố chung trong giải quyết công việc, các nhà tâm lý học đã chia ra nhóm phong cách lãnh đạo như sau: Phong cách lãnh đạo theo tình huống; phong cách lãnh đạo phục vụ; phong cách lãnh đạo quan liêu; phong cách lãnh đạo giao dịch; phong cách lãnh đạo chuyển đổi; phong cách lãnh đạo huấn luyện; phong cách lãnh đạo ủy quyền; phong cách lãnh đạo dân chủ; phong cách lãnh đạo độc đoán. Trong các phong cách lãnh đạo này thì kỹ năng lắng nghe rất ít thấy ở người lãnh đạo độc đoán mà thấy nhiều ở nhà lãnh đạo theo phong cách dân chủ.
Người lãnh đạo theo phong cách dân chủ thường rất minh bạch, họ cung cấp mọi thông tin cần thiết cho các thành viên để đưa ra quyết định. Phong cách này khuyến khích tất cả mọi người nêu lên quan điểm, ý tưởng của mình, cùng nhau tìm ra giải pháp. Người có phong cách lãnh đạo dân chủ là người luôn coi trọng các cuộc thảo luận nhóm, ưu tiên sự sáng tạo và đổi mới cũng như tập trung vào sự phát triển. Các nhà lãnh đạo dân chủ thường là những người giỏi hòa giải, linh hoạt và dành nhiều thời gian để xem xét ý kiến đóng góp của người khác trong quyết định cuối cùng của họ.
Hiện ở Việt Nam chưa có nghiên cứu, thống kê về phong cách lãnh đạo của cơ quan, đơn vị, địa phương, nhưng trên thực tế hiệu quả, chất lượng công việc thì nhận thấy số lượng cán bộ lãnh đạo có phong cách lãnh đạo dân chủ là không hiếm. Bằng chứng là các cán bộ lãnh đạo luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cấp dưới và của nhân dân. Ví dụ, cuối tuần qua, báo chí ở Nghệ An đưa ra một thông tin thống kê được nhiều người quan tâm. Theo đó, kết thúc Kỳ họp thứ 14 của HĐND tỉnh Nghệ An, qua hệ thống điện thoại trực tuyến đã có 15 cử tri phản ánh 17 vấn đề, trên các lĩnh vực: Đất đai, môi trường, đầu tư, xây dựng, chính sách, nội vụ... đến bộ phận tiếp nhận ý kiến, kiến nghị cử tri. Tuy số lượng ý kiến không nhiều, nhưng điều đáng mừng ở đây là sự tiếp thu, lắng nghe ý kiến cử tri của HĐND tỉnh Nghệ An đã góp phần thúc đẩy, đề cao ý thức làm chủ trong nhân dân. Hiện nay, số HĐND các địa phương tiếp thu ý kiến phản ánh của nhân dân ngay tại thời điểm diễn ra kỳ họp là không nhiều và việc tiếp thu ý kiến từ cơ sở của lãnh đạo UBND thì càng hiếm.
Xây dựng văn hóa công vụ thực chất là xây dựng con người văn hóa với các phẩm chất nổi trội về chính trị, đạo đức, học vấn, năng lực, tài năng, trách nhiệm, có thái độ cầu tiến, hợp tác vì lợi ích chung và đặc biệt là tư duy văn hóa trong ứng xử với người, với việc, với tổ chức... Tuy nhiên, không phải lúc nào, không phải cán bộ nào cũng nhuần nhuyễn kỹ năng lắng nghe và văn hóa lắng nghe trong công tác quản lý. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra các biểu hiện yếu kém, trong đó nổi bật là: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Đặc biệt, có cả biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Nghị quyết Trung ương 4 cũng chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến các biểu hiện trên ở cơ quan, đơn vị, địa phương, trong đó nổi bật là nguyên nhân: Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình.
Thực tế cho thấy, do nền văn hóa công vụ thiếu dân chủ, đánh mất văn hóa lắng nghe đã dẫn tới các hiện tượng phi văn hóa trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Nổi lên đó là hiện tượng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm trước nguyện vọng của công dân. Biểu hiện rõ nhất là gây phiền hà, sách nhiễu, chậm trễ, cá biệt còn có tình trạng “làm luật” trong giải quyết hồ sơ, thủ tục cho công dân; hay giải quyết các yêu cầu, đơn thư của công dân còn chậm, để công dân phải đi lại nhiều lần. Hiện tượng chưa tôn trọng hoặc xem nhẹ kết quả làm việc của đồng sự khá phổ biến. Việc đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức chưa dân chủ, khách quan, công bằng, có sự thiên lệch, áp đặt chủ quan, dẫn đến suy giảm niềm tin, giảm nhiệt huyết, khiến thói quen dựa “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý”, “dĩ hòa vi quý”, “thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh” và tư duy “nước trôi thì bèo trôi”, “nước nổi thì thuyền nổi”, “xấu đều hơn tốt lỏi” không bị triệt tiêu.
Ở một cấp độ khác, thực tế cho thấy, có một số lãnh đạo lắng nghe thông tin từ cấp dưới sau các quyết định của người đứng đầu để ton hót với cấp cao hơn lấy lòng, lấy thành tích. Cá biệt, có cán bộ giả vờ gần gũi để nghe cấp dưới bộc bạch, nhưng lại “lật kèo” ý kiến đó trong hội nghị. Tất cả những điều này khiến cán bộ, nhân viên cấp dưới luôn “giương cao ăng ten” và cảnh giác cao độ để không bị “nhỡ miệng” và không bị chú ý, bị thù ghét, mất đi cơ hội thăng tiến.
Xây dựng văn hóa lắng nghe gắn liền với việc tự học tập, rèn luyện để nhuần nhuyễn phương pháp lãnh đạo dân chủ của cán bộ chủ trì. Nó mang lại lợi ích cho người lãnh đạo và tập thể, đặc biệt là xây dựng được bầu không khí làm việc công bằng, dân chủ, triệt tiêu những biểu hiện vụ lợi, lợi ích nhóm... Thế nên, nếu đã mang danh đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý và là cán bộ chủ trì một cơ quan, đơn vị, địa phương thì việc trước tiên là cần nhuần nhuyễn kỹ năng lắng nghe và thực hành văn hóa lắng nghe trong công tác. Đó là cách tốt nhất để thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ phải xứng đáng là công bộc, là người đầy tớ trung thành của nhân dân./.
St


CÂU CHUYỆN TÌNH ĐẶC BIỆT CỦA LIỆT SỸ THANH NIÊN XUNG PHONG VÕ THỊ TẦN.

 

Câu chuyện tình đặc biệt của nữ liệt sỹ thanh niên xung phong Võ Thị Tần - một trong 10 đóa hoa bất tử tại Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) khiến những người ở lại thêm trân quý, tin vào tình yêu và những điều đẹp đẽ trong cuộc sống.
Trong số những kỷ vật lưu giữ tại Bảo tàng Ngã ba Đồng Lộc có một lọn tóc và chiếc lược. Đó là những kỷ vật gắn liền với câu chuyện tình đặc biệt của nữ liệt sĩ thanh niên xung phong (TNXP) Võ Thị Tần (1944 - 1968) - Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 và thương binh Nguyễn Đức Hồng (1943 - 2018).
Dẫu thời gian có làm mờ đi nhiều ký ức nhưng câu chuyện tình yêu trong khói lửa chiến tranh của liệt sĩ Võ Thị Tần và thương binh Nguyễn Đức Hồng vẫn luôn được nhắc tới. Tình yêu của họ dù dang dở bởi bom đạn kẻ thù nhưng đã trở thành minh chứng cho tinh thần của lớp lớp thanh niên lúc bấy giờ: “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”.
Thương binh Nguyễn Đức Hồng và liệt sĩ Võ Thị Tần quen thân nhau từ nhỏ. Trải qua những năm tháng thơ ấu bên nhau, tình yêu của họ đã nảy nở.
Năm 1963 - 1964, khi ấy liệt sĩ Võ Thị Tần là Phó Bí thư Chi đoàn xã Thiên Lộc, Can Lộc. Chị Tần vừa nết na, xinh đẹp, tính tình hiền dịu lại năng động nên có rất nhiều người để ý, trong đó có anh thanh niên Nguyễn Đức Hồng, người cùng làng. Mến người đã lâu nhưng đến đầu năm 1964, anh Hồng mới bạo dạn ngỏ lời và được chị Tần cùng gia đình chấp thuận.
Thế nhưng, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra ác liệt, trai gái đua nhau ra trận, chàng thanh niên Nguyễn Đức Hồng đành tạm biệt gia đình, tạm biệt người yêu để lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Trước khi lên đường nhập ngũ, tháng 10/1964, anh Hồng và chị Tần được 2 gia đình tổ chức lễ dạm ngõ. Không có nhẫn cưới trao duyên, chị Tần và anh Hồng trao nhau chiếc lược cùng lọn tóc thề thay lời hẹn ước. Họ hẹn nhau ngày toàn thắng sẽ nên duyên vợ chồng. Kỷ vật ấy là một phần thân thể của chị Tần theo anh Hồng suốt những tháng năm dài chinh chiến.
Ra chiến trường, người lính Nguyễn Đức Hồng được phân về Trung đoàn 270, Quân khu 4, chiến đấu ở chiến trường Vĩnh Linh (Quảng Trị). Ít lâu sau khi anh Hồng nhập ngũ, chị Tần gửi thư báo đã tham gia lực lượng TNXP, giữ mạch máu giao thông trên tuyên đường huyết mạch Trường Sơn.
Thời gian ấy, anh Hồng cùng chị Tần gửi nỗi nhớ nhung vào từng con chữ, qua những bức thư nồng nàn yêu thương. Một thời gian sau, anh Hồng được điều ra đảo Cồn Cỏ chiến đấu nên hoàn toàn mất liên lạc với người yêu.
Giữa năm 1968, anh Hồng bị trọng thương trong một trận chiến đấu giữ đảo. Sau thời gian điều trị vết thương, cuối năm 1968, anh Hồng được điều ra Bắc học tập. Tranh thủ thời gian này, anh xin phép thủ trưởng về quê cưới vợ.
Thế nhưng, bom đạn của kẻ thù đã cướp đi người vợ sắp cưới của anh nơi hậu phương. Khi anh Hồng về đến nhà mới hay tin dữ: chị Võ Thị Tần đã hi sinh trong một lần tham gia san lấp hố bom cùng tiểu đội tại tuyến lửa Ngã ba Đồng Lộc vào năm 1968. Cũng năm đó, mẹ chị Tần cũng mất do bom Mỹ.
Suốt nhiều năm kể từ ngày chị Tần mất, chàng trai Nguyễn Đức Hồng vẫn lặng lẽ một mình, ngày ngày qua lại chăm sóc cụ Cung (cha liệt sĩ Võ Thị Tần) và gia đình. Cảm động tấm chân tình đó, cụ Cung nhiều lần bàn anh Hồng lấy vợ nhưng lần lữa mãi anh vẫn không chịu.
Sau hơn 2 năm mãn tang con gái, cụ Cung đã làm mối anh Hồng cho chị Võ Thị Minh (SN 1949, hiện trú tại thôn Hồng Tân, xã Thiên Lộc, Can Lộc). Hai người nên duyên vợ chồng và có với nhau 4 người con.
Năm nay đã 74 tuổi song bà Minh vẫn nhớ như in những ngày tháng mới quen ông Hồng qua lời mai mối của cụ Cung. Bà Minh kể: “Hồi ấy, tôi là hàng xóm của chị Tần và anh Hồng. Tôi cũng biết đến mối tình của anh chị và cảm động trước tấm chân tình của anh Hồng. Khi chồng muốn đưa di ảnh của chị Tần về thờ trong nhà, tôi rất ủng hộ. Từ lâu chị Tần đã là một thành viên trong gia đình chúng tôi”.
Năm 2018, ông Hồng rời xa trần thế. Từ khi chồng mất, bà Minh thay chồng hương khói cho tổ tiên và liệt sĩ Võ Thị Tần. Bà Minh chia sẻ: “Tôi cũng đã lớn tuổi, chẳng biết sẽ hương khói được cho chị Tần bao lâu nữa. Thế nên, tôi đã dặn con cháu sau này thay cha mẹ thắp hương, làm giỗ cho chị Tần như bao năm qua”.
Chuyện tình đẹp nhưng dang dở của liệt sĩ Võ Thị Tần và thương binh Nguyễn Đức Hồng vẫn được những người ở lại nhắc mãi như một bài học về tình yêu, lòng thủy chung cũng như tinh thần hy sinh vì đất nước, dân tộc của thế hệ trước.
Ông Võ Xuân Tửu (SN 1948, trú tại thôn Hòa Thịnh, xã Thiên Lộc, Can Lộc) - em trai liệt sĩ Võ Thị Tần bồi hồi chia sẻ: “Hồi trước, khi anh Hồng, chị Tần yêu nhau, tôi vẫn còn là một cậu thiếu niên. Tôi và anh Hồng cũng rất thân thiết nên khi biết anh Hồng sẽ là anh rể, là một thành viên trong gia đình, tôi rất vui mừng. Ấy vậy mà, sự khốc liệt của chiến tranh đã khiến anh chị phải cách biệt âm dương”.
Dù chiến tranh đã lùi xa nhưng mối tình đẹp của liệt sĩ Võ Thị Tần và thương binh Nguyễn Đức Hồng vẫn được ông Tửu cùng họ hàng, làng xóm nhớ về. Và câu chuyện thờ người yêu của chồng của bà Võ Thị Minh đã viết thêm những trang đời đẹp đẽ, thấm đẫm sự cảm phục, yêu thương./.
Nguồn: Báo Hà Tĩnh.

CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

            Lần đầu tiên, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đưa vào nội dung Chiến lược bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng – an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác”; đồng thời, văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”.

Đảng và Nhà nước cũng nhận thấy rõ vai trò của công tác thông tin, truyền thông trong công cuộc bảo vệ tổ quốc nói chung và trên không gian mạng nói riêng. Những chủ trương, đường lối của Ðảng, Nhà nước về bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật cụ thể thông qua các văn bản như: Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; văn kiện Đại hội XIII của Đảng là: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại” và “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet”.

Về mặt Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 12/5/2021 về “Tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng hoạt động truyền thông, báo chí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông”, trong đó, yêu cầu “đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở và các phương tiện truyền thông mới”.

Trước tình hình mới hiện nay, ngày 04/6/2023, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 30/CĐ-TTg về việc tăng cường quản lý thông tin trên không gian mạng, trong đó chỉ đạo, giao Bộ Thông tin và Truyền thông: (1) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, truyền thông với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật Việt Nam; (2) Chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông, các đơn vị kinh doanh trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây… chủ động phối hợp rà quét, ngăn chặn thông tin xấu độc, chống phá Đảng, Nhà nước; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm; (3) Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chú trọng công tác nắm tình hình, dư luận, tâm trạng xã hội, xu hướng thông tin; chỉ đạo các cơ quan báo chí chủ động định hướng dư luận xã hội, kiến quyết đấu tranh, phản bác các thông tin giả, tin sai sự thật, tin xấu, độc; (4) Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật về an toàn an ninh thông tin và xử lý tin giả, tin sai sự thật, tin xấu, độc; (5) Phối hợp với Bộ Công an kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật đối với các hành vi tung tin giả, tin sai sự thật, tin xấu, độc và xuyên tạc lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

 

Một số giải pháp về phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay

 Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc mang tính toàn cầu, là chiến lược phản cách mạng, phá hoại toàn diện trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, không giới hạn thời gian, không gian, nhằm đẩy đối phương suy yếu, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, rối loạn nội bộ rồi tự sụp đổ. Các thế lực thù địch đã tiến hành các nội dung, biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi, vô cùng xảo quyệt. Đặc biệt chúng tận dụng triệt để những thay đổi của tình hình thế giới để chống phá. Trong đó, chống phá về chính trị - tư tưởng là trọng tâm; đồng thời, coi trọng và đi sâu chống phá nội bộ Đảng cộng sản, chính quyền, chuyển hóa đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, “phi chính trị hóa quân đội và công an”.

Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ.

Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta.

Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

 Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.


CÁC CÔNG TÁC CƠ BẢN TRONG PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

 

Để giành thắng lợi trong đấu tranh chống diễn biến hoà bình phải biết kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự thống nhất và vững mạnh của nội bộ là nhân tố quyết định. Chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện, triệt tiêu những nhân tố tự diễn biến, tự hoại. Kiên quyết không để hình thành tổ chức đối lập dưới mọi hình thức.

Củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Củng cố xây dựng hệ thống chính trị của chế độ XHCN từ Trung ương đến địa phương thực sự trong sạch vững mạnh

Xây dựng, phát triển kinh tế theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp xã hội.

Đề ra và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn, tạo môi trường hòa bình cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thống nhất, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Tập trung giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh ở trong nước liên quan đến nguy cơ “diễn biến hòa bình”, biểu tình, bạo loạn lật đổ

Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, xứng đáng là công cụ chuyên chính của Đảng và nhà nước XHCN./.

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được đẩy mạnh và điều chỉnh

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.