Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT TẠO NÊN GỐC RỄ VỮNG CHẮC ĐỂ NGƯỜI VIỆT TRẺ VƯƠN XA

 

Trong đoàn đại biểu thanh, thiếu niên kiều bào về nước tham gia Trại hè Việt Nam năm 2023 do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài-Bộ Ngoại giao tổ chức, Lê Nguyễn Tùng Chi là một trong những gương mặt kiều bào trẻ tiêu biểu, tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng ở Malaysia.
Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, năm lên 8 tuổi, Lê Nguyễn Tùng Chi theo gia đình sang Malaysia sinh sống. Mẹ của Tùng Chi là một giáo viên dạy Văn, vì thế khi sang Malaysia, Chi thường theo mẹ đi dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt ở đây. Qua những buổi học này, Chi cảm nhận rõ hơn về giá trị của việc gìn giữ tiếng Việt, cũng như hiểu rõ hơn nhu cầu, mong muốn tha thiết gìn giữ tiếng Việt cho con em mình của các bậc cha mẹ người Việt Nam ở nước ngoài. “Em chứng kiến những em nhỏ từ 3 đến 4 tuổi hoặc các bạn sinh viên cũng tham gia lớp học. Em thấy được sự cố gắng của các bạn cũng như sự động viên từ gia đình họ. Điều này thật đáng trân quý”, Tùng Chi chia sẻ.
Để học tiếng Việt đạt hiệu quả tốt, theo nữ sinh viên Tùng Chi, điều cần thiết là phải biết kết hợp giữa việc học ở lớp và thực hành tiếng Việt tại gia đình. Lấy kinh nghiệm từ chính gia đình mình, Tùng Chi cho biết, hằng ngày hai chị em thường giao tiếp với bố mẹ bằng tiếng Việt, nhờ đó tiếng mẹ đẻ vẫn “nguyên vẹn” như ngày Tùng Chi mới rời Việt Nam sang Malaysia. “Tiếng Việt giúp chúng em kết nối tốt với họ hàng, gần gũi hơn với đất nước. Người Việt nói tiếng mẹ đẻ chính là một cách để thể hiện bản sắc của mình trong mối quan hệ với bạn bè quốc tế. Ngôn ngữ và văn hóa Việt góp phần tạo nên gốc rễ vững chắc để người Việt trẻ vươn xa hơn trong hành trình thực hiện khát vọng của mình”, Tùng Chi nhấn mạnh.
Hiện nay đang là sinh viên ngành Tài chính ở Đại học New York (Mỹ), Tùng Chi mong muốn sau khi tốt nghiệp sẽ có nhiều cơ hội đóng góp cho đất nước. Tùng Chi chia sẻ: "Em thấy đất nước đang phát triển rất tốt, từ môi trường giáo dục, môi trường làm việc đến cuộc sống, không thua kém so với nhiều nước khác. Em thường xuyên về Việt Nam và cũng đã được đi thực tập nên cảm nhận rất rõ điều này".
Tuy nhiên, Tùng Chi cho rằng, trong quá trình phát triển kinh tế cần phải chú trọng bảo vệ môi trường, cần khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý cũng như bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Cũng theo kiều bào trẻ Tùng Chi, phần lớn người Việt Nam ở nước ngoài được đào tạo và làm việc trong môi trường rất tốt, có những thành tựu đáng tự hào. Nhiều người mong muốn được đóng góp cho quê hương. Nếu thu hút được nguồn lực này đóng góp vào phát triển nền kinh tế thì rất đáng quý.
Tùng Chi cho biết, bố mẹ luôn động viên và bản thân em cũng ý thức về việc cố gắng học tập thật tốt, tích cực tham gia, đóng góp vào các hoạt động cộng đồng, hướng về quê hương, đất nước... Kế hoạch của Tùng Chi là sau khi hoàn tất các chương trình học tập, Chi mong muốn được hợp tác với các công ty, tập đoàn trong nước để có cơ hội cống hiến trực tiếp và hiệu quả vào sự phát triển kinh tế đất nước.
Trong khuôn khổ Trại hè Việt Nam 2023, Lê Nguyễn Tùng Chi là một trong 5 kiều bào trẻ tiêu biểu được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vinh danh nhờ tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện, cộng đồng, nhất là trong giai đoạn dịch Covid-19. Lê Nguyễn Tùng Chi đã được Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia tặng Giấy khen về thành tích học tập và tích cực công tác xã hội. Em cũng xuất sắc giành học bổng toàn phần chương trình tú tài quốc tế tại Fairview Intel School, các huy chương thể thao, toán cấp trường, cấp quốc gia, học bổng Trường Kinh doanh Stern, Đại học New York năm 2022./.
Báo QĐND
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang cười, cây và văn bản

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI - QUAN ĐIỂM ĐÚNG ĐẮN, XU THẾ TẤT YẾU KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC


Xây dựng Quân đội hiện đại là quan điểm, chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vậy mà, hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, chống phá hòng làm chậm tiến trình, chệch hướng mục tiêu hiện đại hóa, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ đoạn này cần phải được nhận diện, đấu tranh, loại bỏ để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, định hướng trên; đồng thời, đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội.
Xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XII), mặc dù câu chữ thể hiện có khác nhau, nhưng Đảng ta đều nhất quán quan điểm: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đặc biệt, trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, quan điểm về “Xây dựng Quân đội hiện đại” tiếp tục được bổ sung, phát triển, thể hiện rõ nét hơn với mục tiêu, lộ trình, bước đi cụ thể: “Xây dựng Quân đội nhân dân,… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là quan điểm, chủ trương, phương hướng hoàn toàn đúng đắn, khoa học, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng nền kinh tế đất nước, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - vấn đề đang được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hết sức quan tâm, Nhân dân vô cùng mong mỏi, nhằm tăng cường chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.
Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch
Thực hiện chủ trương đó, những năm gần đây, Quân đội được điều chỉnh, xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà, với dã tâm phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn đó, chúng cho rằng: Thời bình không cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang, hiện đại hóa Quân đội, đó là sự “lãng phí, tốn kém”, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế đất nước; đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, hợp tác toàn diện, sâu rộng với các nước, các đối tác, tổ chức quốc tế,... thì càng không có nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh, nên không cần xây dựng Quân đội hiện đại. Chúng soi mói, chĩa mũi vào hiệu quả tiến trình hiện đại hóa, phủ nhận vai trò của Quân đội, lợi dụng các vấn đề an ninh phức tạp trên Biển Đông để kích động, tuyên truyền Quân đội “vô dụng”, chi phí, tiêu tốn nhiều ngân sách Nhà nước, nhưng khi có tình huống thì “không dám động binh”,… nhằm làm cho tình hình Biển Đông “nóng” lên, Nhân dân hiểu sai lệch đường lối, chủ trương hiện đại hóa Quân đội của Đảng, từ đó làm chậm tiến độ, chệch hướng, tiến tới không thực hiện được mục tiêu hiện đại hóa Quân đội.
Thậm chí, lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, sĩ quan cao cấp trong Quân đội thời gian qua, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc: xây dựng Quân đội hiện đại chính là môi trường, “mảnh đất màu mỡ” cho nạn tham nhũng trong Quân đội “đâm chồi, nảy lộc”. Thâm độc hơn, chúng khuyên nhủ: “Để hiện đại hóa Quân đội, nên liên minh, liên kết với cường quốc có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, đang muốn giúp đỡ Việt Nam xây dựng theo mô hình quân đội kiểu phương Tây - quân đội nhà nghề”. Nguy hiểm hơn, chúng còn rắp tâm quy kết: Việt Nam xây dựng Quân đội hiện đại là “khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực”, làm cho tình hình an ninh, chính trị, quốc phòng khu vực trở nên phức tạp hơn, v.v.
Những luận điệu trên nghe qua có vẻ là yêu nước, có thái độ phẫn nộ với hành động sai trái, nhưng nghiên cứu kỹ bản chất thì thấy đó vừa là sự ngộ nhận, vừa thâm độc và cực kỳ nham hiểm, phản động; không dựa trên bất cứ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học nào; vừa thiếu khách quan, vừa sai lệch về bản chất; thậm chí xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúng không hiểu mục đích hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam là để tự vệ; không hiểu chính sách “bốn không” trong đó có “không liên minh quân sự”; không hiểu nghệ thuật “kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao” của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc và càng không hiểu cặn kẽ, bản chất của quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” - vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam. Động cơ của các thế lực thù địch, phản động lộ rõ bản chất cố tình gây nhiễu, cản trở sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kích động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, gây bất lợi cho nước ta trong quan hệ quốc tế và hợp tác quốc phòng, nhất là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước lớn.
Để khẳng định những luận điệu đó là phản động, thiếu cơ sở lý luận, sai bản chất cách mạng, thực tiễn khoa học, thiếu khách quan, chúng ta cùng nghiên cứu, phân tích, luận giải làm rõ vấn đề này.
Về cơ sở lý luận
Quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng ta được nghiên cứu, kế thừa trên cơ sở những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, như: “Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, “quân lính thì cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”, “quân hùng, tướng mạnh, thống soái tài ba”, “phụ tử chi binh”, “cả nước là lính, toàn dân đánh giặc”, v.v. Nhờ những tư tưởng, quan điểm nổi bật về xây dựng quân đội đó mà các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng và phát huy được sức mạnh của những đội quân thiện chiến, đánh tan mọi thế lực xâm lược ngoại bang, giữ yên bờ cõi, mang lại nền “thái bình, thịnh trị” cho muôn dân.
Không chỉ kế thừa những tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý về xây dựng quân đội trong lịch sử dân tộc, Đảng ta còn kế thừa, phát triển lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản mà V.I. Lênin đã chỉ ra. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, vận dụng luận điểm: giai cấp vô sản muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc, thì phải tổ chức ra quân đội của mình và xây dựng lực lượng đó đủ mạnh để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thấy rõ sự cần thiết phải nâng cao khả năng chiến đấu cho quân đội: “Quân đội của chúng ta là một bảo đảm thực sự khiến cho các cường quốc đế quốc chủ nghĩa không dám có chút mưu toan hành động gì, mưu toan xâm phạm gì đối với chúng ta được”. Có thể nói, lý luận về xây dựng quân đội kiểu mới của V.I. Lênin là cơ sở quan trọng, nền tảng để Đảng ta xác định chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời hoạch định kế hoạch, lộ trình, bước đi phù hợp, vững chắc trong quá trình hiện đại hóa Quân đội.
Đặc biệt, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” còn được Đảng ta kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại. Ngay từ năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”.
Đây là cơ sở, định hướng cơ bản để Đảng ta nhận thức, phát triển tư duy lý luận về xây dựng, hiện đại hóa Quân đội trong điều kiện cách mạng mới. Những cơ sở lý luận quan trọng đó khẳng định: xây dựng và hiện đại hóa Quân đội là nguyên tắc tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng, mang tính tất yếu, khách quan, phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn tình hình đất nước.
Cơ sở thực tiễn
Đối với thế giới, lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, mọi quốc gia, dân tộc đều chú trọng xây dựng quân đội lớn mạnh, nhằm nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền hòa bình. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, tăng cường chạy đua vũ trang để tiến hành chiến tranh xâm lược. Trong vòng 02 năm (1940 - 1941), nền công nghiệp chiến tranh Đức đã ưu tiên sản xuất, cung cấp cho thị trường khoảng 10.000 đến 20.000 máy bay, xe tăng mỗi năm. Trước nguy cơ bị đe dọa tấn công bởi chủ nghĩa phát xít, Liên Xô đã chủ động xây dựng lực lượng quân đội (Hồng quân) hùng mạnh, trang bị hiện đại, đủ sức đánh bại phát xít Đức, bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững nền độc lập. Không chỉ trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và những năm gần đây, việc xây dựng, phát triển, hiện đại hóa quân đội, tăng ngân sách chi tiêu cho quốc phòng trở thành xu thế phổ biến trên thế giới. Chỉ tính riêng năm 2022, chi tiêu quốc phòng toàn cầu tăng cao nhất trong lịch sử, điển hình là Mỹ gần 900 tỉ USD (lớn hơn tổng ngân sách quốc phòng của 10 nước có chi tiêu quốc phòng lớn của thế giới cộng lại), tăng hơn 5% so với năm 2021; Nhật Bản hơn 5.000 tỉ Yên (hơn 47,2 tỉ USD), con số lớn hơn nhiều lần so với năm 2021, v.v.
Đối với Việt Nam, thời nhà Trần đã xây dựng lực lượng quân thường trực bao gồm: quân Cấm vệ, quân các Lộ, quân Vương hầu; ngoài bộ binh, kỵ binh còn tổ chức lực lượng thủy binh hùng hậu, cùng với sức mạnh toàn dân tộc ba lần đánh tan quân Mông -Nguyên , bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Nhà Tây Sơn tổ chức xây dựng quân đội theo hướng: thủy bộ hóa, nâng cao khả năng tác chiến trên sông, trên biển và trên bộ; trang bị cho quân đội nhiều vũ khí hiện đại thời bấy giờ, như: đại bác, hỏa mai, hỏa cần, hỏa hổ,... trở thành một quân đội mạnh, hiện đại trong khu vực - quân đội “bách chiến, bách thắng”.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ 34 cán bộ, chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, trang bị giáo mác nhiều hơn súng đạn đã phát triển thành một tổ chức vũ trang hùng mạnh, từng bước chuyển từ đánh nhỏ lẻ lên đánh lớn, từ đánh du kích lên đánh chính quy; từ tác chiến ở cấp chiến thuật lên tác chiến ở quy mô chiến dịch, chiến lược, càng đánh càng mạnh, làm nên kỳ tích Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta từng bước phát triển thành quân đội chính quy, hùng mạnh, có đủ các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các đơn vị quân chủng, binh chủng; phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng đánh địch cả trên bộ, trên không, trên biển. Bằng sự phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa lực lượng Phòng không rộng khắp với các sư đoàn phòng không chủ lực biên chế vũ khí, trang bị hiện đại cùng lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam, quân và dân Hà Nội cùng với quân và dân cả nước đã làm nên trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, đánh bại hoàn toàn sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bằng sức mạnh hiệp đồng quân, binh chủng, ta tổ chức 05 cách quân tiến vào tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn được khẳng định trong chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Như vậy, trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, mặc dù chúng ta luôn phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự hơn ta gấp nhiều lần, song nhờ có đường lối chính trị đúng đắn, có Quân đội hùng mạnh cùng quyết tâm chiến đấu dũng cảm và nghệ thuật quân sự đặc sắc, chúng ta đã giành thắng lợi.
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là những năm gần đây, Quân đội tiếp tục được xây dựng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hiện nay, Quân đội đang đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa một số lực lượng: Hải quân, Phòng không - Không quân, Tác chiến điện tử,… một số lực lượng đang tiếp tục được đầu tư tiến lên hiện đại, tăng cường sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Thực tiễn trên khẳng định, chủ trương: Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, chính là sự kế thừa và phát triển những giá trị lịch sử to lớn của dân tộc, trở thành tất yếu, khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là chìa khóa, nhân tố đặc biệt quan trọng để chúng ta hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sẽ tạo điều kiện, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững; ngược lại, đất nước phát triển, kinh tế vững mạnh sẽ là cơ sở, tiền đề để đầu tư hiện đại hóa Quân đội, gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vì vậy, để phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải được xây dựng hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ; ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ xung đột, chiến tranh, giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Cùng với đó, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam có đủ điều kiện và khả năng để xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đất nước và có tính khả thi cao, do kinh tế - xã hội phát triển, công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và còn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa. Quy mô nền kinh tế nước ta hiện nay đạt hơn 400 tỷ USD, đứng thứ 04 khu vực ASEAN, thứ 11 Châu Á, cho phép chúng ta đầu tư xây dựng, phát triển, hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng. Bên cạnh đó, nền công nghiệp quốc phòng của chúng ta đã làm chủ được một số công nghệ lõi, nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất được nhiều chủng loại vũ khí công nghệ cao,... góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những bằng chứng khoa học, thuyết phục, đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi chúng rêu rao rằng: “Hiện đại hóa quân đội quá tốn kém và Việt Nam không đủ điều kiện để thực hiện, có chăng chỉ hiện đại hóa được một số lực lượng nhỏ”. Thực tiễn, qua hơn 10 năm thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng”, chúng ta cũng đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây là cơ sở vững chắc để Quân đội tiếp tục điều chỉnh theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng hiện đại.
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, quan hệ, hợp tác quân sự, quốc phòng ngày càng mở rộng, phát triển; xu hướng hiện đại hóa quân đội của các nước ngày càng trở nên phổ biến, tạo ra môi trường, thời cơ, điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện chủ trương hiện đại hóa Quân đội. Nếu không có nhận thức đúng, không nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại, không có tư duy chiến lược, thực hiện “đi tắt, đón đầu” thì Quân đội sẽ tụt hậu và không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn khách quan của tình hình thế giới, khu vực. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, nhất là sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, đã, đang và sẽ làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái và phương thức tiến hành chiến tranh. Cùng với môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trên vũ trụ; không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ năm, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia. Xu hướng chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh ủy nhiệm, phi tiếp xúc, phi đối xứng,… sẽ là phổ biến; không gian và thời gian tác chiến cũng như ranh giới giữa ta và địch khó phân định. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về quốc phòng, về xây dựng và hiện đại hóa Quân đội để thích ứng với điều kiện chiến tranh hiện đại, nhằm đánh bại đối phương, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là một tất yếu, khách quan.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh chưa từng có tiền lệ, vượt khả năng kiểm soát, dự báo của các nước, các tổ chức quốc tế; nguy cơ chạy đua vũ trang, kể cả chiến tranh hạt nhân ngày càng lớn. Các nước lớn đẩy mạnh lôi kéo, tập hợp lực lượng, gia tăng đối đầu, cạnh tranh quyết liệt. Xung đột vũ trang, nhất là xung đột quân sự ở Ukraine; chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,… diễn ra ở nhiều nơi, tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi quốc gia. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, Đông Nam Á với vị trí ngày càng quan trọng, trở thành tâm điểm cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên,… diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đột phá, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại, nhằm gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đi đôi với đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh bảo vệ quan điểm “xây dựng Quân đội hiện đại” của Đảng.
Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”. Sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước. Vì vậy, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ quan trọng này, đòi hỏi các cấp, ngành, lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị, trực tiếp là Quân đội nhân dân phải quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, Nhà nước về xây dựng, điều chỉnh lực lượng, hiện đại hóa Quân đội, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng Quân đội hiện đại với các biện pháp đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm, chủ trương này. Chú trọng tăng cường hiệu quả cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nói chung, nhiệm vụ hiện đại hóa Quân đội nói riêng; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, nghệ thuật đấu tranh bảo vệ quan điểm; lấy hiệu quả xây dựng và hiệu quả đấu tranh bảo vệ quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại” của các lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại làm tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chỉ huy các cấp.
Cùng với đó, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của quan điểm “Xây dựng Quân đội hiện đại”; chú trọng kiện toàn, bồi dưỡng lực lượng, điều chỉnh phương pháp đấu tranh; định hướng, quản lý nội dung đấu tranh và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động đấu tranh. Có cơ chế, chính sách hợp lý để khuyến khích, động viên các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm tham gia đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại”.
Mục tiêu, phương thức, biện pháp, công cụ, ý định hoạt động nhằm đạt được mục đích sâu xa, nguy hiểm phía sau của các thế lực thù địch; từ đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo khả năng “miễn dịch”, “vô hiệu hóa” thủ đoạn xâm nhập, tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch. Đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ trương “Xây dựng Quân đội hiện đại” - xu thế tất yếu, khách quan “không thể đảo ngược”.
Như vậy, “xây” và “chống” là hai mặt của một vấn đề. Xây dựng Quân đội hiện đại xét về bản chất chính là làm cho tiềm lực quân sự đất nước mạnh lên, các thế lực thù địch suy yếu, dè chừng, không dám tấn công, chống phá dẫn đến thất bại; ngược lại, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các đòn tấn công, phá hoại của các thế lực thù địch chính là bảo vệ và tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là chủ trương nhất quán, phù hợp với xu thế thời đại; là tất yếu, khách quan “không thể chối cãi”; hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Hai mặt này cần được kết hợp khoa học, bài bản, hài hòa, chặt chẽ, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng về “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Có thể là hình ảnh về 6 người

Bước tiếp khúc quân hành của Ngã ba Đồng Lộc

 

Chúng tôi đến Ngã ba Đồng Lộc vào một ngày tháng 7, từ xa đã nghe thấy bài hát “Cô gái mở đường” cùng rất đông chị em phụ nữ trong những tà áo dài, màu áo xanh thanh niên xung phong đang say sưa luyện tập điệu dân vũ nhịp nhàng.

Bắt đầu từ ngày 20 đến 27-7, tỉnh Hà Tĩnh và các cơ quan, ban, ngành, địa phương tổ chức sự kiện văn hóa-du lịch “Linh thiêng Đồng Lộc” với chuỗi sự kiện như: Triển lãm “Hà Tĩnh-điểm hẹn”; lễ thắp nến và thả hoa đăng tri ân các anh hùng liệt sĩ; chương trình nghệ thuật “Cõi thiêng Đồng Lộc-nối mạch ngàn năm”; khánh thành di tích cấp quốc gia Làng K130; lễ giỗ lần thứ 55 của 10 nữ thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc.

Một trong những điểm mới của chuỗi sự kiện văn hóa-du lịch Đồng Lộc năm nay là Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh tổ chức chương trình giao lưu dân vũ “Bước tiếp khúc quân hành”. Chị Nguyễn Thị Lệ Hà, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh cho biết: “Chương trình dân vũ có sự tham gia của 11 đội thi là câu lạc bộ dân vũ của các chi hội phụ nữ tại huyện Can Lộc, Hương Khê và TP Hà Tĩnh. Thông qua nhiều hoạt động ý nghĩa, phụ nữ Hà Tĩnh mong muốn viết tiếp những câu chuyện về sự hy sinh anh dũng. Trong bom đạn chiến tranh, phụ nữ Hà Tĩnh “sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm”. Ngày nay, phụ nữ Hà Tĩnh noi gương các thế hệ trước, “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, năng động, sáng tạo, góp phần cho sự phát triển của quê hương, đất nước”.

Phụ nữ Hà Tĩnh ngày càng khẳng định được vai trò, vị thế trong xây dựng gia đình cũng như đóng góp cho sự phát triển xã hội. Giai đoạn 2017-2022, Hà Tĩnh thành lập 43 hợp tác xã, 395 tổ hợp tác, tổ liên kết phát triển sản xuất, kinh doanh do phụ nữ quản lý, điều hành; hơn 3.600 phụ nữ nghèo vươn lên thoát nghèo; gần 3.300 phụ nữ cận nghèo vươn lên trung bình, khá; phát triển mới gần 2.500 mô hình kinh tế và 100 sản phẩm OCOP do phụ nữ làm chủ...

Cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh dâng hương tại phần mộ 10 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh: HUYỀN TRANG 

Cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh dâng hương tại phần mộ 10 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc. Ảnh: HUYỀN TRANG 

Ngoài việc nâng cao đời sống vật chất, các hoạt động văn hóa, tinh thần cũng được các cấp hội phụ nữ quan tâm, trong đó có việc thành lập các câu lạc bộ dân vũ, tạo sân chơi lành mạnh để cán bộ hội, hội viên, phụ nữ, các câu lạc bộ gặp gỡ, giao lưu, thực hiện Phong trào thi đua “Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới”. Những năm qua, nhảy dân vũ tại Hà Tĩnh đã trở thành một hoạt động tinh thần thu hút mạnh mẽ chị em tham gia. Đây là sân chơi để các chị em rèn luyện sức khỏe và gắn kết tình cảm sau những bộn bề lo toan của cuộc sống. Dân vũ là môn nghệ thuật quần chúng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thuộc, tinh thần kết nối tập thể cao nên phù hợp với nhiều lứa tuổi phụ nữ. Với những động tác sôi động, vui tươi, nhảy dân vũ dần trở thành phong trào được phát triển sâu rộng. Đến nay, Hà Tĩnh thành lập được hơn 1.000 câu lạc bộ dân vũ tại các cấp chi hội phụ nữ ở địa phương và đơn vị cơ sở.  

Chương trình giao lưu dân vũ với các ca khúc cách mạng như: "Cô gái mở đường", "Năm anh em trên một chiếc xe tăng", "Đường Trường Sơn xe anh qua", "Bác đang cùng chúng cháu hành quân"... thể hiện lòng biết ơn của cán bộ, hội viên phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh đối với sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ. Chị Phan Thị Xuân, Chủ tịch Hội Phụ nữ thị trấn Đồng Lộc chia sẻ: “Đến với buổi giao lưu, chúng tôi thể hiện tiết mục “Liên khúc "Đường Trường Sơn xe anh qua"-"Bác đang cùng chúng cháu hành quân”. Để chuẩn bị tốt cho buổi giao lưu, chúng tôi kêu gọi các chị em sắp xếp thời gian, công việc tham gia tập luyện để mang đến một tiết mục đẹp mắt, như một lời tri ân gửi tới các anh hùng liệt sĩ, thanh niên xung phong”.

Cũng trong một ngày tháng 7 tại Ngã ba Đồng Lộc, chúng tôi gặp bà Lương Thị Tuệ, cựu thanh niên xung phong Tổng đội Thanh niên xung phong 55 về thăm lại chiến trường xưa. Từng tham gia thanh niên xung phong tại chiến trường Đồng Lộc từ năm 1968 đến 1973, bà Tuệ kể, ngày đó, đơn vị có nhiệm vụ cảnh giới, giải tỏa giao thông, san lấp hố bom, phá bom nổ chậm, làm cọc tiêu dẫn đường chỉ lối, bảo đảm an toàn cho người và hàng hóa chi viện vào chiến trường miền Nam. Ngoài giờ lao động và chiến đấu thì chị em thanh niên xung phong còn học văn hóa. Đồng Lộc bị bom cày đi xới lại, cả một vùng đất chi chít hố bom. Gian khổ, ác liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh nhưng chị em đang lứa tuổi mười tám, đôi mươi vẫn hát hò, trêu đùa nhau, tiếng hát át đi tiếng bom, quên mình để phục vụ chiến đấu.

Biết được sẽ có một chương trình giao lưu dân vũ của các chị em phụ nữ tổ chức tại Ngã ba Đồng Lộc, bà Tuệ vui mừng cho rằng hoạt động này rất có ý nghĩa. Bà hồi tưởng về một thời thanh xuân sôi nổi: “Hồi chúng tôi vào Ngã ba Đồng Lộc, cũng ca khúc “Cô gái mở đường” của nhạc sĩ Xuân Giao mới sáng tác và rất “nổi”, được mọi tầng lớp nhân dân yêu thích, đặc biệt là lực lượng thanh niên xung phong. Mọi người chép vào sổ tay, truyền tay nhau hát trên đường đi làm nhiệm vụ, lúc có đoàn xe bộ đội đi qua, thậm chí lúc nấu cơm, rửa bát"... Nói rồi bà Tuệ nhìn đăm chiêu về tượng đài 10 nữ thanh niên xung phong, bất giác, bà ngân nga những câu hát: "Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh/ Tiếng hát ai vang động cây rừng/ Phải chăng em cô gái mở đường/ Không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát"...

Lời ca, điệu dân vũ của các chị em phụ nữ Hà Tĩnh rộn ràng cả góc trời Đồng Lộc. Khúc hát ấy, các chị thanh niên xung phong cũng đã từng ca vang trên những nẻo đường ra trận.

Giúp sĩ quan trẻ yên tâm công tác

 

Đại tá Nguyễn Sơn, Chính ủy Lữ đoàn 513, Quân khu 3 cho biết: “Hiện nay, đội ngũ sĩ quan dưới 40 tuổi đang công tác ở Lữ đoàn chiếm gần 80% tổng số cán bộ toàn đơn vị. Đặc thù đơn vị công binh nhiệm vụ đan xen, công việc bận rộn nên đội ngũ cán bộ ít có thời gian chăm lo gia đình. Điều này càng khó khăn hơn đối với những bộ phận làm nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo”.

Từ thực tiễn trên, lãnh đạo, chỉ huy Lữ đoàn 513 linh hoạt và tạo điều kiện thuận lợi khi giải quyết cán bộ đi phép, đi tranh thủ. Hiện nay, ngoài quy định chung trong giải quyết phép thì những trường hợp gia đình cán bộ có việc đột xuất như vợ ốm, con đau cũng được tạo điều kiện về thăm nhà. Riêng cán bộ làm công trình ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo ít về thăm gia đình sẽ được chỉ huy Lữ đoàn giải quyết tăng thời gian nghỉ mỗi đợt tranh thủ; cán bộ có gia đình gần đơn vị được tạo điều kiện luân phiên về thăm nhà sau giờ làm việc.

Một trong những khó khăn đối với sĩ quan trẻ là vấn đề nhà ở cũng được Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 513 từng bước tháo gỡ. Đơn vị hiện đang có khu nhà công vụ với 15 phòng, diện tích mỗi phòng 80m2 cho 15 gia đình quân nhân mượn. Có hơn 3 năm được mượn nhà công vụ, Đại úy Nguyễn Mạnh Quỳnh, Đại đội trưởng Đại đội 11, Tiểu đoàn 4 chia sẻ: “Tôi và vợ đều ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Ngày mới cưới, vợ chồng phải đi thuê nhà trọ rất vất vả. Được chỉ huy đơn vị tạo điều kiện cho mượn nhà giúp vợ chồng tôi có cuộc sống gia đình tốt hơn”.

Sĩ quan trẻ Lữ đoàn 513 thực hiện các nội dung huấn luyện chuyên ngành. 
Sĩ quan trẻ Lữ đoàn 513 thực hiện các nội dung huấn luyện chuyên ngành. 

Để giúp sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ, theo Thượng tá Nguyễn Đức Hiển, Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 513: Đơn vị phải chủ động nắm, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của mỗi người cả trong công việc và cuộc sống. Đặc biệt, chỉ huy từng cấp cần đánh giá đúng năng lực của cán bộ để giao việc, tránh tạo ra áp lực.

Cùng với đó, đơn vị triển khai hiệu quả mô hình “Hòm tiết kiệm vì nghĩa tình đồng đội” với tổng kinh phí quyên góp từ khi phát động (năm 2018) đến nay được 850 triệu đồng. Số tiền trên được đơn vị sử dụng hỗ trợ 8 gia đình cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp, mỗi gia đình 80 triệu đồng để xây và sửa nhà; tặng sổ tiết kiệm, thăm hỏi những gia đình quân nhân có hoàn cảnh khó khăn. Mô hình góp phần giúp một số gia đình cán bộ trẻ dần ổn định cuộc sống.

Nhờ những biện pháp thiết thực, hiệu quả, những năm gần đây, chất lượng các mặt công tác của Lữ đoàn 513 có nhiều chuyển biến rõ rệt, tiến độ xây dựng công trình quốc phòng luôn vượt chỉ tiêu, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

TRI ÂN THIẾT THỰC, KỊP THỜI


Lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương phải luôn quan tâm, tri ân đối tượng chính sách mọi nơi, mọi lúc, mọi mặt cuộc sống.
Mới đây, đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội sau khi tiếp công dân đã chỉ đạo giải quyết nhà ở đối với bà Bùi Thị Thanh (thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai) là vợ liệt sĩ; đề nghị cấp bằng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với cụ Nguyễn Thị Huệ (xã Võng La, huyện Đông Anh), mẹ của liệt sĩ sau khi ông Nguyễn Văn Quang, cháu nội bà Huệ có ý kiến.
Việc giải quyết nguyện vọng đối với các đối tượng chính sách, người có công vào những ngày tháng Bảy chính là hành động tri ân thiết thực, kịp thời. Cùng với chỉ đạo giải quyết dứt điểm trước ngày 27-7, đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội cũng nhắc nhở các địa phương của Hà Nội rà soát, quan tâm đến các đối tượng chính sách, người có công; giải quyết đơn thư, khiếu nại (nếu có) nhanh chóng, kịp thời, đúng người, đúng việc.
Những ngày này, trên cả nước diễn ra nhiều hoạt động giàu ý nghĩa như trao nhà tình nghĩa, tặng quà gia đình chính sách; thắp hương tưởng niệm anh hùng liệt sĩ; gặp mặt, động viên thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”.
Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động, việc làm ý nghĩa, vẫn còn không ít hoạt động tri ân theo kiểu qua loa, gượng ép. Cá biệt có trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, người đứng đầu mượn dịp 27-7 với danh nghĩa tri ân, về nguồn nhưng việc làm thiết thực thì ít mà kéo "bầu đoàn thê tử" đi thưởng ngoạn, liên hoan tốn kém thì nhiều.
Tri ân là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, nhắc nhở chúng ta ghi nhớ, biết ơn những người đã hy sinh xương máu, công sức cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, để thế hệ sau được sống trong hòa bình, no ấm. Đời sống của nhân dân, trong đó có đối tượng chính sách, người có công ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng gặp nhiều khó khăn; còn không ít vụ việc liên quan đến gia đình chính sách, cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng có biểu hiện né tránh, giải quyết chưa triệt để.
Vì vậy, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương phải luôn quan tâm, tri ân đối tượng chính sách mọi nơi, mọi lúc, mọi mặt cuộc sống. Phải gần gũi, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng chính sách kịp thời, hiệu quả. Tránh việc chỉ triển khai trong dịp 27-7 hay những ngày lễ, tết, còn những ngày khác thì lại thờ ơ, quên lãng. Có như vậy, chúng ta mới hiểu đầy đủ và thực hiện đúng nghĩa cử tri ân.
Báo QĐND

Có thể là hình ảnh về 2 người và tượng đài
Tất cả cảm xúc:
1

GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC


Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn lãnh thổ, các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc và trong công cuộc bảo vệ từng tấc đất biên cương, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội đã có biết bao thế hệ người Việt Nam ngã xuống.
Những vết thương về thể chất, tinh thần của những thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ vẫn còn hiện hữu. Trong những ngày tháng 7 này, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đồng bào cả nước đã có nhiều hoạt động thiết thực, hướng về người có công, các gia đình chính sách bằng những phần việc ý nghĩa, thấm đượm tình yêu thương và đạo lý "Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Xu thế hòa bình, hội nhập đã và đang đưa đất nước chúng ta dần khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đứng trước thử thách lịch sử phải bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Chúng ta cần phải cảnh giác, nghiêm khắc với mọi hành vi cố ý xúc phạm, xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Khi những nền tảng trực tuyến có sức xuyên phá mọi đường biên giới, thì ngày càng nhiều ấn phẩm văn hóa, tác phẩm nghệ thuật, nhất là phim ảnh bị cài cắm các hình ảnh phi pháp xâm phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Chúng ta đều biết, một bộ phim, một tác phẩm nghệ thuật sẽ được công chiếu ở nhiều nơi, trong nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ. "Mưa dầm thấm lâu", nếu không cảnh giác và phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hình ảnh nguy hại này thì không chỉ khán giả trong nước mà cả khán giả nước ngoài sẽ rơi vào tình trạng bán tín, bán nghi, "tưởng đúng mà không đúng, tưởng không đúng mà lại là đúng". Bởi lẽ những điều mập mờ xuyên tạc này gây ra nhận thức sai lệch về chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược "diễn biến hòa bình" để thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn… và hậu quả để lại rất khó lường.
Tuyên bố về quyền lịch sử với những tài nguyên biển trong đường "9 đoạn" hay "Đường lưỡi bò" (đây là đường chín đoạn do Trung Quốc vạch ra, đòi chủ quyền phi pháp với gần như toàn bộ diện tích Biển Ðông) bị Tòa Trọng tài Quốc tế bác bỏ năm 2016. Tuy nhiên, trong tháng 7/2023 đã nổi lên một số vấn đề gây bức xúc, phẫn nộ khi bộ phim "Flight to you" ("Hướng gió mà đi" - 39 tập) đưa hình ảnh "đường lưỡi bò" trong nhiều cảnh và lời thoại là không đúng, là xâm phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Còn trong bộ phim hoạt hình "Barbie", tấm bản đồ vẽ nguệch ngoạc bằng bút chì màu đường "9 đoạn" mô tả hành trình giả tưởng từ thế giới búp bê đến thế giới con người, đã được yêu cầu dỡ bỏ trên các nền tảng truyền thông của Công ty Neflix và FPT play. Mới đây nhất, website của Công ty mẹ của nhóm nhạc BlackPink tại Hà Nội đăng đường "9 đoạn" cũng bị Bộ Ngoại giao tiến hành xác minh. Việc lan truyền rộng rãi sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chứa bản đồ hình "đường lưỡi bò" phi pháp thể hiện sự thiếu tôn trọng chủ quyền quốc gia, tinh thần yêu nước và giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam chúng ta phải xác định bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc là cuộc chiến lâu dài. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn. Chủ động, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi sơ hở trong quản lý, điều hành để hình ảnh bản đồ "đường lưỡi bò" xâm nhập vào nước ta là hết sức cần thiết. Đồng thời, là công dân yêu nước thì hãy có lựa chọn thông minh, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phát hiện, lên án, đấu tranh mạnh mẽ với tinh thần "Phim này không xem, ta xem phim khác, không xem ban nhạc này thì chọn xem ban nhạc khác", nhưng chủ quyền của đất nước không thể để mất.
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là kiên quyết bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo. "Chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm". Trước anh linh của các anh hùng, liệt sĩ, thế hệ hôm nay và mai sau có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.
Xin trích mấy vần thơ trong bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" của nhà thơ Tố Hữu để thay cho lời nhắc nhở các thế hệ người Việt phải biết chung sức, đồng lòng, quyết tâm bảo vệ, giữ gìn không gian sinh tồn, môi trường hòa bình, ổn định để "Muôn đời cõi trời Nam vững vàng trong thanh bình, thịnh trị":
ST

NẶNG ÂN TÌNH VỚI THƯƠNG BỆNH BINH, LIỆT SĨ VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG



Tư tưởng, tình cảm, tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương bệnh binh, liệt sĩ; với gia đình các thương bệnh binh, liệt sĩ và những người có công với đất nước không chỉ thấm đẫm tính nhân văn, thấm nhuần đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, mà còn hiển hiện một tình thương yêu bao la, nhân ái của Người!
Nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn!
Một trong những vấn đề mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, trăn trở đó là sự hy sinh, cống hiến tuổi thanh xuân của các chiến sĩ, thương binh, bệnh binh, liệt sĩ cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của Nhân dân. Có một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc như hôm nay một phần chính là nhờ những người con dũng cảm đã đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết, trước hết; đã xả thân vì nghĩa lớn. Ghi nhận sự hy sinh cao cả đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”[1].
Vì thế, giữa bộn bề công việc của những ngày đầu nước nhà mới giành được độc lập, Người đã tri ân thân nhân các liệt sĩ và bày tỏ tấm lòng mình khi phát biểu: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ, cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi”[2]. Đồng thời, bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với những người bị thương tật, những người đã không tiếc máu xương, cống hiến hết mình cho Tổ quốc bằng những việc làm thiết thực như tham gia “Hội giúp binh sĩ bị nạn” (sau đổi là “Hội giúp binh sĩ bị thương”); tặng chiếc áo rét của mình cho binh sĩ trong cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”; đề nghị các ban, ngành, đoàn thể Trung ương lấy ngày 27/7/1947 làm Ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên (năm 1955 đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ), ký Sắc lệnh số 20/SL về chế độ hưu bổng thương tật đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng (16/2/1947); ký Sắc lệnh số 613/SLĐB tổ chức Bộ thương binh và Cựu binh, (tiền thân của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội) ngày 3/10/1947…
Tình cảm, tấm lòng, lời kêu gọi đồng bào cả nước thể hiện tình thương yêu, trách nhiệm và bổn phận của mình đối với những thương bệnh binh, liệt sĩ chính là tâm nguyện của Người trong bức Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” ngày 17/7/1947. Trong đó, Người không chỉ khẳng định rằng, “đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”[3], mà còn “xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00)”[4]…
Từ sau năm 1947, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày 27/7 là Người lại gửi thư thăm hỏi, tặng quà, đi thăm các thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, viếng các anh hùng liệt sĩ ở nghĩa trang liệt sĩ. Những bức thư của Người nhân dịp 27/7 năm 1948, 1951, 1952, 1954,1956, 1957, 1959…; những món quà thiết yếu (quần áo, khăn mặt, vải, thuốc men, chăn...), tiền lương tháng, tiền tiết kiệm của Người dành tặng các thương binh không chỉ làm sâu sắc hơn, cao cả hơn ý nghĩa của Ngày Thương binh - Liệt sĩ, bởi vì đó là một dịp để “tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái”, “tỏ ý yêu mến thương binh”, mà còn làm cho “kế sách” giúp thương binh của Người, với nội dung cụ thể như “chính quyền, đồng bào và các đoàn thể Nhân dân trong mỗi xã phải tuỳ theo cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh (…). Với lòng hăng hái và cố gắng của đồng bào, với sự nỗ lực của cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương, tôi tin chắc rằng công việc đón anh em thương binh về làng sẽ có kết quả tốt đẹp”[5] trở nên sinh động trong thực tiễn; trở thành một phong trào được triển khai sâu rộng, có ý nghĩa chính trị, tinh thần lớn lao.
Tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với người có công
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những chỉ dẫn của Người trong bản Di chúc để lại cho muôn đời sau, trong đó có lời căn dặn: “Công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man (…). Đầu tiên đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…). Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ ở mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho Nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”[6] (những người có công) đã được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, triển khai, nhất là sau khi miền Nam được giải phóng, Tổ quốc thống nhất và cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cùng với thời gian, tư tưởng, tình cảm, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những việc Người đã làm, những biện pháp thiết thực Người đề nghị để thực hiện tốt ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công với cách mạng không chỉ thể hiện rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, đạo lý “sống ở đời và làm người”, mà còn thu hút sự quan tâm, tham gia của mọi người, mọi ngành; từ Trung ương đến địa phương. Từ những chỉ dẫn của Người, từ những việc thiết thực Người đã khởi xướng và thực hành, Đảng và Nhà nước đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ, về chính sách đối với người có công bằng nhiều chương trình, phong trào cụ thể, thiết thực. Đó chính là “huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công. Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bí mật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến”[7] và coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, của hệ thống chính trị, vừa là trách nhiệm của toàn dân. Đó cũng chính là “hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú. Cân đối ngân sách để tiếp tục thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, giải quyết căn bản chính sách đối với người có công; nâng cấp các công trình “đền ơn đáp nghĩa””[8] và “thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”[9] theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần bảo đảm cho những người có công với cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn…
Có thể nói, chiến tranh đã lùi xa, song chính sách đối với người có công luôn được quan tâm, được bổ sung và thực hiện đồng bộ; công tác đối với người có công luôn được triển khai với nhiều hoạt động thiết thực, phù hợp điều kiện của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong đó, có việc xác nhận và quản lý chi trả chế độ theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; đẩy mạnh việc tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ; huy động sự góp sức tự nguyện của mọi người, mọi ngành, mọi cấp để xã hội hóa công tác “Đền ơn đáp nghĩa”; thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 25/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng và Chỉ thị số 368-CT/QUTW ngày 12/6/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội giai đoạn 2016-2020… Trong đó, có những hoạt động quét dọn vệ sinh, chăm sóc, lau dọn và thắp hương, nến, dâng hoa bày tỏ lòng thành kính tưởng nhớ, biết ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tại các đền thờ, nghĩa trang liệt sĩ ở khắp mọi miền Tổ quốc; đến thăm hỏi, tặng quà các gia đình các thương bệnh binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và tạo điều kiện cho con em các gia đình có công với cách mạng được thụ hưởng những ưu đãi trong học tập, việc làm…; tổ chức khám bệnh, phát thuốc (thuốc bổ, thuốc điều trị bệnh cao huyết áp, hạ huyết áp, đau nhức xương khớp, tim mạch,…) cho thân nhân các gia đình chính sách, cho mẹ Việt Nam Anh hùng…
Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công; việc thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng không chỉ được tiến hành vào dịp 27/7 hằng năm, mà thực tế còn được triển khai trong những dịp lễ, tết, những ngày kỷ niệm của đất nước, của các bộ, ban, ngành. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của đất nước, mà đó còn là một loại chính sách đặc biệt, thực hiện cho những đối tượng đặc biệt; không chỉ thể hiện sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng, mà còn làm cho truyền thống tốt đẹp, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc được tiếp nối, bồi đắp, góp phần nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trên hành trình xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.
St